các huynh tỉ cỏn trẻ nên thận trọng ,đừng để tính hồ đồ che lấp lý trí.
bởi tính hồ đồ mà mất đi sự học hỏi từ các huynh trưởng rời bỏ diển đàn .
cái chết ???
1.Những cách gọi tên về "sự chết"
Như là một đặc trưng của tiếng Việt, ngôn từ chuyên chở cả thái độ, tình cảm của người nói, nên để nói về cái chết,, Nhà nghiên cứu Bằng Giang đã khẳng định thống kê được hơn 1.001 cách diễn đạt về từ chết.[6] dưới đây chỉ liệt kê một số:
Kính trọng: từ trần, tạ thế, khuất núi, quy tiên, yên nghỉ muôn đời, qua đời, mất, đi xa, ra đi, ra đi vĩnh viễn, ra đi mãi mãi, yên nghỉ, từ giã cõi đời, trút hơi thở cuối cùng, "thôi đã thôi rồi", thác, quyên sinh, băng hà (dùng cho vua chúa), hi sinh, ngã xuống, nằm xuống, nằm lại, tử trận, tuẫn tiết, vị quốc vong thân (vì nước mà chết), thịt nát xương tan, rơi đầu (trong chiến đấu), không còn nữa, về với tổ tiên, về cùng cha ông, về nơi an nghỉ cuối cùng, về nơi cửu huyền, về nơi chín suối, chết đứng (còn hơn sống quỳ), tôi ra đi lần cuối, làm ma nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc, viên tịch (đối với các nhà sư),...
Kiêng kị: vĩnh biệt, trăm tuổi già, đi (ra đi), sang bên kia thế giới, tim của... đã ngừng đập, giấc ngủ vĩnh viễn, đi vào giấc ngủ ngàn thu, an giấc ngàn thu, trở thành người thiên cổ, ngày không còn..., đi vào dĩ vãng,...
Tín ngưỡng, tôn giáo: viên tịch (Tăng sĩ Phật giáo), vãng sanh Cực Lạc, về An Dưỡng quốc (cõi Cực Lạc), cao đăng Phật quốc, vãng sanh Tịnh Độ, về gặp Phật được Phật Thọ ký (xoa đỉnh đầu), từ giã Ta-bà sinh lên Tịnh Độ, về với Chúa, về nhà Cha (về nước Chúa), Chúa gọi về, được Chúa truyền ra khỏi đời này về với Chúa, hẹn gặp lại trong Nước Trời, quy tiên, về trời, thăng thiên, hồn lìa khỏi xác, hóa kiếp, mãn phần, xuống suối vàng, trở về với cát bụi, chết không nhắm mắt, từ đất mà ra sẽ về với đất, về với đất mẹ,...
Trung lập: chết, qua đời, tử vong, thiệt mạng, tử (Hán-Việt), tắt thở (chết lâm sàng), chết tốt, bị giết, bị diệt, bất đắc kỳ tử, đột tử, chết ngay, chết non, chết yểu, chết trẻ, chết già (theo độ tuổi), chết đuối, chết chìm, chết cháy, chết ngột, chết ngạt, chết đói, chết bệnh, chết bất đắc kỳ tử (theo nguyên nhân), chết chùm, chết oan, chết ngay tại chỗ...
Thân phận: lìa đời, về với đất, chầu ông bà (vải), chầu trời, chầu tổ tiên, chầu Diêm vương (Diêm chúa), tuyệt mệnh (mạng), tới số, hết số, gan óc lầy đất, da ngựa bọc thây, đầu lìa khỏi cổ, nhắm mắt xuôi tay, xuống lỗ, xanh cỏ, đi gặp cụ Các Mác và cụ Lê-nin, (thà) làm ma nước Nam, (nguyện) làm ma họ (...), lên bàn thờ ăn xôi...
Không tôn trọng: lụm, rồi đời, xong đời, ngoẻo, ngủm, ngủm củ tỏi, ngủm cù đèo, tiêu, tiêu đời, toi đời, tiêu tán đường, toi mạng, lên đường, ăn đất, đi đứt, đi toi, đứt bóng, vào hòm, vào xăng, vào 6 tấm váng, xuống mồ, đi đời, đi đời nhà ma, đi tong, rũ xương, đền tội, đền mạng (có ân oán), tan xương nát thịt, vong mạng, bỏ mạng, bỏ xác (trong chiến đấu), chết tươi, chết toi, chết bằm, chết trôi, lên bàn thờ, lên bàn thờ ngồi chơi, đi buôn muối, chết không toàn thây, chết không kịp ngáp (tình trạng chết), "đai" (tiếng lóng của từ die), ngồi lên bàn thờ ngắm gà khỏa thân, "RIP" (Rest In Peace) (không có sự tôn trọng khi dùng để đùa giỡn, nhưng ý nghĩa thực sự của R.I.P là sự tôn trọng đối với cái chết), đi Văn Điển, vô Bình Hưng Hòa, hít khói trên bàn thờ, đi bán muối, đi đắp chiếu, hẻo, hẹo...
nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chết .
2. Trong Kinh Tạng
Trung Bộ Kinh
9. Kinh Chánh tri kiến
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo: ......
...........
(Già và chết)
—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử … (như trên) … thành tựu diệu pháp này?
—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già. Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết. Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến … (như trên) … Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết như vậy, tuệ tri tập khởi của già chết như vậy, tuệ tri đoạn diệt của già chết như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên … (như trên)…, và thành tựu diệu pháp này.
............
nguồn : https://suttacentral.net/mn9/vi/minh...ighlight=false
3. Được Tỳ Khưu Chánh Minh Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến :
1. LUẬN GIẢI KINH CHÁNH TRI KIẾN – MỤC LỤC VÀ LỜI NÓI ĐẦU
2. PHẦN I – DUYÊN KHỞI
3. PHẦN I – DUYÊN KHỞI (TIẾP THEO)
4. PHẦN II – MƯỜI SÁU TIÊU ĐỀ – TIÊU ĐỀ 1
5. PHẦN II – MƯỜI SÁU TIÊU ĐỀ – TIÊU ĐỀ 1 (TIẾP THEO)
6. TIÊU ĐỀ 2 – TRÍ BIẾT RÕ VỀ BỐN LOẠI VẬT THỰC
7. TIÊU ĐỀ 3 – TRÍ HIỂU RÕ TỨ ĐẾ
8. TIÊU ĐỀ 4 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ GIÀ – CHẾT
9. TIÊU ĐỀ 5 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ SANH (JĀTI)
10. TIÊU ĐỀ 6 – TRÍ BIẾT RÕ VỀ HỮU (BHAVA)
11. TIÊU ĐỀ 7 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ THỦ (UPĀDĀNA)
12. TIÊU ĐỀ 8 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ ÁI
13. TIÊU ĐỀ 9 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ THỌ
14. TIÊU ĐỀ 10 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ XÚC
15. TIÊU ĐỀ 11 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ SÁU XỨ (SAḶĀYATANA)
16. TIÊU ĐỀ 12 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ DANH SẮC (NĀMARŪPA)
17. TIÊU ĐỀ 13 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ THỨC (VIÑÑĀṆA)
18. TIÊU ĐỀ 14 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ HÀNH (SAṄKHĀRA)
19. TIÊU ĐỀ 15 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ VÔ MINH (AVIJJĀ)
20. TIÊU ĐỀ 16 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ PHÁP NGÂM TẨM (ĀSAVA)
..........
B – Chết.
1- Ý nghĩa từ ngữ.
– Chết (cuti).
Bộ Phân tích (Vibhaṅga) trong tạng Thắng pháp có định nghĩa về “chết (cuti)” như sau:
Tattha katamaṃ maranaṃ?
Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maranaṃ kālakiriyā khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo. Idaṃ vuccati “maranaṃ”.
Ở đây, chết là thế nào?
“Đối với mỗi mỗi chúng sinh, từ thân hữu tình ấy có sự chuyển biến, đổi dời hư hoại, tiêu mất, chết, tán vong, quá vãng, tan rã ngũ uẩn, bỏ xác, dứt mạng quyền. Đây gọi là chết” [57].
– Chuyển đổi (cavanatā).
Một chúng sinh thay đổi từ thể trạng này sang thể trạng khác, xem như chúng sinh ấy đã chết, một chúng sinh khác sinh lên.
Thật ra, hai chúng sinh ấy không phải một cũng không phải hai, nương sự chết của chúng sinh trước, chúng sinh sau hình thành.
Đức Nāgasena (Na tiên) có giải đáp cho vua Milinda như sau:
Ví như sữa tươi biến thành sữa chua, sữa chua biến thành sữa đặc. Tất cả gọi là sữa, nhưng sữa tươi không phải là sữa chua, sữa chua không phải là sữa đặc ([58].
Chính ý nghĩa này được Đức Thế Tôn nói đến, khi Ngài dạy Trưởng lão Aṅgulimāla kệ ngôn như sau:
“Yatohaṃ bhagini ariyāya jātiyā jāto nābhijānāmi sañcicca pānaṃ jīnitā vosopetā. Tena saccana sotthite hotu sotthi gabbhassa”.
“Hỡi này hiền tỷ, từ khi ta sinh vào dòng thánh rồi, ta không hề cố ý sát hại sinh mạng ai nữa. Do nhờ chân ngôn này, mong hiền tỷ được an lành và thai nhi cũng được an lành”.[59]
Rõ ràng tướng cướp Aṅgulimāla đã chết, vị Thánh Aṅgulimāla sinh ra.
Mọi chúng sinh đều có sự chuyển đổi từ thể trạng này sang thể trạng khác, cho dù đó là sắc vi tế của những vị chư thiên hay Phạm thiên, sắc vi tế cũng sinh diệt, diệt sinh diễn ra liên tục.
Công tử Soreyya từ thân nam tử chuyển thảnh nữ giới. Sau khi sám hối Ngài Mahā Kaccāyana, thì từ thân nữ giới chuyển thành nam [60].
Đây cũng là hình thức sự chết theo ý nghĩa “chuyển đổi”.
Sự chuyển đổi xảy ra rõ ràng nhất sau khi chết, người có thể chuyển thành thú, ngạ quỷ, chư thiên hay Phạm thiên hoặc thành người khác… Phạm thiên có thể chuyển thành người, chư thiên hay vị Phạm thiên Sắc giới khác.
Chư Phạm thiên không hề rơi trực tiếp xuống 4 khổ cảnh, trái lại chư thiên Dục giới có thể rơi thẳng xuống địa ngục, như ác ma Dūsī, trong kinh Hàng ma ở Trung bộ Kinh I, bài kinh số 50.
– Biến mất (antaradhānaṃ).
Ám chỉ các uẩn biến mất ở cảnh giới hiện hữu, để rồi tái hiện khởi ở cảnh giới (bhava) mới.
– Chết rồi chết (maccumaraṇa).
Cả hai từ maccu và maraṇa đều có ý nghĩa là “chết”, nên maccumaraṇa có thể hiểu “chết dẫn theo chết”, nghĩa là: “chết, sinh lên rồi lại chết”.
Bản Sớ giải có giải thích: “Đức Xálợiphất dùng từ maccumaraṇa, là ám chỉ chết còn tái sinh”, tức là Ngài không đề cập đến “cái chết dứt tuyệt (samucchedamaraṇa)” của bậc Alahán.
– Thời các uẫn hoại diệt (kālakiriyā khandhānaṃ bhedo).
Kālakiriyā là thời thực hiện, Ngài Xálợiphất dùng từ này ám chỉ cái chết nhân loại và súc sanh, vì còn để lại thi hài (sắc uẩn).
Còn khandhānaṃ bhedo (các uẩn hoại diệt) ám chỉ cái chết của chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ (peta), Atula (asurā), Chư thiên, Phạm thiên hữu sắc, Phạm thiên Vô tưởng và Phạm thiên Vô sắc, vì không lưu lại sắc uẩn.
Lại nữa, kālakiriyā ám chỉ cái chết theo nghĩa chế định, vì còn nhận ra sự chết đã hiện bày, còn khandhānaṃ bhedo là nói đến cái chết theo ý nghĩa chân đế.
Theo chân đế, khi các uẩn đang diệt xem như đang chết, nhưng các uẩn đang diệt khó nhận biết, chỉ nhận biết khi các uẩn đã diệt, nên không thể định được thời tử.
Có câu hỏi rằng: Vì sao người và súc sanh khi chết còn lưu lại sắc uẩn, các chúng sinh khác thì không?
Đáp rằng: Vì rằng cõi nhân loại hay súc sinh có thân là sắc thô, những chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ, Atula (asura), Chư thiên, Phạm thiên hữu sắc có thân là sắc tế (sukhumarūpa), nên khi mệnh chung thì sắc uẩn không còn.
Sắc thô là loại sắc có sức nóng của lửa kém hơn lửa sắc tế, nên không thể hủy sắc pháp nhanh chóng như lửa sắc tế.
Trong Sớ giải Trường bộ, bài kinh Phạm võng có ghi: “Thiên nhân bỏ ăn một bữa sẽ chết, vì sức lửa đốt cháy thân xác”.
Đoạn kinh văn trên, Đức XálợiPhất nêu lên tuần tự như sau: Chết (cuti), diễn tiến của chết (chuyển đổi, biến mất), chết còn tục sinh (maccumaraṇa), rồi Ngài nêu lên “chết theo chế định (kālakiriyā)”, chết theo thực tính pháp (khandhānaṃ bhedo).
2- Phân tích.
Sự chết có hai loại:
a- Chết theo chế định (sammuttimaraṇā).
Là chết theo thông thường như tắt thở, lìa trần, hay sự tiêu hoại vật chất thế gian.
b- Chết theo chân đế (khaṇikamaraṇā – sátna tử).
Là sự diệt của danh sắc trong từng sátna, ám chỉ sátna diệt của danh sắc.
3- Bốn khía cạnh của chết là:
– Trạng thái: Chuyển đổi (cutilakkhaṇa).
– Phận sự: Ngăn cách, chia lìa những gì trong hiện tại (viyogarasa).
– Thành tựu: Vắng mặt ở cảnh giới cũ (gativippavāsapaccupaṭṭhānaṃ).
– Nhân cần thiết: Danh sắc đang biến hoại (paribhijjamānanānarūpa padaṭṭhānaṃ).
Trong kinh văn, Đức XálợiPhất chỉ trạng thái chết, Ngài dùng từ “sự chuyển đổi” (cavanatā).
Chỉ cho thành tựu của chết, Ngài dùng các từ: Rời ra (bhedo, xuất phát từ ngữ căn bhid là phá hủy)[61], hư hoại (antaradhānaṃ), “chết rồi chết” (maccumaraṇa).
4- Thời tử.
Về thời tử theo chế định có hai loại là: Chết phi thời (akāla maraṇa) và chết hợp thời (kālamaraṇa).
a- Chết không hợp thời.
Là chưa hết tuổi thọ, nhưng do một nguyên nhân phát sinh, khiến người này mệnh chung.
Đức Nāgasena (Na Tiên) có nêu ra 7 nguyên nhân chết không hợp thời như sau:
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị đói mà chết.
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị khát mà chết.
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị rắn độc cắn mà chết.
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị thuốc độc mà chết (tự sát hay bị bức bách).
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị lửa đốt mà chết.
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị rớt xuống nước mà chết.
– Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị khí giới đâm (chém) mà chết.[62]
– Chết hợp thời.
Là chết do bịnh, bịnh phát sinh do 8 nguyên nhân:
– Do mật, do đàm, do gió, do thời tiết, do hoạt động không thích ứng (hành động không thích ứng là chướng ngại của những bịnh)[63], do vật thực, do nghiệp, do phi nhân nhập.
Lại nữa, chết xuất hiện do một trong bốn nguyên nhân (hetu maraṇa).
Chết do hết tuổi thọ (āyukkhayamaraṇa).
Như những vị thiên nhân có tuổi thọ nhất định, khi hết tuổi thọ dù còn phước cũng phải mệnh chung.
Chết do hết nghiệp (kammakkhayamaraṇa).
Nghiệp ở đây chỉ cho nghiệp tục sinh, là loại nghiệp tạo ra tâm quả làm phận sự tục sinh khởi đầu kiếp sống mới, khi nghiệp này chấm dứt thì chúng sinh ấy mệnh chung.
Chết do hết tuổi thọ đồng thời cũng hết nghiệp (ubhayamaraṇa).
4- Chết do nguyên nhân bất kỳ khác. (upakkamaraṇa).
Bốn nguyên nhân phát sinh sự chết được ví như sự tắt của cây đèn dầu, cây đèn dầu tắt là do:
– Hết tim đèn (ví như hết tuổi thọ).
– Hết dầu (ví như hết nghiệp).
– Hết cả tim lẫn dầu.
– Tắt do gió mạnh, do mưa hay do một nguyên nhân nào khác.
Chết do hết tuổi thọ, do hết nghiệp được gọi là chết hợp thời, ngoài ra là chết không hợp thời.
Chết không hợp thời là do nghiệp đoạn tận sinh khởi (upaghātakakamma), cắt đứt mạng sống.
Ví như mũi tên được bắn ra, thông thường phải đi đến tận cùng của lực bắn, tuy nhiên có một lực mạnh hơn chận đứng sự lao vút của mũi tên và làm cho mũi tên rớt xuống.
Lực bắn mũi tên ví như sức mạnh của nghiệp tái sinh, thời gian mũi tên lao đi ví như tuổi thọ chúng sinh, sức mạnh chận đứng mũi tên ví như lực của nghiệp đoạn tận, mũi tên rớt xuống ví như tuổi thọ chấm dứt (không hợp thời).
Cái chết bất ngờ, là cái chết do bị bức bách, ví như trái cây chưa đến thời chín, nhưng vì một nguyên nhân nào đó khiến trái cây lìa cành. Cũng vậy, do bị bức bách nên “cái chết” phải hiện bày sớm hơn, các Ngài gọi là upakkamamaraṇa (chữ upakkama nghĩa là “tấn công, bức bách”).
Chết do bức bách xuất hiện do nhiều nguyên nhân như:
– Tự tử vì chán nãn cuộc sống, như các Tỳkhưu tự sát vì hiểu lầm lời dạy của Đức Thế Tôn[64] hay như Ngài Godhika không chịu đựng nỗi cơn bịnh.
– Do kẻ khác gây ra.
– Do tạo oan trái trong quá khứ, như trường hợp nữ Dạ xoa hóa thành con bò húc chết Ngài Bāhiya, Ngài Pukkusati…
– Do một ác nghiệp trổ quả đoạn tuyệt mạng sống như trường hợp cận sự nam Mahā Kāla, trong quá khứ vu oan cho người khác trộm ngọc để chiếm đoạt vợ người ấy, kiếp này tuy sống đạo đức nhưng bị dân chúng ngờ oan là kẻ trộm và đánh chết.
– Do tai nạn bất ngờ…
Có hai loại chết nữa là:
a- Chết không còn tái sinh (samucchedamaraṇa).
Đây là sự viên tịch (parinibbāna) của vị Thánh Alahán.
b- Chết còn tái sinh (jātikkhayamaraṇa).
Là cái chết từ bậc Anahàm trở xuống.
Ngoài ra, theo cái nhìn thực tính về sự chết, thì danh sắc sinh rồi diệt, diệt rồi sinh liên tục, các Ngài gọi là “chết không gián đoạn (santatimaraṇa)”.
.......
nguồn : https://theravada.vn/tieu-de-4-tri-hieu-ro-ve-gia-chet/
4. Trong Luật Tạng ???
mucdong chưa xuất gia nên không biết.
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường .
![]()
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks