【 TỰ TÁNH THANH TỊNH 】
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật dạy: nếu "Căn và Trần" tức là "Năng và Sở" đều dứt thì "Tánh Giác" tự hoàn phục Viên Diệu, Hay là: "Năng và Sở "đều dứt tuyệt thì gọi là " Thấy (Phật) Tánh ". Tánh này xưa nay vẫn trong sạch (Thanh Tịnh) yên lặng (Tịch Tỉnh) chẳng có một chút lay động (thường định), không thuộc về "Có, Không"; lìa ngoài "nắm (lấy, thủ, trụ, thọ) bỏ "; tánh thể vốn tự nhiên, như nhiên. Thấy-Biết tỏ tường như vậy mới gọi là "Thấy (Phật) Tánh" (Kiến Tánh).
Do đó khi "ý" đã Vô Niệm, Vô Phân Biệt, Vô Trụ Tức là không còn mảy may Hư vọng thì "ý thức" cũng vô niệm, vô phân biệt, vô trụ nên các thức khác cũng đồng vô niệm, Vô phân biệt, vô trụ vậy. => Khi "ý Thức" được Vô Phân biệt thì gọi là " Trí ".
Khi "ý Căn" (thức thứ 7 hay mạt na thức) và "ý Thức" (thức thứ 6) đã Vô Phân Biệt thì thành "Trí Vô Phân Biệt" tức là được "Tánh Không" tròn đầy nên "ý Căn" được Thanh Tịnh Trang Nghiêm và các Căn còn lại cũng đồng loạt cùng được Thanh Tịnh Trang Nghiêm.
__ Đây là cách Tu ngắn gọn, giản tiện nhất. Thật ra Tu cách nào cũng đều phải quy về "Ý Căn" mới giải quyết trọn vẹn được Vọng Tưởng, Vọng Niệm của Tâm Thức.
Kinh Lăng Già Tâm Ấn Phật dạy:
"Nếu lìa bỏ được Tâm thức Phân biệt thì Chơn Như Tánh hiện ra". Hay là lìa bỏ các phân biệt thức thì được "Vô Phân Biệt Trí" chứng vào Tịch Tĩnh nhẫn đến Như Lai Thanh Tịnh địa.
Tổ Đạo Tín dạy:
"Ý" (Căn) là chủ của 6 Căn . Nếu bặt dứt "ông chủ" (tức là "Ý" không sanh niệm Phân biệt, đối đãi.v.v...) thì những Tâm Phan Duyên (tâm thức, vọng tâm, tâm chạy theo Trần cảnh âm thanh sắc tướng ...) tự vong (tự biến mất).
Nếu một Niệm không sanh khởi; lìa bỏ cái Tâm (thức) Phân Biệt thì " Ý Căn " phải dứt; duyên vọng (tưởng) nọ liền tự thôi (tự dừng, không phá quấy, ngăn ngại nữa) thì 6 Trần còn làm bạn với ai được nữa. Tức là không còn đối tượng "Căn" để cho Trần tiếp xúc nên trở thành vô dụng.
Cho nên 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, Thân, ý) không Duyên với 6 Trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) thì Trần cảnh (tuy vẫn hoạt động ồn náo Lăng xăng ở bên ngoài) tự nhiên vắng lặng (ở trong Tâm vì không đem cảnh vào Tâm).
"Chơn Tâm" (Phật Tánh, Pháp Thân ... ...) vốn "Không"; cảnh Trần vẫn vắng (ở trong Tâm) song người đời quên "Chơn" mà chấp "Vọng" nên mới có cảnh Lăng xăng.
Nếu Tâm ta "không chấp (không lấy, không thọ) không bỏ" (tức là chấp nhận tất cả) thì trọn ngày đối cảnh (chứ không phải ly cảnh, tránh cảnh, chối bỏ cảnh) mà cảnh vẫn lặng, cũng chẳng cần dứt bặt tâm (diệt tâm không còn biết gì nữa) và cảnh; chẳng cần dẹp bỏ hết muôn vật rồi mới có vắng lặng tức là nếu mình "không mê muội (không quên) Chơn Tánh (vốn không) thì cảnh tự vắng vậy.
Cho nên Kinh nói: "Thấy (biết) tất cả pháp mà không chấp vào chỗ mình thấy, biết là đúng vậy". Thấy biết suốt các pháp là thấy biết "Tâm và Cảnh" rõ ràng vậy. "Chơn Tâm" vì không chấp có biết nên nói Chơn Tâm vốn không. "Chơn Cảnh vì không có chấp tướng" nên nói cảnh vắng vậy.
Chơn Tâm vì không khởi (sanh) phân biệt (thích, không thích, danh lợi, thương nghét, cao thấp, khen chê, phê phán.v.v...) nên vắng lặng mà thường diệu dụng chiếu soi nên nói là "không biết".
"Không Tướng" (vô tướng) chính là ở nơi cảnh tướng mà không chấp tướng (không trụ, không thọ, không dính mắc vào các hình, danh, sắc, tướng) chứ không phải dẹp bỏ hết muôn vật mới có "không tướng".
Chiếu rõ (thấy biết rõ) các cảnh mà Tâm thường vắng lặng diệu dụng (không sanh niệm Phân biệt đối đãi với các pháp nhị nguyên...) nên nói là "Không Tướng" (vô tướng) tức là "Chơn Không Diệu Hữu".
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks