【 THIỀN ĐỊNH PHÁP YẾU 】

Hành giả phải biết Thiền Định cốt lìa ngôn ngữ, danh, tướng, vọng tưởng để hiện bày “Thánh Trí” khi đạt được Chánh Trí phải biết xã bỏ Tâm phân biệt các pháp (Nhị Nguyên) “chánh, tà” để đến cảnh giới Như Như, khi đạt cảnh giới Như Như rồi cũng phải lìa bỏ để tiến tới "Tâm Vô Niệm". Nếu đạt đến Tâm Vô Niệm là đã ngộ được bản thể "Chơn Không" nguyên là (Bản Lai Diện Mục). Bản Lai Diện Mục vốn lìa mọi hí luận Hữu Vô, Năng Sở, Bỉ Thử. Đây là cảnh giới "Tự Giác Thánh Trí" không thể dùng tri thức suy luận, hay là dùng ngôn ngữ để diện đạt hiện bày.

- Hành giả, tu “Thiền Định” còn ở giai đoạn sơ cơ, thì phải giữ giới hạnh trang nghiêm, nương nhờ vào cảnh Tịnh của Giới để cho Tâm được “Tỉnh Lặng” xa lìa các hình, danh, sắc, tướng... để giúp cho Tâm được an định. Nhưng một khi đạo lực đã vững vàng, thì phải tiến đến chỗ tích cực hơn, là phải biết dụng Tâm chế cảnh, để vượt qua mọi sự “Động-Tịnh” của pháp trần. Hành giả tiếp xúc với đời sống công việc hằng ngày, khi xúc chạm vào nghịch duyên. Tâm không dao động vẫn an nhiên tự tại, ứng dụng tuỳ duyên dung hoà cùng pháp giới vạn hữu...

Muốn tỏ ngộ được Bản Tâm “Kiến Tánh thành Phật” thì phải nương vào pháp môn Thiền Định (Thiền, tịnh, Mật) để chuyển hoá vô minh, dứt bỏ những chướng ngại của nghiệp thức, vô minh phiền não, tri kiến, tư lương (Sở Tri Chướng) khiến cho Tâm không còn bị các pháp chướng ngại ô nhiễm. Hành giả cũng không trụ ở chỗ “nhiễm hay tịnh” thì bấy giờ Tâm mới khế hợp cùng (Chơn Như Pháp Giới Tánh) = Chơn Tâm mới có thể diệu dụng được Đạo Pháp, Sự Lý mới viên dung được “Động và Tịnh - Đạo và Đời” mới hiện dương được Chánh pháp. Chứng nhập "Chơn Không Diệu Hữu" tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên (Tịch Nhi Thường Chiếu - Chiếu Nhi Thường Tịch) vô vi tịch tịnh.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT


(sưu tầm)