kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Ðề tài: Bài giảng của Thầy giác Khang Về Chân Tâm, Tiểu Thừa, Đại Thừa, Alahán, Phật, Tịnh Độ

Threaded View

Previous Post Previous Post   Next Post Next Post
  1. #2

    Mặc định

    điều kiện để mà hưởng thụ, không hưởng thụ là thứ ngu. Bây giờ quý vị ra coi vật chất bên ngoài, nhất là gần tết phè phởn đủ thứ hết trơn. Rồi cái tiền, quý vị

    ra bị móc túi sạch sành sanh không còn cái gì, thấy cái gì cũng đẹp hết.

    Thành ra tôi kỳ rồi đi vô chỗ ông Tâm Châu bán trà là tôi không dám vô, vô là thấy cái nào cũng muốn mua hết. Mà đi lợi chỗ đó có một ông Việt kiều ổng theo

    nói “Sư muốn mua cái gì, con mua hết, bây giờ tốn vàng con cũng mua cho Sư nữa”. Tôi nói “Trời ơi! Tôi không dám đi đâu”. Tôi cũng còn phàm mà. Nó chưng

    bày những cái, rồi đèn đuốc nó đốt lên, trời ơi nó bán đủ thứ, trà, bánh, mức, café,… bán đủ thứ hết. Mà bây giờ tôi lại uống trà nữa, ổng cứ mua thứ thượng

    hảo hạng cho mình không hà. Tôi nói “Không, tôi không có vô, ai vô thì vô, tôi đứng ở ngoài thôi”. Không dám vô, mình là phàm phu mà, con mắt thấy sắc

    cũng còn mê.

    Quý vị thấy là khó, mình phải lánh cảnh. Khi chưa rồi là phải giữ giới cho kỹ, ôm cái phao cho kỹ, nhít một chút xíu là thành thằng chỏng thôi. Mà cuộc đời tu đã

    đến đây mà để rớt cái bịch sao!

    Mà phật tử nói tôi đắc Thánh quả không, tinh là phật bà thọ ký không hà. Thấy cái hạnh tôi giữ giới này kia, thấy tu ngon lành, giảng pháp rõ ràng, như vậy là

    ổng đắc rồi. Mà ổng càng từ chối chừng nào tức là càng đắc chừng nấy. Người đắc đâu có ai vỗ ngực xưng tên, mà không chịu tức là đắc. Phật tử bây giờ lanh

    lắm, tôi phải chịu thôi.

    Thì chúng ta trở lại. Cái chỗ đó là cái chỗ đau đớn nhất của người tu, cái chỗ mà tất cả tôn giáo bạn không hiểu được, mà cả tới Phật giáo cũng không hiểu

    được. Nên Nam tông nói kinh Thủ Lăng Nghiêm là đại gian xảo nhất, ngoại đạo. Mà theo tôi, trong các kinh chỉ có Thủ Lăng Nghiêm là đứng hạng nhất thôi.


    Thành ra Thủ Lăng Nghiêm trong thời buổi này phải bị tiêu diệt trước hết thảy, nó là một cái chướng ngại cho Nam tông, bác luôn cái nhân duyên. Thì cái

    “nhân duyên” đó, Thủ Lăng Nghiêm nói dùng không đúng, phải dùng cái “duyên khởi”, không có cái gì sanh ra cái gì, không có cái

    nhân, rồi không có cái duyên để tạo
    ra cái quả, không có vụ đó, “tất cả đều là duyên sinh”.

    Mà chữ duyên sinh là cái gì? Cái danh từ nó giết chết người. Duyên sinh là không có cái gì sinh ra cái gì hết.

    Như vậy hiện tượng giới này là cái gì? Hiện tượng giới này là làm duyên tạo cái đà điều kiện cho phát khởi với nhau, không có cái nào trước, không có cái nào

    sau, đừng có nói cái nhân hột xoài mà sanh ra cây xoài, sanh ra quả xoài, không có cái vụ đó.
    Phải có cái nhìn cái chu kỳ có cái sátna nằm trong đó.
    Thì cái hột, cái nhân cùng có một lượt, nhưng mà do sự chuyển biến mình thấy dường như nó khác. Quý vị phải hiểu cái chỗ đó.

    Thành ra nói về cái chu kỳ thì có duyên khởi “có cái này sanh ra cái kia, nhưng mà trong đó có cái sátna nằm trong đó.

    Mà sátna không cái nào sanh cái nào hết, thế giới cùng phát hiện một lượt.

    Thành ra trong kinh mà nói về thế giới hiện tượng thì không có cái gì một lượt hết trơn á, còn nếu nói về sátna thì tất cả đều một lượt.

    Cái đó tôi đã thí dụ cho quý vị rồi. Quý vị thấy như tôi nói 2 mũi tên, 2 người cùng đứng một chỗ bắn tới cái bia cách đo 3km chẳng hạng.

    - Nếu một người bắn với tốc độ 5km, người kia 500km, thì quý vị thấy người bắn với tốc độ 5km đến chậm, còn người bắn 500km đến mau. Thì mình thấy rõ

    thôi, bởi vì nó có cái khoản không gian rõ ràng.

    - Còn bây giờ một người bắn với tốc độ 500km, một người 499,5km, cách có 0,5km thôi. Thì quý vị thấy mũi tên nào tới trước? Quý vị thấy 2 mũi tên tới một

    lượt, nó cách nhau có 0,5km, mà tốc độ với 500km và 499,5km, 2 người cùng bắn một lượt thì mũi tên tới một lượt . Mà sự thật thì không có đến một lượt đâu,

    làm gì có đến một lượt. Hễ có không gian là phải có trước sau chớ.

    Cũng như tôi thường thí dụ cái đài phát thanh Saigon và cái đài phát thanh Mỹ. Nếu từ Trà Vinh mà tôi đi lên Saigon, từ đây tôi qua Mỹ, đi bằng máy bay với

    tốc độ bằng nhau, tức nhiên là tới Saigon trước, dĩ nhiên thôi.

    Rồi bây giờ nếu mà cái phát hiện đó. Thì bây giờ tôi cũng ở tại đây, tôi lấy 2 cái radio, một cái tôi bắt tần số Saigon, một cái tôi bắt tần số Mỹ, tôi nhấn nút một

    lượt hết. Thì cái âm thanh nào phát ra trước? Thì chúng ta phải nói là 2 cái cùng một lượt. Tại sao vậy? Đài Saigon gần đây, mà đài Mỹ tuốt đằng kia mà tại sao

    phát ra tiếng nói một lượt. Thì chúng ta thấy cái tiếng nói nó nằm ở trên không gian này. Không phải tiếng nói nó đi, nó đến mà nó là phát hiện. Phát hiện thì

    khác, còn đi với đến là khác.


    Thành ra chúng ta không hiểu cái này là chúng ta không hiểu được pháp môn Tịnh độ. Ông Thiện Khánh nói cô Tịnh Tường nói có nhiều

    người lên bác pháp môn Tịnh độ một cách tàn tệ
    . Thì đúng chớ đâu phải sai, nhưng đúng về thế giới hiện tượng này,

    thế giới không gian và thời gian thì pháp môn Tịnh độ hoàn toàn sai.

    Cũng như thầy Nhất Hạnh không bác, mà thầy bác, bác rất khôn, trong cái quyển thầy viết A Di Đà. Một người bạn hỏi thầy chớ trong kinh nói là đi cúng hoa

    khắp 10 phương chư Phật mà trở về kịp độ ngọ, độ ngọ là có ăn, mà có ăn là phải có ỉa, tức là phải có cầu tiêu, mà thế giới Cực lạc mà có cầu tiêu thì là sao mà

    Cực lạc được. Trời ơi! nó hôi rình. Rồi trong đó có nói ăn bằng đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực.

    Trong kinh có 4 cái thực. Mà thật sự tôi chưa từng thấy ai giảng mà cho rành. Rồi tôi cứ trăn trở hoài, giảng làm sao cho nó rõ. Trời ơi! cái tứ thực này nó nằm

    trong tam giới. Tôi đã giảng cho quý vị rồi.

    Thí dụ

    - Đoàn thực là cõi của chúng ta thì phải có sắc, tài, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ, thì ăn vô bao tử thì phải ỉa ra dĩ nhiên rồi.

    - Rồi nếu quý vị nhập định 7 ngày, 7 tháng, 7 năm, 700 năm. Thì quý vị còn ăn bánh mì, còn ăn cơm nữa không? Quý vị ngồi tỉnh bơ như vậy 7000 năm, quý vị

    ăn bằng cái gì? Cái đó có phải kêu là đoàn thực không? Có ăn, có ỉa được không? Ăn bằng cái hỷ lạc, trong kinh nói rõ ràng. Nhập vào:

    . Sơ thiền là ly dục sanh hỷ lạc.

    . Nhị thiền là định sanh hỷ lạc.

    . Tam thiền là ly hỷ diệu lạc.

    . Tứ thiền là xả niệm thanh tịnh.

    Thì quý vị ăn bằng cái hỷ lạc, quý vị sống bằng cái xác thân thứ 2. Thành ra cõi này không có mặt trời mặt trăng, không có vấn đề chết nguyên con, đâu có ăn,

    đâu có tiêu tiểu gì đâu, chết cũng không có hôi thúi nữa, chỉ là biến mất thôi. Chúng ta đâu có tin được
    .

    Không tin thì phải làm sao? Chịu thôi. Còn muốn làm sao thì phải ngồi thiền đi. Chừng nào qua nhị thiền rồi trong cái lặng lẽ rồi quý vị sẽ thầm hội (hôi là hiểu

    biết, thầm là âm thầm). Rồi người ta hỏi không biết trả lời làm sao, giống như thằng câm nó nằm chiêm bao. Cái này có nhiều người hỏi tôi. Nghe rồi suy nghỉ.

    Mà hỏi tôi nằm chiêm bao là sao Sư? Tức là mình thấy rồi lên không biết làm sao diễn tả. Cũng như con rùa diễn tả cho con cá trên mặt đất. Làm sao diễn tả

    được, vì 2 cảnh giới nó khác nhau.

    Như vậy còn chưa đâu. Quý vị qua tứ thiền sắc giới, rồi qua tứ không thì không còn xác thân thứ 2 nữa.

    - Cái đầu là quý vị sống bằng xác thân bên ngoài: mắt, tai, mũi, lưỡi, tim, gan, tỳ, phế, thận.

    - Rồi tới cõi sắc giới bỏ xác thân bên ngoài, quý vị ăn uống bằng dây thần kinh. Dây thần kinh đâu có ăn uống, thì nó phải ăn bằng cái cảm giác hỷ lạc. Thì quý

    vị coi lại sơ, nhị, tam thiền nữa tôi giảng sâu vào đó.

    - Còn tới tứ thiền sắc giới, nó không ăn xác thân bên ngoài, không cần dây thần kinh nữa, nó chỉ còn cái óc trên này thôi, các dây thần kinh cảm giác nó bỏ

    hết, nó còn cái thần kinh tư tưởng một chút thôi, nó không có thân bên ngoài, không có thân bên trong, không có cảm giác hỷ lạc luôn. Thì nó ăn bằng cái gì?

    Ăn bằng cái tư tưởng.

    Cái này ông Thiện Khánh hỏi tôi, làm sao tôi giảng. Nói “Hư không vô biên là sao Sư? Rồi thân hư không vô biên là sao Sư?” Tôi nói hư không vô biên, cái thân

    là hư không, rồi tư tưởng, cái nhận thức, cái tâm mình là hư không, rồi cảnh giới bên ngoài là cái gì, là hư không. Thân-tâm-hoàn cảnh đều là hư không hết. Thì

    cái đó không có xác thân, không có cảm giác, thì kêu là tư niệm thực. Tư là ý chí, là mạtna, niệm là tư tưởng, ý chí cung cấp chất liệu cho tư tưởng, tư tưởng

    tạo ra cái hư không. Bây giờ hỏi tôi, tôi làm sao trả lời. Trời ơi! Cái thân hư không là sao?

    Cô Khánh Hồng hỏi “Cái tâm hư không là sao, hoàn cảnh xung quanh hư không là sao. Con không thấy hư không.” Tôi nói đi chơi cho đã đi rồi về hư không. Có

    thể mình ngồi tới nhị thiền, mình ra ngoài bờ biển mình dòm cái biển thì mình thấy nó bao la, cái hư không nó gần gần như vậy, thì cái thân của mình nó cũng

    bự như vậy đó, rồi cái tâm của mình cũng bự như vậy đó, rôi hoàn cảnh chung quanh cũng bự như vậy đó, đâu có cái gì hơn hư không.

    Thành ra trong 7 đại, mình suy nghĩ đất, nước, lửa, gió, thứ 5 là hư không. Hư không là quan trọng nhất, đất, nước, lửa, gió không có ngoài hư không được, tất

    cả đều nằm trong hư không. Mà hư không bao lớn Sư? Coi đã không, hư không mà hỏi bao lớn. Làm sao tôi trả lời. Hư không là hư không đừng có hỏi tại sao

    nữa. Như vậy làm sao con nhập vào hư không? Cô Khánh Hồng à, cổ hỏi nhiều cái tôi cũng đầu hàng thôi. Thì bây giờ mình phải ngồi thiền rồi hỏi vô sư trí mình

    chớ hỏi tôi làm sao bây giờ.

    Cổ còn hỏi “Phi phi tưởng”. Mà muốn qua phi phi tưởng đâu phải dễ, phải qua tứ thiền, rồi tứ thiền thăng hoa lên tới hư không, rồi hư không phải tập trung

    mạnh, kỹ, lâu, sâu mới tới thức vô biên, thức vô biên phải tập trung mạnh, kỹ, lâu, sâu nữa rồi mới vô sở hữu xứ, vô sở hữu xứ phải tập trung mạnh, kỹ, lâu,

    sâu mới tới phi phi tưởng. “Mà Sư nói phi phi tưởng đọa xuống làm con chim phi ly, súc sanh. Làm sao đọa Sư?” Cổ hỏi cái này tôi cũng chết thôi. Thì hỏi ông

    thầy cô á, tức là vô sư trí của cô. Cổ hỏi mấy cái quá cao, tôi thầm hội được, nhưng tôi diễn làm sao tôi diễn bây giờ.

    Mấy cô nên nhớ là cái cõi tứ thiền cao vô cùng, Đức Phật chấp nhận, kêu là bất động địa, gió bát phong không hề lay chuyển. Đất, nước, lửa, gió không hề động

    tới người nhập tứ thiền. Nghĩa là đốt không cháy, mà biển sóng xao động cũng không lay động, mà bão táp cũng không nhúc nhích tới người mà nhập tứ thiền.

    Tôi chưa nhập nhen, tôi ngồi tôi hiểu vậy thôi. Nó là cứ vậy mà phi phi tưởng còn cao hơn nữa, nó nhập tới 4 tầng mới tới phi phi tưởng: hư không vô biên là

    cao hơn tứ thiền nữa, rồi thức vô biên cao hơn hư không vô biên, rồi vô sở hữu xứ cao hơn nữa, phi phi tưởng cao hơn nữa, mà dám đọa một cái là xuống súc

    sanh.

    Đọa bằng cách nào? Cái đó phải suy ngẫm chớ. Thì tất cả đều nằm trong Tam pháp ấn: vô thường, vô ngã, khổ đau. Nếu còn trong tam giới thì
    phải nằm trong


    Tam pháp ấn đó, thì Nam tông lấy cái đó làm nền tảng. Nhưng mà thật sự là không đúng lắm. Nắm nền tảng đó thì nằm trong tam giới. Còn một vị Nhập lưu,

    Nhất vãng lai, Bất lai, Alahán, cũng không ngoài cái đó, cũng vô thường, vô ngã mà là Niết bàn tịch tịnh.


    Mà khổ đau là cái gì mấy cô biết không? Mình phải ngồi suy ngẫm, chớ không phải mỗi cái đều hỏi người khác hết.


    Khổ đau đó là Tập đế.

    Tập đế là gì? Là thói quen.

    Thói quen là gì? Là ghiền.

    Ghiền là gì? Là nghiện ngập.

    Nghiện ngập là gì? Là dính mắc. Nói cho danh từ tùm lum.

    Dính mắc tức là làm cái gì đó nó quen rồi bỏ không được. Tôi bỏ cái thói quen này rồi tôi lên cái thói quen cao hơn, thế là tôi bỏ cái xiềng cây, tôi lên cái xiềng
    sắt, xiềng vàng, đó là cái khổ tâm của cuộc đời sanh tử của chúng ta mà 62 tôn giáo bạn đã đi tìm cái đó để mà chấm dứt, nhưng mà không chấm dứt được, chỉ

    có cải sửa thôi rồi an trú trong cải sửa nữa.

    Như Uất Đầu Lam Phất và A La La thấy mình tương đương chớ thật sự là tương tợ với Alahán, một người phi phi tưởng tưởng mình tương đương với Như

    lai.


    Thế mà tương đương với Như lai mà đọa xuống thành con chim phi ly. Cô Khánh Hồng hỏi cũng phải “làm sao mà bị đọa xuống”. Nhưng mà cổ quên cái “vô thường,

    vô ngã, khổ đau”.

    Khổ đau là có vấn đề, có tư tưởng, mà tư tưởng thì nằm trong vấn đề “nhàm chán”. Mà nhàm chán là phải đi xuống.

    Chúng ta thấy Từ Thức lạc non tiên. Cô Giáng Tiên trên trời sung sướng quá, lâu quá nhàm chán đi xuống cõi trần chơi. Thì xuống cõi trần chơi thì mất thần

    thông, phải hạ xuống thấp. Rồi thấy cái hoa mẫu đơn của chùa đẹp quá đưa cái tay tới, mà tiên mà đưa cái tay tới, mà tiên đưa cái tay tới ở cõi trần thì cái

    bông rụng liền. Thì nhà chùa bắt cột vô đó, đền. Tiên mà làm sao có tiền dưới trần mà đền. Thì cái câu đó chúng ta thấy nhàm chán là đi xuống.

    Rồi từ cõi đó, Bà Tây Vương Mẫu thấy là Từ Thức có duyên với cô Giáng Tiên này mới gã cô Giáng Tiên cho. Thì ổng đi chơi mới hiện cái cảnh xuống rồi con hạc

    mới chở ổng lên cõi trời, kết hôn với cô Giáng Tiên. Một thời gian rồi cũng nhàm chán “nửa năm tiên cảnh một bước trần ai”, ở trên đó có nửa năm, thì nhớ nhà

    cửa, cái phòng của ổng ở sướng thấy mồ đâu có ăn uống gì, muốn ăn cái gì thì đồ ăn nó hiện ra, ăn rồi khỏi rửa gì hết trơn, có cái tư tưởng là nó biến mất.

    Chúng ta tưởng đâu nói dối, cái đó là thế giới của thần thông, nó vẫn có như thường, nhưng mà đừng nhận nó “là Ta, của Ta, tự ngã của Ta” thì tiếp tục luân hồi nữa.

    Rồi mấy ông Bồ tát, mấy ông đắc quả Phật thì cũng có cái đó vậy, nhưng mà cái đó nó “không phải Ta, không phải của Ta, không phải tự ngã của Ta” nó khác

    có chút xíu đó thôi. Cũng hiện tượng đó vậy nhưng các Ngài không dính
    .


    Cái kia dính mắc, cho cái thần thông “là Tui à. Tui cao hơn các ngài” thì đó là cái ngã đấy.

    Cũng vẫn có thần thông như vậy, nhưng mà thần thông của Bát nhã thì tôi thị hiện, du hí chơi thôi.

    Tôi bây giờ mới hiểu được cái đó, chớ hồi xưa tôi tưởng Phật không có thần thông, tôi tưởng các vị Alahán không có thần thô
    ng.

    Thật ra cái thần thông của tư tưởng nó khác cái thần thông Bát nhã. Mà khác làm sao? Không có ai giảng hết. Thì cứ hỏi “vô sư trí mình” thôi. Tôi hơn quý vị là

    tôi cố giữ giới, thành ra rãnh rang, cuộc đời tôi không có gì hết, không xài tiền, không gì hết, ai làm gì làm, tôi không dám nói ai hết, tôi tối ngày tôi chìm trong

    thiền định, thì trong đó trả lời cho tôi hết. Đức Phật nói “Con cứ yên lặng, con cứ gõ mãi đi cửa sẽ mở”. Thì tôi thấy đúng vậy.

    Tôi thấy Sư Trưởng trong “Trú dạ lục thời”, thiền định tới 3 thời, 6 thời mà thiền chiếm hết 1/2. Thì quý vị thấy là quý vị phải cố gắng ngồi thiền.

    Mà muốn ngồi thiền quý vị phải có chất liệu tức là phải thuộc kinh rồi ọc ra, chớ bây giờ quý vị trả bài kinh Sáu Sáu, quý vị trả cho có chừng vậy thôi, nuốt vô

    như con trâu ăn cỏ thì nằm trong đó, sình bụng. Ở đây tôi thấy có nhiều người sình bụng, học nhiều quá rồi trả lộn xộn tùm lum hết trơn, không nắm được cái

    gốc.

    Mà muốn nắm cái gốc phải làm sao? Phải thiền định thôi. Phải nhai cái cỏ, cái rơm cho nó nghiến ra, mình nghiền ngẫm, dùng chữ nghiền ngẫm rất hay, nghiền

    cho nó bấy thành xương, thành thịt, thành máu của mình. Quý vị ăn cơm quý vị nuốt trọng thì không bao giờ tiêu hết trơn. Quý vị theo Osawa, quý vị nhai cả

    trăm lần để nó thành nước rồi mới nuốt, cái đó nó bổ vô cùng, nó sẽ nuôi xác thân này, nó trở thành xương, thịt, máu của mình.

    Thì bây giờ quý vị bắt đầu thực hành trong cuộc sống mình đi. Còn đa số bây giờ quý vị cả đống, rồi nhận cái đó “là Ta, của Ta, tự ngã của Ta”, cái tự cao càng

    dữ nữa. Thì quý vị phải ngồi thiền thôi. Mà ngồi thiền ngán lắm Sư ơi, ngồi tới 2 tiếng đồng hồ. 2 tiếng ăn thua gì, 8-9 tiếng, rồi 8-9 ngày nữa. Bây giờ ngồi

    thiền 2 tiếng, “ăn chay thì xót ruột, ngồi thiền thì mỏi chân”. Còn trẻ không chịu ngồi, tới già rồi làm sao?

    Chỉ có ngồi thiền thì những cái lượn sóng ác mới lặn xuống thôi. Chớ ngồi thiền không phải là đạt Niết bàn, nhưng mà điều kiện ắt có và đủ để nó đạt Niết bàn.

    Ngồi thiền thì 6 căn, 6 con trâu nó phóng ra tùm lum, cột lại 5 con: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân trói lại hết. Con mắt không ngó sắc trần bên ngoài, lỗ tai không

    nghe tiếng bậy bạ nữa, cái lỗ mũi không ngửi mùi thơm, mùi son phấn nữa, cái miệng không ăn đồ chua, chát, ngọt, bùi nữa, cái thân không còn cà lắc nữa.

    Nhưng mà còn cái óc, cái tư tưởng thì không cấm nó được đâu, nó là ông tổ cha của 5 căn kia, nó chạy tùm lum. Thì bây giờ quý vị chăn 1 con trâu thôi, thì dễ

    dàng vô cùng. Hễ nó phóng thì kéo trở lại, nó phóng thì kéo trở lại cho tới chừng nào nó thuần, chừng nào chỉ còn tư tưởng thiện thôi, chớ đâu phải diệt hết

    được.

    Tư tưởng thiện mà nó hiện rồi, lượn sóng lăn tăn thì quý vị nhìn thấy dòng nước trong đó, từ đó Chân tâm tự nó hiện đến cho mình. Thành ra đừng bao giờ đi

    tìm dòng nước, đừng bao giờ đi tìm Chân tâm. Dòng nước ở đó chớ đâu mà đi tìm, khi nào nó mất mới tìm, nhưng mà nó đâu có mất.


    Không mất tại sao Sư không thấy? Tại vì mấy con trâu, con bò sắc, thọ, tưởng,… nhiều quá. Bớt lại, tư tưởng ác bớt lại, đè nó xuống thì nó thành cái sóng lăn

    tăn, mà lăn tăn rồi quý vị nhìn cái dòng nước thấy rõ.


    Thành ra cái câu chuyện của vua Thuận Trị Hoàng Đế với Ngọc Lam hay Ngọc Lâm vậy.

    - Vua Thuận Trị Hoàng Đế hỏi “Quốc Sư thường giảng Đạo, mà tôi không biết Đạo ở đâu? Ngọc Lam nói “Trước mắt bệ hạ”.

    - “Sao trẫm không thấy”. Ngọc Lam nói “Tại bệ hạ có ngã”. Ngã là có tiến trình 5 uẩn đấy: sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó là những lượn sóng che lấp làm cho

    bệ hạ không thấy dòng nước thôi.

    - Ông vua độc đáo, mới hỏi “Vậy Quốc Sư có thấy Đạo không?” Quốc Sư nói tôi không thấy, Quốc Sư có thấy không. Đâu có ai dám nói mình thấy, nói thấy thì

    hỏi Đạo nó ra làm sao thì làm sao giải thích. Ông Ngọc Lam Quốc Sư trả lời rất giỏi. Trả lời tới đó tôi xếp sách lại, tôi nói nếu người ta, mình trả lời làm sao. Bị

    Quốc Sư nói trẫm có ngã nó che lấp. Bây giờ Quốc Sư có thấy không, nếu thấy thì thấy nó sao, mà không thấy không lẽ mình nói ông vua không thấy Đạo mà

    mình thấy, mà thấy thì thấy làm sao. Ngọc Lam rất giỏi “Người nào mà không có ngã thì người đó thấy Đạo”. Chớ không nói là ổng, mà người nào mà không có

    ngã tức là không bị kẹt tiến trình 5 uẩn che nữa, thì người đó thấy Đạo.

    - Ông vua hỏi “Làm sao biết không có ngã?” Lại lọt vào cái vòng của Quốc Sư, “Làm sao biết người nào không có ngã?”. Thì Ngọc Lam trả lời rất hay “Người

    không có ngã nữa, không bao giờ hỏi Đạo là gì”. Người nào hỏi Đạo là người đó chưa có thấy Đạo, mà thấy rồi đâu có hỏi nữa. Hén, Người không có ngã người

    đó thấy Đạo. Làm sao biết không có ngã? Thì người không có ngã, người đó không bao giờ hỏi Đạo là gì. Còn bệ hạ hỏi ngã là bệ hạ còn là thằng ngốc.

    Bệ hạ cỡi trên lưng con trâu mà bệ hạ đi hỏi trâu, rồi làm sao tôi trả lời.

    Bệ hạ lấy cái mây bệ hạ che mặt trời, bệ hạ hỏi mặt trời ở đâu. Thì bây giờ chỉ cần cái mây nó tan mất thì mặt trời nó hiện, mặt trời nó ở đó chớ ở đâu. Nhưng

    mà bệ hạ bị cái tiến trình cái mây: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bây giờ làm sao cho mây sắc, thọ, tưởng, hành, thức mỏng bớt thì mặt trời nó ở đó, từ xưa tới

    giờ nó vốn ở đó, cái dòng nước luôn luôn ở đó.

    Bệ hạ cho cái biển động, có sóng thần thì làm sao bệ hạ thấy được cái dòng nước. Mà dòng nước là gì? Sóng thần là gì? Sóng thần lấy dòng nước tạo sóng, chớ

    đâu có ngoài dòng nước mà có sóng thần. Nhưng sóng thần có lúc lên, có lúc chấm dứt, biển động thì nó lên, biển hết động thì nó chấm dứt, còn cái dòng nước

    bao giờ nó cũng vậy. Khi có tướng thì đâu phải là dòng nước, đó là sóng. Nhưng mà dòng nước ở đâu? Ở ngay trong sóng, mà nó không có tướng, nó chỉ có cái

    hình thôi. Thì cái đó là cái nhức nhối.



    Thủ Lăng Nghiêm nói cái dòng nước đó chưa phải là Chân tâm. Mà dòng nước là vọng sao? Nó cũng không phải là vọng. Nhưng mà nhìn nó trôi chảy,

    mà trôi chảy thì vọng, mà nó không có tướng, nó đứng lặng, không có tướng thì chơn. Chỉ có nước là không trôi chảy, đứng lặng mà bất biến, thì cái đó

    kêu là nước
    .


    Mà nước chỉ có Alahán mới đạt tới, còn dòng nước là phải Nhập lưu, Nhất vãng lai, Bất lai chớ làm sao tu một cái mà nhận nước liền. Hén.

    Dòng nước nó chảy chậm, rồi nó chảy vừa vừa, rồi nó chảy thật nhanh.

    - Chảy chậm thì mình thấy cái hình dòng nước rõ ràng.

    - Nó chảy nhanh thì thấy có lúc là dòng nước, có lúc là hào quang, có lúc có hình, có lúc là hào quang thì mất hình.

    - Rồi chảy thật nhanh nữa thì cái hình mất chỉ có hào quang thôi, cái hình bắt đầu mong manh, mong manh nhỏ xíu, mờ mờ, cái đó là Bất lai đấy.

    - Rồi khi nó chảy một cách thần tốc nữa thì cái mờ mờ biến mất còn một cái vùng hào quang rực rỡ hoàn toàn. Thì cái này là đứng lặng bất biến. Niết bàn tịch tịnh của Alahán.

    Thì Đại thừa không chịu, nói không có vấn đề đứng lặng bất biến mà là chuyển biến một cách thần tốc. Chữ thần tốc lại khác nữa. Thần tốc là quá nhanh cho đến nỗi mình thấy dường như đứng lặng, chớ thật sự đứng lặng là chuyển biến thật là nhanh cho đến nỗi không có danh từ dùng, phải kêu là thần tốc. Tốc là cái vận tốc, thần tốc tức là quá nhanh, nó quá nhanh mình thấy dường như nó đứng lặng, thật sự là chuyển biến quá nhanh. Mà hễ nó chuyển biến quá nhanh thì nó phải bao trùm hết tất cả những chuyển biến đứng lặng và chuyển biến xao động, thì đó là biển Như lai.


    Thì chúng ta thấy giảng rất hay.

    Chúng ta coi trở lại thì cái kinh Na Tiên đó, không phải sai, nhưng mà không toàn diện được, mà thế giới còn ngán, bởi vì nó rất hợp với khoa học, giống hệt

    khoa học. Thành ra khoa học chỉ có chấp nhận có Nam tông thôi, chấp nhận các hiện tượng giới thôi.


    Còn qua tới pháp môn Tịnh độ thì khoa học không chấp nhận. Tôi hồi xưa cũng không chấp nhận, nó nói như nói dóc, cái gì mà cái xác thân là bông sen, mà

    bông sen ở đây cầm được, bẻ được, có thể làm uống trà được. Bông sen Cực lạc thì thấy có tướng mà nắm không dính. Phật A Di Đà, Quan Âm, Đại Thế Chí

    xuống tiếp rước mình, chụp cái chân không dính, mà có tướng chân rõ ràng. Thế giới Cực lạc là thế giới mà cây đều thuyết pháp hết, tới gió thổi cũng thuyết

    pháp. Dóc quá trời, dóc vừa vừa thôi. Cái cảnh giới đó không bao giờ nhân mãn, cảnh giới bao la có hình, có tướng mà lại là bao la, bao la cái nỗi gì. Mà cảnh

    giới vô lượng quang vô lượng thọ là cái hào quang cùng khắp, mà tuổi thọ đời đời kiếp kiếp không chết. Hễ có sống là phải có chết, có hình phải có hoại, cái này

    có hình có tướng mà lại không hoại, sống mà lại không chết. Nhức nhối!!!

    Thành ra trong kinh có nói rằng “Bủa lòng bác ái khắp trời. Nói ra những pháp mà trong đời khó tin.” Tin làm sao được. Muốn tin là chúng ta phải qua thế giới

    sátna. Mà thế giới sátna thì Sư diễn tả cho tôi nghe coi!?! Làm sao diễn tả được. Con rùa muốn diễn tả cho con cá cõi đất, cõi khô này thì chết mồ con rùa luôn,

    nói cái gì nó cũng nói “nói dóc”.


    Thì chúng ta thấy hồi thời hiện tại đây nè, ông Phan Thanh Giản chết cũng cái vụ đi qua Pháp, ổng về ổng nói xe người ta chạy không cần ngựa, rồi đèn người

    ta đốt không cần dầu. Mấy ông quan ngồi trên ghế cười cho tới lăn ở dưới đất. Đi xa về nói dóc, đèn gì không cần đốt mà cháy, xe gì không cần ngựa mà chạy.

    Cái đó là nói dóc, làm gì có cái vụ đó. Mà thiệt tình nếu chúng ta ở mấy cái nước cổ lỗ thì chúng ta thấy đèn dầu đốt phải có hộp quẹt, chớ cái gì đèn mà không

    có hộp quẹt đốt làm sao cháy, còn xe không có ngựa kéo làm mà chạy, lên nhấn nút một cái là dông. Còn bây giờ chúng ta thấy cái đó dễ ợt, nhưng mà đối với

    cỗ lỗ mấy trăm năm về trước thì cái đó quá lạ.

    Cũng như Đức Phật, trong kinh nói bây giớ có nhiều cái nó trật. Không phải trật mà thời buổi đó đúng. Trong kinh nói quý vị không giữ giới giống như cất nhà

    dưới bãi biển, nó không có cái nền. Bây giờ tôi đi Mũi Né tôi thấy cất nhà cả 3-4 chục tầng, 5-7 chục tầng ở bãi biển không, người ta vẫn cất được như thường,

    có sập đâu. Tôi hỏi mấy ông kỹ sư, ổng nói bây giờ không phải như xưa Sư ơi, nó có cái nền đàng hoàng ở dưới, mà ổng nói tôi có hiểu gì đâu, thằng ngốc ở

    trong nhà quê đi ra thì có biết về vấn đề khoa học nó tiến tới vậy. Ổng nói cái biển Manche ở bên Pháp qua Anh cách nhau 50km, nó làm cái đường xe lửa chạy

    ở dưới đáy biển đó, không có nước nào vô hết trơn, không phải mới đây mà cách mấy chục năm về trước. Sư không có biết cái đó. Thì mình chịu thôi.

    Thành ra trong cái quyển Tây Du Ký, Tề Thiên Đại Thánh có thần thông vô cùng, người ta có thần thông thì cân đẩu vân. Ổng nói người ta bay không bằng ổng,

    ổng có cân đẩu vân bay gấp mấy chục lần đằng vân. Bát giái thì có đằng vân, Sa tăng cũng đằng vân thôi. Đằng vân thì có mấy chục km, còn cân đẩu vân thì

    mấy ngàn km. Ổng nói đâu có ai hơn tui, có 72 phép biến hóa, Bát giái và Sa Tăng có 36 hà, tôi gấp đôi. Như lai nói ông giỏi mà ông nhảy qua bàn tay của Như

    lai được không? Tề Thiên cười nói cái ông Cồ Đàm nghe nổi tiếng ngon lành lắm, cái bàn tay mà làm gì tôi nhảy không qua, tôi nhảy cân đẩu vân một cái là mấy

    trăm ngàn cây số, cái bàn tay của Ngài có mấy tấc hà. Mà thật sự đâu có qua bàn tay Như lai. Mà bàn tay là gì? Đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

    Thì các nhà khoa học bây giờ là thức uẩn vô cùng, đằng vân, độn thổ, đời non, lắp biển. Tôi nghe ông Nhã nói khi đi ngang qua tỉnh Long An, cái nhà lầu 2-3

    tầng, cất rồi từ bên lộ bên nay nó đời qua lộ bên kia. Dời làm sao mà y chang hà mà không có sập cái gì hết trơn, dời nguyên căn nhà lầu. Bây giờ làm được, ở

    Viêt Nam mình đó. Cái đó là thường thôi, bây giờ ở bên Mỹ nó còn làm nhiều cái động trời, nhưng mà không qua cái bàn tay của Phật, không có làm gì qua hết.

    Thôi, tôi nói đến đây thôi, quá giờ rồi, bây giờ tới quý vị, quá tới ½ tiếng rồi. Bây giờ trả bài hén, tôi tính giảng cái bài kinh Sáu Sáu mà tôi nhiều chuyện quá,

    không giảng tới đâu hết.

    Phật tử trả bài.

    Tôi cũng xin tán thán quý vị tức là phong trào học pháp rất là sinh động, tôi rất mừng, đa số trả thuộc bài. Nhưng mà, tôi nói chữ nhưng đó, tức là trâu nó đã

    ăn cỏ rồi, nó ăn rơm rồi, thì bây giờ tôi xin quý vị nghiền ngẫm, giai đoạn này là giai đoạn khó đấy.

    Thì muốn nghiền ngẫm, chúng ta phải giữ giới cho kỹ và ở chỗ thanh tịnh, bớt công ăn việc làm lại, tập ngồi thiền, nếu kiết già không được thì bán già, ít nhất

    cũng là 1 tiếng hoặc 2 tiếng, càng lâu thì cái “vô sư trí” càng hiện ra thì chúng ta thấy rõ cái bài kinh Sáu Sáu này rất là thâm thúy, và chúng ta chuyên cần

    chúng ta có thể đắc Thánh quả Nhập lưu trong ngay kiếp này.

    Còn nếu không chúng ta cũng được nhất niệm, trả như vậy quý vị nhất niệm lắm đó chớ không phải dễ, không cầm giấy gì hết mà ở trong alaya tuôn trào ra

    mà không lộn gì hết là cả một vấn đề. Tôi thấy phật tử tôi rất là tội nghiệp. Nhất là tôi thấy thôi, cũng như cô Tấn hồi nảy đó vô đây quết tịnh xá mà vừa quét

    vừa cầm bài kinh Sáu Sáu này học, mỗi lần tôi ngồi thiền tôi thấy. Còn cô Tươi vừa bán sơ ry vừa cầm bài kinh Sáu Sáu học, tôi chạy xe đi ngồi thiền ngoài bờ

    sông tôi thấy. Tôi thấy, tôi nói chà như vậy là phong trào học lên cao thành ra trả bài rất hay. Mà muốn trả được như vậy đó là alaya của quý vị đã đầy nhóc rồi

    đó, nó tràn ra.

    Mà niệm Phật nó tràn như vậy đó thì quý vị vãng sanh chắc chắn thôi, quý vị vô nhị thiền sắc giới đấy, nhưng mà nếu nó có 5’-10’, một vài tiếng đồng hồ thì đó

    là tập tu tứ thiền thôi, tức là cõi người và trời dục giới, cái lầm của tôi hồi xưa, 7-9 tiếng ngồi thiền chưa phải là nhập định đâu, là tập nhập định thôi. Tới chừng

    7 ngày, 7 tháng, 7 năm, 7000 năm,… thì đây mới nhập định, nhập thì có xuất. Còn đây mới có chút xíu hà, thành ra phải đoàn thực. Còn nếu quý vị 7 ngày, 7

    năm, 70 năm,… thì quý vị đâu có đoàn thực. Lấy cái gì mà ăn? Đâu có ăn cơm, cháo, đâu có ăn, tiêu, tiểu gì nữa thì quý vị nằm ở trong cõi trời sắc giới, từ nay

    chỉ thọ cái hỷ lạc, không còn là nam, nữ nữa, không càn mặt trời, mặt trăng nữa. Thì quý vị cứ vô đó quý vị sẽ thấy. Nhưng mà cõi

    này vẫn còn luân hồi, chúng ta nên nhớ, nhưng mà cõi này qua Đạo Phật, Nhập lưu rất dễ dàng, còn nếu không, quý vị muốn vãng sanh cũng rất dễ dàng,

    chỉ năn nỉ A Di Đà là Ngài hiện



    thôi, lúc này cái cảm của quý vị rất mạnh thì A Di Đà phải ứng hiện thôi, thì quý vị vãng sanh thôi.

    Như vậy là trâu đã ăn cỏ rồi đấy, thì bắt đầu làm việc tới nữa, tức là phải ôn tới ôn lui, chớ quý vị bỏ chừng 2-3 ngày là quên hết, huân tập những chủng

    tử

    đời, nhất là gần tết rồi, đời nó hấp dẫn lắm. Thì cái này mới vô hấp dẫn một chút thôi, thì chủng tử đời còn nhóc trong alaya mình, không khéo là nó diệt hết cái

    bài kinh này. Thì quý vị phải tiếp tục coi cái phần thứ 4 trang thứ 4 là 10 câu hỏi về bài kinh Sáu Sáu. Cái này là khó đấy.

    Thì sau khi trả bài hết, ai cũng trả hết nha, cái này là cái quan trọng của quý vị đó, rồi phải trả lời câu hỏi. Câu thứ 1 là khó nhất, tức là quả Nhập lưu đấy, hễ

    qua câu thứ nhất rồi thì mấy câu sau tương đối dễ hơn.

    Câu 1: Giải thích và cho thí dụ sự khác nhau giữa nhãn thức, nhãn xúc, nhãn thọ và nhãn ái.

    Tôi thấy quý vị trả lời thao thao bất tuyệt đấy, lanh lắm. Hén. Nhưng mà không biết giải thích làm sao. Giải thích không phải 1 căn, quý vị thấy mắt, tai, mũi,

    lưỡi, thân và nhất là cái óc, cái chỗ này là khó.

    Cái óc thì nó chưa có dây thần kinh, nó tiếp xúc với pháp trần thì quý vị làm sao cho rõ ràng. Cho được cái mắt thì tai, mũi, lưỡi, thân giống hệt, nhưng mà cái ý

    là khác.

    Thì hồi nảy mấy cô đọc: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức thuộc về ngạ quỷ tức là có cảm giác mà chưa có phân biệt của tư tưởng. Tôi đã

    giảng rồi, tôi không giảng lại nữa.

    Còn ý thức nó không thuộc về cảm giác nữa, nó thuộc về cái đầu, nó cho cái tư tưởng phân biệt lờ mờ của súc sanh. Nếu quý vị đi sâu vào cái đó, quý vị thấy

    cái đó mà đừng cải sửa gì hết là đắc Nhập lưu ngay bây giờ. Mà đừng cải sửa ít nhất cũng phải nhị thiền chớ không phải nói chơi như vậy là được, nó khó lắm.

    Mà nếu quý vị trả bài thuộc lòng như vậy là bắt đầu nhị thiền rồi đấy. Tôi lần lần tôi đưa quý vị bất ngờ. Hén. Thành ra ai học không thuộc thì khó, thì phải cố

    gắng. Nhưng mà thuộc rồi bỏ mà 3-4 bữa là quên hết, thì cái nhị thiền nó mất tiêu, trong alaya mình chủng tử thiện, ác, vô ký rất nhiều, vô ký là không thiện

    không ác, còn chủng tử niệm Phật như vậy đó là chủng tử thiện, đọc bài cho thuộc là chủng tử thiện thôi, nhưng mà nếu quý vị phát nguyện nữa “A Di Đà ơi,

    con, chủng tử thiện, chủng tử ác con đè, con đạp xuống hết rồi, nó chỉ còn chủng tử thâm căn cố đế, nó già nó không chết, nó nằm chờ thời đặng nó quật lên,

    còn những cái mầm nào hạt giống còn non thì bị tiêu diệt thôi.” Hén.

    Thì quý vị coi chừng, quý vị ra đời nữa chủng tử đời nó thắng thì chủng tử trả bài mất tiêu hết. Bây giờ phải liên tục thiền định, tối về sắp xếp, tôi thấy ở đây đa

    số là có thời giờ đấy, không nhiều, nếu 2 tiếng không được thì 1 tiếng, 1 tiếng không được thì 1/2, tiếng, 1/2 không được thì ráng 15’. Như cô Tươi đâu có rãnh,

    đây đa số cũng không ai rãnh hết, có người rãnh nhiều, có người rãnh ít. Còn nói hoàn toàn không rãnh thì tôi không tin cái vụ đó, thôi cái đó thì đừng đến nữa.

    Không có người nào hoàn toàn không rãnh hết trơn đó, sắp xếp rồi cũng được 15’, nửa tiếng.

    Nhưng Đức Phật nói cái đó không quan trọng, sắp xếp cho có rồi phải “bền” tiếp tục hoài, hoài, hoài, “Kiến tha lâu thì đầy tổ.” “Nước chảy mãi thì phải đá mòn.”

    “Gõ mãi đi rồi cửa giải thoát sẽ mở cho quý vị” Thì cái đó không ai làm được hết, chỉ có mình làm thôi.

    Thành ra: “Người đáng tán thán nhất chính là ta. Mà người đáng chê nhất, đê tiện nhất cũng chính là ta, lười biếng nhất cũng là ta, tán thán nhất, thành Phật

    cũng chính là ta. Mà cái ta đây là cái bền bỉ”.

    Thì quý vị bền bỉ tập trung mạnh, kỹ,lâu, sâu đi quý vị sẽ làm được tất cả.


    Nhưng khi qua Bát nhã là phải dứt bỏ cái đó. Thì cái đó nói sau. Cái đó là cái đau đớn vô cùng, mà dứt bỏ mà không có cách dứt. Chỉ làm sao cho bớt cái vọng

    tưởng ác, mà muốn bớt cái vọng tưởng ác thì lấy cái vọng tưởng thiện đè nó xuống, chơi cái pháp đối trị, mà đè tới một lúc nào cái vọng tưởng ác nó nằm bẹp

    hết rồi, còn cái lăn tăn của vọng tưởng thiện thì quý vị nhận cái Phật tánh nó sẽ hiện ra với quý vị. Chỉ có vậy thôi, đừng có mong cầu mà đi tìm cái dòng nước

    Chân tâm. Nó hiện ra đối với quý vị khi quý vị dùng tư tưởng thiện đè tư tưởng ác. Nếu mà nó tiếp tục nữa, nó quá tải, tư tưởng ác nó bật trở lại nữa thì bao

    nhiêu tiêu hết.


    Mà muốn không quá tải thì quý vị bền bỉ trong cuộc sống này. Tức là xác thân phải giữ giới cho kỹ.

    Mà giữ giới cho kỹ mà không gần thầy sáng bạn lành, quý vị chơi với xì ke ma túy, trộm cắp, cờ bạc thì quý vị chết “Gần mực thì đen”, quý vị phải lành xa mấy

    người đó. Lánh xa nó chớ đừng nói xấu nó, nó quật mình chết. Ai làm sao làm miễn tui thành Phật thôi. Ai nói gì nói thì ta vẫn giữ như kiềng 3 chân, như vậy

    thôi.

    Thì chúng ta cố gắng đi hoài cho đến, rồi cuối cùng qua nhị thiền thì kinh nghiệm, kiến thức già dặn rồi thì chúng ta trở nên một người giống như Phật, giống

    như Alahán, thì chính kinh nghiệm, kiến thức do mình nghiền ngẫm hoài, mình thấy nó chướng ngại trên con đường giải thoát. Thì lúc bấy giờ đạt nhị thiền sẽ

    thấy được cái Chân tâm thì cái đó là cái trăn trở của mỗi người.

    Tôi ngồi tôi suy nghĩ hoài, bây giờ làm sao, bởi vì bây giờ biết nhiều người Việt kiều lợi kiếm tôi. Bây giờ mấy ổng nghe Sư giảng rồi bây giờ tụi con phải đi sao

    nữa đây. Bây giờ Sư nói chẳng lẽ không kiến Phật tánh được, suy nghĩ trong kinh có, nhưng mà phải bì bỏm mình lội một chỗ một chút mình ráp lại.

    Trong kinh Sư Trưởng có viết bài “Lục ngôn. Phật ngôn “Chúng ta phải dùng tư tưởng tốt mà đuổi tư tưởng xấu, đuổi nó đi. Rồi chúng ta phải chặt dứt mọi dây

    xiềng để tới Niết bàn.” Dây xiềng là gì? Là tư tưởng thiện cũng phải dứt luôn, nó là dây xiềng vàng. Mà trước tiên là phải dùng tư tưởng thiện là xiềng vàng đè

    bẹp tư tưởng ác, tư tưởng xấu xuống.

    Thì trong bài kinh Xá Lợi Phất và Phú Lầu Na cũng vậy. “Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh”.

    - Đạo là tư tưởng thiện, là con đường để đi tới giải thoát. Mà giải thoát làm gì có con đường, nhưng mà phải có con đường. Con đường thiện.

    - Phi đạo là chẳng phải thiện, chẳng phải thiện thì không bao giờ nhận được Phật tánh.

    Thành ra phải lấy Đạo trừ cái phi đạo. Mà trừ hoài thì cái phi đạo nó phải nằm bẹp ở dưới, chủng tử non thì nó bị chủng tử thiện tiêu diệt, chủng tử già dặn, hột

    giống già dặn thì nó vẫn còn sống. Chủng tử trong alaya mình không bao giờ mất, nó chỉ chuyển biến từ hình thức này qua hình thức khác.

    Thì bây giờ chúng ta niệm Phật cũng là chủng tử thiện thôi, nhưng mà khác với chủng tử đạo của tư tưởng, nó cũng là tư tưởng nhưng mà tư tưởng này có

    chiều hướng phát nguyện. Cái đó là cái độc đáo của pháp môn Tịnh độ mà tất cả các pháp môn khác không có.


    Tư tưởng thiện thì sanh về cõi trời.

    Tư tưởng thiện mà có thêm cái phát nguyện nữa thì về cõi Phật.

    Thành ra Tịnh độ thù thắng hơn các pháp môn khác ở cái chỗ phát nguyện
    . Thành ra trên tịnh xá tôi để “Duy Nguyện vãng sanh”. Người ta thì “Duy tuệ thị nghiệp”.
    Mà Duy tuệ thì sanh về cõi trời.

    Mà Duy tuệ thêm cái phát nguyện “A Di Đà ơi, con không muốn về cõi trời, con muốn về cõi Phật. Ông về cõi Phật, ông nhất niệm chưa? Bạch Ngài con đã nhất

    niệm rồi.” Thì ok về liền thôi. Ngài hiện ra rồi thì xứ Cực lạc hiện ra.

    Thành ra không có cần khảy móng tay. Chúng ta còn phải đi để đến Cực lạc, không có đi, không có đến, đi tức là đến “Bất lai đàn chỉ đáo Tây phương”, chỉ cần

    trong sátna là thế giới Cực lạc hiện ra liền. Bây giờ nó vẫn hiện mà mình không thấy, tại ngũ ấm ma che, tại cái nhất niệm che. Mà nhất niệm cao thượng rồi thì

    mình phát nguyện một cái.


    Chúng ta nên nhớ, Bất lai bậc Thánh thứ 3 cũng không vãng sanh được, nếu không có sự phát nguyện. Thành ra cái phát nguyện rất là quan trọng đối với người

    tu Tịnh độ.

    Còn “tuệ” tức là tư tưởng thông minh, mà thông minh thì tự lực mình sanh về cõi trời. Thông minh không về cõi Phật được. Vì cõi Phật là cõi sátna, mà cõi sátna

    là cõi nói dóc. Nếu dùng tư tưởng thì không thể hiểu cõi sátna được.

    Thành ra chúng ta thấy Bất lai còn ¼ tư tưởng là không hiểu sátna, không phát nguyện là không về được. Chỉ có Alahán mới hiểu được cõi Tịnh độ thôi, mà nếu

    bắt không đúng tần số thì Alahán cũng không về đúng nữa.

    Chúng ta thấy trong kinh có kể Mục Kiền Liên, thần thông đệ nhất của Đức Phật, Ngài dư sức về thế giới Cực lạc, Ngài dùng thần thông về thế giới Cực lạc của

    Đức Phật A Di Đà. Mà cõi Tịnh độ đâu có 1 cõi, bao nhiêu cõi uế độ thì có bấy nhiêu cõi Tịnh độ. Ngài đi lạc qua cõi của Phật Đại Thông Trí Thắng, Ngài nguyện

    về Cực lạc A Di Đà, mà Ngài không nhờ A Di Đà tiếp dẫn, tự lực đi, Alahán rồi mà, nắm hết, bằng bản thể của Như lai, cái báo thân, còn ứng hóa thân thì chưa

    có thôi. Ngài đi lạc qua Đại Thông Trí Thắng, Ngài cũng Là Tịnh độ, mà thế giới đó người ta lớn lắm, Ngài có bằng con kiến thôi, Ngài mới đi trên cái bát của Tỳ

    kheo, thì vị Tỳ kheo mới bắt bỏ, vì đang dộ cơm thì Đại Thông Trí Thắng nói không phải kiến đâu nha ông, ông Mục Kiền Liên đấy, ổng là thần thông đệ nhất

    của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đấy, ổng đi qua Cực lạc mà ổng đi lạc qua đây. Chúng ta thấy cái độc đáo là ở chỗ đó. Thần thông thì nghe được tiếng nói của

    Như lai, ổng nghe nói rồi ổng nói “Trời ơi mình lọt qua Đại Thông Trí Thắng rồi. Bây giờ làm sao mình hóa hiện ra, ổng dùng thần lực ổng hóa hiện lớn, hóa hiện

    không nổi, bị thế giới người ta bự quá đi, mà cái thần lực của ổng có cở thôi, thần lực Như lai có thể hóa hiện bao nhiêu cũng được, Alahán có tầm cở nào thôi,

    cũng như Alahán biết quá khứ chỉ có 500-700 kiếp hà, còn trên nữa thì không biết, Như lai biết vô lượng kiếp, thì Ngài có thể thị hiện lớn nhưng vừa phải thôi.

    Còn thế giới Cực lạc làm sao bằng cái tướng người ta được, Ngài thị hiện hoài không có lớn được, Ngài mới vái Đại Thông Trí Thắng, thì Đại Thông Trí Thắng mới

    trợ lực cho Ngài mới bằng, mới thấy các Tỳ kheo được. Thôi câu chuyện còn dài, kể một khúc thôi, xanh xanh, đỏ đỏ cho quý vị ham.


    Trước khi dứt lời tôi xin quý vị là coi cái phần sau này, 10 câu hỏi tôi rút ra từ bài kinh này. 10 câu hỏi này tôi có giảng gần 30 năm về trước rồi. Bây giờ giảng

    lại, nhưng mà khác à, không giống à, nó đi thật sâu sắc hơn, nó khít khao hơn, nó sáng tỏ hơn. Lần đầu tiên đi toàn tư tưởng có một xíu Bát nhã thôi, tôi biết

    Bát nhã mà tôi không biết cách tu. Rồi kỳ sau nó gần phân nửa với nhau. Kỳ thứ 3 thì Bát nhã lấn lướt nhiều, nhưng mà cũng chưa có khít khao.

    Thì tôi tính nghỉ rồi, bây giờ giảng lại nó cũng khó, nó sâu quá mà mình không đủ khả năng để giảng, còn phật tử chưa chắc đủ khả năng tiếp thu cái lời giảng

    của mình. Tôi tính nghỉ rồi, tôi gần vô lò thiêu. Thì mấy đại phật tử này muốn thỉnh tôi giảng nữa. Tôi nói mấy ông đầy đủ rồi. Nói “Chưa đâu, cái chiều sâu con

    thấy Sư phải giảng lại”. Hồi nảy tôi có kể mấy ông thiện nam và mấy cô cũng muốn giảng lại.

    Tôi nói tôi giảng lại thì khó à, phải trả bài à, chớ không phải như trước nữa. Trả rồi qua cái lớp đó hiểu rồi tôi mới giảng tiếp, còn không thì nghỉ. Mấy ổng nói

    “Được, tụi con cố gắng”. Thì mới bắt đầu có bài giảng hôm nay. Và tôi bắt đầu làm khó quý vị. Quý vị nhất định là phát tâm mà như bắt buộc, tôi thường dùng

    2 cái phát tâm mà không phát tâm thì tôi bắt buộc.


    Thì quý vị trả như vậy tôi rất mừng, vì đây là mới cái đoạn sơ cơ thôi à. Còn tới trả lời câu hỏi số 1, quý vị mệt đấy. Bởi vì nó 6 căn, 6 trần, 6 thức mà phải cho

    thí dụ mắt, thí dụ tai, rồi mũi, lưỡi, thân, mà nhất là cái óc là cái rắc rối nhất, cái pháp trần là cái khó nhất.

    Mà đâu phải 1 cái thí dụ, tôi hỏi rồi cho thêm 2 thí dụ, 3 thí dụ thì quý vị chết. Thành ra ở ngoài phải nghiền ngẫm hoài hoài. Từ đây cho tới tết, qua tết chúng

    ta ngâm, bữa mùng 1 là chủ nhật cũng không có học nữa, mùng 8 tới chủ nhật nữa.

    Mỗi năm là chúng ta thường giảng giữa tháng, cuối tháng (rằm, 30 hoặc tháng thiếu 29). Thì theo cái luật của Đức Phật thì cúng hội quý Sư đọc giới là bữa đó

    thuyết pháp, nhưng mà nó ngay mùng 1, mà thường thường mình cúng 30 mà chỉ có đặc biệt truyền thống Khất sĩ thì bị phật tử kêu là phải ngay mùng 1, bữa

    30 hay 29 mắc rước ông bà thì bữa đó không ai đi. Mùng 1 giảng pháp, quý vị không có trả bài. Mình nghỉ tới mùng 8 là bắt đầu học lại đó. Còn bữa nay chúng

    ta bắt đầu nghỉ tết, tết của quý vị nha, chớ không phải tết của tôi, tôi không có ăn tết.

    Quý vị nghỉ rồi bữa 23 quý vị đến ủy lạo rồi quý vị về nghỉ, đưa ông táo rồi quý vị đưa lên trời tấu với Ngọc Hoàng làm sao đó cho quý vị thông minh một chút

    hén. Rồi tới mùng 8 quý vị trở xuống trả bài cho tôi. Ngọc Hoàng chứng minh cho con thông minh một chút, nhưng mà con không về với Ngọc Hoàng đâu, cõi

    trời con ngán lắm, con muốn thông minh như Ngọc Hoàng mà con không hưởng thụ, con về với Phật A Di đà của con, về quê hương Cực lạc từ xưa tới giờ của

    con, còn Ngọc Hoàng cũng là cái quán trọ thôi con không thèm đâu. Lên tâu Ngọc Hoàng cái cõi trần này cho chúng sanh khá khá, giàu nhất là cái phường 7

    của chúng con nghèo quá, tụi con cũng nghèo mà cũng cố gắng ủy lạo và nước Việt nam, toàn thế giới bây giờ đang sa đọa dữ lắm, sa đọa về vật chất không

    nói, mà sa đọa về tinh thần luôn nữa, tụi con cũng sa đọa nữa mà tụi con cố gắng hướng lên. Ông thầy ổng khó quá đi, ổng dọa tụi con hoài, tụi con cố gắng

    học bài, thì Ngọc Hoàng cho con cái thông minh một chút đặng con thành Phật, con về độ Ngọc Hoàng lại.

    Vậy trước khi dứt lời, một lần nữa tôi xin cầu chúc cho pháp hội chúng ta, cũng như toàn thể pháp giới chúng sanh đều chóng vãng sanh Cực lạc và thành Phật

    đạo.

    Nam mô A Di Đà Phật.
    Last edited by pvhunghung; 28-03-2018 at 07:51 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 20-03-2018, 10:57 AM
  2. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 14-11-2017, 07:22 AM
  3. Thọ Khang Bảo Giám - Phần 2
    By mynhan in forum Đạo Phật
    Trả lời: 29
    Bài mới gởi: 16-08-2017, 11:49 AM
  4. Thọ Khang Bảo Giám
    By lyquochoang in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 07-08-2017, 07:33 PM
  5. Thọ Khang Bảo Giám
    By mynhan in forum Sách Tôn Giáo
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 26-12-2016, 05:16 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •