LỊCH SỬ NHỮNG GƯƠNG VÃNG SANH HIỆN ĐIỀM LÀNH TRONG VIỆC TU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Tựa: Chư Phật khởi lòng từ bi, mở bày nhiều phương tiện, nhưng chỉ một đường vãng sinh dễ dàng khế hợp cơ duyên. Xét lòng chí thành và chuyện cảm ứng của các bậc tiền bối trong các sách về điềm lành thì có sa-môn Văn Thẩm, tì-kheo Thiếu Khang ghi trong Cao tăng truyện[1], Luận vãng sinh[2].

Tất cả đều trình bày các việc thật, ghi chép theo thứ tự những điều hiếm thấy, minh chứng cho duyên chí thành cảm hóa, hiển bày Phật lực khó nghĩ bàn, khiến cho xưa nay không đoạn dứt, tăng tục đều hướng về, tiếp nối đạo phong, trùng hưng đại sự. Vì muốn khiến cho những người phát tâm vững chắc không nghi ngại, những người chưa phát tâm có con đường để bước, nên tôi ghi lời tựa này.

1. PHÁP SƯ HUỆ VIỄN ĐỜI ĐÔNG TẤN (317-420)

Sư người Nhạn Môn, chọn Lô sơn[3] để ẩn cư hơn ba mươi năm, thân không hề rời núi, chân không bước vào thế tục, khi tiễn khách thì lấy suối Hổ[4] làm ranh giới. Tuy kinh sách học thông uyên bác, nhưng sư chuyên tâm hoằng dương Tịnh độ tây phương. Sư lập Tịnh độ đường ở chân núi, sớm tối lễ sám. Có quan Tạ Linh Vận[5], cao nhân Lưu Di Dân[6]… đều bỏ vinh hoa của thế tục, cùng tu Tịnh độ. Tất cả gồm có một trăm hai mươi ba người khởi lòng tin, ở trước tượng Phật Vô Lượng Thọ, lập đàn thệ nguyện, Di Dân viết văn khen ngợi pháp môn Tịnh độ, cảm được tiên nhân cỡi mây đến nghe, hoặc cất tiếng tụng kinh, âm thanh vang theo gió. Vào ngày 6 tháng 8 năm Nghĩa Hi thứ 12, ngài thấy Đức Phật A-di-đà và Thánh chúng nghinh tiếp từ xa, liền phó chúc mọi việc rồi, nằm nghiêng hông phải mà hóa, hưởng thọ tám mươi ba tuổi.

2. PHÁP SƯ ĐÀM LOAN ĐỜI TỀ

Sư sống gần núi Ngũ Đài, thông hiểu các kinh sách. Nhân tìm được mười quyển kinh Tiên của Trung Quốc mà muốn tìm Đào Ẩn[7] để học thuật tiên. Sau đó gặp được tam tạng Bồ-đề, ông hỏi:

-Trong Phật pháp có phép trường sinh bất tử hơn kinh tiên của Trung Quốc không

Tam tạng khạc nhổ xuống đất, ngạc nhiên hỏi:

– Nơi nào trong nước này có phép trường sinh bất tử? Tu theo kinh Tiên dẫu được sống lâu, khi hết tuổi thọ cũng phải đọa lạc.

Ngài Tam Tạng liền trao cho một quyển kinh Quán vô lượng thọ và nói:

-Đây mới là phương pháp của bậc Đại tiên, hãy theo đây mà thực hành, sẽ thường được giải thoát, mãi mãi lìa xa sinh tử. Loan liền lấy lửa đốt kinh tiên. Bỗng nhiên vào giữa đêm, Loan thấy một Phạm tăng đi vào phòng bảo rằng:

-Ta là bồ-tát Long Thụ.

Rồi bồ-tát nói kệ:

Lá rụng không thể bám lại cành
Thóc chưa thu, không thấy trong kho
Bóng câu qua cửa, chẳng tạm dừng
Việc qua rồi đâu thể trở lại
Việc chưa đến làm sao tìm được?
Hiện tại đang ở đâu?
Bóng câu khó trở lại.

Pháp sư biết đã đến lúc qua đời, liền tập hợp hơn ba trăm đệ tử, Ngài tự bưng lư hương xoay mặt hướng tây, răn dạy môn đồ, khuyên mọi người tin Tịnh độ tây phương. Sáng sớm mọi người đồng cất tiếng niệm Phật, sư liền viên tịch. Cách năm dặm về phía tây của chùa có một chùa ni, mọi người ở đó nghe có âm nhạc trên không từ phía tây đi về phía đông. Trong chốc lát lại nghe từ phía đông đi về phía tây.

3. THIỀN SƯ ĐẠO TRÂN ĐỜI LƯƠNG

Sư trụ ở Lô sơn, chuyên tu niệm Phật. Nhân thực hành pháp thủy quán[8], sư mộng thấy hàng trăm người lên thuyền chuẩn bị đi về tây phương, liền xin đi theo, nhưng người trên thuyền không cho, Trân nói:

-Bần đạo một đời chuyên tu tịnh nghiệp Tây phương, vì sao không cho đi?

Người trên thuyền trả lời:

-Nghiệp của thầy chưa viên mãn, chưa tụng kinh A-di-đà và chưa dựng nhà tắm cho tăng.
Thế rồi mọi người trên thuyền đều xuất phát. Trân khóc lóc đến mệt mỏi mà ngủ thiếp đi. Sau đó, tỉnh giấc sư liền tụng kinh, cúng dường việc tắm rửa cho tăng. Một thời gian sau, sư lại nằm mộng, thấy có một người đứng trên lâu đài bạc, đưa tay nói rằng:

-Thiền sư Đạo Trân! Nghiệp của sư đã viên mãn, sự dụng tâm tu rất tốt, cho nên chúng tôi đến báo cho biết, sư nhất định sẽ được vãng sinh.

Đêm đó sư viên tịch, trên đỉnh núi sáng rực như có mấy nghìn ngọn đuốc, mùi hương thơm lạ tỏa khắp chùa. Về sau người ta tìm được trong hòm kinh một bản tồn sinh di kí mà lúc còn sống sư không nói cho mọi người biết.

4. TĂNG NHAI ĐỜI HẬU CHU (557-581)

Sư ở chùa Đa Bảo thuộc Ích châu. Bản tính sư thường ít nói, không thích vui đùa. Mỗi khi dạo chơi núi rừng thì ở đó suốt cả ngày. Có người hỏi lí do, sư trả lời:

-Vì tôi nghĩ con người cần phải nhẫn.

Về sau sư đến phía tây thành, đốt năm ngón tay trái. Tăng tục nghìn vạn người theo khóc lóc, sư nói:

– Ta giữ tâm bồ-tát, nên không khóc.

Có người hỏi đau không?

Sư trả lời:

-Tâm đã không đau thì ngón tay làm sao đau?
Khi lửa cháy đến lòng bàn tay thì tủy chảy ra. Có người hỏi sao sư chịu đựng được, sư bảo:

-Vì chúng sinh không nhẫn được, nên nay ta muốn khuyên mọi người nhẫn điều không thể nhẫn, đốt vật không thể đốt.

Sư lại bảo mọi người rằng:

– Trong đời mạt pháp, mọi người khinh mạn, bạo ngược ngu dốt, xem tượng Phật như thân khúc cây, nghe kinh điển như gió thoảng qua tai ngựa. Ta đốt tay, hủy thân, vì muốn khiến cho họ tin sâu Phật pháp.

Sư dạy đệ tử rằng:

-Sau khi ta diệt độ, các con nên cung cấp cho những người bịnh, những người xấu xí và súc sinh. Những vị ấy phần nhiều là chư Phật và Bồ-tát phương tiện hóa hiện. Nếu không phải bậc có đại tâm bình đẳng thì đâu thể cung kính tất cả chúng sinh. Có người thấy hoa trời rải xuống Tăng Nhai, bấy giờ sư mặc y bá nạp cầm tích trượng cùng sáu trăm vị tăng cỡi hư không đi về phương tây.

5. THIỀN SƯ HUỆ MẠNG ĐỜI HẬU CHU (557-581)

Sư người Thái Nguyên kết bạn tu với thiền sư Nam Nhạc, thực hành Phương đẳng sám[9]. Một hôm, hai sư ở dưới gốc cây nhìn nhau cười, nói: “Hai ta có thể chết ngay ở đây!” Không đầy mười ngày, sau hai sư bị bệnh nhẹ cùng ngồi kết-già, xoay mặt về hướng tây,và nói: “Phật đã đến”, rồi chắp tay mà thị tịch. Hai sư đều thọ tám mươi ba tuổi. Bấy giờ có người mộng thấy chư thiên cầm tràng phan đến nói: “Lành thay!” rồi rước hai sư đi.

6. THIỀN SƯ TĨNH ÁI ĐỜI HẬU CHU (557-581)

Lúc chưa xuất gia, sư vào chùa thấy biến tướng địa ngục[10], bảo với đồng bạn rằng:

“Xét biết nghiệp như thế, ai có thể tránh được khổ này.”

Sau đó, Tĩnh Ái liền xin mẹ xuất gia, thường ở nơi rừng vắng. Tăng chúng hỏi sư:

-Sư nên ra giáo hóa người đời, chớ chôn vùi tài đức nơi núi rừng?

Sư trả lời:

– Đạo quí ở tự tu không phải ở nơi người. Xem thời để hành động hay ẩn cư. Nay Chu Võ[11] hủy diệt Phật pháp, ta hận là không đủ sức bảo vệ pháp.

Sư bảo đệ tử rằng:

-Ta sống ở đời không có ích gì, nên muốn xả thân!

Nói xong, ngồi kết-già trên tảng đá lớn nắm nạp y, tự tay cắt y để ở trên đá, mổ bụng, rút ruột, dạ dày treo lên cành cây rồi dùng dao khoét lấy tim, bưng đưa lên mà chết. Sư để lại thư rằng: “Những người có duyên ở trong Phật pháp, đừng sinh tâm lui sụt, nhất định làm việc thiện lợi. Tôi có ba lí do để bỏ thân này: một là tự thấy có nhiều lỗi lầm, hai là không thể hộ pháp, ba là muốn nhanh chóng được gặp Phật.”

Rồi nói bài kệ:

Nguyện cho các chúng sinh
Khi nghe tôi bỏ thân
Thành tựu được thiên nhĩ
Rốt ráo đạt bồ-đề
Thân này chứa bất tịnh
Phần dưới toàn phân dơ
Từ chín lỗ chảy ra
Bỏ thân ô uế này
Nguyện sinh về Tịnh độ
Một niệm hoa sen nở
Gặp Phật A-di-đà.

7. THIỀN SƯ KHẢI

Vào triều nhà Tùy có thiền sư Khải, ở núi Thiên Thai, người Dĩnh Châu, họ Trần. Trong thời gian giảng kinh Tịnh Danh, một đêm nọ, sư nằm mộng thấy ba bậc thềm báu từ trên không hạ xuống, có mấy mươi phạm tăng cầm hương vào phòng nhiễu quanh sư ba vòng.

Sư nói:

Ta từ khi sinh ra đến nay, thường ngồi hướng về phía Tây, niệm danh hiệu Phật A-di-đà, kinh đại Bát-nhã, Bồ-tát Quán Âm và Thế Chí. Sức oai thần đạt được chẳng thể hơn như thế.
Ta cũng thường thỉnh Quán Âm để sám hối. Từ khi mắc bịnh, ta càng tha thiết nhớ đến Tây phương. Ta nên đi theo Phật về Tây phương.
Có người đưa thuốc uống đến, sư bảo: “Bịnh không hiệp với thân, tuổi không hiệp với tâm, thuốc há có thể chữa khỏi bịnh sao! Ta sống vất vả vì than mang các khổ, chết vui mừng vì được về nghỉ ngơi. Nay Quán Âm, Thế Chí đến đón ta”. Sư bảo mọi người tụng đề kinh Pháp hoa, rồi đọc kệ khen rằng:

Đây pháp môn cha mẹ
Nhờ đó sinh tuệ giải
Vi diệu khó suy lường
Ngừng giảng từ hôm nay.

Sư lại sai tụng kinh Vô lượng thọ, rồi khen rằng:

Bốn mươi tám lời nguyện
Cõi tịnh độ trang nghiêm
Ao sen cùng cây báu
Dễ đến nhưng không người.

Sư lại bảo vị duy-na rằng: Bây giờ là lúc ta lâm chung. Hãy đánh chuông lên. Bảo mọi người tăng them chính niệm và giữ yên lặng. Ta sắp đi rồi.

Nói xong, sư liền qua đời, hưởng thọ sáu mươi tuổi. Hôm đó nhằm ngày 24 tháng 11 năm Khai Hoàng thứ 17 (597). Sư đã lập bốn mươi lăm cảnh chùa, độ bốn nghìn vị tăng, chép mười lăm tạng kinh, tạo hơn mười vạn tượng bằng vàng, bạc và gỗ chiên đàn. Sư còn được gọi là Trí Giả Pháp Không Đại Sư.

8. TĂNG ĐẠO DỤ

Vào triều Tùy có sư Đạo Dụ ở chùa Khai Giác chuyên niệm Phật A-di-đà. Sư có tạo tượng Phật A-di-đà bằng gỗ chiên đàn cao ba tấc. Sau đó, Đạo Dụ bỗng nhiên chết qua bảy ngày thì sống lại và kể rằng: “Lúc đầu thấy một hiền giả vãng sinh bên ao báu. Hiền giả ấy nhiễu quanh hoa ba vòng, hoa liền nở ra, vị ấy bước vào ngồi. Tôi cũng nhiễu ba vòng quanh hoa, nhưng hoa không nở. Tôi đưa tay vạch hoa ra, nó liền héo và rụng xuống. Phật A-di-đà bảo: “Ngươi hãy trở về nước kia, sám hối các tội lỗi, tắm gội bằng nước thơm. Khi sao Mai mọc, ta sẽ đến đón ngươi. Vì sao ngươi tạo tượng ta quá nhỏ vậy?” Tôi trả lời: “Tâm lớn thì thấy tượng lớn, tâm nhỏ thì thấy tượng nhỏ”. Tôi vừa nói xong, tượng liền trùm khắp hư không.
Sau đó, sư liền y theo lời dạy mà tắm gội bằng nước thơm, nhất tâm sám hối, thưa với đại chúng rằng: “Xin hãy niệm Phật cho tôi”.
Khi sao mọc thì hóa Phật đến đón sư. Ánh sáng chiếu khắp nhà, mọi người đều nghe thấy. Khi ấy, sư qua đời, nhằm năm Khai Hoàng thứ 8 (588).

9. PHÁP SƯ ĐĂNG

Vào triều nhà Tùy có pháp sư Đăng ở chùa Hưng Quốc thuộc Tinh Châu giảng kinh Niết-bàn. Tăng tục đến nghe, dù lớn hay nhỏ, đều được sư dạy niệm danh hiệu Phật A-di-đà, và khuyên vãng sinh. Đến năm Khai Hoàng thứ 12 (592), sư qua đời có mùi hương lạ đến nghinh tiếp. Ngày tiễn đưa sư, có mây hương bao phủ khắp làng xóm.

10. PHÁP SƯ HỒNG

Vào triều nhà Tùy có pháp sư Hồng, người Tinh Châu, cả đời tinh tấn tu tập, không cầm đến tiền bạc, thường niệm cầu Tịnh độ Tây phương, được thấy Phật A-di-đà. Khi lâm chung, sư thấy đồng tử nam và nữ từ cõi trời Đâu-suất đến đón. Pháp sư nói: “Ta muốn về tây phương, không muốn sinh lên trời”. Nói xong, sư bảo các đệ tử niệm Phật, rồi nói: “Phật ở Tây phương đến đón ta rồi”. Nói xong, sư liền qua đời nhằm năm Nhân Thọ thứ tư (604).

11. THIỀN SƯ ĐẠO XƯỚC

Vào triều Đường có thiền sư Đạo Xước, người Tinh Châu, ở chùa Huyền Trung. Sư giảng Quán Kinh đến hai trăm lần, tu tập tam-muội bảy năm và lĩnh hội pháp niệm Phật, tự xỏ tràng hạt, khuyên người niệm Phật, nói thường mỉm cười, chưa từng xoay lưng về hướng tây. Sư nói với Thiện Đạo rằng: “Đạo Xước sợ không được vãng sinh, xin sư nhập định hỏi Phật được không?”

Thiện Đạo nhập định thấy Phật cao hơn một trăm thước, thưa: “Đạo Xước đang tu niệm Phật tam-muội, không biết khi xả báo thân có được vãng sinh không? Năm tháng nào được vãng sinh?”

Phật trả lời: “Đốn cây phải luôn tay búa, không duyên đừng cùng nói chuyện, trở về nhà chớ nề hà lao khổ”. Lại dạy Xước sám hối các tội: “Một là đặt kinh và tượng Phật nơi bụi ẩm; phải tự ở yên trong phòng đối trước tượng Phật sám hối. Hai là sai khiến người xuất gia làm việc nặng; phải đối trước mười phương tăng để sám hối. Ba là xây dựng làm tổn thương các loài chúng sinh; phải đối trước chúng sinh mà sám hối.”

Thiện Đạo hỏi: “Khi Đạo Xước chết có tướng lành gì khiến cho mọi người nghe hoặc thấy không?”

Phật trả lời:

-Ngày Đạo Xước chết, ta phóng bạch hào, từ xa chiếu đến phương đông. Khi ánh sáng đó xuất hiện, Đạo Xước sẽ đến nước của ta.
Quả đúng đến ngày sư chết, có ba luồng bạch hào chiếu sáng trong phòng. Thiện Đạo lại thấy pháp sư Đàm Loan trong ao thất bảo nói: “Tịnh độ đã thành, dư báo chưa hết”.

Mây tía ba lần hiện trên tháp của sư.

12. THIỀN SƯ THIỆN ĐẠO

Vào triều Đường có thiền sư Thiện Đạo họ Chu, người Tứ Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Khi thấy biến tướng Tây phương, sư than rằng: “Bao giờ thân gởi đài sen, tâm trụ nơi Tịnh độ?” Sau khi thụ giới cụ túc, cùng xem Quán Kinh với luật sư Diệu Khai, sư xúc động mà than rằng: “Tu các hạnh nghiệp khác đều là đi đường vòng nên khó thành. Chỉ có tu pháp quán này mới nhất định vượt thoát sinh tử.” Sau đó, hai sư đến gặp thiền sư Xước hỏi: “Có thật là niệm Phật được vãng sinh không?” Đại sư trả lời: “Mỗi người cắm một hoa sen vào bình, tu hành trong bảy ngày nếu hoa sen không héo thì được vãng sinh.”

Lại có pháp sư Anh ở Đông Đô giảng kinh Hoa nghiêm bốn mươi lần, vào đạo tràng của thiền sư Xước dạo chơi trong tam-muội rồi than rằng: “ Tôi tự hận nhiều năm tìm tòi suông trong văn sớ, chỉ uổng công lao nhọc thân tâm thôi. Đâu ngờ pháp môn niệm Phật là không thể nghĩ bàn!” Thiền sư trả lời: “Kinh chứa toàn những lời thành thật, Phật há nói dối sao!” Thiền sư cả đời thích khất thực, thường tự trách rằng: “Đức Thích-ca còn khất thực, Thiện Đạo là hạng người gì mà ở yên một chỗ mong cúng dường”. Sư không nhận lễ, chép mười vạn quyển kinh A-di-đà, vẽ hai trăm bức biến tướng tịnh độ, thấy tháp miếu sư cũng đều tu bổ. Đạo Phật thịnh hành ở Trung Quốc, lúc ấy chưa có nhiều thiền sư.

13. PHÁP SƯ HUYỄN

Vào triều Đường có pháp sư Huyễn, người Tinh Châu. Gặp thiền sư Xước giảng Quán Kinh, sư mới bắt đầu hồi tâm, suốt năm năm chuyên niệm Phật, một ngày một đêm lễ nghìn lạy, niệm Phật bảy muôn lần. Sợ chết nên sư càng thêm tinh tấn. Sư từng mộng thấy Phật Thích-ca cùng bồ-tát Văn-thù khen ngợi kinh Pháp hoa. Sư lại mộng thấy ba con đường đi về phía tây. Đường thứ nhất dành chung cho người thế tục, đường thứ hai có cả tăng và tục cùng đi, đường thứ ba chỉ có tăng. Sư nói đó là những người vãng sinh.

14. THIỀN SƯ NGẠN

Vào triều Đường có thiền sư Ngạn, người Kinh Châu, tu nghiệp vãng sinh, thường thực hành Phương đẳng sám. Lúc sư lâm chung, có hai vị bồ-tát Quán Âm và Thế Chí hiện trên hư không. Sư liền mời thợ vẽ nhưng không ai vẽ được. Bỗng nhiên sư cảm được hai người bảo từ Tây Kinh đến muốn viếng Đài Sơn, liền đưa sư một bức tranh vẽ hai vị bồ-tát, rồi đi không để lại dấu tích. Sư bảo đệ tử rằng: “Ai có thể theo ta vãng sinh Tây phương”. Lúc đó, có đồng tử nhỏ nhất thưa: “Con xin đi theo”. Sư liền vào trong đạo tràng ngồi ngay ngắn mà qua đời, hưởng thọ tám mươi tuổi. Hôm ấy là ngày mồng 7 tháng giêng năm Thùy Củng đầu tiên.

15. THIỀN SƯ ĐẠI HẠNH

Thiền sư Đại Hạnh người Tề Châu, vào ở trong Thái Sơn, mặc áo cỏ, ăn lá cây, mong đắc Pháp Hoa tam-muội, cảm được bồ-tát Phổ Hiền hiện thân dạy sư niệm Phật A-di-đà. Sư niêm Phật trải qua hai mươi mốt ngày đến đêm nọ bỗng thấy đất bằng lưu ly, mắt tâm thấy suốt Phật khắp mười phương. Sau đó, sư có chút bịnh nằm nghiêng bên hông phải mà qua đời. Sau khi an táng xong, từ quan tài có mùi hương lạ tỏa ra mấy ngày không hết, diện mạo sư giống như lúc còn sống.

16. THIỀN SƯ TẠNG Ở PHẦN CHÂU

Thường ngày, mỗi khi sư ra khỏi chùa là đi lễ bái khắp các chùa tháp và không nhận sự lễ bái của tăng tục. Sư lấy việc điều phục tâm để ngăn sáu trần, mỗi niệm đều tỉnh giác không để mất. Sư thường làm việc của tăng thay cho nô bộc, thấy y của tăng dơ rách, sư âm thầm lấy giặt sạch rồi vá. Vào mùa Hạ nóng bức sư cởi áo nằm trên cỏ cho các loài côn trùng như mòng muỗi hút máu. Ngày sư lâm chung, chư thiên tuần tự đến mời đi, nhưng sư không chịu, đợi khi Hóa Phật ở Tịnh độ đến đón, sư mới chịu vãng sanh.

17. PHÁP SƯ CẢM Ở TRƯỜNG AN

Sư trú chùa Thiên Phước, thông suốt kinh điển, nhưng lại chưa tin pháp môn Niệm Phật, bèn đến hỏi hòa thượng Thiện Đạo rằng:

– Việc niệm Phật thuộc pháp môn nào?

Hòa thượng đáp:

– Ông cứ chuyên niệm Phật, sẽ tự chứng nghiệm.

Sư lại hỏi:

– Thấy được Phật không?

Đáp:

– Lời Phật dạy sao còn nghi?

Sư bèn nhập đạo tràng niệm Phật, tu tập hai mươi mốt ngày mà chưa có ứng nghiệm gì, sư hận mình tội sâu nặng, nên muốn tuyệt thực để bỏ mạng. Hòa thượng ngăn không cho. Sau đó, suốt ba năm sư chuyên tâm niệm Phật, liền được thấy được tướng lông trắng của Phật, chứng được tam-muội. Khi lâm chung được Phật đến đón, sư chắp tay hướng về phía tây mà qua đời. Sư soạn “Vãng sinh quyết nghi luận” 7 quyển để lại đời.

18. THIỀN SƯ HOÀI NGỌC Ở THAI CHÂU

Sư họ Cao, sống ở chùa Dũng Tuyền, chỉ dùng thức ăn tự mọc, không do người trồng, không mặc y phục dệt bằng tơ tằm, sám hối hơn vạn vạn lần, tụng kinh A-di-đà và Quán vô lượng thọ ba mươi vạn biến. Sư giữ thời khóa hàng ngày niệm danh hiệu Phật năm vạn lần, phóng sinh rận, bọ chét, thường ngồi không nằm.

Vào ngày 9 tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 6 (*), sư thấy hằng sa thánh chúng tây phương đến, có một vị cầm đài bạc trắng vào từ cửa sổ. Sư nói rằng:

– Theo lẽ công phu của tôi phải được đài vàng.

Sư liền tăng thêm niệm Phật thì nghe trên không có tiếng bảo rằng:

– Viên quang trên đỉnh đầu chiếu sáng khắp hư không.

Sư bảo các đệ tử rằng:

– Hãy lui lại, chớ chạm vào ánh sáng ấy

Đến khi sư lâm chung, ánh sáng ấy càng rực rỡ. Sư bèn nói kệ:

Thanh tịnh sáng trong không trần cấu
Hoa sen hóa sinh là cha mẹ
Ta đã tu hành qua mười kiếp
Sinh ở Diêm-phù chịu nhiều tội
Một đời khổ hạnh đã vượt qua
Mãi thoát ta-bà, về Tịnh độ.

Nói kệ xong, thấy đài vàng hiện đến, sư mỉm cười mà thị tịch, nhục thân hiện còn ở chùa Dũng Tuyền tại Thai Châu.

19. SƯ PHÁP TRÍ Ở THIÊN THAI

Sư chuyên tu pháp môn Niệm Phật, nhưng tính rất thô tháo, không giữ luật nghi. Mọi người thường nói: “Sư sẽ phạm tội Đột-kết-la[12], bị đọa chín trăm năm ở địa ngục”, sư liền tin ngay. Do đó khi nghe kinh nói: “Một lần xưng niệm danh hiệu A-di-đà Phật, sẽ diệt được tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp”, sư vào đài Đâu-suất ở chùa Quốc Thanh[13], ngày đêm chuyên niệm Phật. Mọi người bấy giờ không tin. Bỗng nhiên sư từ biệt khắp tăng tục, nói ta sắp vãng sinh, nhờ người thân quen thiết trai một ngày. Đến nửa đêm hôm ấy, sư không bệnh mà chết, có ánh sáng sắc vàng chiếu mấy trăm dặm, gà rừng cất tiếng gáy kinh động, người đi thuyền trên sông bảo là trời đã sáng.

20. SƯ ĐẠO NGANG Ở TƯƠNG CHÂU

Sư chuyên giảng dạy kinh Pháp Hoa. Một hôm, sư bỗng thấy các trời trỗi âm nhạc từ không trung đến bảo rằng:

– Chúng tôi ở cõi trời Đâu-suất xuống để cùng đón ngài.

Ngang nói rằng:

– Cõi trời là cội rễ của sinh tử, xưa nay ta không mong cầu. Ta chỉ nhớ nghĩ đến Tây phương thôi.

Sau đó, sư nghe tiếng nhạc từ Tây phương nghinh đón. Sư lại nói:

– Có tin đến rồi, không được nán lại lâu.
Nói xong lư hương rời tay, sư an nhiên thị tịch trên tòa cao.

21. SƯ HÙNG TUẤN Ở THÀNH ĐÔ

Sư họ Chu, giỏi giảng kinh thuyết pháp, nhưng không có giới hạnh, sử dụng của cải cúng dường không đúng pháp. Sau đó sư hoàn tục, gia nhập quân đội chém giết, rồi vào trong tăng lánh nạn. Vào niên hiệu Đại Lịch (776), sư thấy Diêm-la vương phán mình vào địa ngục, liền nói lớn rằng:

– Hùng Tuấn nếu vào địa ngục thì ba đời chư Phật đều nói dối.

Diêm vương nói:

– Phật chưa từng nói dối.

Tuấn bảo:

– Mục Hạ phẩm hạ sinh kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Nếu người tạo tội ngũ nghịch, lúc lâm chung niệm danh hiệu Phật mười lần còn được vãng sinh.” Tuấn tuy tạo tội, nhưng không phạm tội ngũ nghịch. Nếu nói niệm Phật, tôi đã niệm không thể tính cho hết được.

Nói xong, sư nương đài vãng sinh Tây phương.

22. ĐỜI TỐNG, NI SƯ PHÁP TẠNG

Ni sư ở chùa Kiến Phúc tại Kim Lăng, tu thiền đạt đến chỗ sâu xa, sư thường nói với bạn học là Vân Kính rằng: “Tôi lập thân hành đạo, chí hướng về Tây phương”.

Một hôm, bỗng ni sư bị bệnh. Lúc đầu, ni sư thấy Phật A-di-đà và các thánh chúng đến thăm. Sau đó, mọi người đều thấy ánh sáng chiếu khắp chùa, hôm ấy ni sư qua đời.

23. NI TỊNH CHÂN Ở TRƯỜNG AN

Ni sư trụ ở chùa Tích Thiện, Trường An, suốt đời mặc y bá nạp đi khất thực, không hề sân hận. Ni sư tinh chuyên niệm Phật và tụng kinh Kim Cương đến mười tám ngàn lần.

Tháng bảy năm Hiển Khánh thứ 5 (660), ni sư bị bệnh, bèn gọi đệ tử đến dạy rằng:

– Trong 5 ngày ta được thấy Phật A-di-đà mười lần. Ta còn thấy đồng tử dạo chơi trên hoa sen báu ở thế giới Cực Lạc hai lần; lại có thánh tăng năm lần thụ kí ta sẽ làm Phật, và được vãng sinh phẩm thượng.

Sư ngồi kiết già mà tịch. Đến sáng sư tỉnh lại bảo đệ tử rằng:

-Ta được quả vị Bồ-tát, đi khắp mười phương để cúng dường chư Phật.

Ni sư nói xong liền thị tịch, ánh sáng chiếu khắp chùa.

24. NI PHÁP THẮNG Ở HUYỆN NGÔ

Ni sư tinh tấn tu tập thiền định và niệm Phật. Ni sư khuyên kẻ đạo người tục đều nên tu Tịnh độ. Khi bị bệnh, ni sư tự biết không thể qua khỏi, lại mộng thấy một vị tăng đến bảo rằng:

– Bệnh ngươi không qua khỏi, phải chuyên niệm Phật!

Ni sư lại còn thấy có hai vị tăng mặc áo bày vai, cầm hoa đứng trước giường. Ni sư nói:

– Có ánh sáng chiếu khắp thân ta.

Nói xong ni sư liền thị tịch.

25. NI NGỘ TÍNH Ở LẠC DƯƠNG

Ni sư ở trước A-xà-lê Chiếu ở Hành Châu phát nguyện niệm Phật muôn lần. Vào năm Đại Lịch thứ 6 (772), ni sư vào Đài Sơn tu tập bỗng bị bệnh. Nghe tiếng nhạc từ trên hư không, ni sư liền bảo:

– Ta đắc được trung phẩm thượng sinh, thấy những người cùng niệm Phật đều ở trên hoa sen trong cõi Tây phương, thân vàng sáng chói.

Bấy giờ, vào năm Đại Lịch thứ 24 (890).

26. NI ĐẠI MINH Ở DUYÊN CHÂU

Ni sư nghe thiền sư Đạo Xước giảng kinh Vô Lượng Thọ và được dạy cho pháp môn Niệm Phật. Trước khi niệm Phật, ni sư thay y phục sạch sẽ, và súc miệng bằng nước trầm hương. Ni sư giữ thời khóa niệm Phật trong tịnh thất suốt ba, bốn năm không gián đoạn. Khi ni sư lâm chung, mọi người đều thấy trong thất có ánh sáng và mùi hương trầm thủy đến rước.

27. HAI SA-DI CHÙA KHAI HÓA TINH CHÂU

Một hôm vị sa-di nhỏ hỏi vị sa-di lớn rằng:

– Thế nào! Huynh tu Tịnh độ nhé!

Vị sa-di lớn tuổi hơn vui vẻ đồng ý.

Thế rồi, hai vị sa-di cùng nhau tu tập trải qua năm năm, thì vị sa-di lớn qua đời, được vãng sinh, đến Tây phương gặp Đức Phật A-di-đà. Sa-di lớn bạch rằng:

– Con còn một sư đệ đồng tu, chẳng biết có được sinh về đây không?

Phật dạy

– Ông nhờ vị sa-di nhỏ khuyên phát tâm niệm Phật mà còn được vãng sinh. Sao lại còn nghi ngờ vị kia? Nay ông trở về Diêm-phù, gắng niệm thêm danh hiệu ta. Ba năm sau, hai người sẽ đồng được đến nơi đây gặp ta.
Vị sa-di lớn liền được sống lại, thuật rõ lại việc gặp Phật với vị sa-di nhỏ và mọi người. Từ đó hai ông càng chuyên cần tu niệm. Ba năm sau, cả hai vị sa-di đều được tâm khai, nhãn tịnh, đồng thấy Bồ-tát đến đón. Bấy giờ khắp mặt đất rung động, hoa trời rưới khắp hư không. Hai vị sa-di theo nguyện mà đồng thời vãng sinh.

28. ĐỜI TỐNG, ĐỒNG TỬ A ĐÀM VIỄN

Đồng tử thọ giới Bồ-tát năm mười tám tuổi, thờ thiền sư Hàm làm thầy, chuyên tu tịnh nghiệp, luôn hướng về Đức Phật A-di-đà để sám hối. Một đêm vào canh tư, bỗng nhiên Đàm Viễn tự niệm tụng, thầy giật mình hỏi. Ngài đáp:

– Con thấy thân Phật sắc vàng, hương hoa và tràng phan đầy cả hư không, từ phía tây đến.
Chỉ trong chốc lát Viễn qua đời, có mùi hương lạ trong phòng đến mấy ngày chưa hết.

29. ĐỒNG TỬ NGỤY SƯ TÁN Ở UNG CHÂU

Năm đồng tử mười bốn tuổi thờ thiền sư Tĩnh làm thầy, phát tâm niệm Phật ngày đêm không gián đoạn. Vào năm Vĩnh Huy thứ 3 (653), đồng tử bị bệnh mà qua đời. Sau đó bỗng sống lại bảo mẹ rằng:

– Con thấy Đức Phật A-di-đà ở đây. Con sẽ vãng sinh theo ngài.

Nói xong, đồng tử qua đời, hàng xóm thấy trên nóc nhà đồng tử có ánh sáng năm màu và ông vọt lên mây, bay về phía tây.

30. QUỐC VƯƠNG NƯỚC Ô TRÀNH[14]

Quốc vương nước Ô-tràng khi rỗi việc triều chính, bèn bảo các quan:

– Trẫm tuy là vua một nước, nhưng không thoát khỏi sự vô thường. Trẫm nghe kinh nói cõi Tây phương Cực Lạc là nơi nên an trụ.
Từ đó, nhà vua bèn dốc lòng ngày đêm sáu thời tu tập theo pháp môn Niệm Phật. Mỗi ngày đều trỗi nhạc, thiết trai cúng dường một trăm vị tì-kheo. Đích thân nhà vua và hoàng hậu dâng cơm cúng dường chư tăng. Hơn ba mươi năm nhà vua một lòng tinh tấn như thế, không sút giảm. Khi nhà vua lâm chung, sắc mặt vui tươi, thánh chúng từ Tây Phương đến rước và có nhiều điềm tốt hiện ra.

31. HOÀNG HẬU CỦA TÙY VĂN ĐẾ (581)

Tuy ở trong cung quyền quý, nhưng bà nhàm chán thân nữ, hàng ngày niệm Phật cầu về Tây phương, đến khi lâm chung có mùi hương lạ từ không tỏa khắp trong cung. Văn Đế ngạc nhiên nên hỏi Xà-đề-tư-na:

– Đây là điềm lành gì?

Xà-đề-tư-na đáp:
– Ở Tây phương có đức Phật hiệu là A-di-đà, phúc nghiệp của hoàng hậu cao dày, được sinh về cõi ấy, nên mới hiện điềm lành này.

32. ĐỜI TỐNG, LƯU DI DÂN

Lưu Di Dân làm huyện lệnh Sài Tang và Nghi Xương. Về sau ông nương đại sư Tuệ Viễn ở Lô sơn để tu tập pháp môn Niệm Phật tam-muội. Được nửa năm, ông vào tam-muội thấy Phật phóng hào quang, duỗi tay tiếp dẫn. Từ đó, ông thỉnh Phật cầu tăng chú nguyện cho ông mau xả báo thân sinh về Tịnh độ. Mười lăm năm ông ẩn cư trong Lô sơn, tự biết trước ngày mất, từ biệt mọi người rồi ngồi ngay thẳng mà qua đời, thọ 57 tuổi. Bấy giờ nhằm năm Nghĩa Hy thứ 15 (419).

33. ĐỜI ĐƯỜNG, QUÁN SÁT SỨ VI CHI TẤN

Ông lập hạnh từ bi sâu rộng: xây dựng đạo tràng Tịnh độ, niệm Phật A-di-đà, sám hối cầu nguyện vãng sinh, hành bồ-tát đạo, hộ trì Phật pháp, hoằng dương chánh pháp, độ thoát chúng sinh. Vào tháng 6, ông xoay mặt về phía Tây, ngồi kiết-già chắp tay niệm Phật A-di-đà sáu mươi biến, bỗng nhiên qua đời, có mùi hương lạ tỏa khắp nhà, mọi người đều ngửi thấy, và nhiều điềm lành khác.

34. ĐỜI ĐƯỜNG, NGUYÊN TỬ BÌNH

Năm Đại Lịch thứ 9 (774) đời Đường, ông ở chùa Quán Âm, Nhuận Châu phát tâm niệm Phật A-di-đà mười ngàn biến. Sau ba tháng, ông bỗng nhiên bị bệnh. Một đêm nghe trong không trung có mùi hương lạ, và tiếng âm nhạc, ông rất vui mừng. Trên hư không lại có người bảo:

– Nhạc ồn ào vừa dứt, thì nhạc êm dịu trỗi dậy.
Hôm ấy, ông niệm Phật cả ngày rồi qua đời, được sinh về Tịnh độ, mùi hương lạ lan tỏa suốt mấy ngày mới hết.

35. ĐỜI TỐNG, NGỤY THẾ TỬ

Ba cha con Ngụy thế tử đều tu theo pháp Tịnh Độ, chỉ có người mẹ là không tin. Người con gái của thế tử mười bốn tuổi thì qua đời, sau bảy ngày thì trở về báo mộng với mẹ:

– Con đã thấy cảnh Tây phương, cha cùng anh và con đều đã có đài sen, về sau sẽ được vãng sinh, chỉ riêng mẹ là không có. Nay con tạm trở về báo cho mẹ biết.

Sau đó người mẹ nghe lời con, hàng ngày niệm Phật, cuối cùng bốn người đều được vãng sinh.

36. ĐỜI ĐƯỜNG, TRƯƠNG NGUYÊN

Ông là người ở kinh đô, bẩm tính chính trực, mỗi ngày đều niệm Phật. Vào giờ thìn, ngày 3 tháng 6 năm Khai Hoàng thứ 2 (589), ông bảo người nhà làm một bữa cơm chay để đãi các vị thánh hiền. Thọ trai xong ông, đốt hương hướng về Tây phương nhất tâm niệm Phật mà mất. Khi đưa ông đến huyệt mọi người ngửi thấy mùi hương lạ và thấy ánh sáng rực trên mộ.

37. NGƯỜI HẰNG CHÂU ĐỜI TÙY

Hàng ngày ông dùng hạt đậu để đếm số lần niệm Phật. Sau khi đủ ba mươi sáu, ông cúng dường trai phạn, đầy ba mươi thạch. Sau khi thọ trai, vui mừng khen việc dùng đậu niệm Phật và đem số đậu ấy chia cho mọi người thụ trai. Bấy giờ, hai vị bồ-tát Quan Âm, Thế Chí hóa làm hai vị sư thân hình tiều tụy đến khất thực. Ông trả lời: “Đệ tử mong vãng sinh Tây phương, không gì làm trở ngại được. Hai sư đến khất thực khiến tâm nguyện con thêm sâu chặt”. Sau khi ăn xong, hai vị sư biến mất, chỉ ngửi mùi hương lạ. Cùng lúc ấy, ông bay trên hư không ra đi. Bấy giờ nhằm tháng 9 năm Khai Hoàng thứ 8 (589).

38. TRƯƠNG CHUNG QUỲ

Ông làm nghề buôn bán gà. Năm Vĩnh Huy thứ 9, lúc lâm chung, ông thấy phía nam nhà mình có bầy gà đang chen chúc, bỗng nhiên thấy một người mặc áo đỏ đen xua gà và hô to rằng: “Mổ mắt!” Bầy gà đó bốn lần bay lên mổ vào hai mắt ông ta chảy máu đầy giường. Đến giờ dậu có sư Hoằng Đạo ở chùa Thiện Quang chuyên niệm Phật đến bảo đặt tượng Phật trước mặt và niệm Phật A-di-đà. Bỗng nhiên có mùi hương lạ, ông bình thản qua đời.

39. NGƯỜI MỔ TRÂU BÒ Ở PHẦN CHÂU

Khi lâm bệnh nặng, ông thấy nhiều trâu bò đến vây sát thân mình. Ông bảo vợ: “Hãy mời chư tăng đến cứu ta!” Khi chư tăng đến, ông ấy nói: “Thầy tụng kinh thấy tội nặng như đệ tử có cứu được không?” Vị sư trả lời: “Trong Quán kinh nói: Khi lâm chung niệm mười tiếng còn được vãng sinh. Phật đâu có nói dối!” Ông vui mừng, liền niệm Phật. Chốc lát sau, bỗng nhiên có mùi hương lạ tỏa khắp nhà, ông liền qua đời. Mọi người đều ngửi thấy mùi hương lạ và nhìn thấy mây lành phủ kín trên nhà ông ấy.

40. PHÒNG TRỨ Ở ĐẠI CHÂU

Ông từng khuyên một người già niệm Phật, và người ấy được sinh Tây phương. Về sau, Phòng Trứ vào cõi U minh gặp vua Diêm-la và được thả về dương thế. Vua Diêm-la nói: “Ngươi sẽ sinh về Tịnh độ”. Trứ nói: “Tôi nguyện tụng kinh Kim Cương một vạn lần và kính lễ Ngũ Đài Sơn. Tâm này chưa toại nên chưa muốn vãng sinh”.

41. VỢ CỦA ÔN VĂN TĨNH

Bà người Tinh Châu, bệnh nằm liệt giường. Chồng bảo cô: “Em hãy niệm Phật A-di-đà”. Cô bèn niệm Phật không ngừng, liền thấy cõi Phật. Sau đó, cô bảo chồng: “Hãy giúp em thiết trai cúng dường. Em sắp vãng sinh Tây phương”. Thiết trai xong, cô dặn chồng nỗ lực niệm Phật rồi qua đời.

42. ÔNG BÀ HAI NGƯỜI THÔN ƯỚC SƠN, TÙY CHÂU

Hiểu rõ lí khổ không, vào ngày 29 mỗi tháng hai ông bà thỉnh hai thầy đến nhà hướng dẫn niệm Phật. Khi thiết trai, bà tự dâng cơm, ông hỏi: “Sao không sai người làm?” Bà trả lời: “Mấy khi có thể được tự làm, nếu bảo người khác làm thì họ hưởng hết phúc”. Đến khi hai ông bà lâm chung, ánh sáng chiếu khắp nhà, nửa đêm mà sáng như ban ngày.

43. ĐỆ TỬ NỮ HỌ LƯƠNG Ở HẠO CHÂU

Cô Lương mù cả hai mắt. Từ khi được một vị tăng dạy khuyên niệm Phật A-di-đà, cô niệm Phật suốt ba năm không ngừng thì hai mắt mở ra được, mọi người trong thôn đều biết việc này. Khi lâm chung cô thấy Phật và Bồ-tát đều đến rước. Sau khi cô qua đời, mọi người cùng nhau xây tháp thờ. Người qua lại đều cung kính, nam nữ cả quận ấy đều hồi tâm niệm Phật.

44. ĐỆ TỬ NỮ HỌ BÙI

Giữa năm Trinh Quán (627), được vị tăng dạy niệm Phật, cô Bùi dùng hạt đậu để đếm số. Khi niệm đủ mười ba thạch, cô tự biết nơi sẽ sinh. Cô liền từ biệt hết thảy những người thân, mặc đồ đúng như pháp, niệm Phật mà qua đời, được vãng sinh Cực Lạc.

45. BÀ PHẬT TỬ HỌ DIÊU NGƯỜI THƯỢNG ĐÔ

Giữa năm Trinh Quán (627) nhờ bà Phạm khuyên, bà bèn niệm Phật A-di-đà. Khi lâm chung thấy Phật, Bồ-tát đến đón, bà thưa: “Con chưa từ biệt bà Phạm. Thỉnh Phật tạm trụ trên không trung chờ con”. Lát sau, bà Phạm đến, bà liền bưng lư hương thản nhiên qua đời.

46. VỢ CỦA TRƯƠNG VĂN XÍ

Bà họ Tuân, phát tâm niệm Phật, vừa tròn hai năm. Một hôm, bà mộng thấy có vị tăng ở trước ao sen bảy báu liền bạch Phật: “Con bẻ một cành sen cho một người nữ thì có tội không?”. Câu nói vừa dứt, cảnh tượng liền tan biến. Ngày bà ấy xả báo thân, có mùi hương lạ tỏa khắp nhà, bà liền được vãng sinh Tây phương.

47. ÔNG GIÀ HUYỆN PHẦN DƯƠNG, TINH CHÂU

Ông thường tụng kinh A-di-đà. Năm Trinh Quán thứ 5 (632), ông mang theo lúa đến mượn một phòng trống ở chùa Pháp Nhẫn để nghỉ ngơi và niệm Phật. Lúc ông lâm chung có luồng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp phòng, hướng mặt về phía tây mà qua đời, dáng như bước lên đài sen mà đi.

48. THIỆU NGUYỆN BẢO Ở UNG CHÂU
Ông phát tâm niệm Phật âm thanh không dứt, tự tu sám hối. Một đêm nằm mộng thấy bò kéo đài sen báu đến. Ông mắng con bò và nói: “Không phải đài này”. Ông liền niệm ba quyển kinh A-di-đà, niệm Phật một trăm tiếng. Con bò mới hoan hỷ kéo đài vàng đến. Bấy giờ, ông bay lên hư không mà vãng sinh.

Trích Vãng Sanh Tịnh Độ Cảm Hiện Điềm Lành
Nguyên tác Hán văn: Đời Đường, sa-môn Văn Thẩm, Thiếu Khương soạn
Việt dịch: Tì-kheo Vạn Thiện, Đồng Hội, Vạn Ngộ
Hiệu đính: Tì-kheo Thích Nguyên Chơn
Biên tập: Chúc Đức

[1] Cao tăng truyện 高僧傳: còn gọi là Lương cao tăng truyện, mười bốn quyển, Thích Tuệ Kiểu dịch vào đời Lương.

[2] Vãng sinh luận 往 生 論: tên khác của vô lượng thụ kinh Ưu-bà-đề-xá nguyện sinh kệ. Còn gọi là Tịnh độ luận.

[3] Lô sơn 廬山: tên núi, ở Cửu Giang Hà Nam, tỉnh Giang Tây, đứng cao sừng sững ở Bà Dương Hồ, bờ sông Tràng Giang.

[4] Hổ khê 虎溪: tên suối, ở trước chùa Đông Lâm, Lô sơn , Cửu Giang Hà Nam, tỉnh Giang Tây. Tương truyền pháp sư Tuệ Viễn ở đây, khi tiễn khách không qua khỏi suối, nếu qua khỏi thì liền kêu lên, cho nên gọi là Hổ khê.

[5] Tạ Linh Vận 謝 靈 運 (358~433): nhà văn học nổi tiếng thời Lưu Tống. Ông họ Trần, người Quận Dương Gia (tỉnh Hà Nam), tự Tuyên Minh. Cháu của Xa kị tướng quân Tạ Huyền. Đời gọi là Tạ Khương Nhạc, thuở nhỏ hiếu học, hiểu biết sâu rộng, giỏi thư pháp và hội họa, văn chương trác tuyệt, làm quan ở Giang Tả.

[6] Lưu Di Dân 劉遺民 (352~410): là hành giả tu pháp môn Tịnh độ đời Đông Tấn, người Bành Thành (Giang Tô Đồng Sơn), tên Trình Chi, tự Trọng Ân.

[7] Đào Ẩn 陶隱, tức Đào Hoằng Cảnh. Khi Đào Ẩn ở Cú Khúc sơn, có trồng cây tùng trước sân, mỗi khi nghe gió thổi đến cây tùng, ông rất vui. Gặp ở Đào Hoằng Cảnh, Truyện Ẩn Dật quyển hạ, Nam sử.

[8]Thủy quán 水觀: một trong mười sáu phép quán, rút ra trong kinh Quán vô lượng thọ. Còn gọi là Thủy tưởng quán, Thủy tướng quán.

[9] Phương đẳng sám 方等懺: thực hành phương đẳng tam-muội mà sám hối tội chướng của sáu căn. Còn gọi Phương đẳng tam-muội, Phương đẳng sám hối.

[10] Biến tướng địa ngục 地獄變相: biến là biến hiện, tùy theo căn cơ mà biến hiện ở địa hay Cực lạc, gọi là biến tướng.

[11] Chu Võ 周武: tức Chu Võ vương “Chiêu công năm thứ tư, Tả Truyện”: “ Chu Võ có lời thề cấp phát lương thực ở Mạnh Tân”.

[12] Cát-la tội 吉羅罪: gọi đủ là Đột-cát-la tội, tội nói lời xấu, làm việc xấu.

[13]Quốc Thanh Tự 國清寺: còn gọi là Thiên đài sơn cổ sát, ở phía nam của đỉnh Phật lũng, núi Thiên đài, tỉnh Chiết Giang.

[14] Ô-Tràng 烏場: Ô-trường: cũng gọi là Ô-trà, Ô-trượng-na (S: Udyàna). Trung quốc dịch là vườn, tức vườn của vua A-thâu-ca. Dịch âm Ô-tràng, Ô-trà đều sai. Đây là một nước thuộc Bắc Ấn (Đại Đường Tây Vực Ký, quyển 2)



TRUYỆN NGƯỜI NIỆM PHẬT VÃNG SANH CỰC LẠC

1. Thiên chúng đến đón chẳng đi

Ðại sư Tăng Tạng đời Ðường, người xứ Tây Hà. Tuổi nhỏ xuất gia, nép mình thờ người, hết thảy cung kính, chẳng từ lao khổ. Thấy tăng y của người khác liền giặt giũ giùm, rồi lại vá chằm. Ngày nắng gắt, sư cởi áo ngồi trong đám cỏ để thí máu thịt cho các loài muỗi, ve.

Hằng ngày, ngài niệm Phật hiệu chẳng cần ghi số, chỉ nhớ rõ trong tâm, chưa hề thiếu sót. Ðến khi báo tận, thấy chư thiên theo thứ tự đến đón, ngài đều chẳng theo. Ngài chợt bảo mọi người:

– Vừa về Tịnh Ðộ, thấy các thượng thiện nhân rải hoa trên không.

Rồi chắp tay niệm Phật mà hóa.

(theo Cao Tăng Truyện, tập 3)

* Ðại sư Thiện Ngang đời Ðường, người Ngụy Quận. Chí kết Tây Phương, nguyện sanh An Dưỡng. Sau ngài ngụ tại chùa Báo Ứng, biết đã đến lúc bèn bảo trước những người hữu duyên: đầu tháng Tám sẽ chia tay. Ðến kỳ, ngài lên tòa cao, lư tỏa mùi hương lạ, dẫn tứ chúng thọ Bồ Tát giới, dạy dỗ những điều thiết yếu. Chợt thấy thiên chúng rộn ràng, đàn sáo véo von. Ngài bảo đại chúng:

– Trời Ðâu Suất Ðà đến đón ta; nhưng Thiên đạo chính là căn bản sanh tử, chẳng phải chỗ ta ước mong. Lòng thường mong sanh về Tịnh Ðộ, nguyện này chẳng được thỏa hay sao?

Nhạc trời bỗng bặt tiếng. Từ trời Tây, hương, hoa, âm nhạc vùn vụt kéo đến, xoay quanh trên đỉnh đầu, toàn thể mọi người đều thấy. Sư bảo:

– Nay tướng lành Tây Phương đến đón. Ta đi đây.

Nói xong liền tịch, thọ sáu mươi chín tuổi.

(theo Cao Tăng Truyện, tập hai)

Nhận định:

Lúc lâm chung, tứ đại chia lìa là lúc nào vậy? Chư Thiên lần lượt đến đón là cảnh nào đây? Nếu chẳng phải là bậc tín nguyện kiên cố thì ngay trong lúc đó, đối trước cảnh ấy làm sao cưỡng làm chủ tể nổi? Ðây đúng thật là gương sáng thiên cổ cho những kẻ tu Tịnh nghiệp vậy. Nếu không, một phen sanh lên trời sẽ lại đọa trong luân hồi. Xin đừng lầm tin ngoại đạo cầu sanh Thiên Quốc.

2. Lấy việc lợi lạc chúng sanh làm đầu

Ðại sư Tự Giác đời Ðường, người xứ Bác Lăng. Xuất gia từ nhỏ, học Kinh, Luật, Luận siêng năng suốt cả chín năm, kinh luận nào cũng đều hiểu sâu sắc. Sau ngài trụ tại Trùng Lâm Sơn Viện trong núi Bình, nhặt quả, hái rau, ngày chỉ ăn một bữa, phát tâm đúc tượng đức Ðại Bi Quán Âm và dựng chùa Phật.

Gặp lúc đại hạn, tiết độ sứ xứ Hằng Dương là ông Trương thỉnh ngài cầu mưa. Ngài kiền thành khẩn cáo long thần, mưa to liền đổ xuống. Do đó, thí chủ chen nhau tụ về, đúc được tượng cao bốn mươi sáu thước, chùa cũng dựng xong.

Ngài liền đối trước đàn, thệ nguyện nương nhờ Thánh lực sớm sanh Tịnh Ðộ. Chợt thấy hai đạo kim quang: A Di Ðà Phật và hai vị Ðại Sĩ từ trong quang minh giáng xuống, xòe tay sắc vàng xoa đầu sư, bảo:

– Giữ nguyện chẳng đổi, lấy việc lợi sanh làm đầu. Sanh chốn ao báu mặc tình thỏa nguyện.

Về sau, chợt thấy thần nhân đứng trong mây hiện nửa thân, bảo:

– Thời kỳ sư quy Tây đã đến rồi!

Ngài liền ngồi xếp bằng trước tượng Quán Âm mà hóa.

(theo Cao Tăng Truyện, quyển 3)

Nhận định:

Phàm những việc như: tạo tượng, lập chùa, cầu mưa lợi người v.v… đều là những trợ duyên cho Tịnh nghiệp. Ðem những việc ấy hồi hướng Tây Phương. Do làm được như vậy nên Phật dạy: “Giữ nguyện chẳng đổi, lấy việc lợi sanh làm đầu”. Nếu như ngài chẳng có mật hạnh niệm Phật, làm sao cảm được đức Phật đến xoa đầu?

3. Kết xã khích lệ lẫn nhau

Ðại sư Tạo Vi Tỉnh Thường đời Tống là Tổ thứ bảy của Liên Tông. Ngài họ Nhan, người huyện Tiền Ðường. Bảy tuổi xuất gia, mười bảy tuổi thọ Cụ Túc Giới. Ngài lấy việc kiên trì giới luật, chuyên xưng danh hiệu, phát Bồ Ðề tâm, kết xã để khích lệ lẫn nhau làm chánh nhân Tịnh Ðộ.

Ngài trụ tại chùa Chiêu Khánh ở Hàng Châu, hâm mộ di phong Lô Sơn của Tổ Huệ Viễn nên thành lập Tịnh Hạnh Xã. Trong nhóm sĩ phu dự hội có quan Tướng Quốc Văn Chánh Vương Công Ðán v.v… một trăm hai mươi người đều xưng là Tịnh Hạnh Ðệ Tử, còn Tăng thì có đến một ngàn vị đồng tu Tịnh nghiệp.

Ngài cắt máu chép kinh phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm. Mỗi ngày chép một chữ, ba lạy, nhiễu ba vòng, ba lượt xưng danh hiệu Phật. Chép được ngàn quyển, thí cho ngàn người. Ngài dùng chiên đàn hương khắc tượng Phật Vô Lượng Thọ, quỳ trước tượng, phát nguyện:

– Con cùng đại chúng bắt đầu từ ngày hôm nay trở đi phát Bồ Ðề tâm. Cho đến cùng tột đời vị lai, hành hạnh Bồ Tát. Nguyện hết một báo thân này sẽ sanh An Dưỡng

Một hôm, trong lúc ngồi nghiêm trang niệm Phật, ngài chợt kêu to: “Phật đến rồi!”, tự nhiên hóa. Ðại chúng thấy đất đều có màu vàng ròng. Sư thọ sáu mươi hai tuổi.

(Theo Phật Tổ Thống Ký)

Nhận định:

Kết xã khích lệ lẫn nhau đúng là tự lợi, lợi tha. Nhưng để thực hành được điều này trong hiện tại, phải có bậc hữu đức thống suất đại chúng cộng tu, rất kỵ nam nữ hỗn tạp. Nếu không có được cơ duyên như vậy thì chẳng bằng đóng cửa tiềm tu, so ra còn dễ tinh tấn hơn!

4.Chuyên tâm niệm Phật

Ðại sư Hám Sơn Trừng Ấn Ðức Thanh đời Minh, là con nhà họ Thái ở Kim Lăng. Năm mười chín tuổi xuất gia, chuyên tâm niệm Phật, mộng thấy Phật A Di Ðà hiện thân trên không, quang tướng phân minh.

Từ đấy, thánh tượng sáng rực rỡ luôn hiện diện trước mắt ngài. Sau ngài đến Ngũ Ðài tu Ðịnh, phát minh được bổn tâm sẵn có. Ngài cắt máu chép kinh Hoa Nghiêm, mỗi một nét bút hạ xuống là một câu niệm Phật. Lâu dần, động tịnh hệt như nhau.

Sau ngài ẩn cư trong Lao Sơn là chỗ bọn ngoại đạo sanh sống. Thoạt đầu, chẳng có ai nghe đến danh hiệu Tam Bảo, nhưng lâu sau, ai nấy đều biết niệm Phật. Lý Thái Hậu hạ lệnh chở vàng đến dựng chùa, ban tấm biển đề tên chùa là Hải Ấn. Vua giận dữ, sai đầy ngài đi Lôi Châu. Nhân đấy, ngài trùng hưng tổ đình Tào Khê.

Về sau, ngài được vua hạ chiếu tha cho về, bèn kết am trong Lô Sơn, tu Tịnh Nghiệp càng thêm chuyên gắng. Ngài đột ngột đi về Tào Khê, thị hiện bịnh nhẹ, tắm gội, thắp hương, bảo đồ chúng rằng:

– Hãy nghĩ tới việc lớn sanh tử, vô thường mau chóng.

Ðoan tọa mà tịch, có quang minh chiếu rực tận trời, thọ bảy mươi tám tuổi, nhục thân hiện vẫn còn.

(theo Mộng Du Tập)

Nhận định:

Thánh tượng thường hiện, động tịnh nhất như thì đúng là tu hành Tịnh Nghiệp thật tinh cần. Vì chẳng chứng đắc chút ít đã cho là đủ nên nhục thân của ngài tồn tại vĩnh viễn. Xét ra, ắt ngài phải sanh trong Thượng Phẩm Thượng Sanh nơi Thật Báo Tịnh Ðộ hoặc Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ trong thế giới Cực Lạc.

5. Bỏ Thiền tu Tịnh

Ðại sư Ngẫu Ích Trí Húc đời Thanh là Tổ thứ chín của Liên Tông. Ngài họ Chung, người Ngô Huyện. Lúc tuổi trẻ, tự lấy việc học Nho làm trách nhiệm, viết sách bác Phật. Ðến khi ngài đọc được tác phẩm Trúc Song Tùy Bút của tổ Vân Thê bèn đốt những sách mình đã viết.

Năm hai mươi tuổi, nhân đọc kinh Ðịa Tạng bèn phát chí xuất thế, hằng ngày tụng danh hiệu Phật. Năm hai mươi bốn tuổi, nghe pháp sư Cổ Ðức giảng kinh, nghi tình chợt phát, dụng tâm tham cứu, chứng ngộ rỗng rang. Ngài liền bế quan ẩn tu ở Ngô Giang. Bị bịnh gần chết, ngài mới nhất ý cầu sanh Tịnh Ðộ.

Lúc bịnh giảm chút ít, ngài bèn kết đàn trì chú Vãng Sanh bảy ngày. Sau đấy, ngài ẩn tu tại Linh Phong, trước thuật những tác phẩm xiển dương Tịnh Ðộ được lưu truyền rộng rãi.

Ngài chợt thị hiện có bịnh, dặn dò sau khi trà tỳ hãy đem tro ngài hòa với bột đem thí cho các loài chim, cá để chúng được kết duyên Tây Phương. Sau đó, khi bịnh đã khỏi hẳn, ngài bèn ngồi xếp bằng, hướng về Tây, giơ tay lên mà tịch, thọ năm mươi bảy tuổi.

Ba năm sau, mở khám đựng nhục thân của ngài ra, tóc đã mọc dài phủ tai, vẻ mặt vẫn như lúc sống; môn nhân chẳng nỡ tuân theo di mạng nên lập tháp thờ ở Linh Phong.

(theo Linh Phong Tông Luận)

Nhận định:

Gặp lúc bịnh gần chết mới bỏ Thiền tu Tịnh. Sách Niệm Phật Trực Chỉ viết:

“Tinh tấn là chẳng vì chút bịnh duyên nhỏ hay lớn mà biếng nhác cái hạnh. Nếu như bị túc nghiệp sai sử thì nên tụng Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðộ Ðà Ra Ni. Trì một lần, diệt được tất cả các tội: ngũ nghịch, thập ác nơi thân. Trì được ba mươi vạn biến, quyết sẽ sanh về Tịnh Ðộ”.

Kinh Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðộ Thần Chú có nói:

“Nếu tụng được chú này thì A Di Ðà Phật thường ngự trên đảnh người ấy, ngày đêm ủng hộ chẳng để cho oán gia có dịp hãm hại. Hiện đời thường được an ổn; lúc mạng sắp hết, tùy ý vãng sanh”.

Vì thế, lúc ngài vừa bớt bịnh liền kết thất trì chú bảy ngày. Những người ham Thiền Tịnh Song Tu hãy bắt chước ngài lấy việc chuyên tu làm trọng.

6. Làm việc nặng vẫn niệm Phật không gián đoạn

Ðại sư Cụ Hạnh Nhật Biện thời Dân Quốc, người huyện Hội Lý ở Vân Nam. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải đi ở rể nhà họ Tăng ở Diêm Nguyên, sanh được hai con trai. Nhà nghèo, ngài phải làm thuê cho Chúc Thánh ở núi Kê Túc. Năm hai mươi mốt tuổi, ngài dẫn cả nhà tám người xin đi xuất gia, thọ Cụ Túc.

Hòa Thượng Hư Vân dạy ngài tu pháp môn Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ. Ngài bèn dứt bỏ các duyên, nhất tâm hệ niệm. Ngài tai điếc, mặt mũi xấu xí, không biết chữ, ngày trồng rau, đêm lễ bái, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Rảnh rỗi thì tập tịnh tọa, học khóa tụng và các kinh điển, tự siêng gắng hết sức. Sư vừa đi tham bái tứ đại danh sơn trở về đất Ðiền (Vân Nam), gặp lúc ngài Hư Vân trùng hưng chùa Vân Thê, hỏi:

– Thầy đã đi thăm quyến thuộc chưa?

Sư thưa:

– Con chẳng bận tâm đến họ.

Hòa Thượng lại hỏi:

– Thầy tính làm gì?

Thưa:

– Những việc nặng nhọc nhất không ai chịu nổi, con sẽ gánh vác.

Phàm là những việc nặng như đắp tường, lợp nhà, trồng rau, trồng cây, vác đá, đào đất, quét tước, nấu nướng, ngài đều làm không lúc nào ngơi tay, nhưng không một khắc nào để câu niệm Phật bị gián đoạn.

Khi đêm xuống, vào lúc chỉ tịnh, ngài bèn lễ các kinh Kim Cang, Dược Sư, các kinh Tịnh Ðộ; cứ một chữ là một lạy. Tảng sáng, hồng chung vừa gióng, đã lên điện tham dự khóa tụng như thường, chưa hề ngủ nghỉ. Ngài tự vá áo, hoặc chằm vá áo giùm bạn đồng tham, mỗi một mũi kim là một câu Phật hiệu.

Trong kỳ hạn kết giới, được thỉnh làm Tôn Chứng, ngài bèn bán y, đem hết tiền mua sắm vật dụng để thiết trai cúng dường đại chúng. Hỏi ngài sẽ đi đâu, chỉ cười không nói. Giới đàn hoàn tất, ngài ngầm lên điện sau cùng, ngồi xếp bằng, hướng về Tây niệm Phật, dùng lửa tự thiêu, thọ ba mươi sáu tuổi. Hình trạng vẫn như lúc sống, mùi hương lạ lan tận ra xa.

Ðại chúng tranh nhau đến xem, vừa đánh khánh, di thể ngài chợt sụp xuống, hóa thành tro.

(theo Hư Vân Hòa Thượng Niên Phổ)

Nhận định:

Một chữ chẳng biết, nhưng lúc làm công việc nặng nhọc chưa hề gián đoạn niệm Phật. Chúng ta là những kẻ biết chữ đọc được sách, nếu cứ lơi là để uổng phí ngày tháng trôi qua há chẳng biết thẹn chăng?

Nhưng tự thiêu là chưa đắc tam muội. Chớ nên manh nha vọng niệm như vậy để khỏi bị ma dựa phát cuồng, vĩnh viễn đọa trong ác đạo!

7. Xả Quán niệm Phật

Ðại sư Huệ Tam Tư Nguyên thời Dân Quốc, người huyện Uyển Bình tỉnh Hà Bắc. Năm mười bảy tuổi xuất gia. Ít lâu sau, thọ Cụ Túc, vào học trường Phật Giáo Học Hiệu tại tỉnh An Huy, nghiên cứu tinh tường nội điển.

Ngài nhận trách nhiệm trụ trì chùa Sùng Thọ và Quảng Thiện ở Bắc Kinh. Ngài kiến lập, hưng khởi đạo tràng Hoa Nghiêm. Trước giờ Ngọ mỗi ngày, ngài tụng kinh Hoa Nghiêm. Cuối năm, ngài kết Hoa Nghiêm Phật Thất, lãnh đạo đại chúng huân tu pháp Chơn Không Pháp Giới Quán; từng đốn nhập Pháp Giới Ðịnh. Sau khi khai tịnh, mới ngộ được hư không pháp giới lý sự vô ngại, pháp hỷ tràn đầy, khen là chưa từng có.

Từ đấy, ngài càng thêm tinh tấn, tu Quán chẳng lùi. Tháng Mười Một năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy (1948), ngài đến Ðài Loan lúc bốn mươi tám tuổi, lãnh trọng trách giảng dạy tại Phật Học Viện chùa Viên Quang ở Trung Lịch. Năm sau, ngài đến Sở Giảng Dạy Học Tập Phật Học ở Tân Trúc giảng dạy Phật giáo, đồng thời giảng kinh ở chùa Nhất Ðồng suốt bảy năm.

Sư thường sống tại các chùa ở Ðài Bắc, Nội Hồ, Nam Ðầu… để giảng kinh, độ chúng không đếm nổi. Năm năm mươi lăm tuổi, ngài sáng lập chùa Phước Huệ trên núi Linh Sơn ở xã Thọ Lâm, Ðài Bắc. Mỗi năm, vào tháng Bảy, ngài lập pháp hội Ðịa Tạng kéo dài bảy ngày, truyền U Minh Giới một lần. Mỗi năm, tại Ðài Loan, khi truyền tam đàn đại giới và giới tại gia, sư thường được suy cử vào một trong tam sư. Cả cõi âm lẫn dương gian đều được lợi, pháp hóa lợi ích vô cùng!

Năm sáu mươi sáu tuổi, sư lại càng thêm thường tinh tấn, hằng khóa niệm Phật mỗi ngày là ba vạn câu. Năm tám mươi tuổi liền bắt đầu niệm Phật, tọa thiền cộng tu, và khởi xướng nghĩa chẩn cứu dân nghèo và thí thuốc trong khuôn viên nhà chùa; sáng lập thư viện để mọi người đến đọc sách; đề xướng, lo liệu việc giảng giải, học hỏi Phật học. Hạnh lẫn giải càng thêm sâu, phước huệ song tu.

Sư từng đáp ứng lời thỉnh sang Mỹ hoằng pháp, qua Ðại Hàn truyền giới, người thọ giới lên đến hơn năm ngàn người. Giữa trưa ngày mồng Tám tháng Bảy năm Dân Quốc 75 (1986), sau khi dùng cơm, sư chợt nói:

– Ta muốn đi đây!

Liền triệu tập tất cả đệ tử trong chùa, dặn dò:

– Sau khi ta mất, các con nên hợp tác với nhau.

Sau bữa cơm chiều, ngài không bịnh gì, đang đứng mà hóa, thọ tám mươi sáu tuổi.

(theo tạp chí Từ Vân số 126)

Nhận định:

Ðại Sư mỗi ngày tụng kinh Hoa Nghiêm, tu Chơn Không Quán, từng nhập Pháp Giới Ðịnh, từ đấy tu Quán chẳng lui sụt. Ðến năm sáu mươi tuổi, bắt đầu mỗi ngày hằng khóa niệm Phật ba vạn tiếng; đấy là bỏ Quán niệm Phật.

Từ năm tám mươi tuổi trở đi, chợt lại tọa Thiền, niệm Phật cộng tu. Ðấy là tuổi già tịnh tọa niệm Phật, chứ chẳng phải là Thiền Tịnh Song Tu. Không bịnh, đang đứng mà hóa, nhất định phải là Thượng Phẩm Thượng Sanh.

8. Chuyên cầu thoát khổ

Thời Dân Quốc, một người phụ nữ nghèo ở huyện Từ Khê tỉnh Triết Giang, không biết họ, nhà nghèo, con ngỗ nghịch. Một ngày nọ bị con mắng nhiếc, tâm đau đớn, khó nhẫn, đến than thở với vị Tăng ở gần nhà. Vị Tăng bảo:

– Bà đã biết khổ; sao chẳng đem cái khổ ấy bán đi?

Hỏi:

– Làm sao bán được đây?

Tăng bảo:

– Bà chuyên niệm A Di Ðà Phật cầu sanh Tây Phương. Lâm chung Phật đến tiếp dẫn đi thì vĩnh viễn thoát khỏi các nỗi khổ, chỉ hưởng các sự vui. Ðấy là bán khổ đi đó!

Bà nói:

– Mẹ con tôi sống chung một phòng. Giường và bếp kê chung một chỗ. Dưới gầm giường có chuồng heo. Bẩn thỉu như vậy làm sao niệm Phật được?

Tăng bảo:

– Không hề chi, bà sống tại gia thì chỉ cốt sao thường niệm, lúc rảnh có thể đến chùa lễ Phật.

Bà liền phụng hành đúng như lời dạy, chuyên cầu thoát khổ, niệm Phật không gián đoạn. Ba năm sau, trước lúc sắp lâm chung vài tháng, bà nói trước với con:

– Ngày tháng đó ta sẽ sanh Tây Phương. Ngươi đừng có đi ra ngoài, vì ta lo liệu hậu sự để trọn đạo làm con.
Người con chẳng tin; ít lâu sau, bà nhắc lại cũng chẳng tin. Vài ngày trước khi mất, chợt ngửi thấy mùi hương lạ, tìm khắp nơi chẳng biết từ đâu ra, mới tin lời mẹ là thật. Ðến kỳ, cả nhà trông chừng, thấy mẹ tắm gội, thay áo, ngồi ngay ngắn niệm Phật qua đời.

(theo Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục)

Nhận định:

Dùng cái tâm sợ khổ để niệm Phật là pháp mầu nhiệm bậc nhất để thoát khổ. Nếu chẳng phải là nhà nghèo, con ngỗ nghịch, tâm đau buồn khó chịu đựng nổi thì làm sao cam tâm chuyên cầu thoát khổ niệm Phật sanh Tây? Thuận, nghịch đều là phương tiện; nghịch cảnh còn thù thắng hơn thuận!

9. Dụng công mãnh liệt

Cư sĩ Tiền Dực Sơn tự Vạn Dật đời Thanh, người huyện Thường Thục, làm nghề nấu rượu, thích chè chén. Ít lâu sau, ông tu Tịnh nghiệp, tận lực sửa đổi lề thói cũ, tránh sát sanh, dứt rượu thịt, khuyên mẹ ăn chay trường niệm Phật.
Một người con của ông bịnh lao, niệm Phật qua đời, mọi người phỉ báng, ông vẫn thờ Phật như cũ. Vợ mất, ông vẫn điềm nhiên, cự tuyệt người khuyên tục huyền:

– Có con nhưng nó đã mất rồi, tôi cưới vợ nữa để làm gì? Chí tôi xuất thế, lẽ nào còn thèm thuồng có người nối dõi ư?

Nhà cửa bị lửa cháy, ông hướng lên không, nguyện:

– Nghiệp của tôi đáng bị lửa cháy, chỉ xin đừng làm tổn hại đến nhà hàng xóm.

Lửa tắt, quả nhiên nhà hàng xóm vô hại. Ông chợt mắc bịnh thổ huyết, tâm sanh tử càng thiết tha, niệm Phật càng mạnh mẽ. Ðến lúc bịnh nguy kịch, ăn vào là ói ra ngay. Người chú là Tạ Phượng Ngô kể chuyện cổ đức nhịn ăn để thấy Phật, ông vui vẻ bảo:

– Có phương cách tiện lợi lớn như vậy, tôi phải dũng mãnh làm theo!

Ông liền tắm gội, đến trước bàn Phật, thắp hương, phát thệ: giữ trai giới bảy ngày, bỏ tiền phóng sanh cầu sanh Tịnh Ðộ. Ðêm ngày niệm Phật chẳng sót, có khát chỉ ăn dưa mà thôi. Có người hỏi: “Cả đêm chẳng ngủ, chẳng mệt mỏi hay sao?” Ông nói:

– Chẳng ngủ có lợi là niệm Phật được nhiều. Lúc tôi chưa bịnh chẳng được an nhàn; nay do bịnh mới được nhàn, đúng là lúc phải dốc sức, làm sao còn mệt nhọc được?

Hết kỳ hạn, thần thức hôn loạn, ông cả sợ, chắp tay đặt trên gối, ra lệnh đốt ngón tay. Ông Tạ nói:

– Lúc này, ngươi phát nguyện ấy thì cũng giống như đã đốt ngón tay rồi, chẳng bằng nhất ý cầu về Tây Phương thì hơn.

Ông liền nhắm mắt niệm Phật, lúc đầu còn miễn cưỡng, sau do dụng công mạnh mẽ, dần dần thần chí an định. Lại được mười mấy người trợ duyên, tiếng niệm Phật liên tục suốt ngày đêm. Ông chợt thấy Tây Phương Tam Thánh hiện tiền, quang minh, tướng hảo, toan cất thân lên kim đài; chợt nghe trên không có tiếng nói:

– Thân ông chưa sạch!

Ông liền sai lấy nước thơm tắm gội xong, Tam Thánh hiện như cũ, liền bảo người nhà rằng:

– Tôi đã đến được Tịnh Ðộ, thấy vô số hoa sen, tôi ngồi trên đó, sướng chẳng thể nói nổi!

Ông chỉ vào thân mình bảo:

– Ðây chẳng phải là thân ta!

Một lát, lại bảo:

– Phật đông nghẹt cả nhà!

Ngồi hướng về Tây, qua đời, thọ ba mươi tám tuổi.

(theo Tục Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục)

Nhận định:

Ðoạn được rượu thịt là tham độc đã hết. Bị cười chê chẳng đoái hoài là sân độc đã hết. Con chết, vợ mất vẫn điềm nhiên là ái căn đã đoạn. Cự tuyệt lời khuyên lấy vợ lần nữa, chẳng mong có người nối dõi là si độc đã hết.

Vì vậy, gặp phải nghịch cảnh, ông vẫn có thể chẳng thối thất cái tâm ban đầu; dù bịnh tật khổ sở vẫn giữ vững chánh niệm. Dù vì nghiệp chướng hiện tiền khiến thần thức hôn loạn, ông vẫn có thể dụng công mạnh mẽ, lại được trợ duyên nên nhanh chóng cảm được tướng tốt lành là đài vàng, thần hồn ngao du cõi Sen, thật đáng làm gương vậy!

10. Trợ niệm đắc lực

Cư sĩ Dương Liên Hàng thời Dân Quốc, người huyện Dư Diêu tỉnh Triết Giang. Nhà nghèo, làm nghề buôn bán. Nghe lời ông Ðồng Giác Hàng tu Tịnh nghiệp, lâu ngày đối với giáo nghĩa giải ngộ siêu quần.
Ông tham dự Liên Xã niệm Phật. Vì bị bịnh nên lại sát sanh, dần dần xa lìa các liên hữu. Sau bịnh nguy kịch, liên hữu bảo ông ắt phải chết. Tự xét mình không thể nào qua nổi, ông hoảng sợ, hối hận, bèn gắng sức đến trước Phật, tận tình bày tỏ, dốc lòng thành sám hối, lại giữ Ngũ Giới, thề chẳng tái phạm.

Từ đấy trở đi, ông buông bỏ vạn duyên, quét sạch ái dục, nhất tâm thầm niệm Phật hiệu đợi lúc lâm chung. Liên hữu biết công năng trì danh của ông nông cạn nên trước hết vì ông thỉnh người trợ niệm. Hai ngày sau, liên hữu cũng trợ niệm. Ông chợt thấy thần khí thanh sảng, mộng thấy quang minh. Ðến canh hai, liên hữu sắp ra về, chẳng biết rằng đến lúc đó, việc trợ niệm đã có hiệu lực. Ông liền bảo:

– Tôi chưa đến được Tây Phương, xin liên hữu lớn tiếng niệm Phật trợ niệm suốt đêm, đừng để lỡ!
Mọi người lại cao giọng niệm Phật, lại luôn luôn khích lệ ông. Chợt ông mỉm cười bảo:

– Tôi nay đã đến Tây Phương rồi, hoa sen đẹp quá! Ao báu đẹp quá! Quang minh đẹp quá!

Mắt ông nhìn chăm chú vào tượng Phật mà qua đời. Mọi người vẫn trợ niệm đến khi thân ông đã lạnh mới thôi, chẳng cho người nhà khóc than. Ðến trưa hôm sau, đảnh đầu ông vẫn còn ấm, thọ ba mươi tuổi!

(theo Cận Ðại Vãng Sanh Truyện)

Nhận định:

Công phu trì danh nông cạn mà được vãng sanh là do sức liên hữu trợ niệm. Trợ niệm khẩn yếu như thế đó. Xin hãy đề xướng rộng rãi. Nếu như không có liên hữu thì xin hãy dùng băng niệm Phật để trợ niệm, tạm dùng làm phương tiện cũng có thể được hưởng đại lợi vãng sanh vậy!

11. Giác chiếu niệm Phật

Cư sĩ Phạm Dụng Hòa tự Nguyên Lễ đời Thanh, người huyện Tiền Ðường. Lúc nhỏ học Nho, thờ cha mẹ rất có hiếu. Lúc cha mẹ bịnh, trước sau, ông đã cắt thịt bắp tay hòa với thuốc trị lành bịnh cho cha.

Bước vào tuổi tráng niên, cha mẹ mất, vợ chết, ông từ bỏ trần duyên, tu tập huyền công (cách tu hành của Ðạo giáo) hơn mười năm, đạt chút linh nghiệm. Về sau, ông đọc những tác phẩm của ngài Vân Thê có phần tỉnh ngộ, bèn thọ Tam Quy, Ngũ Giới, nhất chí kiên trì, thậm chí những thứ làm bằng lông thú, dệt bằng tơ tằm, ông chẳng hề khoác vào thân. Bỏ hết những điều mình đã tu tập, chuyên tu Tịnh nghiệp. Ông ham làm lành, thí thuốc, phóng sanh, giúp đỡ người nghèo, chẳng nề nhọc mỏi. Gặp Tăng chúng nghèo bịnh, ông liền cúng dường chẳng thiếu gì.

Về sau, ông bế quan niệm Phật suốt trăm ngày. Lúc hơi thở ông vừa trở nên yên tịnh thì cách tu huyền thuật trước kia chợt hiện ra, nhận thấy khí Thiên Ðịa cuồn cuộn, mù mịt trong không trung xông thẳng vào miệng, mũi, chạy thẳng vào huyệt Ðan Ðiền, hòa hợp với nguyên khí của chính mình, [cảm thấy] khinh an chẳng thể diễn tả nổi. Giây lát, có một đứa bé cao mấy tấc từ đảnh đầu vọt ra, lãng đãng trước mặt; được một chốc, nó lại theo đảnh đầu trở vào.

Từ đấy trở đi, mỗi khi đến lúc hết sức tịch tịnh, vong niệm thì liền có đứa bé bước ra, trở vào như trên. Thoạt đầu, ông rất vui; lúc sau, ông chợt nghĩ:

– Ðây há chẳng phải là năm mươi thứ Ấm Ma như đã nói trong kinh Lăng Nghiêm đó ư? Nếu cho là kỳ đặc thì sẽ bị lạc vào quần ma! Niệm Phật chí tại Tây Phương, thánh cảnh chẳng hiện, sự này ích chi?

Ngay khi đó, ông liền giác chiếu, chánh niệm hiện tiền, đứa bé chẳng xuất hiện nữa. Ðối với yếu chỉ Duy Tâm, ông khế ngộ sâu xa; Tín – Hạnh – Nguyện lực càng thêm thuần thục. Thường bảo với mọi người rằng:

– Ðối với cửa ải hiểm yếu bậc nhất trong cuộc đời này nếu có chút phần chẳng rõ thì sẽ lạc vào bàng môn. Vì vậy, tu hành chẳng thể không thận trọng vậy!

Chợt ông kết liễu mọi việc, dặn dò, từ biệt bè bạn, ngồi niệm Phật qua đời. Lúc liệm, đảnh đầu vẫn còn nóng, thọ sáu mươi ba tuổi.

(theo Nhiễm Hương Tục Tập)

Nhận định:

Từng tu tập huyền công của ngoại đạo, nguyện thường giác chiếu nên khỏi bị đọa vào bàng môn. Chánh niệm hiện tiền, quần tà tự diệt.

12. Mật hạnh tinh tấn

Cư sĩ họ Trần đời Thanh, không rõ tên là gì, là chú họ của các ông Thế Anh, Mậu Tài ở huyện Thường Thục. Mỗi sáng dậy, ông thắp hương yên lặng tụng kinh, niệm Phật. Dù gió, mưa, lạnh, nóng đều chẳng gián đoạn. Suốt mấy năm như thế người nhà chẳng hay vì ông hành mật hạnh.

Trước khi mất ba tháng, ông tự bảo đã đến lúc sắp mất, người nhà thấy ông không bịnh tật gì nên không tin. Ba ngày trước khi mất, ông thị hiện bịnh nhẹ, vẫn đi đứng như thường. Ðến ngày, ông tọa hóa, người nhà kêu khóc; ông bèn mở mắt, dạy sơ lược vài lời, rồi nói: “Ta đi đây!” Lại yên lặng, thân bốc ra mùi hương lạ ba ngày mới hết.

(theo Vãng Sanh Cận Nghiệm Lục)

Nhận định:

Cổ nhân mật hạnh, dù nóng hay lạnh chẳng gián đoạn, dù là người nhà cũng chẳng hay biết. Nay thì hành nhân rêu rao khoe mẽ nhưng một ngày nóng mười ngày lạnh, cho nên người niệm Phật thì nhiều mà kẻ vãng sanh lại ít. Hãy dè dặt, hãy thận trọng

Trích trong Niệm Phật Thập Yếu của Tịnh nghiệp đệ tử Dịch Viên Mao Lăng Vân cung kính kết tập