- PHẬT TÁNH có sẵn trong mọi người, do NGHIỆP che đậy nên không trong sạch nên phải luân hồi, tu tập cầu đạo giải thoát để thấy BẢN THỂ NGUYÊN SƠ. Đây là tư tưởng của Kỳ Na Giáo là Bản thể trong sạch bị mắc kẹt trong Thân xác do Nghiệp che đậy, phải giải thoát và giác ngộ cho Linh Hồn - Phật Tính . Đức Phật không hề đưa ra luận thuyết Phật Tánh trường tồn trong thân xác hay tinh thần của chúng sanh.

Chổ này có 2 lỗi lập luận.
Thứ 1: Đạo hữu không hiểu về khái niệm Phật tánh.
Phật tánh mà Đại thừa quan niệm, định nghĩa ra chính là Vô Ngã trong Phật giáo Tiểu Thừa. Vì Phật tánh ở đây không thể ở nơi trong Ngũ Uẩn ha ngoài Ngũ Uẩn mà cầu. Vì Ngũ uẩn là vô thường, do Phật tánh không bị ngũ uẩn ràng buộc cho nên mới trường tồn. Điều này là hoàn toàn hợp lý với giáo lý Vô Ngã của Phật giáo Tiểu Thừa. Do đó, không thể nói là Phật không nói đến.

Thứ 2: Lập luận vi phạm pháp ấn Vô Thường.
Đạo hữu chấp trước ngôn từ vô thường, chấp tướng ngã ngôn từ mà lập luận mà không tìm hiểu suy sét nghĩa chân thực. Do đó, vi phạm pháp ấn Vô Thường, nên lời này không đáng tin cậy.

Thứ 3: Lập luận vi phạm pháp ấn Vô Ngã.
Vô Ngã là bản chất của mọi chúng sanh, hay nói cách khác, Phật tánh là sẵn có trong mọi chúng sanh. Do đó, nếu giáo lý này Kỳ Na Giáo có nói đến, nói sơ qua, nói lượt qua thì cũng bình thường. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh điều Vô Ngã. Việc một tôn giáo khác cũng đề cập đến chứng tỏ điều Đức Phật Thích Ca nói là đúng. Ví dụ như "nước thì không màu, người da trắng cũng thấy nước không màu, người da đen cũng thấy nước không màu".
Việc lập luận chấp vào ngã tướng tôn giáo, thể hiện sự vi phạm pháp tướng Vô Ngã.

- TÍNH KHÔNG. Kinh Kim cang nói, “Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (từ một pháp vô vi – tức Không – mà có nhiều tầng bậc hiền thánh khác nhau). Do vậy mà với Bồ tát, năm uẩn là không, ấy gọi là nội không”. Đây là ảnh hưởng của hệ tư tưởng của Đạo Lão về Thuyết Vô Vi, vạn vật trở về Đạo hư không! từ Đạo mà khởi sinh vạn pháp.

Cũng lập luận như trên. Nếu Phật đã nói Vô Ngã là chân lý, thì người Trung Quốc cũng phải thấy được chân lý nếu họ đã bỏ công sức ra cầu tìm. Đức Phật đâu nói rằng chân lý chỉ có mình ngài mới có. Chẳng phải hết thảy đệ tử điều có thể thành tựu A-la-hán. Do đó, việc tôn giáo khác thành tựu như lời Phật dạy là việc hết sức bình thường. Có thể chổ diễn đạt ngôn từ có khác nhau, nhưng cũng phải thôi vì ngôn từ là vô thường mà.

Thật ra còn những phần ở dưới nữa, đọc cả bài chúng ta có thể thấy đạo hữu smc nặng nề chấp ngã đối với Đức Thích Ca. Điểm nào?

Chấp ngã tướng tôn giáo (Phật giáo), cho rằng chỉ có Phật giáo độc tôn, chỉ có Phật giáo mang đến sự giải thoát. Trong khi Phật nói tất cả chúng sanh điều có thể khai ngộ, chứng quả, thành tựu A-la-hán như Phật.

Chấp ngã độc tôn giáo lý, cho rằng chỉ kim ngôn Phật nói mới chứa đựng giáo lý chân chánh. Điều này cho thấy đạo hữu smc mất căn bản về kiến thức vô thường, ngũ uẩn, vô ngã. Tại sao? Vì lời nói là vô thường, vì ngôn từ là ngũ uẩn. Phật không hề nói những thứ đó là chổ giải thoát, mà phải là Vô Ngã. Do đó, việc vận dụng ngôn từ, phương tiện như thế nào để chúng sanh thành tựu Vô Ngã, hay Phật Tánh thì xem như đã cứu độ họ. Phật không hề nói chỉ có lời của Phật mới là chân lý.

Từ hai chấp ngã này ta thấy, dù đạo hữu smc cho rằng hết thảy đệ tử hay những chúng sanh khác đều có thể thành tựu quả vị A-La-Hán nhưng trong thâm tâm lại không thừa nhận việc đó. Việc chấp ngã ngôi vị độc tôn của Đức Phật, đạo hữu smc gián tiếp thừa nhận giữa Phật và chúng sanh có một khoản cách rất lớn, dù cho hàng thánh đệ tử cũng không bằng Phật. Tức là trong tam độc, si mê quá nặng, cho nên thành mê tín.