Trích dẫn Nguyên văn bởi Giga Xem Bài Gởi
Như vậy bạn có thể giải thích sự khác nhau giữa A La Hán và Phật ở chỗ nào không?
Có thể gọi A La Hán Mục Kiền Liên là Phật Mục Kiền Liên không?
Có thể gọi A La Hán Maha Ca Diếp là Phật Maha Ca Diếp không? (Không nói về Phật Ca Diếp ở quá khứ, đang nói về ngài Ca Diếp là đệ tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni)
Một vị Phật là một vị A La Hán, là một vị Bồ tát nhưng một vị A La Hán không thể nói đó là một vị Phật hay một vị Bồ tát khi họ chưa/không phát tâm cứu độ chúng sanh được.
- Bạn nên đọc thật kỹ những gì SMC viết, gần như là không thiếu cũng không quá dư. Nếu bạn đọc đoạn sau này mà không hiểu, bạn có thể hỏi lại lần 2. SMC nghĩ ai đọc đoạn này cũng sẽ hiểu.

Phật ngôn: "Này các Tỷ-Kheo, khi là một vị A-La-Hán, Như-Lai đã là bậc Chánh Đẳng Giác. Chính vị ấy là người tuyên bố con đường chưa hề được công bố trước đây, là người biết con đường, hiểu con đường và đã tu dưỡng trên con đường này. Và bây giờ, hàng đệ tử của vị ấy là những người bước theo dấu chân Như-Lai. Này các đệ tử, đó là sự phân biệt rõ ràng, là điểm xác thực để phân biệt Như-Lai, một vị A-La-Hán Chánh Đẳng Giác với hàng đệ tử là các A-La-Hán được giải thoát bằng tuệ giác."
"Thật vậy, giống như Ta, họ là bậc Thắng giả đã chứng được lậu tận"


=> Trong sự chứng đắc, sự khác biệt giữa Phật Thích Ca và các Thánh Đệ Tử A La Hán chỉ là sự khác biệt trước sau: Phật Thích Ca là người đã chứng đắc Con Đường và mục tiêu trước tiên, đã hướng dẫn cho các đệ tử phương pháp để chứng đắc Con Đường và mục tiêu sau đó.


- Còn về Bồ Tát thì hãy đọc đoạn trích sau: "Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:

“Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của sắc? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thọ? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của tưởng? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của các hành? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thức?” (trích Kinh Tương Ưng - chương Tương Ưng Uẩn - phẩm Gánh Nặng - mục 26: Vị ngọt)

=> Nghĩa là Bồ Tát chính là một chúng sanh có trí tuệ, là một bậc HỮU HỌC. Tuy nhiên, vị Bồ Tát này không có khả năng cứu độ chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi. Chỉ khi nào giải thoát khỏi vòng luân hồi, nghĩa là chỉ khi nào trở thành một vị Phật, Ngài mới có thể giúp người khác thoát khỏi vòng luân hồi.

Trong suốt thời gian dài làm một vị Bồ Tát, người ấy tích lũy Pāramī (Ba La Mật); những đặc tính cần thiết để trở thành một vị Phật. Chúng ta không thể mong mỏi hay kỳ vọng một vị Bồ Tát giúp chúng ta ra khỏi vòng luân hồi. Bồ Tát không phải là người đã giác ngộ và dời ngày “vào” Niết Bàn để đi cứu độ chúng sinh. Bồ Tát vẫn còn là phàm nhân chưa giác ngộ. Các Ngài đang vun bồi, tích lũy Pāramī để trở thành một vị Phật. Bồ Tát chỉ là một chúng sinh phi thường nhưng chưa giác ngộ. Quan niệm rằng Bồ Tát là kẻ giác ngộ, nhưng chưa chịu vào Niết Bàn, đợi cứu độ tất cả chúng cho đến khi tất cả chúng sinh đã được thành Phật rồi mới vào Niết Bàn là sai. Điều đó không thể nào xảy ra được.

__ Bởi vì lẽ đó mà SMC muốn ĐH trả lời câu hỏi ở chữ ký của SMC: chứng ngộ trước, rồi mới tuyên thuyết để cứu độ chúng sanh - hay là - cứu độ chúng sanh trước, rồi mới giác ngộ sau? Và tất nhiên, làm gì có chuyện chưa chứng ngộ mà đi tuyên thuyết cứu độ chúng sinh! Bạn không thể trị bệnh cho người khác nếu bạn không phải là bác sĩ. Trước tiên, bạn phải trở thành bác sĩ, sau đó bạn mới có thể chữa bệnh cho người khác. Cũng vậy, bạn phải trở thành một vị Phật trước khi bạn muốn cứu vớt chúng sinh khác ra khỏi vòng luân hồi.

__ Rồi ĐH cho rằng không có Bồ Tát, thành Phật hết thì giáo pháp làm sao lưu truyền? Nếu Đức Phật có thể cứu độ tất cả chúng sinh thì sẽ không có nhiều vị Phật, chỉ một vị Phật là đủ. Chúng ta không được Đức Phật Gotama (Thích Ca) cứu độ. Vì thế chúng ta còn ở đây. Như vậy, ngay cả Đức Phật không thể cứu độ tất cả chúng sinh. Theo Phật Giáo, cứu độ có nghĩa là giúp chúng sinh tự cứu. Dầu cho có nhiều vị Phật đã ra đời, nhưng luôn luôn lúc nào cũng vẫn còn những chúng sinh chưa được Phật cứu. Do đó, sẽ có nhiều vị Phật xuất hiện trên thế gian này. Có hạnh nguyện cứu độ tất cả chúng sinh, đó là một hạnh nguyện tốt, nhưng trong thực tế điều này không thể thực hiện được.

Lấy ví dụ ngay ở cuộc đời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni:

Lúc Đức Phật của chúng ta còn là một vị Bồ Tát tên là Sumedha nguyện trở thành một vị Phật, và được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký, cho đến khi đạt thành chánh quả Ngài đã trải qua biết bao nhiêu thời gian luân lưu trong vòng luân hồi không đếm được để tích lũy Pāramī.

Khi Pāramī được đầy đủ, vào kiếp chót, Ngài sinh làm con vua Tịnh Phạn và có tên là Tất Đạt Đa. Thái tử lớn lên trong nhung lụa giàu sang. Năm mười sáu tuổi, Ngài thành hôn, và mười ba năm sau Ngài xuất gia tu hành. Ngài đi vào rừng sâu thực hành thiền và trở thành một vị Phật vào ngày rằm tháng tư âm lịch.

Hai tháng sau ngày thành đạo, Ngài ra công dạy dỗ chúng sinh ngày đêm. Trong chú giải có ghi lại công việc hàng ngày của Đức Phật. Nếu bạn đọc thời khóa biểu này bạn sẽ thấy Đức Phật làm việc rất tích cực. Mỗi ngày Đức Phật chỉ nghỉ hai đến ba tiếng. Như vậy, Đức Phật phải làm việc ngày đêm nhằm đem lại an vui, hạnh phúc cho chúng sinh. Ngay lúc chỉ còn vài giờ trước khi tịch diệt, vào tuổi tám mươi, đang nằm trên giường bệnh, Đức Phật còn độ người đệ tử cuối cùng. Lúc Đức Phật sắp Niết Bàn, một vị đạo sĩ xin phép Ānanda vào gặp Phật, nhưng Ānanda từ chối vì Đức Phật đã quá yếu và sắp sửa Niết Bàn. Nghe lời nói chuyện của hai vị, Đức Phật bảo Ānanda cho vị đạo sĩ vào gặp. Đức Phật trả lời những câu hỏi của đạo sĩ và dạy cho đạo sĩ về Bát Chánh Đạo. Đó là vào lúc nửa đêm, và Đức Phật đã tịch diệt vào khoảng gần sáng.

====> Tóm lại, Bồ Tát là một chúng sinh có trí tuệ, tu tập với một nguyện lực nào đó, tích lũy những Ba La Mật từ đời này sang đời khác, là một bậc hữu học, không thể cứu độ chúng sinh thoát khỏi vô minh, luân hồi.