LUẬN CƯƠNG VỀ NHO GIÁO Ở VIỆT NAM
GS Trần Văn Giàu
1. Nho học, Khổng học, Hán học là những khái niệm liên quan rất gần gũi, mà không đồng nghĩa, tuy nhiều người lẫn lộn. Ở đây, tôi bàn về nho giáo, nho giáo ở Việt Nam, song trong khái niệm nho giáo tôi dùng, chữ giáo có phân biệt cơ bản với chữ giáo có phân biệt cơ bản với chữ giáo trong khái niệm Công giáo, Hồi giáo, Cao Đài giáo v.v…, nơi này nói lên tín ngưỡng chủ yếu, nơi kia nói lên tư tưởng là chủ yếu, cũng một chữ giáo mà không đồng nghĩa.
2. Nho giáo có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, lâu dài hằng mấy nghìn năm và phát triển vừa bề sâu vừa bề rộng. Bề rộng là từ một vùng của cả Trung Quốc, quê hương của nó, rồi ảnh hưởng tới Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản. Bề sâu là các giai đoạn lịch sử của nó, giai đoạn sau thường phong phú hơn giai đoạn trước hoặc vì phải thích nghi với điều kiện xã hội mới, hoặc vì phải đấu tranh và làm giàu với các luồng tư tưởng tín ngưỡng khác sinh ra từ nội địa hoặc nhập vào từ nước ngoài. Có nhà khoa học chú trọng đến “tính không hoàn chỉnh” của nó; nó không phải nhất thành bất biến; nó chuyển biến luôn và hãy xem đó là một sức sống của nho giáo. Khả năng chuyển biến mà vẫn giữ bản sắc là một điều, một tính đặc biệt của nho giáo. Cho nên, có nho giáo trước Khổng Tử Hạ Thương, đầu Chu; có nho giáo của Khổng Tử và môn đệ trực tiếp; có nho giáo thời Hán mà á thánh nổi tiếng là Đổng Trọng Thư; sang Đường, nho giáo và Phật giáo đấu tranh mà chung sống (chưa kể rằng từ Xuân Thu Chiến Quốc đến đó có bao nhiêu nhà tranh tiếng với nhau). Rồi thời Tống, có nho giáo của nó với những bậc á thánh lừng danh như Nhị Trình, Chu Tử v.v… Sĩ phu Việt Nam đi học thì tự gọi là đến cửa Khổng sân Trình. Một thuở, sĩ phu Việt Nam xem Khổng Mạnh, Hán Nho, Tống Nho “ba vì” của nho giáo, sau đó không có đỉnh nào cao hơn.
3. Lịch sử nho giáo ở Trung Quốc lâu dài như thế và dân tộc Việt Nam đã bị thu hút vào văn minh văn hoá Trung Quốc cũng từ lâu đời. Nhưng hãy nhận thấy rằng nho giáo không phải đã thống trị tinh thần văn hoá Việt Nam dài như cái bề dài của lịch sử Việt Nam đâu. Cái gốc của sự khác biệt giữa nho giáo Việt Nam với nho giáo Trung Quốc bắt đầu từ chỗ đó.
3.1. Suốt thời Hạ Thương và lâu sau hơn nữa, nước Văn Lang của tộc người Lạc Việt ở miền sông Hồng đã thành một thực tế lịch sử rồi. Ngay cả nhà Chu cũng chưa hề với tay tới đất nước của vua Hùng, của lạc hầu, lạc tưởng lạc dân. Nhà Tần khi đã thôn tính lục quốc thì có sai quân mon men xuống miền xa lạ cực nam tiếp giáp với Văn Lang, Âu Lạc, nhưng bị đánh bật ngay. Vậy thuở ấy làm gì ở nước ta có hơi hám nho giáo tuy ở phương bắc đức Khổng cùng môn đồ đã làm nhiệm vụ sáng lập Khổng giáo rồi.
3.2. Đến phiên nhà Hán được dựng lên ở Trung Nguyên, rồi nam tiến, sáp nhập Nam Việt của họ Triệu, mà Nam Việt của họ Triệu thì đã đánh chiếm Âu Lạc rồi, thì từ đó bắt đầu thời kỳ gọi là bắc thuộc của lịch sử dân tộc Việt Nam, không còn Văn Lang, Âu Lạc nữa, nước ta trở thành Giao chỉ, Giao Châu, An Nam đô hộ phủ của Hán, Đường, Ngô… suốt thời gian dài qua ngàn năm. Đến thế kỷ 10 sau công nguyên mới dứt Nam Hán. Trong đoạn giữa và đoạn sau của thời kỳ bắc thuộc này, chắc đã có những nhà cai trị và có nhiều nhân sĩ bắc phương lánh nạn, tránh loạn chạy xuống châu Giao tìm nơi nương náu và sống bằng nghề dạy học, thì từ đó nho giáo mới có những hạt giống đầu tiên ở xứ “nam man” này, cũng từ đó đã vào xứ ta những tư tưởng như Đạo giáo của Trung Quốc, như Phật giáo của Ấn Độ, mấy giáo này lắm lúc trộn lẫn với nho giáo mà thường dễ thâm nhập dân gian hơn là nho giáo. Cần chú ý rằng, so với Phật và Đạo, thì trong phạm vi thời bắc thuộc, Nho giáo rất ít được đi vào các tầng lớp xã hội bản xứ, có lẽ bởi vì muốn học Nho thì cần phải biết chữ Hán mà chữ Hán thì khó học lắm, còn theo Phật, theo Đạo thì chỉ cần có cái lòng tin, mà tín ngưỡng dân gian không phải xa xăm gì lắm với Phật giáo, “quyền năng và phù phép” đạo giáo. Lý do chính cắt nghĩa được vì sao trải Tiền Hán đến Nam Hán, người Việt Nam rất ít thấm nho giáo là ở chỗ nho giáo dính liền với nhà cai trị, với kẻ cầm quyền ngoại bang. Thời dài bắc thuộc đó ít có những người Việt học thành đạt ở Trường An, trái lại thì có rất đông nhà sư và phật tử tổ chức tham gia các cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ. Lịch sử ghi danh của chỉ một nhà khoa bảng Việt đỗ đạt ở Trường An mà giữ chức gác cổng thành nên bực tức về Nam hợp tác với Lý Bí khởi nghĩa.
3.3. Các triều đại đầu tiên của Việt Nam độc lập đều xa lạ với nho giáo hay là không gần gũi với nho giáo. Đã vào đầu thiên niên kỷ thứ hai rồi. Ở các triều đình này, không phải nhà nho mà nhà sư (Phật hay Đạo) đóng vai trò chính. Phật giáo khi ấy là quốc giáo. Nhà Lý xuất xứ từ cửa Phật. Các vua Trần là người sáng lập Thiền Tông Việt Nam, nho giáo chưa có thế lực lớn. Nhưng khi đã có một chính quyền phong kiến tập trung, ở bên cạnh Trung Quốc, thì sớm hay muộn, từ từ hay mau chóng, cũng chính thức du nhập nho giáo bởi vì nho giáo là một cách trị quốc đã tỏ ra hữu hiệu từ cả ngàn năm. Nó cũng là một cách hay để tu thân, tề gia, tạo được sự an bình trong xã hội. Cho nên từ Lý đã thấy nhà vua lập Văn Miếu thờ Khổng Tử và tiền hiền ở Thăng Long. Trong lúc Phật giáo còn là quốc giáo thì suốt Lý Trần thực lực của nho giáo và nho gia ở triều đình và trong dân càng ngày càng phát triển như một tất yếu lịch sử Việt Nam.
3.4. Nho giáo sẽ chiếm lĩnh vai trò chủ đạo trong nhà nước Việt Nam độc lập, từ triều Lê (thế kỷ 15) sau khi tầng lớp nho sĩ dân tộc đã lập công lớn trong cuộc kháng chiến dài 20 năm đánh đuổi quân Minh xâm lược. Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Lê Lợi, về mặt văn hoá chính trị, có thể được xem là cái vương miện để trao cho nho giáo Việt Nam.
4. Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hoá Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đại Lê Nguyễn. Xét về mặt nguồn gốc lịch sử thì nho giáo ở Việt Nam, cũng tựa như nho giáo ở các nước Á Đông khác, là một nhánh nho giáo mà gốc là nho giáo Trung Quốc. Có thể nhận thấy rằng nho giáo (hay bất cứ giáo nào) du nhập một nước có văn hiến thì phải uốn mình theo văn hoá nước đó; vừa uốn mình theo, vừa đóng góp vào nhiều hay ít, cụ thể như thế nào tuỳ khả năng tiếp thu và sáng tạo của dân tộc. Tiếp thư mà không sáng tạo thì cả văn hoá và dân tộc đều sẽ mất. Việt Nam tiếp thu nho giáo bắc phương mà sáng tạo nho giáo của mình chứ không phải chỉ sao chép thuộc lòng Khổng Mạnh, Hán nho, Tống nho. Thời giờ ít, sáng tạo không nhiều, nhưng không phải không đặc sắc.
4.1. Đã xảy ra nhiều cuộc tranh chấp, tranh luận giữa các giáo, mà người tiến công thường nhất là nho, nhưng nho Việt Nam chan hoà chung sống với Phật, Đạo và tín ngưỡng tư tưởng dân gian thời cổ. Chưa thấy một chính quyền nho giáo nào đàn áp mạnh quá Phật, Đạo, cũng chưa thấy thức giả nào công kích nho giáo một cách quá gay gắt trừ phi kẻ công kích lại là người nho giáo (cực đoan). Sự chung sống chan hoà đó thuộc về bản chất Việt Nam mà cũng thuộc về bản chất các giáo đã kể, chớ không phải vì lẽ “đồng nguyên” mà lắm người tìm kiếm mất công.
4.2. Nếu phải kể hết những ý kiến của nhà nho Việt Nam vừa khác biệt với nho Trung Quốc, thì, trước nay biết bao nhiêu mà kể. Chỉ kể một số điều cơ bản mà thôi, những điều khác biệt cơ bản thuộc cái lõi “bất biến” của nho giáo. Nhưng ở đây xin nói rằng, trong mọi sự biến chuyển, điều chính, làm giàu, qua tất cả các cái biến đó, tất có những cái bất biến, có những điều chung nhất của nho giáo mà cánh nho nào, nhà nho nào, ở đâu, lúc nào cũng phải công nhận, không công nhận thì không phải là nho nữa. Cái bất biến, cái lõi, cái chung cơ bản đó là Cương Thường và với Cương Thường là: bát điều mục, cửu trù, chánh danh, tuỳ thời, nhân trị, quân tử và tiểu nhân. Nhà nho gọi là chân lý vĩnh cửu, cũng gọi là đạo, “thiên địa chi thường hình, cổ kim chi thông nghị”, “thiên địa bất biến đạo diệt bất biến”. Đó là loại mắt biến đạo diệt bất biến”. Đó là loại mắt kính mà tất cả hay là hầu hết các nhà nho bất kỳ thời nào, bất kỳ nơi nào, đều phải mang vào để nhìn mọi hiện thực, để xét mọi sự việc.
Vậy thì nho Việt Nam có gì cốt lõi, có gì cơ bản mà phân biệt với các loại nho tôi vừa trình bày?
- Thưa rằng cái phân biệt thuộc về cốt lõi đó là nho chánh thống của Trung Quốc dạy: quân thần cang, mối quan hệ giữa vua và tôi làm đầu, lấy cang ấy làm cang số 1, còn nho Việt Nam, theo truyền thống lấy mối quan hệ giữa nước với dân làm đầu, làm cang số 1 trong tam cang. Nho giáo và không thánh hiến nho giáo nào dạy chủ nghĩa yêu nước cả; còn nho giáo Việt Nam thì khác hẳn, nó thừa hưởng cái truyền thống đã có từ thờI nước Văn Lang, từ thời vua Hùng !
- Thưa rằng ngũ thường của nho giáo Việt Nam khác với nho giáo gốc người Việt Nam đưa chữ nghĩa lên hàng đầu và đặt thêm chữ đại ở trước, thành đại nghĩa, đại nghĩa là cứu nước. Chưa kể rằng trí giả và nhân dân Việt Nam tuy rất trung lễ mà đề cao chữ dũng, hơn hết nhân nghĩa trí dũng là ở đầu lưỡi và ở trong tâm của người Việt Nam.
- Thưa rằng trong bát điều mục của nho giáo gốc, nhà nho Việt Nam không biết từ hồi nào đã tháo gỡ khái niệm “bình thiên hạ” đi rồi, chỉ để lại thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia mà thôi. Tại sao? Cần gì phải giải thích?
- Thưa rằng còn vô số những điểm khác nữa như nho giáo gốc tuyên truyền cho thiên mạng, còn nho giáo Việt Nam thì dạy sở cậy vào nhân lực, nhân định thắng thiên, v.v.. và v.v.. Kể cả ngày không hết.
4.3. Phân biệt thế nào đi nữa thì nho giáo Việt Nam cũng vẫn là nho giáo. Đã qua rồi cái thời mà ai ai cũng tìm thấy nho giáo nói chung, ở nho giáo Việt Nam nói riêng, những nguyên nhân quan trọng của sự lạc hậu, của sự thất bại trước sự xâm lược của thực dân Tây phương. Trễ tràng hôn Trung Quốc, càng trễ tràng hơn Nhật Bản, nhà nho Việt Nam sẽ đứng lên phê phán “bốn nguyên nhân căn bản đã ngăn cản sự tiến bộ của dân tộc Việt Nam”, bốn nguyên nhân đó thuộc về bản chất của nho giáo gốc và của nho giáo Việt Nam; ấy là: thứ nhất: tư tưởng nội hạ ngoại di, xem mình mới là văn minh, xem nước ngoài, người ngoại là mọi rợ. Thực ra, đó vốn không phải là tư tưởng tự hào của Việt Nam mà là tư tưởng tự cao tự đại của phong kiến Hán tộc, ta bị lây đó thôi. Thứ nhì, đó là tư tưởng gọi là “trọng vương khinh bá”, đó là một giáo điều tai hại của nho giáo bắc phương mà ta nuốt trỏng, nó đề cao đạo học mà xem nhẹ khoa học; nó xem rằng “vương” là “vì nghĩa”, chỉ vì nghĩa, còn “lợi” là bá, bá là thấp hèn. Thứ ba là tưởng “xưa hơn nay”, “xưa đúng nay sai”. Thứ tư là “trọng quan khinh dân” không thấy trong kinh điển nho giáo như ba cái trên, mà nhiễm sâu trong quan trường cao và thấp; óc đua nhau đi học để làm quan trước hết là do cái học nho giáo mà ra. Mãi đến khi chẳng những triều đỉnh Huế đầu hàng Pháp mà phong trào kháng chiến Cần Vương do sĩ phu lãnh đạo cũng bị đánh bại rồi thì các cụ mới tỉnh giấc Nam Kha, mới đề ra “Văn minh tân học sách”, mới đả phá những giáo điều nho giáo tai hại, thì đã trễ mất rồi, nước mất rồi ! Một nguyên nhân lớn của sự mất nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 chính là bản chất bảo thủ của nho giáo. Tính chất bảo thủ ấy của nho giáo Việt Nam thời Tự Đức không bị đẩy lùi, đánh đổ trước vì thuở ấy không có giao lưu văn hoá, kinh tế chính trị với các nước ngoài, trí giả tuy đông mà hầu hết bị nhốt trong xó nhà, trong sách kinh điển thời Chu, thời Hán, thời Tống; nhân dân vẫn yêu nước như trước mà nước thì thiếu hẳn một tầng lớp thị dân có thể làm chỗ dựa cho các điều trần cải cách được thực hiện kịp thời.
5. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất hạ màn thì một ngôi sao mới bắt đầu mọc lên ở chân trời Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc xuất hiện, phát tích từ một gia đình nho giáo khoa bảng, từ một tỉnh nho học truyền thống. Với Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác Lênin du nhập Việt Nam, phát triển và thành cônng lạ thay và đẹp thay, không phải bằng sự vượt qua và giữ lại, noi theo cách phương Tây, là bằng một phủ định biện chứng các khối lượng khổng lồ những tri thức truyền thống tích tụ bao đời trong đó nho giáo là bộ phận quan trọng hàng đầu. Suốt thời đại Hồ Chí Minh, trên nước Việt Nam, tất nhiên có nhiều cuộc phê bình nho giáo, đã thêm rõ phân tiêu cực phải bỏ đi và phần tích cực còn trọng dùng, nhưng ở đây chưa hề xảy ra một cuộc vận động nào bai nho , đã Khổng cả.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks