pháp môn nhiều; cách tu lắm. nhưng thông suốt được 100 phẩm của lục độ tâp kinh thì đâu còn nghĩ bàn làm gì? trong kinh này chỉ có 91 phẩm; còn 9 phẩm nữa ai biết mà thông?
thiền là gì trước; rồi mới tính các cách thiền; thiền thế nào cũng chỉ là phương tiện; còn kết quả đến đâu. hãy soi vào trích đoạn sau của lục độ tập kinh mà kiểm chứng. tu mà không kiểm chứng được minh đã đi đến đâu? có khác gì người lọt vào mê cung bao giờ mới giải thoát.
đây là dẫn luận trong"thiền định độ vô cực" của lục độ tập kinh(ở đây thuật ngữ độ có ngĩa là cứu; hoặc giúp)
Thiền độ vô cực là gì?
Đó là lòng ngay thẳng, ý chuyên nhất, gồm thâu các lành, mang lấy
trong lòng, dùng thiện để tiêu trừ các ý xấu nhơ. Thiền có bốn bậc. Hành
Thiền thứ nhất bỏ chỗ tham ái, năm việc yêu tà. Mắt thấy sắc đẹp, lòng
dại vì dâm, bỏ tai nghe tiếng..., mũi ngửi hương..., miệng nếm vị..., thân
ưa tốt... Người có chí hành đạo ắt phải xa lìa chúng.
Lại có năm thứ che phủ: che do tham của cải, che do sân hận, che do
mê ngủ, che do dâm dục, che do nghi ngờ. Có đạo hay không đạo, có
Phật hay không Phật, có kinh hay không kinh, tâm ý luôn nhớ nghĩ thì
thanh tịnh không nhơ bẩn. Tâm sáng suốt; thì thấy được nẻo chân, chứng
đạt thì không gì là không biết. Trời, Rồng, Quỷ yêu không thể mê hoặc
được, như người có mười nỗi oán mà đã lìa bỏ, thoát thân được, một
mình ở trong núi, không ai biết, không còn lo sợ. Người xa tình dục,
trong sạch, tâm lặng, đó gọi là Thiền thứ nhất.
Tâm đã đạt được Thiền thứ nhất rồi thì tiến hướng đến Thiền thứ
hai. Bậc Thiền thứ hai như người tránh oán thù, tuy ở trong núi sâu mà
vẫn còn sợ oán thù tìm đến, càng tự giấu sâu thêm. Hành giả tuy xa mười
oán thù dục tình, vẫn còn sợ giặc dục đến hủy hoại chí đạo. Khi chứng
được Thiền thứ hai thì dục tình hơi xa không thể làm ô uế mình được. Ở
bậc Thiền thứ nhất, thiện ác tranh nhau, dùng thiện trừ ác, ác lùi thiện
tiến, ở bậc Thiền thứ hai, lòng vui dừng lặng, không còn dùng thiện để
tiêu diệt ác nữa. Hỷ, thiện hai ý đều tiêu diệt, mười ác bặt tăm, nhân
duyên bên ngoài không len vào được trong lòng. Ví như đỉnh cao có suối,
suối không có nguồn nước chảy vào, cũng chẳng phải nước do rồng mưa
xuốg, mà suối tự có nước trong sạch tràn đầy, thiện từ tâm ra, ác cũng
không còn do mắt, tai, mũi, miệng vào nữa. Chế ngự được tâm như vậy
thì lòng hướng về Thiền thứ ba.
Ở bậc Thiền thứ ba, giữ ý vững vàng chắc chắn, thiện ác không vào
được, lòng an như núi Tu-di, ác thiện không ra với việc bên ngoài, thiện
ác vắng tiêu, không len vào trong lòng, giống như hoa sen, gốc cành ở
trong nước, hoa búp chưa nở bị nước phủ che. Hành Thiền thứ ba thanh
tịnh như hoa sen, bỏ lìa các ác, tâm ý đều an. Chế ngự được lòng như thế
liền hướng về Thiền thứ tư.
ở bậc này, thiện ác đều bỏ hết, lòng không nghĩ thiện, cũng chẳng nhớ ác,
trong lòng sáng sạch như ngọc lưu ly. Lại như vương nữ, tự tắm gội sạch
sẽ, thân thoa hương thơm, áo mới mặc trong ngoài rực rỡ, thơm sạch hiển
bày. Bồ-tát lòng ngay chứng Thiền thứ tư. Lũ tà chúng bẩn, không thể
che lòng, giống như lụa sạch nhuộm màu gì chẳng được. Lại như thợ
gốm, nhồi đất nặn đồ, đất không cát sỏi thì nắn đồ gì cũng được. Lại như
thợ bạc, nấu chín vàng ròng, trăm lạ, ngàn khéo theo lòng mình muốn.
Bồ-tát tâm tịnh, chứng được bốn Thiền ấy rồi tùy ý tự do, nhẹ nhàng bay
nhảy, bước trên nước mà đi, phân tán thân thể, biến hóa muôn điều ra vào
không gián đoạn, mất còn tự do, sờ mó mặt trời mặt trăng, lay động trời
đất, thấy nghe thông suốt, không gì là không lãnh hội thấu đáo. Tâm
thanh tịnh xem xét sáng suôt, chứng được Nhất thiết trí. Được trí này rồi,
thì từ khi chưa có trời đất chúng sinh đổi thay mười phương hiện tại, các
tâm đã nghĩ nhớ, việc chưa nNy sinh, hồn linh của chúng sinh làm trời,
làm người, đọa vào địa ngục Thái sơn, sinh trong loài ngạ quỷ, súc sinh,
phước hết thì thọ tội, tai ương hết thì thọ phước, không chỗ xa nào mà
không đi tới. Phàm được bốn Thiền rồi mà muốn được trí sáng suốt của
các bậc Câu cảng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng nghi và trí sáng giác ngộ của
các Bậc Như Lai Chí Chân Bình Đẳng Chánh Giác Vô Thượng thì cầu là
được ngay, giống như muôn vật đều từ nơi đất mà sinh ra. Từ bậc đạt trí
năm thông cho đến Bậc Thế Tôn đều từ bốn Thiền mà thành, cũng như
chúng sinh không thể đứng vững nếu không có đất.
Đức Thế Tôn lại dạy:
-Quần sinh ở đời, dù cho có được trí của các bậc Thiên đế, Tiên
thánh tuệ thông, mà không gặp kinh này thì cũng không đạt được cái định
dứt lìa bốn thứ, khác nào người ngu tối. Đã có trí tuệ, mà lại nhất tâm, là
gần với việc độ đời.
Đấy là Thiền độ vô cực của Bồ-tát, nhất tâm như vậy.
người tu sửa có thể soi vào đây để tự chứng thực mình đã tu sửa đến đâu.
còn la hán nằm trong tứ thánh quả. câu cảng; tầm lai; bất hoàn; ứng nghi. ứng nghi hay ứng chân tức la hán. sách này giúp người tu sửa có thể tập theo mà không cần thầy. vì trong 6 phép tu sửa của sách này có dẫn luận rõ ràng và các ví dụ rõ ràng( các ví dụ được cụ thể bằng các câu chuyện) có tổng cộng 100 truyện. truyện thứ 100 chính là" trăm vua cùng một mẫu" nhưng kinh hiện hành chỉ có 91 chuyện mà thôi.