Tiếp cho chủ thớt " một hơi " :

3-Những tai-biến trước ngày Hội Long-Hoa
Luật tuần-hoàn đã hiển-nhiên như thế và lý tận-diệt cũng đã rõ như thế, tận-diệt để tẩy sạch lớp trược trần.

Nhìn cuộc đời quá ác-trược, ông Thanh-Sĩ không dứt tiếng than:

Mở lời hột luỵ muốn tuôn,

Thấy đời tồi tệ lòng buồn nào hơn !

Ngoài môi trau chuốt nghĩa nhơn,

Trong lòng bội bạc oán hờn ai hay.

Lời ngay mà dạ chẳng ngay,

Đời này miệng ngọt lòng cay thiếu gì.

Buồn ai đem bạc đổi chì,

Tiên-bồng chẳng tưởng, tưởng thì trần mê.

Và vì quá đắm mê mà người đời gây ra bao nhiêu tội ác, loạn-luân cang-kỷ:

Tình anh em gây ra thù hận,

Đạo cha con giết lẫn với nhau.

Tranh tước quyền xâu xé đồng bào,

Nghĩa chồng vợ hại nhau tàn nhẫn.

Ở chòm xóm lắm điều nhơ bẩn,

Nào dâm-ô nghịch lẫn oán thù.

Phạm tội tình cướp trộm lu-bù,

Đường đạo-đức mờ lu thái quá.

Nếu cái dòng đời ác-trược như thế cứ lôi cuốn đi tới mãi, loài người sẽ tiến đến đâu ? Nếu không đến ngày tận-diệt. Và cái cơ tận diệt ấy đã được báo hiệu bằng những cuộc biến-chuyển, bằng những cuộc chiến-tranh ác-liệt:

Đời Hạ-Nguơn loạn-lạc chiến-tranh,

Chúng áp-dụng thăng bình dân-chủ.

Ỷ thông-thái chê đè cổ-hủ,

Lo đua chen hấp-thụ văn-minh.

Nào tự-do trai gái kết tình,

Chúng mặc sức ăn xinh mặc tốt.

Đời mạt-hạ nay đà cùng tột,

Đến đây là ráo rốt cuộc đời.

Cuộc tuần-huờn chuyển động chiều mơi,

Tiếng gầm thét rụng rời thân thể.

Khắp thế-giới từ đây hết kể,

Sự cạnh-tranh cấu xé lan tràn.

Miễn cho mình danh vị cao sang,

Mặc ai bị tai nàn trối kệ.

Chẳng những loài người điêu-linh mà cả vạn-vật cũng chung số phận:

Đời Tận-Thế lắm cơn dông tố,

Cả muôn người chịu khổ điêu-linh.

Giống cỏ cây sắt đá vô tình,

Cũng chung chịu với mình bi-thảm.

Vì thấy đời sắp đến cơ tận-diệt, Đức Thế-Tôn động lòng bi-cảm, truyền cho các Bồ-Tát xuống trần phổ-hoá cứu vớt chúng-sanh:

Phật từ-bi lấy lòng thâm cảm,

Thấy chúng-sanh tai nạn dập dồn.

Động lòng thương Đức Phật Thế-Tôn,

Truyền Bồ-Tát tách chơn xuống thế.

Khai đạo-pháp tuỳ duyên phổ tế,

Có dắt-dìu những kẻ chúng sanh.

Quá mê-si tham nhiễm tập-tành,

Vì quyền tước lợi danh chen lấn.

Và các đấng Phật Bồ-Tát đã xuống trần vào thế-kỷ hai mươi này:

Đạo ngày nay hai mươi thế-kỷ,

Phật ra đời dẫn chỉ trần ai;

Đặng sớm lo tạo cảnh nguyệt-đài,

Dìu bá tánh khỏi nơi khổ hải.

Đạo từ-bi muôn đời ban rải,

Nay vẫn còn tồn-tại trường miên.

Buổi Hạ-Nguơn sanh chúng đảo-điên,

Đem đạo-đức tạo giềng an-lạc.

Các đấng thiêng liêng ấy ngày nay vì mượn xác trần cho nên dân-chúng không tin, nhưng rồi đây sẽ thấy các Ngài tại thế:

Rồi sau đây đặng thấy Phật Tiên,

Cõi thế-gian tháo mở gông xiềng.

Đưa nhơn loại non Tiên dựa kế.

Đó là tới thì giờ biến thế;

Nay còn đang lọc lựa chánh tà.

Nên thảm sầu khắp cả bá gia,

Chịu lắm cuộc phong ba cuồn cuộn.

Bởi còn trong thời-kỳ lừa lọc, cho nên cuộc đời càng ngày càng bối rối, muôn dân đồ thán đảo-điên:

Cả muôn dân đồ thán đảo-điên,

Cam siết chặt truân chuyên nhiều nỗi.

Ngày càng ngày việc đời bối rối,

Đường rộng dài khó nỗi tới lui.

Mà nhứt là miền Á-Đông thì còn chịu biết bao nhiêu tang-tóc.

Từ đây cho đến định quyền,

Biết bao tang-tóc khắp miền Á-Đông.

Và ông Thanh-Sĩ cho biết rằng đời khổ đã tới rồi, nên khuyên bá gia gắng-bó tu-hành:

Lời giục thúc tu-hành gắng-gổ,

Này bá gia đời khổ tới rồi.

Và sự khổ ấy diễn ra bằng tai nạn dập-dồn:

Lòng lo lắm việc bất tường,

Một ngày một đến đủ đường nạn tai.

Nào là nạn đạn lạc tên bay:

Nỗi sầu nạn lạc tên bay,

Nỗi thương giặc-giã trong ngoài hại dân.

Làm cho cửa nát nhà tan:

Giang-san phải nhuộm máu điều,

Giống-nòi rời rã sanh nhiều việc hư.

Có thấy chăng gia cư tan nát,

Cả xóm chòm xơ-xác đảo điên.

Nào là giặc nổi lên khắp thế-giới:

Khắp thế-giới thảm thê thê thảm,

Giặc bao trùm xe trạm đua chen.

Và các nạn binh-đao sở-dĩ xảy ra, sát hại sanh-linh bỏ thây thi ê-hề là bởi thời-kỳ tận-diệt:

Từ đây nước lửa tràn-trề,

Binh đao dồn-dập ê-hề thây thi.

Đó cũng bởi thời-kỳ tận-diệt,

Nên nhiều điều thảm-thiết lê dân.

Nào là nạn đói đau, nên chi ông Thanh-Sĩ thường khuyên:

Lo cần kiệm tu-hành chánh kỷ,

Vì đói đau lộ vĩ gần đây.

Nên cần-lao trồng trặc lúa khoai,

Đặng chi độ qua ngày thống khổ.

Ông mãi lặp lại rằng nạn đói đau ấy gần lắm rồi:

Đói đau cuộc thế hầu gần,

Cơ Trời xoay chuyển cõi trần ngày nay,

Càng xiết chặt nhiều ngày khổ não.

Vì chịu bao nhiêu tai hoạ dồn dập nên gia-cư lần lần thưa-thớt:

Việc sắp đến trời long đất lở,

Cảnh điều-hiêu vỏ-vỏ sầu tư;

Mãi lần lần thưa-thớt gia cư,

Đó mới biết trường đồ mã lực.

Nhưng bấy nhiêu tai nạn cũng chưa hết, vì từ nay cho đến ngày lập đời Thượng-Nguơn còn nhiều nổi đau khổ chông gai:

Từ nay đến gặp đời Thượng-cổ,

Lướt bụi bờ nhiều chỗ gai chông.

Nào là nạn sơn băng thuỷ kiệt:

Cũng đứng ỷ chúng hiếp cô,

Sơn băng thuỷ kiệt đói khô bây giờ.

Cùng một nhân-định với Sấm-Giảng của Đức Huỳnh-Giáo-chủ về đoạn:

Sau đến việc sơn băng thuỷ kiệt,

Khùng thảm thương bá tánh quá chừng.