Trích dẫn Nguyên văn bởi tên thành viên Xem Bài Gởi
--->>Kinh Tiểu Bộ đã xác nhận có đức Phật Tỳ Bà Thi thời quá khứ rồi!
--> Đã quá rõ ràng không thể chối cãi được sự có mặt của các vị Phật quá khứ.Chúng ta thấy có khá nhiều sự đồng dạng giữa Thích Ca và các vị Phật khác
----> Không cần kinh A Hàm, TTV đã bổ sung đầy đủ hơn chứng cứ qua kinh Nikaya.
Trong Phật Giáo Nguyên Thủy chưa bao giờ phủ nhận việc đã có các vị Phật quá khứ trước đức Phật Thích Ca và chưa bao giờ phủ nhận sẽ có các vị Phật tương lai bạn nhé.
Trích dẫn Nguyên văn bởi tên thành viên Xem Bài Gởi
-- Không thể có một Tỷ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau.

-->TTV trả lời: Điều này càng làm rõ thêm, nếu các tỷ kheo, a la hán không thể thành tựu trọn vẹn được một cách đầy đủ những pháp mà thế tôn đã thành tựu thì đương nhiên phải có một ai có thể thành tựu như Phật được.Người đó là Bồ Tát, Phật Tử.
--> Hơn nữa nói thành tựu những pháp ấy không có nghĩa là thành tựu TẤT CẢ những pháp ấy,
----> “những pháp ấy” bỏ trong ngoặc chắc là do người sau thêm vào để làm rõ ý kinh hơn, nếu bỏ những pháp ấy thì như mũi tên thứ 2, đã quá rõ.Câu này không có nghĩa là THÀNH TỰU TẤT CẢ.
-----> Tôn giả Anan nói “không thể” chứ chẳng phải là “chưa thể”
Đức Phật là bậc Toàn Giác, dĩ nhiên ngài hiểu biết tất cả các pháp, ngài thành tựu và biết nhiều hơn các vị A La Hán, nên ngài mới thuyết nhiều pháp môn, khi tu tập chứng đắc thì chứng đắc cái cốt tủy của giáo pháp mà đức Phật đã chứng ngộ như Tứ Diệu Đế. Dù tu tập một hay nhiều pháp môn đến cuối cùng khi chứng đắc A La Hán diệt khổ, đoạn diệt vô minh tận gốc rễ thì cũng điều chứng đắc Niết Bàn đoạn diệt trầm luân sanh tử luân hồi như nhau cả thôi.

Kinh văn đã nói rõ ràng "Và nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, VÀ SẼ THÀNH TỰU về sau." Chính là thành tựu giáo pháp mà đức Phật đã giác ngộ và câu này ở đây nói thành tựu chứ không phải nói không thành tựu. Bởi vậy những vị Tỳ Kheo nào về sau khi mà chứng đắc quả vị A La Hán, đức Phật thường hay gọi là con trai của Như Lai là vậy.
Trích dẫn Nguyên văn bởi tên thành viên Xem Bài Gởi
Lời Dhamma Vinaya: Bạn nói "hình vuông là hình chữ nhật chứ chưa chắc hình chữ nhật là hình vuông."? Hình vuông có từ ngữ riêng, hình chữ nhật có từ ngữ riêng. Bạn thử đem hình vuông hỏi người khác có phải là hình chữ nhật không chắc người ta cũng bó tay luôn :D
--------->>>>>>>TTV trả lời:Bạn thử hỏi mấy đứa học sinh lớp 8, lớp 9 đi sẽ rõ liền. Theo quy ước hình chữ nhật là hình tứ giác có 4 góc vuông, hình vuông cũng có tính chất này tức là hình vuông cũng là hình chữ nhật. Nhưng hình chữ nhật không có tính chất tứ giác có 4 cạnh bằng nhau và có 4 góc vuông như hình vuông.--> nên hình chữ nhật CHƯA CHẮT là hình vuông.
Bạn nói vậy thì mình cũng bó chiêu với bạn luôn
Trích dẫn Nguyên văn bởi tên thành viên Xem Bài Gởi
Lời Dhamma Vinaya:Theo kinh Nguyên thủy, Phật là vị A la hán đã đắc đạo, khi còn tại thế gian. Ngược lại theo thuyết “Tam thân Phật” của Đại thừa, Phật Thích Ca đã là Phật từ vô lượng kiếp và ngài nhập thế là để hoá độ. Nếu như vậy thì Phật Thích Ca đã biết là phải: “tu hành như thế nào ?”. Ngài đâu cần phải: “6 năm khổ hạnh rừng già để tầm đạo”.?
---------------->>>>>>>TTV trả lời:Nếu ngài nhập xuống để hoá độ thì ngài phải dấu sự thành tựu của ngài cho đến lúc ngài thị hiện thành Phật.Mà nếu ngài thị hiện ngài biết tu hành thế nào thì là đâu có dấu đâu? Chính vì ngài dấu thành tựu nên gọi là Bồ tát nhập thai chứ đâu gọi là Phật nhập thai ?
Ngài thị hiện 6 năm khổ hạnh rừng già tầm đạo là vì có lý do riêng để lợi ích cho chúng sanh về sau.
Trích kinh Hy Hữu Tằng vị pháp thuộc tạng Nikaya:
Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa".
-------->>>> Từ đoạn trích này trong kinh ta đã quá rõ tính chất thị hiện của ngài, nếu ngài còn là một chúng sanh bình thường thì dám tuyên bố những lời ấy chăng ??
Đức Phật thốt ra lời "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa". vì ngài đã hoàn thiện đầy đủ 30 Ba La Mật qua nhiều kiếp và đây là kiếp cuối cùng, ngài sẽ đắc đạo và thành bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác và mang giáo pháp bất tử để cứu độ chúng sanh để tất cả được chứng ngộ giáo pháp bất tử đạt được Niết Bàn như ngài.
Trích dẫn Nguyên văn bởi tên thành viên Xem Bài Gởi
Theo Quan điểm của đại thừa thì Niết Bàn của Phật khác với Niết bàn của A La Hán
Chứng minh rằng Niết Bàn của Phật khác với Niết Bàn của A La Hán (dùng Kinh điển Nhị Thừa)
Vì đức Phật là bậc toàn giác, nên khi ngài nhập Niết Bàn oai nghi của ngài sẽ hơn các vị A La Hán khác, nhưng trong Niết Bàn thì tất cả đều an lạc như nhau chấp dứt sanh tử luân hồi đoạn tuyệt trầm luân. Bạn trích kinh điển phía trên thật ra không có nói chứng minh rằng Niết Bàn giữa đức Phật và vị A La Hán là khác nhau nhưng chỉ nói đến cách nhập để đi vào Niết Bàn giữa đức Phật và vị A La Hán là khác nhau mà thôi.

Trong Kinh Điển Phật Giáo Nguyên Thủy Đức Phật chưa bao giờ nói Niết Bàn của ngài và các vị A La Hán là khác nhau. Trong Phật Giáo Nguyên Thủy thì các vị Phật, các vị Bích Chi Phật, hay các vị A La Hán thì khi chứng ngộ giáo pháp bất tử để đoạn tận phiền não chấm dứt sanh tử luân hồi và giải thoát thì điều chỉ có hai Niết Bàn. Những gì là hai? Đó là Niết bàn có dư y và Niết bàn không dư y.

Thế nào là Niết bàn có dư y? Các vị ấy hết các lậu hoặc, hoàn thành phạm hạnh, làm xong việc nên làm , đặt xuống gánh nặng, đạt đến mục đích, hết sạch hữu kiết sử, giải thoát do chánh trí. Nơi các vị ấy, 5 căn vẫn tồn tại; Vì bản thân không bị tiêu hoại nên các vị ấy lý giải điều vừa ý và điều không vừa ý, và cảm giác vui khổ. Các vị ấy tham hết, sân hết, si hết, ấy gọi là Niết bàn có dư y.

Thế nào gọi là Niết bàn không dư y? Các vị ấy hết các lậu hoặc, hoàn thành phạm hạnh, làm xong việc nên làm, đặt xuống gánh nặng, đạt đến mục đích, hết sạch hữu kiết sử, giải thoát do chánh trí. Nơi các vị ấy tất cả cảm giác không hỷ lạc đều mát dịu; ấy gọi là Niết bàn không dư y.