CÙNG PHẠM THIÊN THƯ TÌM ‘ĐỘNG HOA VÀNG’

Người viết Kinh Phật bằng thơ

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 trong một gia đình làm nghề Đông y, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Thuở ấu thơ ông sống ở Hải Dương, sau đó gia đình vào sinh sống tại Sài Gòn.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư đi theo ánh đạo vàng hơn 10 năm kể từ 1964. Là nhà sư, Phạm Thiên Thư đã dốc toàn tâm tu hành, nhưng không phải một tu sĩ khổ hạnh ép xác khắc kỷ phục lễ, sư ông xả thân làm một tín đồ của thơ!

Thập kỉ 70 của thế kỷ 20, Phạm Thiên Thư xuất hiện trên bầu trời thơ ca Phật giáo như một ngôi sao sáng, lấy giáo lý đạo Phật làm nền cho tư tưởng, thế giới thơ ca của Phạm Thiên Thư mang khát vọng táo bạo, muốn Việt hóa, thơ hóa, trẻ hóa giáo lý Phật giáo.

Phạm Thiên Thư đã viết lại kinh Phật bằng ngôn ngữ của thơ ca, với sự tinh tế, lịch lãm, trung thành với nguyên bản ý kinh. Các tác phẩm kinh thơ của Phạm Thiên Thư như sau:

+ Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương)
+ Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú)
+ Kinh Hiếu, Kinh Hiền (thi hóa Kinh Hiền Ngu)

Tình yêu con người dưới ánh đạo vàng

Hình ảnh con người được một tu sĩ Phật giáo đưa vào trong sáng tác của mình, với những bài thơ tình nghe mới lạ, nhưng đó là một việc hợp lẽ tự nhiên, đó là tình yêu con người dưới ánh đạo. Người ta gọi thơ ông là Thơ Đạo.

Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam) vào năm 1971. Một số bài thơ của ông được phổ nhạc đã được số đông công chúng yêu thích như: Em Lễ Chùa Này, Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, Huyền Thoại Trên Một Vùng Biển, Như Cánh Chim Bay, Guốc Tía, Đôi Mắt Thuyền Độc Mộc, Độc Huyền...

... Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng, ngủ say
Thôi thì em đừng ngại mưa mau
Ðưa nhau ra tới bên cầu nước xuôi
Sông này đây chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông...

... Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan...
Thôi thì thôi chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi…

... Mai ta chết dưới cội đào
Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu...
(Động Hoa Vàng)

Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời, nửa đạo thật khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ. Nhân vật chính trong thơ là một ông sư lãng mạn như những chàng trai mới biết yêu:

...Em làm trang tôn kinh
Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm mực
Cho vừa giấy yêu đương...
(Pháp Thân)

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư là những cảm xúc thánh thiện, kín đáo với một chút bẽn lẽn: yêu nhau mà không dám tay trong tay, vì sợ tình sẽ tan biến thành khói sương:

... Anh trao vội vàng
Chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở
Muôn thuở còn vương...
(Ngày Xưa Hoàng Thị)

... Đôi mày là Phượng cất cao
đôi môi chín ửng khóe đào rừng mơ
tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
tụng dòng Kinh tuệ trên tờ khói mây

... Dù mai lều cỏ chân trời
khói hương lò cũ khóc người trong thơ
em còn ửng má đào tơ
tóc xưa dù có bây giờ sương bay...
(Động Hoa Vàng)

Tạo nên những giá trị thơ văn Phật Giáo

Trong lịch sử văn học, những nhà thơ Phật giáo, những thiền sư Việt Nam như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Khuông Việt, Không Lộ, Mãn Giác... đã góp phần không nhỏ làm phong phú, nâng cao giá trị cho văn học VN với những nét chấm phá ở mỗi thời điểm lịch sử tôn giáo và lịch sử dân tộc.

Kế thừa những giá trị văn học đó, vào năm 1969 tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh của nhà thơ Phạm Thiên Thư với 3254 câu thơ (đúng bằng số câu Truyện Kiều) được gọi là Hậu Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của thi hào Nguyễn Du. Với văn phong, điển tích văn học và ý thơ không thua kém Tuyện Kiều của thi hào Nguyễn Du.

Phạm Thiên Thư còn sáng tác Chiêu Hồn Ca, nhiều người cho rằng đây chính là Văn Chiêu Hồn của Nguyễn Du trong thời đại mới.



Sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư còn được kể đến với tác phẩm Từ Điển Cười gồm 70.000 câu thơ, xuất bản năm 2005. Có người nói các kiểu cười của ông được lý giải theo lối tư duy hài hước như những vần thơ trào phúng của văn học dân gian Việt Nam: khái niệm “chửi” có đến con số 180 kiểu chủi, “chết” có 200 kiểu chết, “cười” có 200 kiểu cười, “chó” cũng đến hơn 60 loại chó...

Phạm Thiên Thư với Bộ môn PHATHATA

Tham khảo:
http://phathata.com/home.html

Qua thời gian tu luyện, Phạm Thiên Thư nhận ra những quan điểm mới về vũ trụ và con người. Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, nhân quần xuyên qua 3 vận động chủ yếu là Thân, Tâm và Trí, với các dạng năng lượng mang tính dẫn truyền, hỗ tương lẫn nhau như Hạt, Nguyên tử, Sóng điện từ… gọi chung là Điện, người xưa tạm gọi là Khí vậy.

Phạm Thiên Thư đã nghiên cứu tập luyện và sáng lập Bộ môn Điện công Phathata vào năm 1983, là tóm gọn cụm từ Linh Điển Công Thông – Pháp Thân Tâm là những phương pháp tập luyện thân thể, tâm lý, khai thông nguồn điện Tâm thể hay Chân khí. Bật lên khả năng Tự Chỉnh hay Siêu Thức, mà Tôn giáo gọi là Phật tính hay Thượng đế tính tự ngàn xưa.

Thân tâm con người tự điều hòa, phát triển nhờ một khả năng bẩm sinh kỳ diệu gọi là Tính Tự Điều Chỉnh hay Siêu Thức theo gen. Do đó, chúng ta mới duy trì và phát triển sự sống ngày mỗi tiến bộ, nhưng không rối loạn và mất nhân tính.

Một khi cơ cấu thiếu tự chỉnh, rối loạn nội môi do ngoại nguyên nhân làm xáo trộn, thì phát sinh bệnh hoạn (Thân bệnh), khổ đau (Tâm bệnh) và sai lầm (Trí bệnh) – lây lan lẫn nhau qua môi trường sống con người.

Bộ môn PHATHATA được Viện Y học dân tộc TpHCM ứng dụng và được đánh giá có hiệu quả tốt.

(phattuvietnam.net)