Đúng như Workerbee nói, tôi chỉ đưa 1 số ý kiến phân tích của mình để bạn tham khảo.
Chính đức Phật khi thành đạo cũng nghĩ giống như những đức phật quá khứ đó :
Và sự thật đúng như những suy nghĩ đó, quá trình Hội chúng tăng đoàn với nhiều sự cãi cọ, tranh biện, thậm chí có lúc chia bè kết đảng, đánh nhau....đức Phật có lúc đã phải bỏ vào rừng với 1 chú voi đi theo hộ vệ, cùng với rất nhiều lần nhập đại định trong nửa tháng, 1 tháng không tiếp bất cứ ai.Sau đó, trong khi đức Thế Tôn đang thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Pháp này đã được ta chứng ngộ là
(Pháp) thâm sâu, khó lĩnh hội, khó nhận thức, thanh tịnh, cao quý, vượt trên
lý luận, tinh tế, sẽ được hiểu biết bởi các bậc trí. Tuy nhiên, chúng sanh này
có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui
sướng trong ngũ dục. Quả vậy, đối với chúng sanh có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục thì vấn đề này khó lĩnh hội tức là tính chất của duyên và sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện. Còn có vấn đề này còn khó lĩnh hội hơn nữa tức là sự yên lặng của tất cả các Hành, sự dứt bỏ tất cả mầm mống của sự tái sanh, sự diệt tận ái, sự không còn dục tình, sự tịch diệt, Niết Bàn. Hơn nữa, nếu ta thuyết giảng Giáo Pháp và những người khác không thể hiểu được ta, điều ấy sẽ đem lại sự mệt mỏi cho ta, điều ấy sẽ đem lại sự phiền toái cho ta.”
Trong khi đắn đo cân nhắc như thế ấy, tâm của đức Thế Tôn thiên về (khuynh hướng) không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp
Và tất nhiên với bản lĩnh của người đã hiểu bản chất của khổ phiền toái người ta sẽ đều vượt thoát được, tuy nhiên ở đây cũng nên nhìn nhận rằng với người đã hiểu bản chất của khổ và phiền toái người ta ngay từ đầu cũng có những suy nghĩ như các vị phật quá khứ là có hợp lý, và việc 1 số vị Phật làm như thế cũng không có gì khó hiểu.
Bởi vì thế, việc truyền pháp như bạn thấy, đức Phật luôn nương theo duyên, theo sự tùy thuận vào hoàn cảnh tình huống, như thế chúng ta hiểu rằng đó là 1 cách để ngài vẫn thực hiện mà không bị bó buộc bám chấp vào chính những giáo Pháp của mình, tránh được những phiền toái trong việc truyền pháp để mình vẫn có thể tự tại.
Sau đó, đại đức Sāriputta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: - “Bạch đức Thế Tôn, nay là thời điểm của việc ấy. Bạch đấng Thiện Thệ, nay là thời điểm của việc ấy, (tức là thời điểm) đức Thế Tôn nên quy định điều học cho các đệ tử, nên công bố giới bổn Pātimokkha; như thế Phạm hạnh này có thể được tiếp tục và tồn tại lâu dài.”“Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta, ngươi hãy chờ
đợi! Trong trường hợp ấy, chỉ có Như Lai mới biết thời điểm. Này Sāriputta,
cho đến khi nào ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội
chúng thì cho đến khi ấy bậc Đạo Sư chưa quy định điều học cho các đệ tử và chưa công bố giới bổn Pātimokkha. Này Sāriputta, chính bởi vì ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy
Và thực tế là vậy, Patimokkha không được xây dựng như việc ngồi nghĩ ra các tình huống rồi soạn thảo, ban hành mà, theo sự nhận xét và đánh giá của tôi, nó giống như việc người ta đắp 1 cái hồ nước, rồi xem nước rò ra ở đâu thì lại lấy đất bịt vào ở đó, cứ như thế, cứ như thế...
Giới thì không phải là Luật, mà nó là sự hỗ trợ bảo vệ cho Luật nếu nhìn về mặt tác dụng, nó là nền tảng của Luật và nó là Luật nếu nhìn về mặt nội dung.
Patimokkha giống như việc đấu tranh của đức Phật với Ma vương trong sự phá hoại tăng đoàn, phá hoại Phạm hạnh.
Như vậy nó phải có tính mở, 227 điều là tương đối, nhưng Luật vốn là tinh thần chất chứa của nó thì không bao giờ thay đổi cả.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks