CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN

I- Tụng kinh
Tụng kinh là đọc lên những lời Phật dạy ghi chép trong kinh sách bằng cách chí thành, suy ngẫm, và tin tưởng.
Tụng kinh làm cho thân, miệng trong sạch, tâm ý bình tĩnh, phát sinh trí tuệ và gây nhân quả tốt. Tụng kinh tập trung được tư tưởng, tạo thành một năng lực mạnh mẽ, diệt trừ tội lỗi nơi mình, đem lại sự trong sạch, an vui cho người trong tinh thần giao cảm.
Tụng kinh là một phương pháp hay nhất của người Phật tử muốn tu và muốn tiến. Người Phật tử tự coi mình có bổn phận tụng kinh hai thời: sớm, tối trong ngày hay ít ra cũng một tháng hai kỳ.
II- Niệm phật
Niệm Phật là nhớ nghĩ đến Phật; nhớ nghĩ đến đức tính: từ bi, tinh tiến của Phật, tức là gợi lại cái tính Phật sẵn có tại nơi mình, hầu đem áp dụng vào cuộc sống lợi ích cho mình và cho người.
Chúng ta thường niệm: Nam Mô A Di Đà Phật. Đó là tất cả càn khôn vũ trụ phối hợp thu ngắn: Nam là lửa, Mô là không khí, A là nước, Di là phát triển, Đà là màu sắc, Phật là linh cảm. Cọng cỏ cũng có bao nhiêu công chuyện đó. Vạn linh đồng nhất. Chúng ta hiểu cái nguyên lý này, chúng ta càng ngày càng áp dụng nhiều hơn, thực hành nhiều hơn. Thế gian có cơ hội thức tâm, hiểu được cái nguyên lý từ cạn đến sâu, từ nặng đến nhẹ thì mới đạt được quân bình thăng tiến sẵn có của tâm linh.
Niệm Phật có ba phương pháp:
1- Xưng danh niệm Phật: Miệng niệm danh hiệu Phật.
2- Quán tưởng niệm Phật: Ngồi yên quán sát, tưởng niệm công đức của Phật.
3- Thực tướng niệm Phật: Quán tưởng pháp thân của Phật là lý thực tướng trung đạo chẳng phải có, chẳng phải không.
Nhưng, phương pháp niệm danh hiệu Phật là dễ dàng và thông dụng nhất. Niệm Phật, dù niệm danh hiệu đức Phật nào theo bản nguyện của mình đều được, nhưng điều quan trọng hơn hết là phải nhất niệm. Nghĩa là chỉ nhớ nghĩ tới Phật, đức tính Phật, không một vọng niệm (nhớ nghĩ xằng) nào xen vào.
Người nhất tâm niệm Phật, huân tập đức tính Phật, không tưởng niệm mông lung, sẽ tạo cho mình có đức tính như Phật, cải tạo thế giới vẩn đục, độc ác, thành thế giới trong sạch, yên vui.
Người Phật tử cần tinh tiến niệm Phật.
III- Lần tràng
Lần tràng (chuỗi) là một hình thức trợ duyên cho chính niệm khỏi bị tạp niệm xen vào; là tiêu chuẩn cho ý định niệm Phật của người niệm và là biểu tượng đối trị của chính niệm diệt trừ phiền não.
Lần tràng gắn liền với niệm Phật. Khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, tràng mang theo mình và chí tâm niệm Phật, không phân tán ý niệm, được công đức vô lượng.
Tràng có nhiều thứ: 1.080 hạt, 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 27 hạt, 21 hạt và 14 hạt.
Số mục của tràng hoặc lớn hoặc nhỏ đều có biểu thị cho các tôn vị, các quả vị để đối trị phiền não.
Vật liệu làm tràng hoặc bằng vàng, bạc, châu báu hay các thứ hạt, các thứ gỗ, nhưng nhiều phúc báo hơn phải kể là tràng bằng hạt bồ đề , hạt sen, kim cương.
Phép lần tràng tay phải sạch sẽ, tay hữu cầm tràng để vừa trước ngực ngang trái tim; chuỗi tràng để trên ngón tay giữa, đầu ngón tay cái và đầu ngón tay chỏ cầm vào hạt tràng, mỗi niệm lần một hạt. Lần từ hạt giáp hạt giữa, lần vòng đến khi lại giáp hạt giữa, lần quay trở lại không được lần qua hạt giữa.
Lần tràng có nhiều ý nghĩa như trên, người Phật tử nên cố gắng thực hành.
IV- Ăn chay
Ăn chay là ăn các thức rau, trái.
Loài vật cũng là một động vật như người, cũng biết ham sống, sợ chết, cũng biết thương xót trước cảnh biệt ly và đau đớn trong khi xúc phạm tới thân thể, vì thế người có lòng từ bi không nỡ giết và ăn thịt nó.
Thịt sinh vật có nhiều chất kích thích, làm cho người ăn nó sinh ra tính tình hung bạo, nhiều dục vọng, nhiều bệnh tật và kém phần trí tuệ, nên nhiều nhà y học khuyên ta không nên ăn thịt hay là nên ăn ít.
Vì hai lẽ trên, người Phật tử giữ giới, ăn chay. Tuỳ điều kiện cụ thể m à có thể ăn chay tuyệt đối hoặc ăn chay theo mức độ
V- Sám hối
Là con người, trong sự hoạt động thường ngày chưa chắc đã tránh khỏi lỗi lầm. Có lỗi lầm, biết ăn năn sửa đổi, tu tiến là một cử chỉ đáng khen và nên theo. Đó là sám hối, theo danh từ Phật học.
Sám hối có nghĩa là tự mình bày tỏ những lỗi mình làm trước, ăn năn từ nay xin sửa đổi, không dám phạm nữa.
Sám hối có ba pháp:
1- Tác pháp sám: Y pháp, hướng Phật tiền sám hối (hoặc lễ danh hiệu Phật).
2- Thủ tướng sám: Định tâm vận tưởng sám hối.
3- Vô sinh sám: Chính tâm, quán lý vô sinh (không sinh diệt).
Nơi con người từ vô thỉ tới nay do thân, miệng, ý tạo ra biết bao nhiêu tội lỗi. Lỗi lầm càng che dấu, tội báo càng tăng thêm, càng vòng quanh trong sinh tử mãi mãi, thế nên cần phải sám hối.
Người Phật tử cho sám hối là phương thức tốt đẹp nhất trong đường tu hành của mình. Sám hối viên dung (dung hợp đầy đủ) cả sự, lý sẽ được như kinh Nghiệp báo nói: “Người gây tội nặng, thâm tâm tự trách, sám hối không làm nữa sẽ nhổ hết được những tội căn bản ”.
VI- Phát nguyện
Việc làm của con người muốn đạt tới mục đích không thể không có một đề án, một chương trình, một sư cam kết hay một sự hứa hẹn. Người Phật tử bước chân vào đạo cũng phải có sự hứa hẹn ấy, nhưng theo danh từ Phật học gọi là Phát nguyện.
Phát nguyện có nghĩa là tự đáy lòng chân thành của mình phát khởi ra lời thề nguyện, làm tiêu chuẩn cho mình tu tiến, khả dĩ xứng đáng là Phật tử, là vị Phật tương lai.
Lời phát nguyện tùy theo tâm niệm, hoàn cảnh có nhiều, nhưng đại để chư Phật, Bồ tát, Thánh tăng hay chúng ta noi theo, có thể tóm tắt trong bốn điều chính yếu này:
Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành