NHỮNG YÊU CẦU VỚI PHẬT TỬ

I- Từ bi – Bình đẳng
Từ bi, bình đẳng là mục đích, là phương pháp độ sinh của đạo Phật.
Từ bi: có nghĩa là cho vui, cứu khổ. Tâm từ bi coi tất cả chúng sinh như cha mẹ, quyến thuộc…, nên thường nghĩ tới sự cho vui, cứu khổ họ. Tâm từ bi thương những người cố chấp nhân, ngã…, Làm cho họ hiểu sự vật là “không”, để cho họ khỏi khổ, được vui. Tâm từ bi thương xót chúng sinh lăn lộn trong sinh tử…, dầu là không duyên gì với họ, chư Phật vẫn luôn luôn cho họ tự nhiên được sự lợi ích trong sự cho vui, cứu khổ.
Bình đẳng: Đối với tất cả mọi sự đều bằng nhau, không phân biệt cao, thấp, sang, hèn.
Tâm bình đẳng đối với chúng sinh không có tư tưởng phân biệt kẻ oán, người thân, vì đồng chứng lý bình đẳng của mọi pháp. Mọi pháp đều sẵn tính bình đẳng, nên hết thảy chúng sinh đều bình đẳng
Người Phật tử nhận rõ sự bình đẳng với tất cả pháp, nên hòa mình trong sứ mệnh cho vui, cứu khổ không phân biệt.
II- Lục độ
1. Bố thí: Mở lòng từ bi rộng lớn và chân thành đem của cải, pháp lợi giúp người khác.
2. Trì giới: Giữ gìn những giới luật Phật chế ra, để ngăn ngừa tội lỗi. Giới có: Ngũ giới, Sa di giới, Thức soa ma na giới, Tỳ khưu giới, Tỳ khưu ni giới, Bồ tát giới.
3. Nhẫn nhục: Nhẫn chịu tất cả những hoàn cảnh thuận, nghịch xung quanh mình.
4. Tinh tiến: Làm cho thân tâm tinh thuần thanh tịnh và cố gắng tiến tu trước, sau, hướng cầu đạo giải thoát.
5. Thiền định: Định chỉ tâm tán loạn và quán sát suy nghĩ chân lý.
Pháp thiền định có nhiều nhưng, tóm tắt lại có 4 Thiền (Sơ, nhị, tam, tứ thiền) 8 Định (4 thiền và 4 định của Vô sắc giới).
6. Trí tuệ: Thông suốt mọi pháp, dứt trừ mê lầm và chứng nhập chân lý.
Tu trí tuệ có 3: Văn (nghe), tư (suy nghĩ) và tu (tu hành).
Trừ mê, diệt khổ là nguyện vọng duy nhất của người Phật tử đối với mình và người. Muốn đạt nguyện vọng ấy, cần thực hiện 6 pháp độ này.
III- Tứ nhiếp pháp
Tứ nhiếp là bốn phương pháp thực hành để dắt dẫn chúng sinh
1. Bố thí: Theo sự mong muốn của chúng sinh, mình đem cho họ, do đó họ sinh tâm thân ái, tin theo chính đạo
2. Ái ngữ: Theo căn tính chúng sinh, nói ra những lời nói hiền lành, dịu hòa và an ủi họ, do đó họ sinh tâm thân ái, tin theo chính đạo.
3. Lợi hành: Thực hành những việc thiện về thân, miệng, ý, đem lại lợi ích cho chúng sinh, do đó chúng sinh sinh tâm thân ái, tin theo chính đạo.
4. Đồng sự: Tùy theo sự ưa muốn của chúng sinh, có khi phải phân hình thị hiện, sống nhịp nhàng với đời sống của chúng sinh, làm lợi ích cho chúng sinh, do đó chúng sinh tin theo chính đạo.
Hạnh lợi sinh là hạnh chính của chư Phật. Tứ nhiếp pháp có giá trị cao đẹp, biểu lộ ý chí cao thượng của chư Phật, người Phật tử cần cố gắng thực hành.
IV- Tứ ân
1. Ơn cha mẹ, thầy dạy: Cha mẹ, thầy dạy là bậc sinh đẻ, nuôi nấng và dạy bảo ta khôn lớn, thành người. Ta phải hiếu dưỡng, cung kính, tôn trọng và ghi nhớ lời răn dạy.
2. Ơn xã hội: (chúng sinh): Xã hội với ta có tương quan mật thiết. Xã hội giúp ta nhiều phương diện sống còn và thành đạt, ta phải biết ơn và thành thực đem năng lực của ta giúp đỡ mọi người, xây dựng một xã hội yên vui, lành mạnh.
3. Ơn quốc gia: Quốc gia bảo đảm và duy trì cho ta được an cư, lạc nghiệp, ta phải có bổn phận tin theo quốc chế, góp phần xây dựng, làm trọn nghĩa vụ công dân.
4. Ơn Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng đem lại cho ta những gương mẫu và những phương pháp biết sống trong yên vui, vợi khổ, biết nhận lẽ chân, giả, biết đường đi đến chỗ giải thoát chân thực. Là Phật tử ta phải có lòng tin vững chắc, thực tâm cung kính, cúng dàng, hộ trì và truyền bá chính pháp.
Người Phật tử nhận rõ bổn phận mình đối với bốn bậc có ơn, y theo giáo lý Phật dạy mà trả ơn là cách trả ơn cao thượng.