MỘT SỐ KHÁI NIỆM MỞ RỘNG

I- Pháp giới – Pháp tính
PHÁP GIỚI: Pháp là các sự vật, Giới là ranh giới. Các pháp đều có tự thể nhưng chia ra từng ranh giới bất đồng của mỗi pháp, nên gọi là pháp giới.
Pháp giới được chia thành mười loại: 1. Phật pháp giới. 2. Bồ tát pháp giới. 3. Duyên giác pháp giới. 4. Thanh văn pháp giới. 5. Thiên pháp giới. 6. Nhân pháp giới. 7. A tu la pháp giới. 8. Quỉ pháp giới. 9. Súc sinh pháp giới. 10. Địa ngục pháp giới.
PHÁP GIỚI là ranh giới của các pháp và cũng là thể tính của các pháp
PHÁP TÍNH: Thể tính của các pháp là chân như thực tướng. Chân như là bản thể của vạn pháp; ở mọi nơi tính nó không biến đổi, nên gọi là PHÁP TÍNH.
Chứng nhập pháp tính là mục đích tu hành cứu cánh của Phật tử.
II- Nghiệp - Phiền - Hoặc - Chướng
1- Nghiệp là những hành động, tạo tác do ba nơi thân, miệng, ý tạo nên.
Nghiệp có ba tính: thiện, ác và vô ký. Làm thiện là thiện nghiệp, làm ác là ác nghiệp, không thiện, không ác là vô ký nghiệp. Đối với những hành động thiện, ác, vô ký ấy gọi là nghiệp nhân và nó sẽ đem lại những kết quả: vui, khổ, không vui, không khổ thời gọi là nghiệp báo, nghiệp quả. Nghiệp thuộc về đời đã qua là túc nghiệp. Nghiệp trong thời hiện tại là hiện nghiệp.
Nghiệp còn có hai dạng là: Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là chỉ cho những hành động nơi thân, miệng có thể biểu lộ, người ta trông thấy, nghe thấy được. Vô biểu nghiệp là hành động do nơi ý nghĩ, không biểu lộ ra, người ta không thể trông thấy nhưng, nó không phải là không kém phần tai hại.
2- Phiền não Những thứ mê hoặc như: tham, sân, si …làm phiền cho tâm, làm não cho thân; làm cho chúng sinh bị ràng buộc, buồn phiền, đau khổ trong vòng sinh tử luân hồi.
3- Hoặc là tên riêng của phiền não và có nghĩa là mê lầm. Hoặc có 3 thứ:
a- Kiến tư hoặc: Tức kiến hoặc và tư hoặc.
Kiến hoặc là cố chấp tư tưởng tà kiến không thấu rõ chân lý.
Tư hoặc là tâm tư tham đắm sự vật, hoàn cảnh.
b- Trần sa hoặc: Trần sa là cát bụi. Cảnh giới vô số, chúng sinh vô lượng, tâm mê lầm của chúng sinh cũng nhiều như cát bụi. Do tâm mê lầm này không thấu suốt được các pháp môn, làm chướng ngại cho hạnh lợi tha của Bồ tát, nên gọi là Trần sa hoặc.
c- Vô minh hoặc: Sự mê lầm sâu dầy và vi tế che lấp chân lý thực tướng của trung đạo và làm cỗi gốc cho sự sống chết.
4- Chướng là tên riêng của phiền não. Phiền não làm chướng ngại chính đạo, hư hại thiện tâm nên gọi là chướng. Chướng có ba dạng:
a Phiền não chướng: Những thứ như: tham, sân, si v.v…
b Nghiệp chướng: Những hành động như giết cha, mẹ, A la hán.. v.v…
c Báo chướng: Chịu khổ báo trong địa ngục, ngã quỉ, súc sinh v.v…
III- Căn - Trần - Thức - Xứ - Giới
1. Căn Gồm lục căn: nhãn, nhĩ , tỵ , thiệt , thân và ý căn (nghĩa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Căn có nghĩa là căn bản, chủ động phát sinh ra ngành ngọn khác, như do mắt mà sinh ra sự nhận thức của mắt v.v…
2. Trần tức lục trần: sắc , thanh , hương , vị , xúc và pháp trần (nghĩa là hình sắc, giọng tiếng hương vị, mùi vị, va chạm và các pháp). Trần nghĩa là bụi nhơ, là hết thảy sự pháp của thế gian có tính cách nhiễm ô chân tính.
3. Thức tức lục thức: nhãn , nhĩ , tỵ , thiệt , thân , và ý thức. Thức có nghĩa là hiễu biết (phân biệt rõ ràng); tâm đối với cảnh phân biệt rõ ràng gọi là Thức.
Ngoài 6 thức trên còn thêm thức thứ 7 là Mạt na thức có nghĩa là tư lượng (suy nghĩ, so lường) và thức thứ 8 là Tạng thức.
4. Xứ tức thập nhị xứ, còn gọi là thập nhị nhập, tức là 6 căn, 6 trần ở trên, thành 12 xứ. Xứ” gồm lục căn, lục trần hòa hợp.
5. Giới tức thập bát giới: lục căn, lục trần và lục thức thành thập bát giới. Giới có nghĩa là giới hạn, Mỗi sự vật hiện tượng đều có giới hạn, địa vị riêng biệt của nó mà không lẫn lộn.
Căn, trần, thức, xứ, giới vọng động, sẽ phát sinh trí tuệ.
IV- Giác
Chữ giác tiếng Phạm gọi là Bồ đề. Giác có hai nghĩa: Giác sát và Giác ngộ.
Giác sát nghĩa là xét biết việc ác, không bị xâm hại.Giác ngộ là khai ngộ chân lý.
V- Nhị trí
Trí là trí tuệ. Sự hiểu biết trong thứ bậc tu chứng khác nhau, nên trí tuệ cũng do đó mà phân định khác nhau.
NHỊ TRÍ: Hai thứ trí tuệ:
1. Căn bản trí: Căn bản trí còn gọi là: như lý trí, vô phân biệt trí, chính thể trí, chân trí, thực trí. Do trí này phát sinh các trí tuệ khác nên gọi là căn bản.
2. Hậu đắc trí: Trí tuệ sau khi được thực tính của chân như mà hiện ra, không sinh chấp trước mê muội là có thực ngã, thực pháp. Hậu đắc trí còn gọi là: như lượng trí, hữu phân biệt trí, tục trí, biến trí.
VI- Nhị đế - Tam đế
Đế có nghĩa là đạo lý chân thực không hư vọng.
NHỊ ĐẾ: là hai thứ đạo lý chân thực:
1. Chân đế: Thực nghĩa của chân lý. Là thực nghĩa mà các bậc Thánh nhận thấy.
2. Tục đế: Thực nghĩa của việc thế tục. Còn gọi là Thế đế .
TAM ĐẾ: Ba thứ đạo lý chân thực:
1. Không đế: Sự vật do nhân duyên sinh là giả hợp nhưng, thể tính không có giả tướng của các pháp. Còn gọi là Chân đế.
2. Giả đế: Thể tính tuy không nhưng, vẫn đầy đủ các pháp. Còn gọi là Tục đế.
3. Trung đế: Trung là trung dung. Các pháp xưa nay không ra ngoài có, không cũng tức nơi có. Tam đế do tam quán không quán, giả quán và trung quán mà ra.
Quán sát sự vật là không giả, là thế đế, bình đẳng chứng nhập trung đế, chân đế là thực nghĩa của chân lý.
VII- Tam thân
Chư Phật có ba thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân.
1. PHÁP THÂN: Chân thân của Phật, đầy đủ vô lượng pháp công đức. Còn gọi là tự tính thân là thể tính chân như pháp giới thanh tịnh, bình đẳng của hết thảy pháp.
2. BÁO THÂN: Do gây nhân công đức nhiều đời mà hiển thị thân Phật trang nghiêm. Thân này còn gọi là Thụ dụng thân: Nơi mình do tu tập nhiều công đức, được sắc thân thanh tịnh và được hưởng pháp lạc rộng lớn nhiệm mầu, gọi là Tự thụ dụng thân. Đối với hàng Thập địa Bồ tát, chư Phật thị hiện sắc thân, hiện đại thần thông, chuyển pháp luân, làm cho các vị khỏi ngờ, được thụ dụng pháp lạc của Đại thừa, như thế gọi là Tha thụ dụng thân.
3. ỨNG HÓA THÂN: Do Phật trí biến hóa nhiều thân, tùy theo căn cơ chúng sinh mà hóa độ. Ứng hiện thân trong Thập địa Bồ tát là Thắng ứng thân. Ứng hiện thân trong phàm phu, Thanh văn, Duyên giác là Ứng liệt thân.
Tam thân Phật là chân như, do công đức từ bi, trí tuệ mà có.
VIII- Tam đức
1. Đại Niết bàn có ba đức, đầy đủ cả thường (không thay đổi), lạc (an vui chân thực), ngã (tự tại), tịnh (trong sạch thực sự) là: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát.
PHÁP THÂN: Bản thể của Phật, lấy pháp tính thường trụ bất diệt làm thân.
BÁT NHÃ: Trí tuệ. Trí tuệ của Phật hiểu biết rõ ràng trạng thái các pháp như thực, bình đẳng, không thêm, bớt, sinh, diệt.
GIẢI THOÁT: Xa lìa hết thảy sự ràng buộc; được tự tại.
2. Về Nhân tâm, chư Phật có ba đức: Trí đức, Đoạn đức và Ân đức
TRÍ ĐỨC: Phá hết thảy sự mê lầm không biết; đầy đủ vô thượng giác.
ĐOẠN ĐỨC: Đoạn trừ hết thảy phiền não; đầy đủ vô thượng Niết bàn.
ÂN ĐỨC: Đầy đủ tâm đại bi, cứu giúp hết thảy chúng sinh.
3. Về nhân quả, Phật có ba đức: Nhân viên đức, Quả viên đức và Ân viên đức.
NHÂN VIÊN ĐỨC: Sự tu hành trong ba đại kiếp viên mãn.
QUẢ VIÊN ĐỨC: Trí đức, đoạn đức đều hoàn toàn viên mãn.
ÂN VIÊN ĐỨC: Độ hết thảy chúng sinh được giải thoát hoàn toàn.
Toàn thể ba đức trên, chứng thực sự giác ngộ cao cả của chư Phật và lòng thương vô biên của chư Phật.
IX- Tam giới
Tam giới là ba cõi thế giới của phàm phu còn phải đi, lại trong sinh tử.
1. Dục giới: Cõi có ý tưởng về ham muốn hưởng thụ.
2. Sắc giới: Cõi có những hình sắc tinh hảo về thân thể, danh lợi.. và bỏ được hai thứ ham muốn (Dâm dục, ăn uống) của Dục giới. Cõi Sắc này gọi là cõi Tứ thiền
3. Vô sắc giới: Cõi này không còn hình sắc, vật chất, thân thể, danh lợi.. chỉ dùng tâm thức trụ vào thiền định sâu xa, vi diệu mà thôi. Cõi này gọi chung là cõi Tứ không: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng xứ.
Ba cõi không yên, như trong nhà có lửa, muốn rời bỏ ba cõi phải tiến tu tịnh nghiệp.
X- Tứ đế
1- Khổ đế: Chúng sinh chưa thoát sự ràng buộc trong đời, phải chịu những sự đau khổ: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ân ái chia lìa khổ, cầu không được khổ, oán ghét phải gặp khổ, áp bức đầy ải khổ. Đây là sự kết quả mà chúng sinh gây nhân phải chịu.
2- Tập đế: Những nguyên nhân hành động, tạo tác của chúng sinh gây ra khiến chúng sinh phải chịu quả khổ trên. (Tập đế nói về 12 nhân duyên).
3- Diệt đế: Muốn hưởng quả Niết bàn thanh tịnh, cần diệt trừ mầm mống phiền não.
4- Đạo đế: Con đường chân chính là nguyên nhân hướng dẫn chúng sinh đến quả vị Niết bàn (con đường này là bát chính đạo).
XI- Ngũ uẩn
1. Sắc uẩn: (Hình sắc): Tức là chỉ cho những vật chất hữu hình như ngũ căn: nhãn , nhĩ , tỵ , thiệt , thân và ngũ trần
2. Thụ uẩn: (Cảm thụ). Tác dụng của Tâm đối với cảnh khởi ra sự cảm thụ: vui, buồn và không vui, không buồn.
3. Tưởng uẩn: (Tưởng tượng). Tác dụng của tâm đối với cảnh khởi ra sự tưởng tượng.
4. Hành uẩn: (Công năng tạo tác). Tác dụng của Tâm đối với cảnh khởi ra hành động .
5. Thức uẩn: (Nhận thức): Tác dụng của tâm đối với cảnh nhận biết, phân biệt rõ ràng sự vật. Thức uẩn chia làm tám loại, thường gọi là bát thức:
Nhãn thức: Mắt nhận biết sắc tướng.
Nhĩ thức: Tai nhận biết thanh âm.
Tỵ thức: Mũi nhận biết hương vị.
Thiệt thức: Lưỡi nhận biết các mùi.
Thân thức: Thân nhận biết các cảm xúc như nóng, lạnh, ngứa ngáy…
Ý thức: Ý nhận biết, phân biệt rõ ràng các sự vật đối tượng dù hữu hình hay vô hình.
Mạt na thức Thức này suy nghĩ, so lường và chấp chặt ngã pháp.
A lại da thức: Thức này là kho tàng chứa chất các chủng tử (hạt giống) và phát khởi hiện hành (sự vật do hành động hiển hiện).
XII - Thập nhị nhân duyên
Theo lý nhân duyên, sự vật trong vũ trụ có nguyên nhân phải có nhiều trợ duyên mới đem tới kết quả. Mười hai nhân duyên là sợi giây chuyển tiếp, tạo thành các sự vật:
1- Vô minh: Sự mê lầm, nhận giả làm thực.
2- Hành: Hành động sai lầm.
Hai nhân duyên này thuộc về nhân quá khứ .
3- Thức: Phân biệt sai lầm.
4- Danh sắc: Tâm (tinh thần) và sắc (vật chất) hòa hợp nhau tạo ra vật thể.
5- Lục nhập: Sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc nhập với 6 trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thành hình thể và sinh trưởng.
6- Xúc: Va chạm với cảnh vật.
7- Thụ: Cảm thụ sự đáp ứng của cảnh vật.
(Năm nhân duyên này là quả hiện tại )
8- Ái: Tham ái (ham muốn, tơ vương).
9- Thủ: Giữ gìn.
10- Hữu: Gây sự tạo tác, sẽ có cái thân sau này.
(3 nhân duyên này là nghiệp nhân hiện tại )
11- Sinh: Sinh mệnh.
12- Lão, tử: Già và chết.
Hai nhân duyên này là quả báo vị lai
Mười hai nhân duyên trên đây là chương trình tu tiến của bậc Duyên Giác.