CÁC NGUYÊN LÝ CĂN BẢN
I- Thế giới
Thế chỉ cho thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai. Giới chỉ cho không gian, như đất đai mà chúng sinh nương ở. Thế giới là chỉ chung cho không gian và thời gian, trong đó có ý nghĩa liên tục và chuyển biến. Thế giới còn gọi là thế gian
Theo Phật học, thế gian có 2 dạng::
1. Hữu tình thế gian: Chỉ về thân thể của các loài chúng sinh, do nghiệp nhân mà cảm chịu quả báo chính thức về thân thể ấy. Quả báo này gọi là chính báo.
2. Khí thế gian: Chỉ về đất đai, núi sông, nhà cửa, áo mặc, cơm ăn…những vật ấy là chỗ nương tựa của chúng sinh để sống. Quả báo này gọi là Y báo.
Thế giới xoay vần không ngớt. Mỗi thế giới đều trải qua 4 thời kỳ: thành, trụ, hoại, không. Mỗi thời kỳ gồm có 20 tiểu kiếp. Mỗi kiếp chừng 16.000.000 năm. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Hai mươi trung kiếp là một đại kiếp.
Thế giới vô thường, mà liên tục vận động, biến đổi.
II- Sắc và Không
Sắc và Không là hai trạng thái của các vật nơi cõi trần: Sắc là có hình tướng hiện ra thấy được; Không là không hình tướng, không thấy được.
Kinh Bát Nhã của Phật giáo có câu:
Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc
Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.
Theo quan niệm về nhân sinh của Phật giáo, muôn vật do sự biến đổi mà sinh ra, vốn không có thật. Thân thể của chúng ta hay của vạn vật là Sắc, chỉ có tạm trong một thời gian sống. Sau đó chết đi, thân xác tan rã biến trở lại thành Không. Rồi từ chỗ Không lại biến hóa thành hình tướng tức là Sắc.
Ai nhận biết được chân lý Sắc - Không này thì không còn chấp cái Sắc tướng, tức là chấp cái thân xác nơi cõi trần nầy, thì người đó dứt được phiền não.
Các vật sống trên cõi trần không bền bỉ, thấy có đó (Sắc) rồi lại mất đó (Không). Sự có không ấy rất dễ dàng và mau lẹ như bọt nước trôi sông, như sương đeo ngọn cỏ.
Nên nhớ rằng, cái Hư Không đó, không phải là hoàn toàn trống rổng, không có gì, mà cái Hư Không ấy là một khối sinh động mãnh liệt vô biên, bao gồm đủ mọi cảnh giới, mọi trạng thái, đủ các pháp, mà từ đó sinh ra tất cả.
Không sinh ra Sắc, rồi Sắc trở lại thành Không. Vạn vật cứ thế biến đổi một cách tuần hoàn trong vòng sanh tử luân hồi.
Mặ khác, cõi trần thuộc Dục giới, con người ham muốn tham lam, muốn gom về mình càng nhiều càng tốt. Túi tham không đáy chứa mãi chẳng đầy.
Lòng tham dục khiến con người đắm đuối mãi trong Tứ Đổ tường: Tửu, Sắc, Tài, Khí, Sa mê vào bả lợi danh, cứ quanh quẩn trong trường mộng ảo, không xét kỹ cuộc đời này là giả tạm. Các vật sắp bày trên mặt đất đều sẽ bị hư hoại, mà cứ tham lam tranh đoạt, bỏ chỗ thật mà đi tìm cái giả. Cả cái xác thân này cũng chỉ là giả tạm, khi thân xác hư hoại thì linh hồn sẽ rời bỏ thân xác để trở về chỗ Hư Không.
III- Hữu vi – Vô vi
Hữu vi là những sự vật do nhân duyên tạo tác mà thành như: năm căn, năm cảnh (trần), vô biểu sắc v.v…. Hữu vi pháp dù trong một sát na hay trong một kỳ hạn nào, nó đều trải qua bốn tướng trạng: sinh, trụ, dị, diệt.
Vô vi: Là cái chân lý, có nghĩa là không còn nhân duyên tạo tác, không còn bốn tướng trạng: sinh, trụ, dị, diệt. Vô vi còn có những tên riêng như: Niết bàn, Pháp tính, Thực tướng, Pháp giới v.v…
Say đắm hữu vi phải lăn lộn trong sinh tử, hướng tiến vô vi là Niết bàn giải thoát.
Theo quan niệm của Nho giáo, Hữu vi là có làm, tức là có tạo tác, có nhân duyên tạo tác, có can thiệp vào tự nhiên, có suy nghĩ tính toán, từ đó phát sinh tình cảm. Hữu vi thì vô thường. Trái với Hữu vi là Vô vi.
Bố thí mà trông phước báo đáp lại, ấy là Hữu vi; còn bố thí một cách tự nhiên, không hề tưởng đến quả báo, đó là Vô vi.
Cũng theo Nho giáo Vô vi cũng chính là Hữu vi, mà thực chất Vô vi mới chính là Hữu vi
IV- Hữu lậu – Vô lậu
LẬU là tên riêng chỉ cho phiền não.
Sự vật hàm tàng phiền não là hữu lậu. Hết thảy sự thể trong thế gian là hữu lậu.
Sự thể xuất thế gian, xa phiền não là vô lậu.
Đối với chúng sinh do hành động tạo thành phiền não, phải lăn lộn trong sinh tử.
Hữu lậu vô lậu nói lên những sự vẩn đục, trong sạch, lên cao, xuống thấp trong từng tâm niệm của chúng sinh.
V- Vô ngã – Vô thường
Sự vật trong vũ trụ đều do nhân duyên tác hợp, không có gì là có tự thể, tự chủ độc nhất, nên Phật học cho là VÔ NGÃ.
Sự vật đã không có tự thể, tự chủ, thường hằng bất biến. Tức là nó luôn luôn biến chuyển, không cố định, nên Phật học cho là VÔ THƯỜNG.
VI- Vô thuỷ - Vô chung
Sự vật đã bị chi phối trong lý nhân quả, thì thời gian tính của nó là liên tục.
Nhân thành quả, quả thành nhân, sinh diệt không ngừng, nên không thể cho nó là có lúc ban đầu và có lúc sau cùng. Với thời gian liên tục ấy Phật học gọi là VÔ THỦY (không có lúc ban đầu), VÔ CHUNG (không có lúc sau cùng).
VII- Vô biên – Vô tận
Sự vật do tạo tác mà có, nó có tính cách hết sức rộng lớn, không cùng tận, không biên giới. Vì thế giới nhiều, chúng sinh nhiều, tâm hạnh nhiều… nên vô biên, vô tận.
VIII- Nhân quả
Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động, hay nói chung là một sự vật đã có sự phát khởi ở ban đầu, tất yếu có sự đáp ứng cuối cùng, đó là thuộc trong đạo lý nhân quả.
Nhân là nguyên nhân, Quả là kết quả. Tỷ dụ: học thì biết chữ; trồng cây thì có trái; đánh trống thì có tiếng. Nhân quả chi phối tất cả.
Nhân quả rất phức tạp: Có khi nhân nào sinh quả ấy. Có khi nhân tốt sinh quả xấu; nhân xấu sinh quả tốt. Có khi nhân không thể sinh ra quả được vì thiếu duyên v.v Nhân làm quả; quả lại làm nhân, chuyển biến linh động vô cùng.
Thời gian tính thực hiện lý nhân quả ấy cũng không nhất định: Có khi có nhân, có quả liền, như đánh chuông thấy tiếng ngay. Có khi trồng nhân hiện tại, kết quả trong hiện tại. Có khi trồng nhân hiện tại sẽ có kết quả trong một đời hay hai, ba hoặc nhiều đời sau này. Nhưng, dù gần hay xa, hễ có nhân, đủ duyên là có quả.
Người Phật tử hiểu rõ đạo lý nhân quả tức là hiểu rõ được sự vật, không bị mê lầm, không bị cám dỗ và cố gắng trồng nhân tốt để hưởng quả tốt. Học Phật phải có trí tuệ, phải có đức tự chủ, tự tín: Không tin thần quyền, bói toán, đồng bóng, vàng mã…, phải tích cực sống theo lẽ sống của đạo, mới xứng đáng là người Phật tử chân chính.
IX- Nhân duyên
Nhân quả hình thành là nhờ có mọi duyên giúp đỡ.
Nhân là thứ có năng lực phát sinh. Duyên là những thứ giúp đỡ cho nhân kia phát sinh, tăng trưởng và đưa tới kết quả. Tỷ dụ:Hạt lúa (nhân) nhờ có ruộng đất, cày bừa, bón tưới…làm duyên thành cây lúa và bông lúa (quả).
Người Phật tử hiểu lý nhân duyên, tức là hiểu rõ mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ này đều do sự tác hợp của mọi thứ mà thành, không phải tự nhiên có hay một người nào tạo ra. Do đó có sự tác thành và tác hại lẫn nhau, nếu nó hòa hợp hay không hòa hợp.
Lý nhân duyên tạo cho người Phật tử một sự hiểu biết chân chính.
X- Luân hồi - Nghiệp báo
Luân hồi là bánh xe quay. Nghiệp báo là những hành động tạo tác nơi thân, miệng, ý, sau một thời gian nó sẽ trả lại cái kết quả như hành động, tạo tác trước.
Theo nguyên lý nhân quả, dù nhanh hay chậm, đã có nhân tất nhiên phải có quả, quả lại sinh nhân, nhân lại sinh quả, nối tiếp vô tận trong vòng luân hồi nghiệp báo.
Làm thiện tiến lên, làm ác trụt xuống, vòng quanh trong sáu ngả: Thiên, Nhân, Quỉ thần, Địa ngục, Quỉ đói và súc sinh, như bánh xe quay tròn không dứt, nên gọi là luân hồi, nghiệp báo.
XI- Sinh tử - Giải thoát - Niết bàn
SINH TỬ là một hình tướng của hết thảy chúng sinh. do tác động mê lầm chiêu cảm. Sinh tử theo nghĩa Phật nói trong kinh Tăng già tra thì “Thức diệt là tử, Thức khởi là sinh”. Có nghĩa là: cái do ngũ uẩn tụ họp bắt đầu nẩy ra là sinh, ngũ uẩn rã rời là tử. Sinh tử, tử sinh; như vòng lửa quay tròn, tất nhiên phải chịu nhiều sự đau khổ.
GIẢI THOÁT là cởi mở sự ràng buộc, được tự do, tự tại. Giải thoát đây là cởi mở sự ràng buộc của tác động mê lầm, thoát khỏi khổ quả trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghĩa là thoát ly cảnh sinh hoạt bó buộc, khổ đau trong sinh tử luân hồi, phục hồi lại năng tính tự tại, tiến đến nơi giải thoát Niết bàn không sinh diệt.
NIẾT BÀN nghĩa là diệt trừ hết phiền não ràng buộc, vượt khỏi sinh tử luân hồi, chứng nhập nơi yên tịnh, sáng suốt, tự tại.
Sinh tử là thế giới ràng buộc, đau khổ; giải thoát, Niết bàn là trạng thái tự tại, trong sạch, sáng suốt, an vui và thường còn.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks