Sau những buổi lễ trong tu viện, tôi tiếp mọi người trong phòng riêng. Một người đàn ông tới mà không báo trước, và ngay khi nhìn thấy ông, tôi nói thật dữ dội: “Dzug Tsering, tại sao ông tới đây? Trong đời trước của tôi ông đã không tin tôi và bây giờ ông cũng không tin. Và bởi tôi không cần phải trải qua một vài sự kiểm tra của ông nên ông có thể ra đi.”
Bất thần tôi cầm một lò than và lúc này trông như thể tôi sẽ ném nó vào ông ta. Thay vào đó, với một cú giật mạnh lò than, tôi đổ than hồng lên đầu mình. Khi than đổ xuống áo tôi, mọi người lao vào thu dọn chúng và ngạc nhiên bởi không có vết phỏng hay cháy sém nào.
Drug Tsering bắt đầu thực hiện những lễ lạy tôn kính trước mặt tôi. Ong ta là anh rể
của Chagdud Tanpai Gyaltsan và đã nuôi dưỡng sự thù hận với vị lạt ma. Ngay khi ông ta tới gần phòng chào tôi, ông đã khoe khoang: “Nếu đây thực sự là vị tulku của Tanpai Gyaltsan thì ông ta sẽ biết tôi. Nếu không biết tôi, ông ta chỉ là một kẻ lừa gạt.” Bà vợ 33
ông ta và những người khác khuyên ông đừng quá bất kính, nhưng ông ta rất kiêu ngạo.
Sau cuộc gặp, mọi người đồng ý rằng đã có mọi điềm lành và không nghi ngờ gì về việc tôi là hoá thân của Chagdud Tanpai Gyaltsen.
Nhiều năm sau tôi kể chuyện này cho Tromge Trungpa Rinpoche. “Con biết đấy,”
ngài bình phẩm, “con phải đo lường mức độ chứng ngộ không phải ở trong kỳ công của con với những miếng than mà ở trong việc nhận ra sự tỉnh giác của tâm con như nó hoàn toàn xảy ra.” Bằng những lời này ngài giúp tôi phân biệt giữa các siddhi (thành tựu) thông thường, chẳng hạn như những năng lực huyền bí và những sự phô diễn kỳ diệu, và siddhi phi thường của việc đạt được sự nhận ra một cách kiên định chân tánh của tâm.
Tôi ở tại Chagdud Gonpa trong một tuần, rồi du hành tới nhiều nơi ở Nyagrong để
điều khiển các buổi lễ, nói chuyện với mọi người và uống arak, là thứ tôi khá thích. Một buổi tối, trong khi tôi đang uống và thụ hưởng bầu không khí vui vẻ, một người tên là Kazang Dorje đem tới cho tôi một thanh gươm sắt ngắn và rắn chắc. Không chút ráng sức, tôi bẻ gập nó thành bốn khúc gợn sóng. Những người chứng kiến điều này đều khiếp sợ, và cũng hài lòng là tôi đã hành sử đúng danh hiệu Chagdud.
CUỐI CÙNG, sau khi đi đây đó quá nhiều, đã tới lúc bắt đầu lại việc tu tập của tôi.
Cha dượng tôi và Lạt ma Tse Gon đưa tôi tới ngài Bat’hur Khanpo T’hubga, một vị thầy tuyệt vời và rất khác thường. Ngài khoảng sáu mươi lăm tuổi và không có ước nguyện xây tu viện. Ngài ở trong một căn lều lớn có thể chứa một trăm nhà sư. Đối với nhiều người du phương dừng chân tại lều trại của ngài để nhận giáo lý, ngài lập nên một phương pháp khéo léo để xây nhà. Mỗi vị khách đào những mảng cỏ vuông và xếp chồng lên để làm những bức tường của một căn nhà nhỏ, một phòng ngủ nhỏ mà kích thước bên trong tương ứng với chiều dài của thân người khách. Vị khanpo cung cấp một miếng nỉ đen để làm mái nhà.
Đôi
khi
vị
khanpo được cúng dường một dri, một con bò yak cái, và nó sản xuất sữa, sữa chua và bơ để ngài phân phối cho các hành giả trong những chiếc lều cỏ nhỏ của họ.
Tôi tới cùng chiếc lều của riêng tôi và ở đó trong một năm rưỡi cùng Lạt ma Tse Gon. Trong thời gian này tôi học những bản văn của các vị thánh Phật Giáo người Ấn Độ Shantideva và Nagarjuna.Tôi đã nhận lãnh một sự truyền thụ trọn ven trong giáo lý triết học Madhyamika (Trung Đạo). Trước tiên vị khanpo giảng dạy, ban một bài thuyết trình liên tục về giáo lý. Một lạt ma khác sẽ nối tiếp, xem lại những gì vị khanpo đã nói và trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Không ai trong chúng tôi ghi chép cho tới khi những lớp học này chấm dứt. Rồi chúng tôi trở về lều và viết lại những gì chúng tôi có thể nhớ được về giáo lý trong ngày. Phần còn lại của một ngày là để nghiên cứu.
……………..
34
KHONG BAO LAU sau khi trở về Tenp’hel, tôi lại ra đi, lần này tới Sechhen Gonpa, một chuyến đi dễ dàng chỉ mất nửa ngày đi ngựa. Tôi đã học với Sechhen Kongtrul trong tám tháng. Từ ngài, tôi đã nhận các giáo lý chính thức đầu tiên của tôi về bản tánh của tâm khi tôi được tám tuổi. Dù không bao quát, những giáo lý này rất quý báu. Giờ đây ngài đồng ý truyền dạy cho riêng tôi pháp Mahamudra, các giáo lý về tâm được biết tới là “Đại Ấn.” Đây là một đặc ân to lớn, bởi ngài hiếm khi gặp gỡ bất kỳ ai và thường ở trong bán-thất. Khi giáo huấn này hoàn tất, ngài làm sáng tỏ một số bản văn Phật Giáo cổ điển của Đức Nagarjuna dành cho tôi và những tulku khác. Sechhen Kongtrul hoàn toàn hiến dâng cuộc đời mình cho Phật Pháp. Nếu có ai nói với ngài về những vấn đề bình thường, gánh nặng của việc phải nghe lộ rõ trên gương mặt ngài. Nếu ai đó nóùi về Pháp thì vẻ vui thích của ngài thật rõ ràng. Tôi cảm thấy lòng sùng mộ đối với ngài như vị thầy của tôi sâu sắc hơn là tôi đã từng kinh nghiệm trước đây. Tôi chú tâm vào thực hành Mahamudra mỗi ngày, và cảm nhận sự ban phước sâu xa của ngài trong thiền định của tôi.
Một lúc nào đó sau khi rời Sechhen Gonpa, tôi trở lại Tenp’hel Gonpa sau khi cử hành các tang lễ tại một làng cách ba ngày đi ngựa. Một đoàn lữ hành dài xuất hiện đằng xa, rõ ràng là một lạt ma quan trọng và đoàn tuỳ tùng của ngài.
“Tulku, con tự hỏi vị lạt ma đó là ai? Chúng ta có nên phi ngựa đuổi theo và gặp ngài?
Thị giả của tôi hỏi.
“Không,” tôi trả lời. “Nếu chúng ta gặp vị lạt ma, chúng ta sẽ phải xuống ngựa và lại leo lên ngựa. Đi theo lối khác sẽ dễ hơn và tránh được đoàn lữ hành. Ở Tây Tạng, thật khó mà leo lên hay xuống ngựa bởi dây đai thường hay bị đứt, yên ngựa xoắn lại và kỵ mã ngã nhào xuống đất.
Chúng tôi đổi hướng và đi dọc theo một đỉnh núi để không đụng đoàn lữ hành. Rồi chúng tôi cắt xuống sườn núi để vượt qua một con sông. Ở bờ bên kia con sông, chúng tôi phi ngựa trên đường đê dốc. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy ngài Sechhen Kongtrul đang nghỉ ngơi với thị giả của ngài. Đó chính là đoàn lữ hành của ngài mà chúng tôi đã thấy ở xa. Trong khi ngài nghỉ ngơi, những thành viên khác trong đoàn tuỳ tùng vẫn tiếp tục đi.
Nhà sư và tôi vọt xuống ngựa và lễ lạy. Sechhen Kongtrul đặt bàn tay lên đầu tôi và ban phước cho tôi, ngài nói: “ Hãy thiền định mãnh liệt hơn nữa.”
Đó là tất cả những gì ngài nói, rồi ngài ra đi. Khi tôi đứng đó, tràn ngập năng lực của sự ban phước của ngài, các sự vật dường như khác trước như thể nhãn kiến của tôi về thực tại đã thay đổi. Tôi hoàn toàn an định, không có bất kỳ sự khuấy động nào trong tâm.
Sang ngày hôm sau sự an định này vẫn được duy trì, nhưng nó đã biến đổi một cách vi tế. Kinh nghiệm thuần tịnh, tự nhiên về sự ban phước trở nên bị ô nhiễm cùng với sự tham luyến và bị khô cứng thành một trạng thái tĩnh lặng mà tôi ước muốn duy trì. Tôi dự một cuộc dã ngoại với tất cả các nhà sư ở Tenp’hel Gonpa. Tôi cảm thấy xa cách những 35
người khác khi tôi thấy họ dash about, diễu cợt và nô đùa. Sau đó tôi cử hành một buổi lễ và tôi còn cảm thấy xa cách hơn nữa.
“Không ai đang thực sự thiền định,” tôi nghĩ. “Thật đáng buồn. Người ta đặt quá nhiều hy vọng và đức tin nơi các lạt ma và tu sĩ. Nhưng họ chỉ đang hát tụng những ngôn từ trong sự thiếu chánh niệm, và loại thực hành như thế sẽ chẳng đi tới đâu.”
Thật nghiêm trang, tôi rời nhóm người để thiền định. Tâm tôi trở nên rất an định; dường như không có lý do gì để không ngồi vĩnh viễn ở đó. Có ít niệm tưởng dấy khởi, và tôi thật thoải mái. Sau một lát vị thị giả tới cùng con ngựa của tôi và nói: “Tulku, đã tới giờ phải đi rồi.”
Tôi chậm rãi đứng lên và leo lên ngựa. Khi chúng tôi tới tu viện, ông ta giúp tôi
…………………….
TRONG TẤT CẢ NHỮNG VỊ THẦY LỪNG LẪY CỦA TOI trong thời gian này, có lẽ không ai giữ vai trò chính yếu đối với việc phát triển của tôi hơn cha dượng Sodga.
Trong công việc giám hộ, lúc nào ông cũng kiên nhẫn và sáng suốt và mặc dù ông chiều theo các vị lạt ma khác trong việc tu học của tôi, ông bảo đảm rằng sự liên tục thì đúng đắn và đầy đủ. Trên tất cả mọi sự, chính nhờ ông mà khi tôi vật lộn với những vấn đề gai góc nhất đối với bất kỳ vị lạt ma trẻ nào, tôi đã lật ngược quyết định có giữ đời sống độc thân hay không và như thế có làm một nhà sư hay không.
Cha dượng tôi được sinh ra và tu tập trong truyền thống Gelugpa và được nhận vào Bumsar Gonpa, một tu viện cách Tenp’hel Gonpa ba ngày đi ngựa. Gần tu viện là một hang động rất linh thiêng và đầy năng lực. Các hành giả thuộc nhiều thế hệ đã tới đó, cho tới khi vì những lý do nào đó không ai rõ, một vài thiền giả vào những thời gian khác nhau trở nên thất vọng trong khi thực hành ở đó và tự treo cổ. Tự tử là một sự kiện hầu như không được biết tới ở Tây Tạng trước khi người Trung Quốc chiếm đóng và nó đi nghịch lại giáo lý của Đức Phật. Các hành giả và cư sĩ cùng tránh xa cái hang như một chỗ chứa đựng những điều khủng khiếp không thể tả xiết.
Trước sự mất tinh thần của gegan của mình, cha dượng tôi, ở tuổi mười hai, bắt đầu yêu cầu được thực hành trong cái hang đó. Vị gegan từ chối, trước hết bằng cách cố gắng dùng lý lẽ thuyết phục cậu bé, sau đó là dùng uy quyền của ông. Cha dượng tôi khăng khăng nài nỉ. Nó biến thành một trận chiến của các ý chí, và Sodga đã thắng thế.
Khi họ tới cái hang, Sodga đi vào một mình và lập tức thoải mái trong sự thực hành của cậu. Không được sự tán thành của Sodga, vị gegan ở bên ngoài hang và thực hiện thực hành của riêng ông. Thỉnh thoảng ông liếc trộm để bảo vệ cho cậu bé trong hang. Dường như không có gì xấu. Cậu bé tiếp tục thực hành, và khi màn đêm buông xuống, có vẻ như đã ngủ. Nỗi sợ của vị gegan lắng dịu, ông trở về tu viện.
36
Sáng hôm sau, từ rất sớm, vị gegan trở lại cái hang và nhìn vào cậu bé bên trong.
Cậu vẫn đang thiền định ở đó, nhưng ban đêm thì là một sự kiện đáng lưu ý. Trong hang, cậu đã tìm thấy một cái đĩa bằng đá làm bởi hai cái đĩa gắn chặt với nhau. Nhiều thế kỷ trước, Đức Padmasambhava đã ép những vành đĩa dính vào nhau bằng bàn tay, và dấu vết của bàn tay ngài vẫn còn có thể nhìn thấy. Khi mở những hòn đá đóng lại như một hộp đựng châu báu, Sodga tìm thấy một đồ đựng chữ dakini bên trong. Chữ viết đã có thể được giải mã chỉ bằng trí tuệ của cậu bé.
Như thế mười hai quyển sách thuộc kho tàng của Đức Padmasambhava đã được cha dượng tôi khám phá trong cơ hội đó. Thực ra cha dượng tôi là một terton Nyingma, mặc dù điều này không bao giờ được chính thức công nhận. Ong đã thực hành truyền thống Gelugpa lẫn Nyingma và làm ví dụ minh chứng cho cảhai truyền thống bằng cái nhìn không bị ngăn che của ông.
Một hôm khi tôi còn sống trong nhà ông, cha dượng tôi gợi ý chúng tôi cùng đi lên đỉnh núi có tên Tragchenma, đáng lưu ý bởi sự hình thành tảng đá trên đỉnh giống như một cái tai khổng lồ. Bên trong là một cái hang.
“Ở đây có một terma,” cha dượng tôi nói khi chúng tôi đi vào hang. Ong rút lưỡi dao ra khỏi bao và cắm thẳng nó vào vách hang. Tảng đá không kháng cự. Khi ông rút con dao ra, một cái lỗ còn để lại trên tảng đá, ở đó ông bít lại bằng một mẩu gỗ có hình lưỡi dao để đánh dấu nơi terma có thể được khám phá trong tương lai. Ong không nói lời nào về sự kiện này, và khi tôi khoe khoang về chuyện đó thì không ai tin lời tôi. Sự biểu hiện về những năng lực của ông như một siddha này được làm là vì tôi, và chỉ một mình tôi.
………
Trong khi hoàn tất nội hoả và các yoga khác, chúng tôi học quán tưởng và điều khiển các năng lực trong thân thể. Những thiện xảo này kích thích ước muố của tôi hiểu biết thêm về pháp yoga của thực hành phối ngẫu. Một hôm, một vị khách mang một chén sọ người lạ thường và một pho tượng của vị phối ngẫu trí huệ Dorje P’hagmo từ một thánh địa tên là Tzari ở biên giới Ấn Độ và Tây Tạng – chính là Tzari mà ngài Chagdud Tanpai Gyaltsan đã cố gắng du hành tới khi ngài bị các chướng ngại ngăn trở. Chúng tôi đặt chén sọ người - nó tượng trưng cho vật chứa toàn thể vũ trụ – lên bàn thờ và cử hành một lễ cúng dường. Đêm hôm ấy, khi mọi người đang ngủ, tôi trở lại gian phòng thiền định và cầu nguyện với ước nguyện chân thành. Tôi nguyện cầu rằng tôi có thể làm lợi lạc tất cả chúng sinh, nhưng tôi sẽ làm như thế với tư cách một ngagpa, một yogi không giữ giới nguyện độc thân. Tôi khao khát vượt lên sự ham muốn tầm thường và đạt được sự chứng ngộ viên mãn tánh bất khả phân của đại lạc và bản tánh tuyệt đối.
Sau này, tôi nói cho người cha dượng về lời cầu nguyện và những quán chiếu của tôi về bản tánh của sự ham muốn. “Đúng, sự ham muốn phải được chuyển hoá,” ông trả lời, “và điều này có thể thực hiện được nhờ yoga thực hành phối ngẫu. Nó không dễ dàng.
37
Nó đòi hỏi sự thiện xảo tinh thông về yoga để đạt được kết quả của thực hành phối ngẫu.
Sẽ rất dễ trệch hướng vào sự ham muốn tầm thường, sự vui thú phàm tục. Tuy nhiên, con nên biết được rằng trong gia đình con đã từng có rất nhiều vị đạt được chứng ngộ viên mãn về thực hành phối ngẫu. Nếu con có thể làm điều này, thì nó sẽ là một thành tựu vĩ đại.
Tôi được khuyến khích bởi những gì ông nói. Cuối cùng lý tưởng cao cả của tôi có lẽ đã suy giảm, tuy nhiên, tôi không bị bao vây bởi các vị thầy và thị giả của tôi mỗi khi một cuộc gặp gỡ một thiếu nữ quyến rũ có thể thực hiện được. Đặc biệt, một đêm khi cha dượng tôi, Lạt ma Tse Gon và tôi đang ở trong một căn lều lớn tại Bumsar. Một cô gái đang ngủ trong một khu vực khác đã thu hút sự tưởng tượng của tôi. Tôi muốn cô gái chú ý tới tôi. Nghĩ rằng cha dượng tôi và gegan-la đã ngủ, tôi bắt đầu ném những viên sỏi nhỏ vào cô.
Tôi không biết việc tôi đã làm có khiến cô ta có đáp lại sự ân cần ve vãn của tôi không, nhưng cô đã không làm. Cô giả bộ ngủ ngon giấc mặc dù những viên sỏi của tôi trở nên rất chính xác. Tuy nhiên, cha dượng của tôi đã không ngủ, và ngày hôm sau ông quở trách tôi thật nghiêm khắc.
“Đừng ném đi cả những giới nguyện tu sĩ lẫn ước nguyện làm một ngagpa như thế,”
ngài nói. “Con đã có một vài tu tập yoga, nhưng không dễ thành tựu thực hành phối ngẫu.
Nếu con cố thử điều đó, con sẽ mất sự kiểm soát và rơi vào sự ham muốn tầm thường, lầm lạc.
“Cha có thể ban cho con một quán đảnh và giáo lý; sau đó chúng ta phải cùng nhập thất trong chín tháng. Nếu không được chín tháng thì không thể ít hơn sáu tháng.” Có một tiên tri rằng cha dượng tôi sẽ lập tôi làm người trì giữ dòng truyền thừa của một trong những kho tàng của ông. Trong những kho tàng ông đã khámphá có một thực hành Padma Dakini sâu xa, một phương pháp để thông suốt yoga phối ngẫu. Được nhận lãnh một giáo lý như thế là điều hy hữu, nhưng cha dượng tôi nghĩ rằng bằng cách trao nó cho tôi, ông sẽ hoàn thành lời tiên tri.
Một lần nữa chúng tôi đi tới núi Tragchenma, tới hang động mà ông đã cắm con dao vào vách núi đá. Ong lại biểu lộ năng lực của mình. Lễ quán đảnh đi vào thực hành Padma Dakini đòi hỏi phải làm một vật hình tam giác bằng gỗ để chứa một ngọn lửa và đỡ một cái đĩa kim loại. Đứng cách một khoảng ngắn, Sodga thắp một ngọn đuốc nhỏ như một hành động tượng trưng. Cùng lúc đó, ngọn lửa trong tam giác tự nhiên cháy bùng lên.
Sự phô diễn này gây một ấn tượng sâu xa trong lòng tôi và tôi tới gần sự thực hành với chút ít kính sợ.
Sự nhập thất tự nó thì rất nghiêm ngặt, căng thẳng và đơn độc. Chúng tôi không nhìn thấy ai trừ những thị giả mang thực phẩm lại cho chúng tôi. Một phần ba thời gian nhập thất được dùng để phát triển sự quán tưởng rõ ràng và trì tụng thần chú, thời gian còn lại 38
thì làm việc với các kinh mạch và gió vi tế và điều khiển các năng lực nam và nữ của thân.
Có một vài dấu hiệu phi thường của sự thành tựu viên mãn về thực hành Padma Dakini. Tôi không thành tựu những thực hành này trong thời gian sáu tháng, và cha dượng tôi nói rằng chúng sẽ được thành tựu hoàn hảo hơn trong chín tháng. Mặc dù thế, các dấu hiệu của tôi rất tốt. Cha dượng tôi cảm thấy tin tưởng khi cho phép tôi làm sự thực hành này, ông biết rõ rằng dòng suối nóng chảy của tính dục tươi trẻ của tôi giờ đây đang lưu chuyển và được kiểm soát.
SỰ LỢI LẠC TO LỚN KHÁC mà cha dượng tôi đã làm cho tôi trong những năm này là sắp xếp một cuộc hội kiến ngài Sechhen Rabjam ở Sechhen Gonpa. Sechhen Rabjam đã sống trong ẩn thất và không gặp gỡ ai. Ngài đồng ý tiếp một mình tôi bởi tôi là con trai của Delog Drolma và cha dượng tôi là Sodga.
Khi chúng tôi tới, Sodga cúng dường và khẩn cầu ngài Sechhen Rabjam xác định thực hành bổn tôn nào đem lại lợi lạc nhất trong sự phát triển của tôi. Ngài đồng ý và bảo chúng tôi ba ngày sau quay trở lại.
Khi quay trở lại chúng tôi thấy phô diễn trước ngài Sechhen Rabjam là một mạn đà la lộng lẫy về Đức Tara Xanh, một bổn tôn của sự hoạt động giác ngộ. Ngài làm lễ quán đảnh cho tôi để đi vào thực hành Tara Xanh và nói: “ Nếu con làm sự thực hành này cho tới khi đạt chứng ngộ, con sẽ làm lợi lạc vô số chúng sinh.”
Mẹ tôi, bản thân bà là một hoá thân của Đức Tara Trắng, đã là người khám phá kho tàng của một thực hành Tara Xanh. Sự ràng buộc ruột thịt của tôi với bà là dấu hiệu đầu tiên của mối liên hệ của tôi với Đức Tara trong đời này. Nó được khẳng định liên tục, trước tiên là bởi ngài Sechhen Rabjam, sau đó là những vị khác, rằng Đức Tara, trong mọi phương diện của trí tuệ của ngài, sẽ ban phước cho sự thực hành của tôi và là một nguồn mạch của sự lợi ích của tôi cho những người khác.
MỌI SỰ DƯỜNG NHƯ tiến hành tốt đẹp. Ở mặt ngoài, hoạt động của tôi luân phiên thay đổi giữa sự tụng đọc các bài cầu nguyện và cử hành các buổi lễ cho những người khác, và học tập cùng thực hành sự thiền định cho sự phát triển của chính tôi. Ở bên trong, tôi đã đạt được những cấp độ của sự thấu suốt, sự tinh thông to lớn hơn về những niệm tưởng và cảm xúc của tôi và một nhãn kiến rộng lớn hơn, khoáng đạt hơn nữa nhờ sự thiền định. Một cách bí mật, tôi đang làm việc với những năng lực sâu xa, tiềm năng để
chứng ngộ sự bất khả phân của bản tánh tuyệt đối và đại lạc tối hậu. Tôi tự-định hướng và xác quyết, và đồng thời là người thừa hưởng của bậc dẫn dắt cao cả.
Tuy nhiên các sự việc không hoàn hảo. Nhờ sự thực hành Mahamudra (Đại Ấn) tôi nhận ra tính chất lọc lừa của cái “tôi,” sự dối trá của bản ngã như một điểm quy chiếu đối 39
với thực tại. Thiền định Đại Ấn đem lại sự thuần thục cho sự thấu suốt của tôi, nhưng tôi không chứng nghiệm điều tôi đã kinh nghiệm trước đây như một đứa trẻ qua những linh kiến và giấc mơ của tôi, một sự trần trụi tuyệt đối của sự hiện hữu. Tôi cảm thấy như một người câm điếc đã có lần từng nếm chất đường ngọt ngào và không thể lập lại kinh nghiệm bởi họ không diễn tả được nó. Tôi không nghiền ngẫm về nó, nhưng tôi không thể
thoả mãn with less.
6- SỰ TRANH CHẤP VÀ NHẬP THẤT
(p.90)
Trong suốt thời gian này, tôi không từ bỏ ý định trừng phạt Jampal. Sử dụng mọi thiện xảo như một diễn giả, tôi đã chuẩn bị một lực lượng gồm vài trăm người và lập kế hoạch tấn công ngôi làng anh ta đang lẩn trốn. Tuy nhiên, một ngày kia tôi tới thăm Tulku Arig, một thánh sư sống ở Tromt’har và là một người trong họ Tromge. Khi tôi lễ lạy trước ngài, ngài nhìn tôi thật buồn bã, đôi mắt đẫm lệ. “Đừng hành xử như thế. Dù con có thành công hay không, điều ấy sẽ chẳng ích lợi gì. Chỉ là một chướng ngại cho Pháp của con.
Thay vào đó, hãy thực hành.”
Đó là tất cả những gì ngài nói, nhưng lòng bi mẫn của ngài tan chảy trong tận sâu thẳm trái tim tôi. Tôi đã khóc một hồi lâu, và khi tôi khóc, tảng băng lởm chởm của lòng thù hận bắt đầu tan. Ngày hôm đó, trước khi từ giã ngài, tôi đã quyết định đi tới một ẩn thất ba-năm cô tịch ngay tức khắc.
Tôi phi ngựa tới chiếc lều màu đen của bà tôi để gomgóp một ít thực phẩm. Khi tôi cho bà biết điều tôi đang làm, bà cố khuyên can tôi đừng đi cho tới khi một đại hội của bộ tộc Tromge được hoàn tất trong thời gian ba ngày. “Không có lý do gì mà con không thể
nán lại một chút.” Lời bà nói không có chút tác dụng nào với tôi. Tôi biết mình không nên trì hoãn.
Tôi yêu cầu một thị giả để lại một con ngựa có thắng cương cho tôi, nhưng vì lý do nào đó việc ấy không xong. Tôi phải đi bộ hàng dặm từ căn lều của gia đình tới Tromge Gonpa, nơi tôi sắp thực hiện cuộc nhập thất. Một dặm không phải là một quãng đường đi bộ quá dài, nhưng bởi nhiều năm ngồi trong tư thế thiền định từ khi còn rất nhỏ nên tôi luôn luôn nhận ra rằng di chuyển được bất kỳ khoảng cách nào thì thật khó khăn, vì thế đây là một dặm đường dài.
Trong tu viện, người ta dành cho tôi một khu nhà nhỏ gồm các căn phòng, nó bao gồm một phòng thiền định và toà ngồi của tôi, một phòng nhỏ xíu đặt chiếc giường và một nhà vệ sinh. Thức ăn nấu trong nhà bếp của tu viện và được mang lại cho tôi. Tôi nhập thất vào giữa tháng bảy và thình lình tuyết dày rơi trong ba ngày. Mọi người dốc sức dọn tuyết và tìm kiếm thú vật thất lạc. Tôi rất thoải mái trong ẩn thất của mình, như thể một bức màn trắng dày đã buông xuống giữa tôi và những dính líu trong thế giới bên ngoài.
40
KỲ NHẬP THẤT-BA NĂM LẦN THỨ HAI của tôi là một kinh nghiệm về sự tịnh hoá sâu xa. Trong Phật Giáo, sự Giác ngộ có hai phương diện – tâm thì tự do đối với mọi độc tố và các tập quán ngăn che, và có đầy đủ mọi phẩm tính toàn hảo của lòng bi mẫn và trí tuệ. Sự tẩy trừ những dấu vết cuối cùng của các ô nhiễm và việc khai mở kho tàng những phẩm tính của tâm được thành tựu nhanh chóng nhất nhờ các giáo lý cao tột, trực tiếp nhất của Phật Giáo Tây Tạng, giáo lý ĐạiViên Mãn (Dzogchhen) trong truyền thống Nyingma.
Tôi được định đoạt để nghe và thực hành những giáo lý này; không có cấp độ thực hành nào khác và bất luận các năng lực du già phi thường nào có thể được thành tựu, có thể hoàn toàn làm thoả mãn tôi. Kỳ nhập thất-ba năm lần thứ hai của tôi trở thành một quá trình nhờ đó tôi làm cho mình xứng đáng để nhận lãnh những giáo lý như thế.
Tôi bắt đầu cuộc nhập thất bằng cách lập lại các thực hành chuẩn bị, bao gồm trăm ngàn lễ lạy toàn thân khác. Tôi đã thực hành sự chuẩn bị Longchen Nyingt’hig, một trong những nền tảng của truyền thống Nyingma, và thực hành của tôi rất tinh tấn, đặc biệt khi so sánh với các thực hành chuẩn bị mà tôi đã làm trong kỳ nhập thất-ba năm lần đầu tiên.
Đó là một niềm vui khi tích cực thực hành những điều mà tôi đã làm một cách miễn cưỡmg khi còn là một đứa trẻ.
Vị thầy nhập thất của tôi là Tromge Trungpa Rinpoche, một đạo sư Đại Viên Mãn vĩ đại và một siddha (thành tựu giả) Tara. Ngài bảo tôi: “Trong mỗi thế hệ của gia đình chúng ta có một lạt ma hoàn toàn thành tựu năng lực lợi lạc của Tara. Mẹ con đã là một siddha Tara trong thế hệ của bà, và nếu con thực hiện thực hành Tara, ta tin rằng con sẽ là siddha Tara của thế hệ của con. Điều này sẽ hết sức tốt đẹp.”
Sau khi ngài nói với tôi điều này, tôi xướng lên một trăm ngàn trì tụng gồm các bài kệ dài tán thán hai mươi mốt phương diện trí tuệ của Tara. Việc này mở ra cánh cửa sự thực hành Tara của tôi, nó sẽ trở thành một suối nguồn của sự hứng khởi và ân phước không ngơi nghỉ.
Sự thực hành của tôi tiến triển tốt đẹp trong một vài tháng. Không có sự quấy rầy nào từ bên ngoài, tâm tôi được điều chỉnh đúng đắn trong việc thiền định – không quá căng, không quá chùng – các dấu hiệu thì tốt đẹp và tôi không muốn gì hơn là tiếp tục trên chiều hướng vững chắc tương tự.
Rối thình lình, mối giận dữ của tôi về việc Jampal ăn cắp vật dụng cá nhân của tôi lại xuất đầu lộ diện, lần này trong một hình thức đặc biệt nguy hại – sự chân chính tâm linh. Tôi nghĩ: “Cho tới hôm nay Jampal vẫn không nhận lỗi và không ân hận. Hắn cho rằng ta không có cách nào để sửa đổi tình huống và Pháp thì bất lực trước hành động sai trái của hắn. Sự vô liêm sỉ của hắn sẽ ảnh hưởng tới những người khác khiến họ đi theo 41
con đường xấu xa tương tự. Không chỉ vì ích lợi của tôi và còn vì lợi lạc của Pháp mà hắn phải bị trừng phạt và được cho thấy sự vô hạnh phải chịu hậu quả.”
Những tư tưởng này ám ảnh tôi, và đêm hôm đó tôi bắt đầu thực hiện một mạn đà la về các Hộ Pháp để khẩn cầu sự can thiệp phẫn nộ của các ngài trong tình huống với Jampal. Tôi lên kế hoạch cử hành một buổi lễ vào ngày hôm sau, nhưng sáng hôm đó, trước khi tôi có thể bắt đầu, một nhà sư đi vào phòng và loan báo rằng Tromge Trungpa Rinpoche đang đợi ở bên ngoài. Điều này hoàn toàn vô hy vọng. Tromge Trungpa chỉ tới ẩn thất của tôi khi tôi cần tới các giáo lý để tiếp tục việc thực hành, chứ không bao giờ ngẫu nhiên, ngay cả để nói chuyện phiếm. Khi Ngài bước vào phòng, tôi dâng Ngài toà ngồi của tôi và ngồi trên sàn.
Ngài bắt đầu tán thán tôi: “Tulku, thật hiếm thấy một hành giả nào như con thực sự được thúc đẩy để giúp đỡ chúng sinh. Con đã học tập và thiền định tuyệt vời, và điều này thật kỳ diệu. Nó sẽ đem lại sự lợi lạc to lớn cho những người khác.
“Con biết đấy,” Ngài nói tiếp: “có một vài hành giả tà-tâm sử dụng Pháp trong cách thế sai trái. Họ dùng các thực hành bảo trợ để gây đau khổ cho người khác. Chắc chắn là con không giống họ. Ta thích con là một kẻ giết hại ma-mốt tầm thường hơn là một hành giả đốn mạt như thế.”
Ở Tây Tạng, một kẻ giết hại ma-mốt được coi như loại người thấp kém nhất bởi các ma-mốt là những sinh vật không có sự bảo vệ. Những kẻ ăn thịt ma-mốt bốc ra một loại mùi kỳ dị, và người ta không mời họ vào nhà hay lều của mình. Tôi nhục nhã đến nỗi trong sự kính mến của Tromge Trungpa, hầu như tôi còn thấp kém hơn cả một kẻ giết hại ma-mốt.
Tôi không nói gì về mạn đà la đang thiết lập và không cúng dường gì hơn là những nghi thức lịch sự khi Ngài ra về. Tôi sợ rằng mình có thể để lộ ra sự hoàn toàn mất hết can đảm mà tôi đã cảm thấy. Ngay khi Ngài ở một khoảng cách an toàn đối với nhà tôi, tôi đã phá huỷ mạn đà la. Thực sự thì nó đã đáp ứng mục đích của nó là khẩn cầu một bậc bảo trợ không thể sai lầm –Tromge Trungpa – để chỉ ra cho tôi những hậu quả của sự vô hạnh của riêng tôi.
Nó cũng chỉ cho tôi rằng ta phải thực hành mọi cách thức để đạt Giác ngộ, bởi cho tới khi ta hoàn toàn giác ngộ, những chướng ngại có thể xen vào. Bản thân tôi đã từng tu học xuất sắc dưới chân các lạt ma siêu phàm, từng thực hiện sự nhập thất và chứng nghiệm các dấu hiệu thành tựu tâm linh trong sự thiền định của tôi, nhưng một cảm xúc độc hại hầu như đã xảy ra trong một chướng ngại khổng lồ cho sự thành tựu cao xa hơn. Sự tinh tấn và kiểm tra chuyên cần của bổn tâm tôi đã phát triển. Còn với Jampal, ba mươi lăm năm sau một trong những người anh của anh ta tới thăm tôi. Từ người này tôi được biết Jampal đã bị một người Tây Tạng giết chết vì cộng tác với người Trung Quốc. Tôi nói 42
với người này là tôi thực sự mắc nợ Jampal bởi anh ta đã khiến tôi nhập thất và tịnh hoá tánh sân hận của mình.
KỲ NHẬP THẤT BA-NĂM LẦN THỨ HAI CỦA TOI khác với lần trước - năm tôi mười một tuổi – lần này tôi ít bị mê hoặc bởi những dấu hiệu của sự thực hành. Những thị kiến về các Bổn Tôn xuất hiện và tôi đã có những giấc mơ tuyệt vời, nhưng …. Nhờ việc lắng nghe và thiền định các giáo lý Đại Viên Mãn tôi đã nhận từ Tromge Trungpa, đó là lúc mà mọi khuôn mẫu tri giác thông thường bị cạn kiệt một cách dễ dàng và tôi nghỉ ngơi trong giác tánh không tạo tác.
Nhưng trong ba tháng cuối của kỳ nhập thất, tôi trở nên đau ốm tới nỗi tôi nghĩ rằng mình có thể chết. Tôi không thể nuốt bất kỳ thực phẩm nào, và không ăn được, tôi dần dần trở nên rất yếu. Sau một thời gian, khi sự việc không cải thiện, tôi viết cho Tromge Trungpa để hỏi xem tôi có nên xả thất và đi khám bác sĩ. Ngài gởi một lá thư rằng ngài nghĩ bệnh tật của tôi là một chướng ngại nhập thất và tôi không nên rời thất. Tôi hơi buồn, nhưng không làm trái lời khuyên của ngài. Thay vào đó tôi chuẩn bị để chết.
Giữa các khoá thiền định tôi đã thực hành p’howa để chuyển di tâm thức vào lúc chết. Các dấu hiệu tới rất nhanh và tôi có một linh kiến về Đức Phật Amitabha (A Di Đà), một trọng tâm của sự thiền định trong thực hành chuyển di đặc biệt mà tôi đã làm. Tôi cũng thực hành p’howa củaVajra Yogini trong sự kiện là tôi quá yếu không thể trì tụng thần chú của sự chuyển di tới cõi thuần tịnh của Đức Amitabha. Trong p’howa củaVajra Yogini, không nói một lời, hành giả chỉ chuyển di tâm thức tới Pháp giới bao la của trí tuệ.
Vajra Yogini ban phước cho thực hành của tôi bằng cách xuất hiện trong một linh kiến.
Một đêm, trong một giấc mơ, tôi tới một nơi ở đó vượt qua toàn bộ chân trời, trái đất lung linh và hoà lẫn vào bầu trời. Điều ấy thật lạ lùng. Ba hay bốn người đang ở đó và tôi hỏi họ: “Nơi này là ở đâu?”
“Đây là biển.”
“Tôi chưa từng thấy một nơi nào như thế.”
“Đó là nơi anh sẽ chết và tái sinh làm một con cá.”
Sau đó, trong giấc mơ, tôi nhớ lại một việc có thật trong thời thơ ấu của tôi. Một bà nọ tới thăm mẹ tôi có đeo một vật trang sức làm tôi mê mẩn. Tôi hỏi bà xuất xứ của nó và bà ta nói nó từ một con cá. Tôi chạy ra dòng suối gần nhà và bắt một con cá nhỏ xíu. Mặc dầu tôi không thể nhìn, tôi xoay xở để giết nó bằng con dao nhỏ. Khi tôi mổ nó ra thì không có vật trang sức, vì thế tôi tay không trở về nhà và hỏi người đàn bà tại sao bà đã nói với tôi một điều như thế. Bà ta cười vui vẻ và nói: “Không, không. Cháu đã phạm một sai lầm. Vật trang sức này lấy từ một con cá sống trong một đại dương rất xa.” Tôi mới có bốn tuổi, nhưng mặc dù thế tôi biết lỗi lầm của tôi thì còn nghiêm trọng hơn nhiều so với việc chọn sai loại cá.
43
Trong giấc mơ tôi nghĩ: “Ồ, không. Đây là điều sẽ xảy ra bởi tôi đã giết con cá đó.
Nếu tôi phải tái sinh làm một con cá thì ít nhất hãy là một con cá nhỏ để nó không ăn thịt những con cá khác.” Giấc mơ của tôi chấm dứt với những điều đó.
Sau này khi tôi ra ngoài đi vệ sinh lúc sáng sớm khi trời còn tối, hình ảnh của một con cá xám óng ánh như bạc xuất hiện. Có làm cách nào thì tôi vẫn thấy con cá hiện diện ở đó, rõ ràng, không dao động. Nó không biến mất khi mặt trời mọc, hay khi tôi làm các công việc bình thường, hoặc lúc tôi quán tưởng các hình ảnh khác trong thiền định. Ngày này sang ngày khác, con cá bền bỉ có mặt với tôi, cho tới khi cuối cùng tôi thực hiện một triệu lần trì tụng thần chú Om Mani Padme Hung, cầu nguyện để làm nhẹ bớt nỗi khổ của tất cả chúng sinh – người, thú vật và những chúng sinh trong các cõi vô hình. Khi hoàn tất các sự trì tụng này, tôi hồi hướng công đức của sự thiền định của tôi cho con cá tôi đã giết, với ước nguyện nó tìm được hạnh phúc và sự giải thoát tối hậu. Sau đó con cá biến mất.
Bệnh của tôi vẫn không hết, và tôi sống trong một tình trạng buồn nôn liên tục, trong sự mong chờ không dứt được chết đi. Tuy nhiên cái chết đã xảy ra ở một nơi nào khác. Một buổi sáng sớm trong tuần lễ sau cùng của kỳ nhập thất, có một tiếng gõ cửa phòng tôi và một nhà sư, một hành giả tuyệt vời cũng nhập thất, đi tới trước cửa và nói thật bất ngờ: “Tromge Trungpa chết đêm hôm qua.”
Tôi hoài nghi: “Ngài mới tới thăm tôi hôm qua và không tỏ vẻ gì là bệnh hoạn cả.”
“Ngài không đau bệnh.” Câu chuyện khi được truyền đi qua vị sư và những người khác thật đáng lưu ý. Ngày hôm trước, Tromge Trungpa được biết tin Tulku Arig lâm trọng bệnh lúc vừa trở về sau khi cử hành tang lễ cho vị bổn sư tôn kính của Ngài. Nghe điều này, Tromge Trungpa nói thầm: “Ồ, không, Tulku Arig mà mất đi thì quả là một tổn thất quá lớn. Cuộc đời trường thọ của Ngài sẽ rất ích lợi cho những người khác. Những người như tôi chết đi thì tốt hơn.” Ngài không nói gì nữa và những gì Ngài nói không gây tác động đặc biệt nào lên những người nghe.
Ngày đó Ngài đi quanh các đệ tử, kiểm tra sự thực hành của họ, trả lời những câu hỏi. Khi tới chỗ tôi, Ngài thăm dò sự hiểu biết của tôi về toàn bộ phạm vi giáo lý Đại Viên Mãn, giảng rõ vài vấn đề và trả lời bất kỳ câu hỏi nào thật đầy đủ. Điều này hơi khác thường bởi kiểu mẫu của thầy trò chúng tôi là Ngài ban cho một ít giáo lý và sau đó tôi phát triển sự thiền định. Tôi nghĩ rằng đó là điềm lành và lý giải cho sự kiện đó là chẳng bao lâu nữa tôi sẽ xả thất. Khi Ngài ra về, Ngài cụng trán vào trán tôi, sự tạm biệt theo tục lệ giữa các lạt ma tôn kính lẫn nhau như những người ngang hàng.
Đêm đó Tromge Trungpa mời hai ni cô dùng bữa tối với Ngài. “Hãy làm món ăn thật ngon,” ngài nói với hai cô. Khi dùng bữa, họ thắp nhiều ngọn đèn bơ và thiền định một lát. Ngài chất vấn về thực hành của họ và hỏi họ có điều gì muốn được sáng tỏ không. Rồi ngài nói: “Mới đây ta mơ thấy một buổi hoàng hôn vàng. Có lẽ chẳng bao lâu nữa Situ Rinpoche sẽ mất. Những ai sùng mộ nơi ngài sẽ rơi nước mắt và đau buồn, nhưng 44
điều này cho thấy là họ không thông hiểu. Khi một lạt ma viên tịch, ngài thành tựu sự Giác ngộ và đây là lúc để cầu xin những sự ban phước chứ đừng khóc lóc, bởi sẽ có sự tăng trưởng tâm linh lớn lao vào thời khắc đó.”
Đã quá muộn, ngài bảo các sư cô ngủ trong phòng Ngài. Một sư cô không ngủ được, để ý là hơi thở của Tromge Trungpa không đều, như thể ngài thở dài nhiều lần. Sau một lát cô đi tới ngai của ngài để xem ngài có bình thường không. Đầu ngài ngoẹo sang một bên.
“Rinpoche, Rinpoche!” cô gọi khe khẽ. Khi ngài không trả lời, cô lay nhẹ ngài, rồi đánh thức sư cô kia và bảo cô chờ một lát
7- CUỘC HÀNH HƯƠNG
MỘT HOM, sau một thời gian ở Chagdud Gonpa, mười chín tu sĩ trẻ tới thăm tôi. Họ là những người tôi đã kết bạn trong chuyến đi đầu tiên của tôi tới Nyagrong, ngay sắp đi hành hương tới Trung tâm Tây Tạng như tục lệ của các nhà sư của Chagdud Gonpa.
Những năm trước, chúng tôi từng bàn về việc sẽ cùng đi với nhau.
Với vẻ trêu chọc, tôi hỏi: “Điều gì xảy ra cho việc hứa hẹn cùng nhau thực hiện chuyến du hành này? Quý vị sẽ đi mà không có tôi?”
Họ ngạc nhiên. Một người nói: “Chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng ngài thực sự đi cùng chúng tôi. Dĩ nhiên là nếu ngài có thể đi được thì chúng tôi thích đi với ngài hơn, bây giờ hay ngay cả trong một năm, bất kỳ lúc nào ngài sẵn sàng.”
Tôi không nghĩ tới ngay cả khả năng thực hiện, nhưng vào lúc đó, tôi cảm thấy một sự thôi thúc mạnh mẽ phải đi. “Tôi sẽ suy xét việc đó,” tôi nói với các nhà sư. Tôi gởi một lời khẩn cầu tới một lạt ma rất vĩ đại là Tulku Ado, khi ấy ngài đang nhập thất, để nhờ tiên đoán về chuyến du hành. Ngài gởi câu trả lời: “Đừng đi. Nyagla Padma Duddul đã thành tựu thân cầu vồng. Ngài không đi hành hương; ngài thiền định. Milarepa cũng đã đạt được giác ngộ là nhờ thiền định, chứ không phải sự hành hương. Lời khuyên của ta cho ông là đừng đi. Hãy thiền định.”
Bởi đã xin vị lạt ma tiên đoán nên tôi bị bắt buộc phải tuân theo lời khuyên của ngài, nhưng điều đó trái nghịch với sự mong muốn thực hiện chuyến đi của tôi, sự thúc ép của nó càng ngày càng mạnh mẽ. Tôi đã cầu nguyện mãnh liệt để xin sự dẫn dắt. Một đêm, đại Hộ Pháp Ekadzati xuất hiện với tôi và nói: “Ta là bà mẹ của Pháp Giới nền tảng và ta hát cho con nghe: Thời gian là sự vô thường và một vũ điệu của sự huyễn hoá. Công đức của các vị mặt-đỏ giờ đây đang suy hoại. Do những hứa nguyện bị gãy bể, một dòng suối độc của sự bất tịnh tràn ngập không gian. Ánh mặt trời của giáo lý của Đức Phật đang lu mờ. Nam tử, đừng ngồi ở đây. Hãy đi tới miền trung tâm. Các nơi chốn, xứ sở, tu viện –
tất cả là những thành phố huyễn hoá. Hãy cắt đứt sự dính mắc của con. Hayagriva và Vajrakilaya sẽ bảo vệ con; bà mẹ Arya Tara giữ gìn con như một đứa con. Những bậc giúp 45
đỡ con, những nhiếp chính sinh sanh-từ-hoa-sen, con sẽ nhìn thấy thường xuyên. Giáo Pháp Đại Viên Mãn là tài sản kế thừa của con và sẽ tới như thể từ cha tới con. Nhưng giờ đây là lúc mà con cọp hau háu ở phương đông sẽ chứng tỏ năng lực của nó – bây giờ hãy ra đi vượt qua chướng ngại này, trước khi móng vuốt của nó chộp lấy controng miền Kham.”
Tôi đã quyết định. Tôi chuẩn bị ra đi trong năm ngày.
…………………
Từ Riwoche chúng tôi phải vượt qua một đèo núi cao khác để tới miền Powo Chung Tola, một cái đèo khét tiếng với những cuộc lở tuyết. Có câu nói rằng nếu bạn tuyệt đối im lặng, vị thiên nữ của núi non sẽ chăm sóc các bạn chu đáo; còn nếu không, bạn sẽ rơi xuống sườn núi. Chúng tôi vượt qua con đường mà không nói một lời, ráng kềm chế sự thôi thúc kêu lên những lúc tuyết tan một phần để lộ ra những tử thi nhăn nhúm và xác thú nham nhở của những lữ khách bất hạnh và những đàn thú vật đã dám khiêu khích sự thịnh nộ của một trận lở tuyết.
Khi chúng tôi vượt qua sự hiểm nghèo của con đèo, tôi gởi các nhà sư đi trước để
dựng trại và pha trà, rồi tôi tiếp tục đi một mình, chậm rãi, tập tễnh bởi đầu gối và hông từng bị khoá chặt trong tư thế thiền định trong nhiều giờ từ khi còn rất nhỏ. Ở đó, trên những rặng núi cao, không gian thật yên tĩnh không có những tiếng khà khàn của các nhà sư . Phía sau một quãng, con đường tôi đang đi cắt một con đường khác. Một người đang đi xuống con đường thứ hai, tiến lạigần và đi cùng nhịp với tôi. Ong ta chỉ có một chân và phục sức kỳ lạ với một áo choàng không tay dệt bằng lông bò yak và một cái mũ thật đặc biệt. Chỗ chân bị mất được nâng đỡ bởi một cây gậy lớn, dáng đi của ông là những chuỗi nhảy nặng nề.
“Ong là ai và đi đâu?” tôi hỏi.
“Tôi là một người chăn thú và đang đi tìm một con yak đi lạc.”
Chúng tôi cùng đi không nói gì trong một lát; rồi tôi hỏi: “Ong có biết nhữngthánh địa ở miền Chung Tola? Tôi và một nhóm tu sĩ đang làm một cuộc hành hương từ tu viện của tôi ở Nyagrong tới Lhasa.”
“Ngài phải đi tới Padma Kod,” ông trả lời. Ong ta chỉ tay về phía những đỉnh núi và nói:
“Hãy đi theo con đường này cho tới khi ngài tới một tảng đá phẳng đứng thăng bằng trên một chóp núi. Ở đó có một kho tàng, và nó sẽ cho ngài những hướng dẫn để đi tới Padma Kod.
“Hiện nay Tây Tạng đang ở trong sự hiểm nguy ghê gớm,” ông tiếp tục. “Chắc chắn là nhiều tu viện sẽ bị phá huỷ và nhiều người sẽ chết, một số bởi một tai hoạ cấp kỳ, bất ngờ, một số do sự đói khát lần mòn. Nếu ngài không tin điều tôi nói, thì hãy quay về tỉnh Kham trong ba năm và ngài sẽ chứng kiến sự thực của những gì tôi vừa nói.” Ong đột ngột đổi hướng qua con đường khác và nói: “Bây giờ tôi phải đi sang ngả khác.” Dưới ảnh 46
hưởng của lời ông nói, tôi đứng bất động, nhìn chằm chằm lưng ông khi ông chầm chậm đi xuống con đường mòn. Rồi tôi đi theo con đường của mình để bắt kịp các nhà sư.
Khi tôi …………
……………..
8- ĐẠO SƯ CỦA TOI
MINDROLING KHANCHEN RINPOCHE khuyên bảo tôi về cuộc hành trình tới Samye của tôi và cuộc nhập thất mà tôi dự tính thực hiện tại một trong những cái hang gần tu viện. “Con cứ việc mượn một con ngựa của tu viện,” ngài nói.
“Cảm ơn ngài, nhưng sau khi đikhắp các nẻo đường từ Kham, con đủ mạnh để đi được ba giờ từ Mindroling tới Samye. Con sẽ để lại hầu hết vật dụng ở đây và chỉ mang theo một ít lương thực. Con sẽ mua phần thực phẩm còn lại của con ở đó.”
“Ồ không, con không được mang nhiều tiền. Miền đó khét tiếng bởi những bọn cướp, và thỉnh thoảng chúng giết người. Dầu sao chăng nữa, hầu như trong vùng không có thực phẩm để mua. Chớ lo lắng về sự trợ giúp con trong cuộc nhập thất. Ta biết một người bảo trợ rộng rãi sống trong vùng và ông ta sẽ vui lòng gởi thực phẩm cho con.”
Ngay khi tôi khởi hành tới Samye, tôi nhận ra rằng thật sai lầm khi gạt bỏ sự giúp sức của một con ngựa và không tính tới gánh nặng của ngay cả một gói thực phẩm nhỏ bé.Tôi phải mất hai ngày để vượt qua quãng đường mà bất kỳ người nào khác có thể đi trong một giờ. Tôi đi chậm một lát rồi nghỉ, cứ thế cho tới tối thì tới một nơi gần một con sông mà tôi phải vượt qua vào ngày hôm sau. Vị bảo trợ mà ngài Mindroling Khanchhen đề cập tới đang sống ở đây, nhưng tôi không muốn đi tới cửa nhà ông ta và yêu cầu được giúp đỡ. Thay vào đó tôi đi tới nhà của một người rất nghèo và hỏi tôi có thể qua đêm ở đó không.
“Ngài có thể ở lại, nhưng không thể vào nhà,” ông ta trả lời. “Nhiều kẻ cướp mặc áo choàng lạt ma, rồi ăn cắp bất kỳ thứ gì chúng muốn khi đã vào trong nhà.” Vì thế tôi ngồi trước cửa nhà ông, và sau một lát ông ta mang cho tôi một tô súp, tôi rất biết ơn về việc đó. Sau khi dùng súp, tôi bắt đầu làm thực hành của tôi. Khi ấy người chủ nhà biết tôi thực sự là một lạt ma và sau khi dọn dẹp căn nhà nhỏ, ông mời tôi vào nhà ngủ. Kiệt sức vì đi bộ, tôi đã ngủ ngon lành.
Sáng hôm sau, tôi đi xuống bờ sông, ở đó tôi gặp một lạt ma Khampa khác. Chúng tôi đi phà qua sông, và ở bờ bên kia, chúng tôi cùng đi với nhau bởi ông cũng đi chậm.
Đêm đó chúng tôi ngủ ở Zungkar Gonpa, nơi đáng nhớ bởi có năm stupa làm bằng đá cứng.
Cuối cùng, vào sáng ngày thứ ba khi tôi rời Mindroling Gonpa, chúng tôi thấy mình trên một đỉnh núi nhìn xuống một thung lũng sâu ở Samye. Con đường đi men theo bờ 47
thung lũng, vì thế tôi quay sang bạn đồng hành của tôi, tên ông ta là Lạt ma Naygo, và đề nghị chúng tôi bỏ con đường và cắt thẳng qua thung lũng.
“Tôi không nghĩ rằng đó là một ý kiến hay,” ông trả lời. “Hẳn phải có một sự hợp lý nào đó khiến những người đi trước chúng ta đã sử dụng con đường dài này.”
“Ý kiến có hay hay không thì bây giờ tôi cũng đang đâm thẳng qua,” tôi nói.
“Chúng ta có thể lại gặp nhau ở Samye.” Mỗi người chúng tôi đi theo lối riêng của mình và tôi nhanh chóng khám phá ra lý do vì sao con đường không đi thẳng tới tu viện. Thung lũng đầy cát khiến cho mỗi bước đi là cả một sự nỗ lực. Tuy nhiên cuối cùng thì tôi cũng tới cổng phía tây của Samye và đứng với sự khiếp sợ trước pho tượng cao khoảng 4,5m của Hayagriva, một hoá thân phẫn nộ của Đức Phật Amitabha. Điềm lành của việc đi tới cổng tây bằng con đường thẳng đã làm quên đi sự hối tiếc trước nỗi gian khó của chuyến đi. Pho tượng được tạc trong thời Đức Padmasambhava, do vua Trisong Detsen bảo trợ và khi nó được hiến cúng cái đầu ngựa màu xanh lá cây thò ra từ đầu Hayagriva thực sự hí lên.
Tôi vào bên trong và hỏi người giữ điện tôi có thể ở lại phòng thờ vài ngày không.
Với sự tốt bụng ông trả lời là tôi có thể ở bao lâu tôi muốn bước ra cùng với hành lý của tôi khi những người canh gác thực hiện phiên tuần tối của họ.
Ngày hôm sau tôi nghe nói rằng ngài Jidral Yeshe Dorje, tức Đức Dudjom Rinpoche, một trong những lạt ma vĩ đại của dòng Nyingma, đang ban những lễ quán đảnh Rinchhen Terdzod, một tuyển tập các thực hành được nhiều terton khám phá. Cảm thấy hết sức may mắn, tôi đi tới địa điểm ban các lễ quán đảnh. Tôi đi vào nhằm giờ nghỉ và tới gần Đức Dudjom Rinpoche để dâng cúng ngài một katag dài màu xanh dương.
“Ong là ai?” ngài hỏi. “Chúng ta đã gặp nhau trước đây chứ?” Giọng miền Trung Tây Tạng của ngài dịu dàng và phong thái thật tao nhã.
“Con là Chagdud Tulku ở Chagdud Gonpa miền Nyagrong và mẹ con là Delog Dawa Drolma.”
“Ồ, ta biết mẹ con!” ngài kêu lên và mời tôi tới thăm ngài tại trụ sở của ngài vào ngày hôm sau. Khi tôi tới ngài giới thiệu tôi với vợ ngài, bà Sangyum Kushog Rigdzin Wangmo, rằng tôi là con trai của Delog Dawa Drolma. Vị sangyum lập tức đứng dậy, đi tới bàn để thực phẩm cúng dường, hay tsog, lấy một cái đĩa tsampa ngọt được chạm trổ đẹp đẽ và đemlại cho tôi. Khi nhận lãnh, tôi cảm nhận rằng đây quả là một cơ hội quan trọng, và món tsog đã nuôi sống tôi trong vài ngày trong khi tôi nhận quán đảnh. Trong thời gian này tại Samye, tôi cũng gặp con trai của Ngài là Thinley Norbu Rinpoche.
Tuy nhiên, tôi còn ít lương thực và không mang theo tiền, tôi quyết định nhập thất lập tức trong khi còn tiền để thực hiện điều đó. Tôi hy vọng rằng người bảo trợ của tôi sẽ nhanh chóng gởi lương thực cho tôi. Tôi rời Samye đi tới những hang động gần đó ở 48
Chenpu và thiết lập đường ranh ẩn thất quanh một trong những cái hang, thệ nguyện là sẽ ở trong thất một tháng để hoàn tất một sự thực hành trường thọ.
Trong bốn ngày đầu, mỗi ngày tôi có một nắm tsampa nhỏ; vào ngày thứ năm tôi quyết định chia nắm tsampa thành bốn miếng và dùng trong bốn ngày nữa. Rồi thực phẩm của tôi đã hết, nhưng thực hành của tôi rất trong trẻo và mãnh liệt. Đêm đó tôi có giấc mơ đầu tiên trong một loạt các giấc mơ về các vị Hộ Pháp. Các ngài tự giới thiệu trong sự tràn đầy năng lực và vẻ lộng lẫy, và cam đoan rằng các ngài sẽ tìm được thực phẩm cho tôi, và tôi nên thực hành không cần bận tâm.
Sáng hôm sau có một tiếng gõ cửa, và khi ra ngoài tôi thấy ai đó đã để lại một món cúng dường gồm một ít trà và một miếng bơ. Sự cách biệt giữa giấc mơ kỳ lạ và món cúng dường nhỏ bé làm tôi hiểu ra rằng vì lý do nào đó tôi đã thiếu kém công đức. Tôi nhận ra rằng tôi sắp phải chịu đói trong thời gian nhập thất này, bởi không có công đức thì chẳng có cách nào để các Hộ Pháp hay những người nào khác hiển lộ một nguồn thực phẩm dồi dào cho tôi được. Sự mỉa mai của việc thực hiện thực hành trường thọ trong khi chết vì đói không mất đi trong tâm tôi.
Đêm đó tôi có giấc mơ tái cam đoan khác của các vị Hộ Pháp. “Chắc chắn là chúng tôi đang mang thực phẩm lại cho ông. Chớ có lo lắng.” Vào buổi sáng có một tiếng gõ cửa, và ở bên ngoài tôi thấy bảy củ khoai tây nhỏ. Mỗi ngày tôi ăn một củ, và khi hết khoai tôi có một giấc mơ khác và nhận một ít tsampa vào sáng hôm sau. Lúc này người tôi rất yếu, và khi món tsampa cuối cùng này đã hết, không có tiếng gõ cửa và vật cúng dường nào tiếp theo sau, và sự chết đói dường như sắp xảy ra. Tuy nhiên sáng hôm đó một lạt ma đã tới thăm tôi.
“Tôi ở một cái hang gần đây và đang thực hiện một cuộc nhập thất ba năm trì tụng lời cầu nguyện trường thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi nghe nói có một lạt ma Khampa ở đây và tôi muốn làm quen với ngài.”
Tôi mời ông vào và chúng tôi trò chuyện. Sau một lát ông nói: “Tới giờ ăn ngọ của ngài rồi, tôi phải đi thôi.”
“Đừng lo về bữa ngọ của tôi,” tôi nói. “Tôi không có lương thực nên chẳng có bữa trưa nào cả.”
Vị khách hết sức ngạc nhiên. Tôi giải thích rằng người bảo trợ của tôi không gởi lương thực tới và tôi đã để tiền bạc của mình ở Mindroling Gonpa. Vị lạt ma ra đi và quay lại để nấu nướng cho tôi. Ong ta làm một món súp với bánh bao bằng bột mì và một miếng thịt – một món thịt tôi thực sự ưa thích. Trong vài ngày sau đó ông chuẩn bị một món ăn hàng ngày cho tôi. Rồi thình lình thực phẩm của người bảo trợ đã tới cùng một bức thư ngắn bày tỏ sự ân hận to lớn vì ông ta đã quên khuấy tôi. Khi nhớ ra, ông lập tức tới Mindroling và được cho biết tôi đã đi hơn ba tuần trước. Ong gởi tới nhiều tsampa mà tôi 49
đã có thể chia sẻ với bất kỳ người nghèo khó nào đi ngang qua hang của tôi. Bây giờ tôi đã dư thừa lương thực để hoàn thành lời nguyện nhập thất của tôi.
Khi từ các hang động trở về Samye, tôi gặp Lạt ma Naygo, ngài cũng vừa hoàn tất một cuộc nhập thất, và chúng tôi cùng đi thăm hang thiền định của Gyalwa Chhogyang, một trong hai mươi lăm đệ tử của Đức Padmasambhava. Trong các t’hangka ngài Gyalwa Chhogyang luôn luôn được miêu tả cùng với đầu ngựa xanh lá cây của Hayagriva thò ra từ vương miện của ngài. Mặc dù hang của ngài thường được khoá lại, chúng tôi may mắn tìm được một cánh cửa mở và chúng tôi qua đêm ở đó. Đó là một cái hang kỳ diệu, hoàn toàn trống rỗng, những hòn đá nhẵn bóng. Sáng sau khi chúng tôi thức dậy, chúng tôi tìm thấy một chất lỏng lung linh trên vách hang. Bởi không có suối ở đó, Naygo và tôi nhận ra nó như chất cam lồ trí huệ và dùng nó như sự ban phước cho những cuộc nhập thất của chúng tôi.
Khi tôi trở về Samye, Đức Dudjom Rinpoche vừa hoàn tất sự giảng dạy khẩu truyền Dzod Dun, Bảy Kho tàng nổi tiếng của Longchenpa. Tôi tới đúng lúc để nghe nửa cuối của bản văn sau cùng và tham dự một buổi lễ cúng dường long trọng.Vì tới vào lúc cuối các buổi lễ đã diễn ra trong nhiều tuần nên tôi không tìm được ghế, phải ngồi trong các hàng sau. Vào lúc mọi người đứng lên, và nhờ đó tôi quan sát kỹ đám đông, tôi dẫm lên một tấm nệm.
“Bước ra khỏi nệm!”
Tôi nhìn quanh xem kẻ nào dám ra lệnh cho mình một cách thô lỗ và thấy mình đối diện với một nhà sư có dáng vẻ gây hấn. Điên tiết, tôi kéo giật nắm tay để giáng một quả đấm. May mắn thay, một sự tự chế nội tại đã kềm lại và tôi buông thõng hai tay. Ngay tức khắc tôi bị tràn ngập bởi sự ân hận khi nhận ra rằng tai hại biết bao khi đánh một thành viên trong Tăng đoàn tại một thánh địa là Samye trước sự hiện diện của Dudjom Rinpoche. Tôi lặng lẽ khẩn cầu các hiện thể trí huệ và sám hối lỗi lầm của tôi với sự hối hận chân thành, cầu xin nó sẽ được tịnh hoá nhờ ánh sáng và cam lồ trí huệ. Tuy nhiên, sự việc này không được tẩy sạch khỏi tâm tôi một cách đơn giản, và sau này trong các buổi lễ cúng dường tôi thường hồi tưởng với nỗi ân hận sâu xa rằng tánh khí của tôi đã đem tôi tới gần sự nhục nhã biết bao.
Sáng hôm sau Đức Dudjom Rinpoche chủ toạ một đám rước lớn gồm tám trăm người ở khu vực quanh Samye, và tất cả những báu vật của tu viện được trưng bày cho ngài. Tôi tới sớm và ngồi trong hàng ghế các lạt ma, ngay sát sau Đức Dudjom Rinpoche, và vì thế được nhìn thấy rõ những linh vật này. Cò đáng lưu ý hơn cả các báu vật là vị tiên tri của Samye. Một người bình thường xuất hiện từ sau một vách ngăn trong sân của tầng hai toà nhà chính. Bất thình lình, với một tiếng thét khủng khiếp ông ta ngất đi. Khi phục hối ý thức, thân ông đã bị chiếm giữ bởi vị Hộ Pháp đầy năng lực và hung tợn Tzimara, khuôn mặt ông méo mó, đỏ ké, tiếng nói gừ gừ trong cổ họng và lời lẽ thật lạ lùng. Với 50
một cái cúi chào thấp và dứt khoát, ông ngụ ý Đức Dudjom Rinpoche nên ngồi trên một chiếc ngai cao; sau đó vị tiên tri ngồi trên một cái ghế thấp cạnh ngài. Một thị giả đem tới cho vị tiên tri một chén vàng tuyệt đẹp đựng đầy rượu whiskey hiến cúng, ông ta vồ lấy và cung kính hướng về Đức Dudjom Rinpoche và dâng chén rượu cho ngài. Sau khi dùng một ngụm, Đức Dudom Rinpoche đưa cái chén lại cho vị tiên tri, ông ta nốc rượu thật nồng nhiệt với một ngụm duy nhất. Rồi vị tiên tri nói những lời lẽ thật khó đoán và dành cho tôi chứ không cho mọi người.
Cuối cùng thì ông đưa Đức Dudjom Rinpoche tới một cây cột ở giữa gian phòng nơi có một đồ vật nào đó – mà có người nói là một cái mặt nạ – được dấu trong một tấm vải.
Vị tiên tri giữ tấm vải để chỉ mình Đức Dudjom Rinpoche có thể thấy được bên trong; sau đó để mặc tấm vải tụt xuống phía sau, ông ta rơi vào trạng thái vô thức một lần nữa. Mặt ông biến sắc, thân thể mất sinh lực và khi hồi phục ý thức thì ông là một con người bình thường, yếu tới nỗi phải được dìu đi khi ra khỏi phòng.
Sau khi tham dự những hoạt động này, tôi trở lại các hang động ở Chenpu và nhập thất thêm hai tháng nữa, như Lạt ma Naygo đã làm. Khi hoàn tất cuộc nhập thất, chúng tôi cùng du hành tới Lhasa.
ĐEM ĐẦU TIEN ở Lhasa, Lạt ma Naygo và tôi ở trong một căn nhà của một người bạn xứ Kham của ông. Chúng tôi đi tới điện Jowo và thiền định trước pho tượng nổi tiếng ở đó. Trên đường trở về tôi hoàn toàn bị lạc trong cảnh hỗn độn của các phố lẻ và lối đi ở Lhasa cho tới khi nhớ được tên của ngôi nhà gần nhà chúng tôi, tôi bèn quay trở lại. Ngày hôm sau tôi đi tới nhà của Pomda Tsang, một trong những đệ tử củaTulku Arig, và hỏi ông ta xem tôi có thể ở đó không.
“Ngay bây giờ thì Khandro Dorje đang ở trong phòng khách,” ông trả lời, “nhưng tôi sẽ hỏi khandro xem ông có thể ngủ ở giường dành cho khách trong phòng không.” Ong rời đi và vài phút sau quay lại nói với tôi là Khandro Dorje đồng ý với sự sắp xếp này.”
Tôi không thể còn niềm vui nào hơn thế nữa. Khandro Dorje là một học giả và thiền giả rất nổi tiếng, và cũng như Tulku Arig, ông là đệ tử của Khandro Ngaga. Đối với tôi thì cơ hội được ở đây trong sự hiện diện của vị lạt ma vĩ đại này thì hết sức tốt lành. Nhưng cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi thì lại có một bài học thật bình thường. Bà chủ nhà, bà Cham Padmala chào hỏi và chỉ cho tôi phòng khách, nơi Khandro Dorje và tôi được giới thiệu với nhau. Sau đó bà bảo gia nhân mang trà cho chúng tôi. Bây giờ ở miền Đông Tây Tạng, khi bạn uống trà, tách của bạn được rót đầy lập tức và tiếp tục cho tới khi bạn tỏ ý là đã uống đủ bằng cách uống cạn tách trà và liếm sạch nó.
Dựa trên tập quán này, tôi nhận tách trà từ người tớ, anh ta chờ một lát rồi đi mất trong nửa giờ. Trong thời gian đó tôi đã quyết định là mình chỉ được mời một tách trà và không rót đầy lại – một vi phạm không thể tha thứ được trong phép xã giao ở xứ Kham –
51
vì thế tôi uống trà và liếm sạch tách của mình. Trước sự ngạc nhiên của tôi, người đầy tớ trở lại và lại rót đầy các tách của chúng tôi, đứng chờ và lại biến mất.
Lúc này, trước khi tôi uống, Khandro Dorje nói: “Tục uống trà ở miền Trung Tây Tạng khác với phong tục của người Khampa chúng ta.” Ngài đã từ Kham tới Lhasa bảy hay tám năm trước. “Lúc đầu khi ông nhận trà, ông đừng uống. Người đầy tớ đi và khi quay trở lại, ông thổi nhẹ miếng bơ và uống nửa tách trà. Người đầy tớ rót đầy và lại đi ra.
Khi người ấy quay lại, ông thổi vào miếng bơ, uống một nửa tách trà, và tách sẽ được rót đầy. Mỗi lần người đầy tớ tới ông hãy lập lại tiến trình. Khi không muốn uống nữa thì ông uống trà nhưng đừng bao giờ, đừng bao giờ liếm sạch cái tách.”
Sau này khi tôi đã trở thành một thành viên của gia đình, cả nhà thường trêu chọc tôi về việc tôi tới đây và cách tôi liếm sạch tách trà.
Tôi ở đó khoảng một năm và có thể nghe Khanpo Dorje giảng dạy mỗi ngày. Phẩm tính của một vị thầy của ngài thì vô song nhờ ở vốn hiểu biết và kinh nghiệm thiền định phong phú. Ngài hoàn tất kỳ nhập thất cô tịch trong mười hai năm. Sự hoàn hảo của thực hành của ngài được minh hoạ bằng một câu chuyện. Ngài từng nhập thất ba năm và đạt được nhiều dấu hiệu phi thường của sự thành tựu – các linh kiến, tiên tri, các giấc mộng tốt lành và sự chứng ngộ chân tánh của thế giới vật chất mà những định luật của nó không còn chi phối được ngài nữa. Nhưng khi khảo sát tâm thức mình với sự trung thực nghiêm ngặt, ngài không thoả mãn với những khuôn mẫu cảm xúc và hiểu biết mà ngài đã nhận thức. Ngài ra thất và nhận lãnh những giáo huấn Đại Viên Mãn về bản tánh của tâm một lần nữa, lần này là từ Khandro Ngaga. Rồi ngài trở về ẩn thất để hoàn toàn thấu suốt những gì đã nghe, và ngài đã được thoả mãn.
Lòng tốt của Khandro Dorje đối với tôi thật vô bờ bến. Tôi nương tựa nơi sự truyền dạy của ngài để kích động sự thấu hiểu của riêng tôi về bản chất của tâm thức, và sự truyền dạy ấy thì không thể sai lầm – nó sâu xa siêu vượt những giới hạn của ngôn từ, tinh tế, và cuối cùng, nó hoàn toàn đơn giản, giống như bản thân của tâm tuyệt đối.
Một hôm chúng tôi cùng tản bộ qua những đường phố ở Lhasa tới một khu hoả thiêu cũ. Khu đất này đã mọc lên những ngôi nhà, nhưng trong một cái sân vẫn còn một tảng đá lớn, bằng phẳng mà trước đây thịt các tử thi được chặt thành những miếng nhỏ và cho những con chim kên kên ăn như một tặng vật. Khandro Dorje ngồi xuống tảng đá và nói:
“Tulku, hãy đi mua ít chang.” Chang là loại bia Tây Tạng.
Tôi đi tới cửa hàng bán bia chang, mua một hộp lớn và mang về. Khandro Dorje lôi ra một cái ly nhỏ từ chuba của ngài, tôi rót đầy và ngài uống cạn. Tôi lại rót đầy ly và ngài trao ly bia cho tôi. Bởi lòng tôn kính, tôi không đặt môi vào ly mà đổ bia vào bàn tay và uống. Đó là lần đầu tiên tôi thưởng thức bia chang kể từ cuộc nhập thất ba năm ở Tromt’har và nó rất ngon – không hề xa rời sự tốt đẹp, sự hoàn thiện toàn hảo của giây phút được uống chất cúng dường từ chiếc tách của vị thầy của tôi.
52
“RINPOCHE, ngài có nghĩ giờ đây vẫn còn cơ hội để lật ngược sự thống trị của người Trung Quốc đối với dân tộc ta?” Đôi khi tôi suy nghĩ kỹ lưỡng về hành đông chúng tôi nên làm liên quan tới sự chiếm đóng của người Trung Quốc, và bây giờ tôi muốn thổ lộ vấn đề với Khandro Dorje.
“Không,” ngài trả lời. “Tôi cho rằng bây giờ chắc chắn là đã quá trễ để lật ngược lại tình hình. Tám hay chín năm trước thì còn hy vọng. Một vài đại lạt ma đã đưa ra những lời khuyên về những gì cần làm để ngăn ngừa các chướng ngại từ bên ngoài và khắc phục sự mất đoàn kết từ bên trong. Nhưng lời khuyên của các ngài không được biết tới. Dân chúng sẽ phải chịu rất nhiều đau khổ.”
“Ngài không tin rằng chính quyền Trung Ương Tây Tạng sẽ có thể duy trì một nền hoà bình nhờ sự thương thuyết?”
“Không? Còn ông?”
“Không. Con nghĩ rằng người Trung Quốc đã ăn hết nửa miếng thịt của họ và đang tiêu hoá nó trước khi ăn nốt phần còn lại. Con cho là chính quyền Lhasa đã không biết gì về tham vọng nuốt chửng xứ Kham và không thấy được rằng miền Trung Tây Tạng sẽ là miếng mồi kế tiếp.” Tôi ngừng lại trước khi cơn giận và tâm trạng thất vọng mà tôi cảm thấy trở nên hoàn toàn hiển hiện trước vị thầy của tôi. Dù sao chăng nữa thì ngài cũng đã nhìn thấy điều đó.
“Mọi sự luôn luôn biểu lộ trên mặt con,” ngài bình luận. “Tập quán này của con sẽ không làm các sự việc dễ dàng hơn đối với con. Sẽ tốt đẹp hơn nếu như con có thể thay đổi nó.” Rồi ngài hỏi tôi nghĩ là chúng tôi nên làm gì.
“Con nghĩ chúng ta nên di chuyển tới Padma Kod.” Tôi không bao giờ quên cuộc gặp gỡ với người đàn ông một chân bí ẩn trên ngọn đèo và việc ông thúc giục tôi đi tới Padma Kod, cũng như không quên bản văn của gia đình tôi - trong đó có tiên tri của Đức Padmasambhava được một terton khám phá – nói rằng trong những thời đại đen tối, Padma Kod sẽ là một thánh địa.
Khandro Dorje vạch ra rằng sẽ không dễ dàng khi định cư trong một nơi không có dân cư như Padma Kod và ngài cũng đã quá già không thể trợ giúp cho một công việc như thế. Vào lúc đó ngài hơn bảy mươi tuổi.
………………….
KHANPO DORJE có nhiều sách, tượng và pháp khí quý báu khác cần phải dời đi.Tôi đóng gói và sắp xếp một số để vận chuyển tới Kongpo, cách đây một ngày đường đi bằng xe vận tải. Ở đông nam Lhasa và phía bắc Padma Kod, Kongpo là một miền rừng núi rậm rạp được phân hai bởi con sông lớn Tsangpo. Sông Tsangpo chảy về phía đông hàng trăm dặm xuyên qua cao nguyên Tây Tạng trước khi cắt về phía nam tới Ấn Độ, ở 53
đó nó được biết với tên Brahmaputra. Không có cầu, nó vẫn là một chướng ngại vật thiên nhiên để major những sự di chuyển của quân đội, và trong một thời gian ngắn đã đem lại sự che chở ở bờ nam của nó cho những người Tây Tạng đang chuẩn bị tái định cư hay trốn chạy.
Khi tới Kongpo, tôi để ý thấy các lán trại của những người Khampa tị nạn. Tôi biết là sự hiện diện của họ ở Kongpo gây phiền toái cho cả dân địa phương lẫn quân đội Trung Quốc. Khắp xứ Tây Tạng, người Khampa bị mang tiếng là hoang dã và có khuynh hướng trộm cướp, mặc dù họ có những phẩm tính can đảm, trung thành, vui vẻ, và nhiều đức tin.
Với người Trung Quốc thì họ nổi danh là những chiến sĩ dữ tợn trong chiến tranh và không thể thuần hoá trong hoà bình.
Ở bờ nam của sông Tsangpo tôi tìm thấy một ẩn thất nhỏ trên một sườn núi. Tôi sửa chữa và mở rộng nó phòng khi Khanpo Dorje tới, rồi thực hiện mười sáu ngày nyung-nay, một thực hành tịnh hoá đòi hỏi phải hoàn toàn ăn chay, kể cả không được uống các chất lỏng trong mỗi ngày.
Trước khi tôi rời Lhasa tôi đã đề nghị Khanpo Dorje là thời gian tôi ở Kongpo có thể
được trải qua trong ẩn thất. Về điều này ngài đã trả lời: “Không phải là lúc để ông nhập thất. Giờ đây ông phải giảng dạy, bởi giáo lý của Đức Phật sẽ vô cùng lợi ích cho những người sống trong những thời đại khó khăn sau này.” Cùng với điều này trong tâm, tôi bắt đầu ra khỏi ẩn thất để giảng dạy, ban các quán đảnh và cử hành các buổi lễ.
Khi mùa đông tới gần, một lạt ma khác, ngài Kham Wang Tulku, và tôi thực hiện một drubchhen Vajrakilaya, hay thực hành về “đại thành tựu.” Bổn tôn thiền định Vajrakilaya là một biểu lộ phẫn nộ của lòng từ bi và trí tuệ. Hành giả tuân theo thái độ bấtkhuất của Vajrakilaya và sử dụng những thiện xảo của sự thiền định và nghi lễ để tịnh hoá hoàn toàn những độc chất của tham, sân, si, tánh ganh tị và kiêu ngạo. Khi những độc chất bên trong này được tẩy trừ thì những phản chiếu bên ngoài của chúng như những kẻ thù, bệnh tật và những hoàn cảnh xấu của đời sống bình thường cũng được quét sạch.
Vào lúc đó, khi những người Tây Tạng bị đe doạ bởi quân đội Trung Quốc thì những người trong chúng tôi là những Lạt ma cần đem những phương pháp tịnh hoá tới cho càng nhiều người càng tốt. Chúng tôi không hy vọng rằng cuộc xung đột dữ dội đã lướt qua miền Đông Tây Tạng và đang vươn tới Lhasa sẽ bị đẩy lui ở Kongpo nhờ những buổi lễ tôn giáo, cho dù các lễ lạc có vĩ đại tới đâu. Đúng hơn, chúng tôi hy vọng rằng đối với những người tham dự các buổi lễ, các nguyên nhân nghiệp báo bởi việc đã từng kinh qua bạo lực sẽ được tịnh hoá. Chúng tôi hy vọng rằng họ sẽ có thể đối xủ với các lực lượng thù địch trong chiến tranh một cách khéo léo, không tạo nên sự thù hận. Chúng tôi hy vọng rằng công đức được phát sinh trong buổi lễ sẽ che chở cho họ, còn nếu họ chết thì họ sẽ tìm thấy được sự giải thoát.
54
Khanpo Dorje tới Lhasa sau buổi lễ Vajrakilaya và sống với tôi trong ẩn thất trong sáu tháng kế tiếp. Một năm rưỡi đầu tiên đó ở Kongpo thật hết sức vừa ý. Nó đánh dấu một thời kỳ khi tôi có thể phụng sự mọi người và đạo sư tôn kính của tôi, và trong miền đất đó, đó là một thời kỳ của sự an bình tương đối và sự toàn vẹn trong lanh vực văn hoá và tôn giáo.
Vào mùa xuân, Kham Wang Tulku, ba vị lạt ma khác và tôi tổ chức một drubchhen Guru Rinpoche có bảy trăm người tham dự. Chúng tôi cùng trì tụng mười triệu lần thần chú Guru Rinpoche. Mặc dù không rõ ràng vào lúc đó, buổi lễ rông lớn này đánh dấu một bước ngoặt đối với tôi và bốn vị lạt ma. Người Trung Quốc e sợ chúng tôi có thể tập hợp quá nhiều người. Họ không tin là động cơ của chúng tôi hoàn toàn có tính chất tôn giáo và bị hoang tưởng về sự tổ chức chính trị hay kháng cự quân sự của chúng tôi. Họ không hành động lập tức trên sự hoang tưởng của họ, nhưng khi họ làm, tôi và những lạtma khác phải sống như những con cáo lẩn trốn những người thợ săn.
ĐẦU MÙA XUAN NĂM 1958, trong khi tuyết vẫn còn phủ dầy trên các ngọn núi, tôi cùng với bảy người khác thám hiểm Padma Kod và lập một kế hoạch xây dựng lại hoặc trốn thoát, việc nào cần thiết thì sẽ làm. Padma Kod ở phía nam Kongpo, nằm trên cao bên kia những ngọn đèo của rặng Hymalaya. Nó luôn luôn là một miền thưa dân với nhiều thung lũng không người ở và những cánh rừng sâu đã trở thành vùng rừng gần biên giới Ấn Độ. Tuy nhiên, bây giờ dân chúng đang bắt đầu tái định cư ở đó, hy vọng tránh được sự chiếm đóng của quân Trung Quốc mà vẫn sống trong xứ Tây Tạng.
Bởi trong năm, những vụ lở tuyết đã là một nỗi nguy hiểm ghê gớm, và nhiều người đã cảnh báo chúng tôi đừng đi. Cuối cùng tôi nói rằng tôi sẽ chờ những dấu hiệu trong các giấc mơ. Một hoặc hai đêm sau tôi mơ thấy tôi chợt thấy hai cái hồ và một tảng đá có hình dáng giống như một bình trường thọ, nó có vẻ rất tốt lành. Ngày hôm sau tôi hỏi vài người thợ săn có bao giờ họ tình cờ gặp những thứ có đặc điểm tự nhiên như thế không. Họ nói họ biết một đường mòn xuyên qua núi cắt giữa hai cái hồ, nhưng họ chưa bao giờ gặp một hòn đá như cái tôi mô tả.
Mọi người cảm thấy sẽ an toàn nếu vượt đèo bằng con đường mòn này, vì thế chúng tôi bắt đầu lên đường. Một vị lạt ma khác tên là Kat’hog Ontrul Rinpoche went on the expidition. Ngài rất mạnh mẽ và mang vác nặng. Những người khác cũng vác nặng. Còn tôi, bị trở ngại bởi cả đời không có khả năng đi bộ nên chỉ mang độc nhất một cuộn đồ ngủ.
Tuyết dày từ bốn mét rưỡi cho tới sáu mét, và những ngọn cây trông như các bụi cây nhỏ ló lên mặt đất. Chúng tôi đi xuyên qua địa thế có hai cái hồ và vượt qua một sườn dốc đóng băng dài. Ở đó, ngay cả cuộn đồ ngủ của tôi cũng có vẻ nặng nề phiền toái đến nỗi tôi cởi ra và đẩy nó chạy theo sườn dốc, tưởng rằng nó sẽ trượt dọc theo chỗ quanh tự 55
nhiên của ngọn núi và rơi gần con đường chúng tôi đang đi ở bên dưới. Thay vào đó, nó đổi hướng sang một góc độ hoàn toàn khác và biến mất bên kia vách đá. Một sự yên tĩnh nặng nề bao trùm không gian. Có lẽ nửa nhóm của chúng tôi ngạc nhiên tại sao tôi vứt đồ dùng của mình đi và nửa nhóm thì tự hỏi tôi đang làm gì. Rồi có người nói: “Cư ùđi xuống con đường mòn. Có một gờ đá ở phía dưới và chúng ta có thể uống trà và tìm hiểu điều đang làm.”
Con đường mòn đột ngột uốn cong, và từ gờ đá chúng tôi có một tầm nhìn bao quát toàn thể vách đá. Trongkhi những người khác bận rộn nhặt gỗ để đốt lửa và chuẩn bị món trà thì tôi và một người nữa nhìn lướt qua vách đá để tìm cuộn đồ ngủ của tôi. Thình lình anh ta la lên: “Tulku, con thấy nó rồi!” Tôi theo hướng nhìn của anh ta và ngạc nhiên khi thấy nhô ra khỏi vách núi là một tảng đá trông giống một cái bình trường thọ một cách lạ lùng – hòn đá trong giấc mơ của tôi.
Một tia nước nhỏ chảy ra từ đỉnh hòn đá, và gần tia nước mọc lên một cây con.
Cuộn đồ ngủ của tôi bị vướng vào cành cây. Chúng tôi nỗ lực làm một tấm đệm bằng cành cây để băng qua tuyết và dùng giây thừng leo qua vách núi lên tới hòn đá để lấy cuộn đồ ngủ. Thật hết sức phấn khích khi nhìn thấy tảng đá trường thọ bởi tôi cảm thấy được bào chữa cho việc phiền phức mà tôi đã gây ra.
Ở Padma Kod chúng tôi tìm thấy một thung lũng không có người ở thích hợp cho việc định cư, sau đó vất vả xuyên núi trở về yên ổn.
………..
CONG VIỆC CỦA KHANPO DORJE ở Lhasa kéo dài hơn điều ngài mong muốn và trong thời gian người Trung Quốc siết chặt sự kềm kẹp của họ trên thành phố đã gây khó khăn cho việc ra đi của ngài.
Cuối cùng khi ngài tới Kongpo, ngài kín đáo trú ngụ trong một khu rừng trên núi ở bờ bắc Sông Tsangpo và giảm bớt những hoạt động truyền bá Giáo Pháp bên ngoài của ngài để khỏi thu hút sự chú ý của quân đội Trung Quốc. Quân đội đang củng cố lực lượng ở bờ bắc, nhưng che dấu thực lực của họ. Sự hiện diện của họ tạo nên một bầu không khí ngột ngạt đầy bất trắc, giống như một dã thú khổng lồ ẩn mình trong bóng tối, chỉ hiện thân rành rành trong những vụ bắt bớ tuỳ tiện và những cuộc xô xát bạo động thường xuyên gia tăng.
Ba người Khampa quyết định cùng tôi đi thăm Khanpo Dorje. Tuy nhiên, vào ngày chúng tôi cùng đi thì tôi thức dậy trong một tâm trạng nặng nề khiến thậm chí tôi không muốn họ nhìn thấy mặt mình. Tôi giả bộ ngủ, và khi họ không thể đánh thức tôi ra khỏi giường , họ quyết định là tôi bị bệnh và ra đi mà không có tôi. Khi họ đi rồi tôi bắt đầu cảm thấy khá hơn. Tôi ăn điểm tâm, chất vật dụng lên ngựa và khởi hành cùng một thị giả.
56
Chúng tôi đi về hướng đông dọc theo con sông, để lại ngựa tại một gia đình sống gần nơi thuyền đậu rồi vượt quabờ bắc của con sông. Khi tôi tới nhà Khanpo Dorje, ba người kia đã có maạ¨t ở đó. Mặc dù mối ác cảm mạnh mẽ không thể giải thích được mà tôi đã trải qua ban sáng, tôi không cảm thấy sự thù hận riêng tư đối với bất kỳ ai trong bọn họ. Chính yếu là tôi hết sức sung sướng được gặp lại Khanpo Dorje, vui mừng vì ngài đã ra khỏi Lhasa và cư trú ở Kongpo, nơi tôi có thể trợ giúp ngài trong trường hợp khẩn cấp.
Tin tức ngài mang tới thật buồn thảm. Chiến trận đã lan tới Trung tâm Tây Tạng chỉ cách Lhasa vài dặm. Vẻ ngoài yếu ớt của sự thoả hiệp của người Trung Quốc đã bị phá bỏ, và rõ ràng là những kẻ xâm lược đã sẵn sàng đòi hỏi mọi yêu sách để bành trướng.
Không có cách nào để tiên đoán vào thời điểm nào hay over which issue có thể xảy ra việc người Trung Quốc phá vỡ sự kềm chế của họ và tháo tung toàn bộ sự điên cuồng của quân đội họ, nhưng dường như điều ấy không thể tránh khỏi.
Về phần tôi thì cũng thế, tin tức không có gì tốt đẹp. Những người tị nạn Khampa ở Kongpo không được người dân địa phương yêu mến. Một ít trong số đó thì thô lậu, đòi hỏi lương thực cùng chỗ trú ngụ, và đã xảy ra những vụ trộm cắp. Vài người dân Kongpo phàn nàn với người Trung Quốc, và người Trung Quốc thích thú vì tìm được lý do nên đã bắt đầu bắt bớ người Khampa một cách bừabãi. Khanpo và tôi đều là người Khampa, và các lạt ma Khampa phải chịu nguy hiểm đặc biệt vì người Trung Quốc e sợ khả năng kích động sự kháng cự của những bà con thân thuộc của họ. Cũng có những tiếng đồn là người Trung Quốc đặc biệt muốn bắt tôi bởi vai trò của tôi trong việc tổ chức lễ drubchhen Guru Rinpoche năm tháng trước. Tôi đã muốn tái định cư lập tức tại Padma Kod nhưng Khandro Dorje không đồng ý nên chúng tôi phải chờ, do đó chúng tôi không có kế hoạch đặc biệt nào. Ngài không giải thích lý do trì hoãn cho tôi, và mặc dù trong thâm tâm tôi cảm thấy một sự mất tinh thần nào đó nhưng niềm tin của tôi vào trí tuệ của ngài lớn tới nỗi tôi không nài nỉ.
Buổi chiều ngày thứ ba của cuộc thăm viếng, tôi đi tới một tu viện lân cận và đặt một khăn katag trắng trước hình tượng của từng vị Hộ Pháp. Tận đáy lòng, tôi đã cầu xin sự bảo hộ – tôi nguyện cầu ánh sáng của Giáo Pháp không bị dập tắt trong thời đại tăm tối này, nguyện cầu những phẩm tính của riêng tôi không bị hư hỏng khi đối mặt với áp bức và bạo lực, cầu xin những lợi lạc mà đạo sư tôn quý của tôi và những bậc trì giữ sự chứng ngộ khác đem lại cho nhân loại không bị suyhoại, và cầu nguyện cho dân tộc Tây Tạng không bị tiêu diệt bởi cái chết và sự vô minh.
Một trạng thái yên bình phủ chụp lấy tôi. Sự mâu thuẫn với người Trung Quốc, nỗi lo sợ cho thân quyến ở tỉnh Kham, những tương tác của tôi với mọi người, cuộc hôn nhân của tôi, nỗi lo âu về Khandro Dorje, mối đe doạ bị bắt bớ, vận mệnh của Tây Tạng – mọi sự dường như không thực, thoáng qua, như mộng huyễn bào ảnh, và tự sâu thẳm tâm hồn tôi nhận ra được bản tánh như mộng của mọi sự.
57
Vào giây phút đó, tôi cảm thấy sự bám níu vào hy vọng và sợ hãi chùng xuống, sự nhỏ hẹp của tâm thức bình phàm của tôi lơi lỏng vào giác tánh rộng mở, không bị tạo tác.
Tôi rời tu viện với một cảm thức tràn đầy những ân phước lớn lao.
Đêm đó ở nhà Khadro Dorje tôi có một giấc mơ. Một con ngựa đỏ khổng lồ tiến tới và hí vang như sấm, bảy kỵ mã ngồi trên lưng nó. Một trong bảy người nắm chặt tay tôi, kéo tôi lên lưng ngựa và nói: “Giờ thì mọi sự đều tốt lành.” Và chúng tôi phi ngựa lên trời.
Sáng hôm sau ba người bạn và tôi lập chương trình đi thăm một làng bên kia sông và từ nơi đó chúng tôi cùng đi với nhau. Chúng tôi khởi hành bằng những con đường khác nhau sau khi đã để ngựa lại tại những chỗ đậu thuyền khác nhau ở bờ nam của con sông.
Những năm về trước ở đây từng có một con thuyền lớn làm bằng hai thân cây rỗng một lúc chở được bốn mươi người và một ít ngựa, nhưng một người say rượu cãi lộn trong lúc vượt sông đã làm nó bị cuốn trôi theo dòng nước. Không ai chết đuối nhưng chiếc thuyền bị mất tích và bây giờ chỉ còn rải rác những chiếc thuyền nhỏ đang neo đậu.
Ở bờ phía nam của con sông vị thị giả và tôi đi ngược lên ngôi nhà nơi con ngựa được nhốt trong chuồng. Gia đình này luôn luôn rất thân với tôi, nhưng khi họ mời tôi thì một cảm giác bất ổn phủ chụp lên tôi và tôi từ chối, nói với họ là tôi sẽ ngồi trong sân. Họ mang lại ch tôi một chai bia chang lớn; tôi uống và chợp mắt một thời gian dài. Thị giả của tôi đánh thức tôi dậy và nói: “Tulku, đã muộn rồi. Chúng ta nên qua đêm ở đây hoặc đi ngay bây giờ.”
“Tôi không muốn ở đây. Ta đi thôi,” tôi trả lời. Chúng tôi ra đi – ngay trước mặt quân Trung Quốc đang tìm kiếm người Khampa, as it turn out – và đi cho tới khi trời thật tối. Chúng tôi tới một căn nhà của một gia đình khác mà tôi biết rất rõ, và không quấy rầy ai chúng tôi qua đêm ở đó. Sáng hôm sau vào khoảng năm giờ rưỡi tôi nghe một tiếng súng. Cách đó khoảng một trăm thước Anh (khoảng 90m), quân Trung Quân đã bắn và giết chết một nhà sư đang trên đường đi tới tu viện của ông ta.
Tôi lên đường sớm và đi ngựa tới ngôi làng nơi tôi đã gặp ba người bạn Khampa.
Thình lình có tiếng gọi mình: “Tulku! Tulku! Xin chờ!” Đó là một trong ba người bạn, một người chất phác, anh ta chạy tới tôi, hơi thở hổn hển và đầy cố gắng.
“Tulku! Ngài phải tới! Họ đã bắt giam ba người chúng tôi và một người nữa, và họ sẽ không thả chúng tôi ra trừ phi ngài bảo đảm cho chúng tôi!”
“Điều gì xảy ra?” Tôi hỏi.
“Đêm qua chúng tôi quyết định cắm trại bên bờ sông. Sau khi chúng tôi chia tay với ngài ở nhà Khanpo Dorje, một người khác nhập bọn với chúng tôi và chúng tôi dựng một cái lều, đem một ít bia chang và một miếng thịt lớn và đốt lửa để quay thịt. Chúng tôi vừa mới uống bia, kể chuyện và thưởng thức món thịt thì một toán tuần tra Trung Quốc tới và hỏi chúng tôi đang làm gì. Chúng tôi nói chúng tôi chỉ cắm trại cho tới khi lên đường vào sáng hôm sau. Họ nói chúng tôi nói dối và buộc tội chúng tôi là những tên cướp Khampa.
58
Thoạt tiên chúng tôi không nghĩ rằng họ nói nghiêm túc bởi họ không có bất kỳ lý do nào để gọi chúng tôi là những tên cướp, nhưng sau đó họ nói họ đang bắt cướp và chúng tôi phải đi theo họ.
“Chúng tôi nói: “Chúng tôi không phải là những kẻ cướp và nếu các ông cần hỏi ai để back us up, xin hãy hỏi Chagdud Tulku. Ngài biết rõ chúng tôi và vừa ở với chúng tôi ngày hôm qua. Ngài có thể cho các ông biết chúng tôi là ai.”
“Hẳn là họ chấp nhận điều ngài nói về chúng tôi, Tulku, nhưng họ đã bắt giam hai người kia trong đồn. Họ cho tôi đi bởi tôi có thể tìm được ngài và nhờ ngài tới đồn bảo đảm cho chúng tôi.”
“Anh biết là sẽ chẳng ích lợi gì!” Tôi kêu lên. “Thực ra thì anh không thể tin họ muốn tôi tới đồn chỉ để bảo đảm cho các anh trong một trường hợp they’ve trumped up themselves và sau đó họ sẽ thả tự do cho tất cả chúng ta!”
“Ồ, Tulku, sẽ lợi ích chứ. Ngài phải tới để họ thả chúng tôi. Nếu không thì ai biết được điều gì sẽ xảy ra?”
Tôi chăm chú nhìn anh ta. Tôi không thể tin được, nhưng tôi thấy rằng anh ta thực sự chấp nhận những ý đồ của người Trung Quốc theo giá trị bên ngoài. Chính sự ngu ngốc của anh ta đã thuyết phục tôi là tôi phải đi tới đồn, bởi nếu tôi không làm thế, anh ta sẽ cảm thấy bị phản bội như một đứa trẻ mà cha mẹ nó từ chối bảo vệ nó thoát khỏi điều hãm hại.”
“Nếu đây là những gì anh thực sự mong muốn,” cuối cùng tôi nói, “thì tôi sẽ đi tới đồn. Anh đi trước, tôi sẽ sắp xếp vài việc ở đây rồi sẽ đi theo.” Người đàn ông phấn khởi ra đi, và tôi chuẩn bị để thị giả của tôi đưa ngựa về nhà và nhắn tin tức của tôi cho những người bảo trợ. Vị thị giả khuyên tôi không nên đi, nhưng tôi không nghe. Ong từ giã tôi với vẻ buồn rầu và lên đường.
Tôi lại băng qua bờ bắc của con sông một lần nữa, và khi bước lại gần bờ sông tôi chợt thấy một đứa bé với ba con ngựa. Tôi hỏi nó đang làm gì thì đứa bé trả lời: “Con đang chờ người Trung Quốc. Hôm qua con gặp vài người lính, họ ra lệnh cho con hôm nay mang những con ngựa tới chỗ này và đợi họ.”
“Bây giờ chắc họ không tới đâu. Con cũng có thể trở về nhà,” tôi khuyên. Chúng tôi cùng đi bộ từ con sông tới con đường và đi dọc theo con đường tới một đường nhỏ. Chúng tôi đi thật chậm, không nói gì và khi nhìn lên thì thấy vài người lính đang tới gần. Đứa bé lập tức hoảng sợ và chạy trốn vào rừng. Toán lính Trung Quốc bị báo động bởi hành động khả nghi của đứa bé đã tiến tới chĩasúng vào tôi.
“Ai đi với ông?” người chỉ huy hỏi.
“Đó là người giúp việc của chính các ông. Nó đang chờ các ông ở bên sông cùng những con ngựa này, và tôi nói với nó có lẽ các ông không tới, vì thế chúng tôi cùng đi với nhau. Thậm chí tôi cũng không biết nó là ai.”
59
“Ong là ai?” họ hỏi.
“Chagdud Tulku. Tôi đang đi tới đồn các ông để xác nhận vài người bạn mà các ông đã bắt đêm hôm qua.”
“Tốt. Giờ thì hãy gọi thằng bé trở lại.”
Hướng vào rừng tôi la to, bảo đứa bé là không có gì phải lo. Nó đã leo lên cây và giao ngựa cho người Trung Quốc. Khi họ lên ngựa, tôi nhờ họ mang dùm tôi cái túi đựng vật dụng cá nhân để khỏi phải vác theo trong khi đi bộ. Nhận cái túi, họ bảo tôi cứ đi tới đồn và phi ngựa phía trước tôi. Chúng tôi tiếp tục đi cho tới khi đứa bé rẽ về phía nhà nó.
Đồn lính Trung Quốc cách bờ sông khoảng mười dặm và đi bộ luôn luôn là một công việc cực khổ đối với tôi. Với lại trời cũng nóng nữa. Tôi đi và nghỉ, đi rồi lại nghỉ, và tiến rất chậm. Khi tôi ngồi bên bờ đường thì một ông già đi tới và hỏi tôi đi đâu. “Tôi nói:
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks