Trang 1 trong 4 1234 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 64

Ðề tài: ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC

  1. #1

    Mặc định ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC

    ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC




    Nguyễn Thái Hợp, O.P.

    Bài đăng ở tập san Định Hướng

    Bản góp ý của Hội Đồng Giám mục Việt Nam gởi Thượng Hội Đồng Giám mục Á châu đã có những nhận định sâu sắc và tích cực về các truyền thống tôn giáo tại Á châu: “Giáo hội Việt Nam nghĩ rằng cần phải quan niệm lại cách thức loan báo Tin Mừng cho các dân tộc Á châu. Trước hết, vì lục địa Á châu không phải là vùng đất hoang vu mà chúng ta có thể gieo trồng bất cứ giống gì. Trái lại, đây là vùng đất của những tôn giáo và của những nền văn hóa lâu đời hơn nhiều so với Âu châu.

    Ở đây vốn đã sẵn có một vũ trụ quan, một nhân sinh quan và một quan niệm tôn giáo rất phong phú và còn khá vững chắc. Tại đây, phần lớn người ta không phải là không biết đến Thiên Chúa, trái lại, họ cũng đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Người một cách nào đó và gọi Người bằng những tên khác nhau như là Trời, là Thiên, là Brahman v.v... Do đó, “truyền giáo” không phải là giới thiệu một Thiên Chúa, một Đức Kitô hoàn toàn xa lạ, mà một cách nào đó, có thể nói là “làm sáng tỏ cái đức sáng” (minh minh đức) vốn đã hiện hữu tiềm tàng hay là giúp cho người ta “ngộ” được cái chân lý, mà theo Công đồng Vatican II, phần nào đã có trong các tôn giáo khác, đặc biệt là của Á châu”.

    Chính từ chiều hướng cởi mở và trong viễn tượng đối thoại liên tôn đó, chúng ta sẽ cùng nhau suy nghĩ về mối tương quan giữa Đức Kitô với những con đường cứu độ khác. Đứng trên phương diện đối thoại liên tôn phải thành thật công nhận rằng việc khẳng định niềm tin nơi Đức Kitô như Đấng Cứu độ phổ quát và duy nhất là một vấn đề thần học vừa khẩn thiết, vừa gai góc nhất.

    1. Quan niệm về cứu độ

    Trước khi phân tích mối tương quan giữa Đức Kitô với những con đường cứu độ khác, thiết tưởng cần viết đôi hàng về quan niệm cứu độ hay cứu rỗi. Có thể nói “cứu độ” là một quan niệm phức biệt và dị nghĩa, nhưng hiện diện hầu như trong tất cả các tôn giáo. Nếu được phép đơn giản hóa vấn đề, chúng ta có thể thu gọn vào một kinh nghiệm nền tảng: được cứu độ là được giải thoát khỏi một nguy hiểm có thể gây đau thương và chết chóc. Tùy theo bản chất của nguy hiểm mà hành vi cứu độ được hiểu như bảo vệ, cứu chữa, cứu chuộc hay giải thoát. Tùy theo truyền thống tôn giáo, cứu độ lại được hiểu như cảm nhận cuộc sống sung mãn, được giải thoát hay giác ngộ, đạt tới mức độ viên mãn, tự thực hiện, hạnh phúc vĩnh cửu, kết hợp với Thực Tại Tối Hậu.

    Chính từ kinh nghiệm nhân bản và những kiểu nói để diễn tả kinh nghiệm đó mà mạc khải đã sử dụng để trình bày một trong những chương trình quan trọng nhất của Thiên Chúa đối với nhân loại: Thiên Chúa cứu độ loài người ngang qua Đức Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất. Tin Mừng của Đức Kitô được định nghĩa như “lời cứu độ” (Cv 13,26) công bố trước tiên cho người Do thái, sau đó cho chư dân (Cv 13,47). Để được cứu độ con người phải tin vào Đức Kitô (Cv 16,30t; Mc 16,16) và kêu cầu Danh Ngài. Đối diện với hồng ân cứu độ, Do thái và dân ngoại đều giống nhau: chẳng ai có thể tự cứu mình, chỉ duy “ân sủng của Đức Kitô sẽ cứu độ họ” (Cv 15,11).

    Đối với truyền thống Kitô giáo, cứu rỗi trước hết là được vượt qua những lỗi lầm, bất tất và hữu hạn của cuộc đời để tham dự vào sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa. Theo kiểu nói của thánh Augustinô, đối với thụ tạo, Thiên Chúa là hạnh phúc, sung mãn, mục đích cuối cùng. Được thông hiệp với Ngài là được tất cả, là thiên đàng, là cứu độ. Mất Ngài, là đánh mất tất cả, là trầm luân, là địa ngục. Kinh Thánh Kitô giáo dùng nhiều hình ảnh và ẩn dụ để diễn tả trạng thái được cứu độ: yến tiệc, hôn lễ, đời sống vĩnh hằng, bất tử, không còn bị hủy hoại, ánh sáng, bình an, an toàn, toại nguyện, viên mãn, hài hòa với mọi thụ tạo, trở về nhà Cha, quê hương đích thực, hiển trị với Thiên Chúa, diện kiến Ngài, tham dự sự sống vĩnh hằng và nhiệm mầu của Thiên Chúa, hiệp thông trọn vẹn với các thiên thần, anh chị em đồng loại và vũ trụ vật chất.

    Đây là một tiến trình cần sự đóng góp của con người, nhưng tự sức con người không bao giờ có thể thực hiện được. Nếu một số tôn giáo trình bày cứu độ như một nỗ lực tự giải thoát của chính con người, Kitô giáo luôn xác quyết cứu độ là một hồng ân. Chính Đức Kitô giải thoát con người và Ngài là Đấng Cứu Thế duy nhất.

    Thần học Kitô giáo xác quyết đồng thời hai quan niệm căn bản có vẻ như đối chọi nhau: hồng ân cứu độ phổ quát của Thiên Chúa và vai trò đặc biệt của tự do nhân loại trong việc thực hiện chương trình cứu độ. Thánh Augustinô tóm lược ý tưởng trên qua một câu nói đã trở thành cổ điển: “Thiên Chúa dựng nên bạn không cần đến bạn, nhưng Ngài sẽ không cứu độ bạn nếu không có sự cộng tác của chính bạn”. Nói rõ hơn, hồng ân và lời mời gọi của Thiên Chúa luôn đợi chờ câu trả lời ưng thuận của con người. Nhưng chấp thuận có câu trả lời tự do tức là đã giả thiết khả năng chối từ. Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do chọn lựa của con người, ngay cả trong những gì liên hệ đến vận mạng của đời họ. Dù vậy Thiên Chúa vẫn cương quyết thực hiện chương trình cứu độ của Ngài. Bất chấp mọi trở ngại, ý định cứu độ phổ quát của Ngài vẫn tồn tại, ngay cả trong trường hợp phải đối đầu với sự chối từ và lầm lỗi của con người.

    Theo cái nhìn lạc quan của các Giám mục Việt Nam, “đối với quần chúng Á Đông, từ “cứu rỗi” hàm ý cuộc giải thoát (libérateur) mang ít giá trị hoặc có ý nghĩa hàm hồ, họ cũng không coi trọng lắm ý nghĩa luân lý qua việc tẩy xóa tội lỗi, nhưng trong suy nghĩ của chúng tôi thì chính lòng nhân từ, thương xót của Thiên Chúa mới có tác động thực sự trên các tâm hồn(...). Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người rất thích hợp với tâm hồn Á Đông. Một Thiên Chúa đầy lòng yêu thương nhân từ, một Thiên Chúa ở giữa loài người, chia sẻ thân phận con người và gánh vác những nỗi khổ đau của nhân loại, rất gần với niềm tin tưởng và chờ đợi của những con người vốn quen hướng tới khuôn mặt từ bi của Bồ Tát như Quan Thế Âm chẳng hạn.

    “Chính trong Đức Kitô mà Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết Ngài là Cha của mình. Vì thế mà chúng tôi dám khẳng định rằng sự “cứu rỗi” đối với người Á Đông sẽ là một cuộc giao hòa toàn diện: thông qua phép Thánh Tẩy, con người được đưa vào trong mối tương quan với Thiên Chúa là Cha trong người Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô; và trong sự sống thần linh thật phong phú của “tình Con” đối với Thiên Chúa, họ mở rộng và liên kết với toàn thể gia đình nhân loại trong “tình Huynh Đệ” đại đồng”.

    2. Vai trò độc sáng của Đức Kitô

    Truyền thống Kitô giáo luôn đề cao và xác quyết vai trò trung gian cứu độ của Đức Kitô. Nhưng từ sau Công đồng Vatican II, Giáo hội Công giáo cũng công nhận giá trị tích cực của các tôn giáo khác trong nhiệm cục cứu độ. Làm sao nối kết hai xác quyết có vẻ trái ngược đó? Phải chăng vấn đề căn bản ở đây là nên hiểu như thế nào “vai trò trung gian duy nhất” của Đức Kitô và đâu là mối tương quan giữa Ngài với những khuôn mặt cứu độ khác?

    Trước hết cần xác định ý nghĩa của từ “trung gian”. Tân ước dùng hạn từ “trung gian” (mesitès) vừa nói về Đức Giêsu (1 Tm 2,5; Dt 8,6; 9,15; 12,24) vừa ám chỉ Maisen (Gal 3,19- 20). Tuy cùng dùng một chữ, nhưng hai trường hợp này có ý nghĩa khác nhau. Maisen được gọi làm “trung gian” giữa Thiên chúa và dân tộc của ông để thiết lập Giao ước theo sáng kiến của Thiên Chúa. Đức Kitô, trái lại, là Đấng “trung gian” giữa Thiên Chúa và nhân loại, vì nơi Ngài thiên tính và nhân tính đã kết hợp chặt chẽ: “qua biến cố nhập thể của Đức Kitô, trong một mức độ nào đó Con Thiên Chúa đã kết hợp với mọi người”.

    Truyền thống cũng quan niệm sứ vụ “trung gian” của Đức Giêsu-Kitô mang tính độc đáo và duy nhất. Suốt dọc Tân ước, con người của Đức Kitô luôn được đặt nổi và được trình bày như nguồn hy vọng lớn lao cho lịch sử nhân loại. Tước hiệu vương giả bằng tiếng Arameo của Ngài là “Mar”, nghĩa là Vua, Đức Chúa. Theo truyền thống kỳ cựu nhất của Kitô giáo, có tương quan chặt chẽ giữa biến cố của lịch sứ của Đức Giêsu Nazareth với sự hiện diện của Nước Trời. Chính Ngài là vị “ngôn sứ chung kết” và là “Đức Chúa phải đến”. “Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến”, đó là một âm hưởng lời kinh Do thái–Arameo còn khá đậm nét nơi một số bản văn Tân ước.

    Trong nhiều bản văn Tân ước, chúng ta thoáng gặp, dưới dạng thức này hay dạng thức khác, xác tín sâu xa rằng ơn cứu độ cho tất cả đến từ Thiên Chúa, qua trung gian của con người Giêsu Nazareth. Các bản văn trực tiếp đề cập đến vai trò trung gian duy nhất của Đức Giêsu là lời tuyên bố của ông Phêrô trước Thượng Hội đồng: “Chính Ngài là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. Ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4, 11-12).

    Thơ thứ nhất gởi ông Timothê cũng xác quyết: “Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1Tm 2, 5-6). Và chính Đức Kitô đã tuyên bố với các môn đệ: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6).

    Chúng ta có thể trích dẫn thêm những bài ca tán tụng trong thư của thánh Phaolô. Chúng ta đọc thấy trong thư gởi giáo đoàn Ephesô những dòng sau: “Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu. Trong Thánh Tử, nhờ máu Ngài đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Ngài” (Ep 1,5-7).

    Như vậy, Thiên Chúa chỉ là Một, vị trung gian giữa Ngài với nhân loại cũng chỉ là Một (1 Tm 2,5). Ngoài Ngài ra, chẳng còn ai khác có thể cứu độ chúng ta, “bởi vì dưới bầu trời này không còn danh hiệu nào khác nhờ đó chúng ta được cứu độ” (Cv 4,12). “Ngài chỉ vào cung thánh một lần thôi và đã lãnh được ơn cứu độ vĩnh viễn cho chúng ta”(Dt 9,12). Chính Ngài đã long trọng tuyên bố: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không ngang qua Thầy” (Ga 14,6).


    Thánh kinh cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của đức tin và phép thanh tẩy để được cứu độ: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và thần khí” (Ga 3,5). Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Đức Kitô đã quả quyết: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Tính duy nhất của Đức Giêsu-Kitô được biểu lộ rõ rệt qua niềm tin sâu xa của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi và đã trở thành nguồn sức mạnh nội tại cũng như lẽ sống của cộng đoàn này.

    Nhưng phải chăng chủ trương vai trò trung gian cứu độ của Đức Kitô đương nhiên bao hàm quan điểm loại trừ mọi hình thức trung gian khác? Nếu như vậy số phận những người ngoài Kitô giáo sẽ ra sao? Tất cả những người ăn ngay ở lành, nhưng vì một lý do nào đó chưa nghe biết Tin Mừng hay chưa gia nhập Đạo Chúa sẽ bị luận phạt hay sao? Không lẽ Thiên Chúa, Đấng giàu lòng từ bi nhân hậu và cũng là “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1Tm 2,4) lại đối sử với những người ngoài Kitô giáo như thế hay sao? Chúng ta phải hiểu và giải thích những bản văn này như thế nào trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo hôm nay?

    Tất cả những khúc mắc của vấn đề có lẽ tùy thuộc cách hiểu và giải thích vai trò trung gian của Đức Kitô trong nhiệm cục cứu độ. Trước đây, người ta thường hiểu “vai trò trung gian” này theo nghĩa “duy nhất tính”, độc nhất, tuyệt đối khép kín và loại trừ. Với hướng đi của Vatican II, chúng ta có thể duy trì đồng thời vai trò trung gian của Đức Kitô với sự hiện diện của những con đường cứu độ khác.

    Bản góp ý của Hội đồng Giám mục Việt Nam gởi Thượng Hội đồng Giám mục Á châu cũng nhìn thấy điểm khó khăn nhất ở đây chính là vấn đề Kitô học: “Nếu trong bối cảnh đa diện của các tôn giáo và các nền văn hóa ta nhận ra hoạt động của Thần khí Chúa dẫn đưa các dân tộc Á châu tới Đức Kitô và Tin Mừng cứu rỗi của Ngài, thì một trong những vấn nạn lớn nhất được đặt ra cho công việc rao giảng Tin Mừng tại Châu Á là “làm cách nào Giáo hội tại châu Á có thể giải thích về Đức Giêsu-Kitô Cứu Chúa, Cứu Chúa duy nhất, Đấng Trung gian cứu độ duy nhất, khác biệt hẳn với các vị sáng lập các tôn giáo lớn tại Á châu?”(IL. 30).

    Đồng thời Bản góp ý của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề nghị giải thích vai trò trung gian của Đức Kitô như sau: “Chúng tôi hiểu từ “duy nhất” (seul, unique) không theo nghĩa loại trừ (exclusive), nhưng trong tính ưu việt, tuyệt hảo (excellent) của nó . Như thế người Á Đông, trong vũ trụ quan và khát vọng tìm kiếm một sự hài hòa vô song giữa Thiên-Địa-Nhân, tìm thấy ơn cứu độ duy nhất và tuyệt hảo nơi Đức Kitô, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài họ nhận lại được sự giao hòa toàn diện với Thiên Chúa là Cha, với anh em đồng loại và với vũ trụ vạn vật. Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định, ước gì họ tìm thấy, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước. Một Kitô học như thế, không những không thể phủ nhận vai trò Cứu Chúa duy nhất của Đức Kitô, mà còn có thể mở ra một ý niệm hiệp thông đầy sinh động”.

    Khoa chú giải Thánh kinh hiện đại cũng cho thấy ngôn ngữ tôn giáo hoặc ngôn ngữ dùng để tuyên xưng niềm tin là một loại văn thể riêng, có cơ cấu ngữ học khác với thứ ngôn rõ ràng và chính xác của khoa học. Hình thức diễn tả của các bản văn Tân ước về vai trò trung gian của Đức Kitô thuộc loại “văn hóa cổ điển” (classicist culture) chứ không thuộc loại “văn hóa lịch sử” (historical culture). Theo “văn hóa cổ điển” sự thật được quan niệm là duy nhất, vĩnh cửu, bất biến... Do đó, những gì được quan niệm là đúng, là thật đều mang đặc tính duy nhất, vĩnh cửu, bất biến và trở thành qui phạm cho mọi cái khác.

    Lòng tin cũng thường được diễn tả bằng những xác tín có tính cách tuyên xưng cam kết (confessional language) và qua hình thức ngôn ngữ mang nặng tính quyết liệt, sống chết (survival language). Thứ ngôn ngữ này thuộc lãnh vực tình cảm, tâm lý và luân lý hơn là khách quan, triết lý và siêu hình. Nó thường hiểu và diễn tả bằng những hạn từ như “tuyệt đối”, “duy nhất”, “vô song”. Dù rằng không thể xếp những bản văn tôn giáo vào lối văn hùng biện, loại văn bóng bẩy hoặc trữ tình, chúng ta gặp thấy nơi đây nét tương đồng và phảng phất chút âm hưởng tuyệt đối, bất khả phân ly, độc nhất vô nhị của ngôn ngữ tình yêu. Chẳng hạn khi một chàng trai si tình thề nguyền với người yêu: “Em là hoàng hậu của lòng anh”, “ngàn đời anh chỉ yêu một mình em thôi” hay “đối với anh, em là người phụ nữ đẹp và đáng yêu nhất đời”.

    Người ta cũng cho rằng trong bối cảnh huyền bí Do thái giáo, mang nặng màu sắc thế mạt, đương nhiên được coi là hợp lý đối với Giáo hội tiên khởi giải thích kinh nghiệm về Thiên Chúa nơi Đức Giêsu–Kitô như là kinh nghiệm sau cùng, quyết định và tối hậu. Nhưng tâm trạng thế mạt này tự bản chất đã bị giới hạn bởi chiều kích văn hóa, tôn giáo và lịch sử. Nó mang nặng dấu vết lịch sử của một bối cảnh văn hóa cá biệt của một thời đã qua. Nếu Kitô giáo nguyên thủy được khai sinh hay tiếp xúc với một bối cảnh văn hóa khác, với quan điểm về tâm linh và lịch sử khác biệt hơn, có lẽ sẽ có một cái nhìn khác hơn.

    Cuối cùng có người cho rằng trong bối cảnh lịch sử đặc biệt mà Kitô giáo đã khai sinh và phải đương đầu, thật tự nhiên đối với các môn đệ giới thiệu con đường của Đức Kitô như là con đường duy nhất và tối hậu. Đây là một thứ ngôn ngữ thuộc loại “sống còn”, hoặc thứ ngôn ngữ tình yêu, có khả năng động viên các tín đồ triệt để bước theo Thầy. Trong mọi trường hợp, thứ ngôn ngữ tuyệt đối này chịu ảnh hưởng sâu đậm của môi trường lịch sử đã khai sinh ra nó, nên cần được làm sáng tỏ hơn trong bối cảnh đa phức tôn giáo.

    R. Bernhardt đúc kết tất cả các thể loại ngôn ngữ thế mạt, huyền bí, biểu tượng, sống còn và sứ điệp tình yêu nói trên dưới đề mục “tuyên xưng và tán tụng”. Theo ông, các bản văn của Tin Mừng không phải là tiểu luận siêu hình về vĩnh cửu tính và tuyệt đối tính của Thiên Chúa, được mạc khải bởi Đức Kitô, mà là những bản tuyên tín về Đức Kitô của các môn đệ. Các bản văn này không thể hiểu như nguyên tắc siêu hình học về thực tại thần linh, mà là như một kinh nghiệm hiện sinh của một thái độ dấn thân. Đây là một biểu hiệu của lòng tin vô điều kiện và niềm hy vọng không thể lay chuyển giữa một hoàn cảnh đầy thất vọng.

    Những lời tuyên tín này trước tiên nhằm diễn tả chiều sâu và tầm quan trọng về mối tương quan cá biệt với Thiên Chúa bất chấp những đe dọa bên ngoài. Sức mạnh của Thiên Chúa được viện dẫn để chống lại quyền lực trần thế. Hầu như người ta có thể nói sức mạnh của Thiên Chúa được kêu gọi, khẩn cầu. Như vậy, cái gọi là cao vọng của Thánh kinh về tuyệt đối tính chỉ thuần túy là những lời nguyện cầu hay tuyên tín công khai để nói với những người áp bức cũng như những người bị áp bức và đồng thời để tâu lên Thiên Chúa. Trong dụng ngữ thần học, nó mang tính chất tuyên xưng và tán tụng. Nếu tách rời nó khỏi hoàn cảnh lịch sử đã khai sinh ra nó, tổng quát hóa nó và sử dụng nó để kết án các tôn giáo ngoài Kitô giáo, sẽ làm biến chất ý nghĩa đặc thù của nó.

    Qua những trình bày ở trên, chúng ta cần hiểu duy nhất tính của Đức Kitô không theo nghĩa tuyệt đối khép kín, mà cũng chẳng hoàn toàn tương đối, nhưng đồng thời sẽ là thiết định, tuyệt đối và tương quan. Theo quan điểm Kitô giáo, thiết định có nghĩa là mầu nhiệm giáng sinh, chết và sống lại của Đức Kitô mang một ý nghĩa tròn đầy và phổ quát trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại. Chính nơi đây ta gặp thấy dấu ấn giữa Thiên tính và nhân tính, một gạch nối tuyệt vời và độc nhất vô nhị. Đây là con đường độc sáng mà Thiên Chúa đã chọn lựa để mạc khải sứ điệp tình thương và chia sẻ thân phận làm người với mọi người.


    Hạn từ “tương quan” muốn nói lên cách thế trình bày và hiểu ý nghĩa phổ quát của biến cố Đức Kitô trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đặc biệt trong viễn tượng đa phức tôn giáo, hạn từ này muốn diễn tả mối tương quan giữa “con đường độc sáng” được thực hiện nơi Đức Kitô với những “con đường cứu độ khác”, được truyền thống các tôn giáo Á châu giới thiệu cho tín đồ của họ.

    Theo thần học Kitô giáo, chỉ duy Thiên Chúa cứu độ con người. Không một người nào hay một tôn giáo nào, kể cả Kitô giáo, có sức cứu độ. Do đó “con đường” hay “những con đường cứu độ”, nếu có, là do Thiên Chúa hoạch định, chứ không thể hoàn toàn do sáng kiến hay khả năng của con người. Từ đó vấn đề căn bản sẽ được đặt ra: trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa, ngoài “con đường độc sáng” được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô có còn “con đường nào khác” nữa không? Nếu còn, những con đường sau này sẽ tương quan với “con đường duy nhất” của Đức Kitô như thế nào? Nói rõ hơn, làm sao niềm tin Kitô giáo vào hiệu năng phổ quát của ơn cứu độ nơi Đức Kitô không tương phản với sự hiện diện của những giá trị tích cực nơi các con đường khác?

    Nói cho cùng, câu hỏi sinh tử ở đây sẽ là: tín đồ các tôn giáo khác được cứu độ từ bên ngoài và bất chấp truyền thống tôn giáo của họ hay ngược lại được cứu độ trong chính truyền thống tôn giáo của họ? Nếu chấp nhận giải pháp thứ hai này, thần học về tôn giáo phải giải thích như thế nào vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô và vai trò cứu độ của các tôn giáo khác? Nếu có nhiều con đường cứu độ khác nhau, thì sự kiện đa diện về cứu độ có nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa hay không? Cuối cùng khi chấp nhận sự hiện diện của nhiều con đường cứu độ phải chăng chúng ta đã tương đối hóa vai trò cứu độ của Đức Kitô?

    3- Có chăng nhiều con đường cứu độ?

    Cho đến những năm gần đây, thần học Công giáo còn khá nhiều do dự để chấp nhận sự hiện diện nhiều con đường, cách thế hay phương tiện cứu độ, tương tự như con đường mà thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu-Kitô. Nói một cách tổng quát, còn rất nhiều ngần ngại và do dự trước quan điểm cho rằng các tôn giáo khác cũng có thể là “con đường” qua đó Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô tiếp xúc và chuyển giao ơn cứu độ cho các tín đồ ngoài Kitô giáo.

    Công đồng Vatican II xác quyết rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa không những “bao hàm tất cả những ai nhận biết Đấng Tạo Hóa”, mà còn nới rộng tới “những ai vô tình chưa nhận biết Thiên Chúa một cách rõ rệt, nhưng tìm kiếm Ngài với tâm hồn chân thành và dưới sự hỗ trợ của ân thánh Chúa cố gắng sống một cách chính trực theo sự hướng dẫn của lương tâm”. Tiến thêm một bước nữa, Công đồng cũng nhìn nhận những giá trị tích cực trong các truyền thống tôn giáo ngoài Kitô giáo, nhưng vẫn chưa chính thức nhìn nhận các tôn giáo này như những “con đường cứu độ”. Những bản văn chính liên quan đến vấn đề này là Hiến chế “Ánh sáng muôn dân” số 16- 17, Tuyên ngôn về “Thời đại chúng ta”(Nostra Aetate) số 2 và Sắc lệnh “Ad Gentes” các số 3, 9 và 11.

    Xem ra giá trị cứu độ tích cực mới được qui định cho các cá nhân, chứ chưa đề cập đến tập thể tôn giáo hay văn hóa, mà các cá nhân này là thành phần. Tuy nhiên một khi đã nhìn nhận giá trị tích cực nơi các tín đồ ngoài Kitô giáo, đương nhiên đã gián tiếp nhìn nhận gía trị tích cực nơi các truyền thống tôn giáo và văn hóa của họ. Từ đó sứ vụ rao giảng Tin Mừng không phải để phá đổ mà nhằm làm triển nở “tất cả những gì thiện hảo trong tâm hồn và tư tưởng con người hoặc trong các lễ nghi và văn hóa của họ” (Lumen Gentium, 17). Do đó, tất cả những gì thiện hảo, đã được gieo trong tâm hồn con người hay trong các tôn giáo và văn hóa của các dân tộc sẽ không bị hủy diệt, mà được thanh lọc, thăng tiến và hoàn thiện hóa (Ad Gentes, 9).

    Khi Công đồng nhìn nhận những yếu tố “chân lý và ân sủng” chứa đựng trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo “như một hiện diện huyền diệu của Thiên Chúa” (AG., 9) phải chăng đã gián tiếp coi các tôn giáo này như những “con đường” cứu độ? Phải chăng chính sự hiện diện của “Lời hạt giống” (AG., 11,15) trong các tôn giáo là nguyên nhân của thái độ trân trọng của Giáo hội đối với các tôn giáo này?

    Theo hướng đi của Công Đồng, tài liệu của Văn phòng cho những người không thuộc về Kitô giáo, công bố năm 1984, đã đúc kết và khai triển những giá trị tích cực của các tôn giáo khác: “...Các nghị phụ của Công đồng xác quyết rằng, trong truyền thống tôn giáo không Kitô giáo, có những điều “chân thiện” (LG.16), những “yếu tố quí báu, tâm linh và nhân bản” (GS. 92), những “truyền thống chiêm niệm” (AG.9), “các hạt giống của Ngôi Lời” (AG.11,15), “một tia sáng của Chân lý chiếu soi mọi người” (NA.2). Theo các xác quyết minh nhiên của Công đồng, tất cả những giá trị này được qui tụ nơi các truyền thống tôn giáo lớn của nhân loại. Do đó các truyền thống tôn giáo này đáng được các Kitô hữu chú ý và trân trọng. Gia tài tinh thần của các tôn giáo là một lời mời gọi đối thoại hữu hiệu không những ở những điểm tương đồng, mà ngay cả ở những điểm tương phản”.

    Nói chung Công đồng đã khai mở một hướng đi mới không những về vấn đề cứu độ đối với những người ngoài Kitô giáo xét như là cá nhân, mà còn thiết lập một tương quan tích cực giữa Giáo hội với các tôn giáo khác. Tuy nhiên nếu Công đồng có cái nhìn lạc quan về viễn tượng cứu độ của mỗi cá nhân, hình như cái nhìn cởi mở đó vẫn chưa được chính thức áp dụng cho các tôn giáo. Ngoài ra ngôn ngữ dị nghĩa của một số bản văn đã cho phép nhiều lối giải thích khác nhau, thậm chí tương phản nhau.

    Giữa khóa 2 và khóa 3 của Công đồng, đức Phaolô VI công bố thông điệp “Ecclesiam suam”(6.8.1964) trình bày lịch sử cứu độ như một cuộc đối thoại liên tục giữa Thiên Chúa với nhân loại và vai trò của Giáo hội là tiếp nối cuộc đối thoại này. Thông điệp chia cuộc đối thoại nói trên làm bốn cấp độ: đối thoại giữa Giáo hội với thế giới; đối thoại với tín đồ các tôn giáo khác; đối thoại với các Giáo hội Kitô khác và cuối cùng đối thoại trong nội bộ của Giáo hội. Đối với cuộc đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, thái độ của thông điệp khá dè dặt và thận trọng. Mặc dù chấp nhận “những giá trị tinh thần và luân lý của các tôn giáo ngoài Kitô giáo”, thông điệp còn khẳng định xác tín cổ truyền theo đó “tôn giáo đích thực và duy nhất là Kitô giáo, với ước vọng làm sao tất cả mọi người kiếm tìm và tôn thờ Thiên Chúa sẽ công nhận điều đó ”.

    Tông huấn “Evangelii nuntiandi” cũng của giáo chủ Phaolô VI công bố năm 1974, được coi là một bản đúc kết nội dung của Thượng hội Đồng giám mục về rao giảng Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Trong Thượng Hội đồng có nhiều đề nghị tích cực về đối thoại liên tôn và yêu cầu xét lại thái độ của Kitô giáo đối với các tôn giáo khác. Tài liệu chuẩn bị Thượng Hội đồng của Liên hiệp Hội đồng giám mục Á châu, chẳng hạn, đánh giá rất cao các truyền thống tôn giáo tại lục địa mênh mông này. Các giám mục Á châu công khai tuyên bố: “chúng tôi chấp nhận các truyền thống tôn giáo Á châu như những yếu tố có ý nghĩa và tích cực trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa” (số 14). Tuy nhiên những đề nghị và ý kiến thuộc loại này hầu như đã không có một âm vang nào trong Tông huấn.

    Từ lục địa Á châu, nhiều người đã lấy làm tiếc vì quan điểm có vẻ giật lùi và khép kín này. Chẳng hạn Tông huấn đã không lấy lại quan điểm của Tuyên ngôn “Thời đại chúng ta” về mối tương quan giữa Giáo hội với các tôn giáo khác; không hề đề cập đến sự hiện diện của Thánh linh trong đời sống tôn giáo của những người ngoài Kitô giáo; hoàn toàn im lặng trước những đề nghị cởi mở của các Giám mục Á châu và những nghiên cứu của thần học về các tôn giáo. Có người nghĩ rằng Tông huấn xây dựng cuộc đối thoại trên một căn bản thần học quá xưa và không còn được chấp nhận trong viễn tượng đa phức tôn giáo. Hầu như không đưa ra một câu trả lời tích cực nào cho những thách đố của sứ vụ truyền giáo Tin Mừng tại Á châu.

    Đóng góp đặc biệt nhất của giáo chủ Gioan Phaolô II cho nền “thần học về các tôn giáo” có lẽ là xác quyết sự hiện diện tích cực của Thánh linh trong đời sống tâm linh của tín đồ các tôn giáo khác. Ngay trong thông điệp đầu tiên “Đấng Cứu độ nhân loại”(1979), ngài tự vấn: “Phải chăng một vài lần niềm tin kiên cường của tín dồ các tôn giáo khác – mà thực sự niềm tin này cũng phát xuất từ Thánh Thần chân lý, Đấng tác động ngay cả bên ngoài ranh giới hữu hình của Nhiệm tích- làm cho người Kitô hữu phải hổ thẹn, bởi vì thường xuyên nghi ngờ chân lý do Thiên Chúa mạc khải và được Giáo hội loan truyền”[1].

    Chấp nhận sự hiện diện của Thánh linh ở bên trong cũng như bên ngoài Giáo hội, đức Gioan Phaolô nhìn thấy nơi các tôn giáo khác “những phản ảnh của chân lý duy nhất, các hạt giống của Ngôi Lời” (RH.11) đang dẫn dắt nhân loại về một hướng duy nhất, bất chấp những con đường chọn lựa có khác biệt nhau đến đâu chăng nữa.

    Đặc biệt trong “Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình tại Assisi”, sau khi chứng kiến sự kiện tất cả các tham dự viên cầu nguyện cho hòa bình theo căn tính tôn giáo riêng biệt, đức Gioan Phaolô càng xác tín hơn nơi sự hiện diện và sức tác động của Thánh linh: “Tất cả lời cầu nguyện đích thực đều do ảnh hưởng của Thánh linh, chính Ngài dạy chúng ta là những kẻ yếu hèn biết cách cầu nguyện, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải đạo, chính Ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can biết Thần khí muốn nói gì. Thật vậy, chúng ta cần ghi nhớ rằng tất cả lời cầu đích thực đều phát xuất từ Thánh linh, Đấng hiện diện một cách huyền nhiệm trong tâm hồn mọi người”.

    Hoạt động của Thần khí trong lịch sử cứu độ được đặt nổi hơn nữa trong thông điệp về Chúa Thánh Thần (Dominum et vivificantem) (1986). Đức Gioan Phaolô II tái xác nhận hoạt động phổ quát của Thần khí từ trước biến cố cứu độ của Đức Giêsu Kitô và ngay ở bên ngoài phạm vi của Kitô giáo. “Không thể nào tự giới hạn nơi hai ngàn năm sau cùng, kể từ biến cố Giáng sinh của Đức Giêsu. Cần phải ngược dòng thời gian, ôm choàng tất cả hoạt động của Thánh linh từ trước biến cố Đức Kitô – ngay từ khởi thủy – trong toàn thế giới và đặc biệt trong lịch sử cứu độ của Cựu ước. Thực vậy tác động của Thánh linh được thể hiện ở mọi thời, mọi nơi và trong mọi người, theo chương trình cứu độ phổ quát, qua đó hoạt động của Thánh linh được nối kết chặt chẽ với mầu nhiệm nhập thể và cứu thế (...). Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn xa hơn và rộng hơn, khi biết rằng “gió muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3,8). Công đồng Vatican II, chú trọng đặc biệt ở đề tài Giáo hội, nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Thánh linh cũng hoạt động “ở bên ngoài” thân thể hữu hình của Giáo hội. Công đồng công nhận Thánh linh hoạt động nơi “tất cả tâm hồn thiện chí”(GS.22) chứ không chỉ nơi các Kitô hữu mà thôi” (số 53).

    Thông điệp Redemptoris Missio, ban hành ngày 7.12.1990, xác quyết rõ rệt rằng Thần khí đã tác động không những trong các cá nhân, mà còn nơi các truyền thống tôn giáo nữa: “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội, nhưng sự hiện diện và tác động của Ngài thì phổ quát, không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian(...). Thần khí là (...) căn nguyên của nỗi khắc khoải hiện sinh và tôn giáo của con người, nỗi khắc khoải phát xuất không những từ những điều kiện bất tất mà còn từ chính cơ cấu của hữu thể nhân loại. Sự hiện hữu và hoạt động của Thần khí không phải chỉ liên quan tới các cá nhân, mà còn liên quan đến xã hội, lịch sử, các dân tộc, các văn hóa và các tôn giáo” (số 28).

    Việc chấp nhận sự hiện diện tích cực của Thần khí Thiên Chúa nơi các truyền thống tôn giáo ở trên phải chăng đã gián tiếp chấp nhận giá trị cứu độ của các tôn giáo này? Câu trích dẫn ở trên có lẽ cho phép đi đến một kết luận lạc quan như thế. Tuy nhiên toàn bản văn của thông điệp chưa cho phép chúng ta đưa ra một câu kết luận quá lạc quan như vậy. Hơn nữa, trong một số tuyên bố gần đây, người ta lại có cảm tưởng là hình như đức Gioan Phaolô lại quay về với quan điểm “lý thuyết hoàn thành”, theo đó tất cả các tôn giáo gặp thấy sự “hoàn thành” trong Đức Kitô và trong Kitô giáo, qua biến cố Con Thiên Chúa làm người.

    Theo Tông thư “Ngàn năm thứ ba đang tới”, điểm khác biệt căn bản giữa Kitô giáo với các tôn giáo khác chính là biến cố Nhập thể của Đức Giêsu Kitô. “Ở đây không chỉ có việc con người kiếm tìm Thiên Chúa, mà chính Thiên Chúa đích thân nói với con người về chính Ngài và chỉ cho con người con đường đến với Ngài (...). Do đó Ngôi Lời Nhập thể đã hoàn thành khát vọng tiềm ẩn trong tất cả các tôn giáo nhân loại: việc hoàn thành này là tác phẩm của Thiên Chúa và nó vượt trên tất cả sự mong chờ của nhân loại. Đây là một mầu nhiệm ân sủng” (số 6).

    Tài liệu “Đối thoại và rao truyền” của Hội Đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn và Thánh bộ Truyền bá Phúc âm cho các Dân tộc có một cái nhìn cởi mở và tích cực hơn về vai trò của các truyền thống tôn giáo. Theo tài liệu này, mầu nhiệm cứu độ đến với tín đồ các tôn giáo khác “bằng những con đường mà chỉ duy Thiên Chúa biết thôi, dưới tác động vô hình của Thần khí Đức Kitô. Nói một cách cụ thể, chính khi chân thành làm điều thiện theo truyền thống tôn giáo của mình và sống đúng theo tiếng gọi của lương tâm, tín đồ của các tôn giáo này đã trả lời một cách tích cực lời mời của Thiên Chúa và lãnh nhận ơn cứu độ nơi chính Đức Giêsu-Kitô, cho dù họ không nhận biết Ngài và không tuyên xưng Ngài như Đấng cứu độ của mình”

    Ủy ban thần học quốc tế can đảm đặt câu hỏi gai góc này: Các tôn giáo có phải là những trung gian của ơn cứu độ cho các tín đồ của họ hay không? Sau khi phân tích nhiều lập trường và quan điểm đối nghịch, Ủy ban đã đi đến kết luận sau: “Nếu sự cứu độ liên kết chặt chẽ với sự xuất hiện lịch sử của Đức Giêsu thì việc nối kết mỗi người vào Đức Kitô, bằng đức tin, không thể là việc tùy nghi. Chỉ trong Giáo hội, một tổ chức có tiếp nối lịch sử với Đức Giêsu, người ta mới có thể sống trọn mầu nhiệm nầy. Vì thế, Giáo hội nhất thiết phải loan truyền về Đức Kitô.

    Không bao giờ có thể quan niệm có những “trung gian” cứu độ khác tách rời khỏi con người Giêsu, Đấng trung gian duy nhất. Nhưng xác định làm sao những người không biết đến Đức Giêsu mà có liên hệ với Ngài, hoặc các tôn giáo có tương quan với Ngài như thế nào, việc đó lại càng khó khăn hơn. Ở đây chúng ta phải đề cập đến những con đường bí nhiệm của Thánh Linh, Đấng ban cho tất cả mọi người khả năng kết hợp với mầu nhiệm phục sinh (GS.22); và tác động của Thánh linh cũng không thể không tương quan với Đức Kitô (RM.29). Chính trong bối cảnh tác động phổ quát của Thần khí Đức Kitô, mà chúng ta phải qui định vấn đề giá trị cứu độ của các tôn giáo”.

    Hiệp hội Hội đồng các Giám mục Á châu nói chung và Hội Đồng Giám mục Ấn độ nói riêng có thái độ cởi mở hơn nữa đối với truyền thống các tôn giáo. Đa phức tôn giáo được coi như một trong những cách thế mà Thiên Chúa đã sử dụng để thiết lập mối tương quan với các dân tộc. Nó biểu lộ tính phong phú và đa diện nơi hoạt động của Ngài trong lịch sử. “Bản chỉ dẫn về đối thoại liên tôn” của Hội đồng Giám mục Ấn độ đã công khai xác nhận: “Đa phức tôn giáo là hậu quả phong phú của sáng tạo và ân sủng vô tận của Thiên Chúa. Mặc dù phát xuất từ cùng một nguồn, các dân tộc đã nhận thức về vũ trụ và đã biểu lộ ý thức về mầu nhiệm bằng nhiều cách thế khác nhau và chắc chắn Thiên Chúa đã hiện diện trong công trình lịch sử này của các con cái Ngài. Xem như thế, thay vì ân hận vì hiện tượng đa phúc tôn giáo, đúng hơn chúng ta phải coi đây như một ân huệ của Thiên chúa”.

    Tuyên ngôn “Dominus Jesus” của Thánh bộ Đức tin, một Tuyên ngôn được đánh giá có lập trường cứng rắn và khép kín nhất trong 30 năm qua về đối thoại liên tôn, cũng lập lại quan điểm cố hữu của Giáo hội: “Hiển nhiên, các truyền thống tôn giáo khác nhau chứa đựng và đề nghị những yếu tố tôn giáo đến từ Thiên Chúa và là thành phần của “điều mà Thần khí thực hiện trong tâm hồn con người và trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hoá và tôn giáo”. Thật vậy, một số kinh nguyện và nghi lễ của các tôn giáo có thể đóng vai trò chuẩn bị cho Tin Mừng, xét như là những cơ hội hoặc những giáo huấn khuyến khích con người mở rộng tâm hồn cho tác động thần linh. Tuy nhiên, người ta không thể gán cho chúng một nguồn gốc thần linh hay tính hiệu năng cứu độ có hậu quả do sự (ex opere operato), điều riêng biệt thuộc về các bí tích Kitô giáo. Ngoài ra, không thể quên sự hiện hữu của các nghi lễ bắt nguồn từ những mê tín hay những sai lầm tương tự và tạo nên một chướng ngại cho sự cứu độ”.

    Tuyên ngôn cũng thẳng thắn lên án chủ nghĩa thờ ơ và thuyết tương đối tôn giáo, cho rằng đạo nào cũng như đạo nào: “Với biến cố của Đức Giêsu Kitô, đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã muốn rằng Giáo hội do Ngài thiết lập trở thành dụng cụ cứu độ cho toàn thể nhân loại (x. Cv 17, 30-31). Chân lý đức tin này không giảm nhẹ lòng kính trọng chân thành của Giáo hội đối với các tôn giáo trên thế giới, nhưng đồng thời cũng tuyên bố, một cách quyết liệt không thể chấp nhận não trạng thờ ơ tôn giáo, “bị tiêm nhiễm bởi thuyết tương đối tôn giáo, một thuyết đưa đến quan niệm "đạo nào cũng tốt".

    4. Ân sủng hiện diện nơi các tôn giáo

    Khi đọc một số văn bản của Hiệp hội các Hội đồng gíam mục Á châu và những cơ quan liên hệ, người ta nhìn thấy ngay sự nhạy cảm và trân trọng đối với vai trò của các tôn giáo khác trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Có thể nói rằng kinh nghiệm sống và việc mục kích kinh nghiệm tâm linh sâu xa nơi các truyền thống tôn giáo kỳ cựu đã giúp Giáo hội Công giáo tại Á châu có cái nhìn cởi mở và tích cực hơn.

    Vấn đề nòng cốt được nêu lên là phải hiểu và giải thích sự hiện diện của nhiều con đường hay cách thế cứu độ như thế nào? Đặc biệt, nếu chấp nhận hiện tượng “đa diện” trong con đường cứu độ thì phải giải thích như thế nào vai trò “trung gian của Đức Kitô”? Phải hiểu ra sao cách thế Thiên Chúa của Đức Kitô chuyển giao ơn cứu độ cho những người thành tâm thiện chí qua truyền thống của các tôn giáo khác? Làm sao sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa biểu lộ qua biến cố Nhập thể của Đức Kitô đạt tới tín đồ các tôn giáo khác? Nếu chấp nhận tác động cứu rỗi của Thiên Chúa nơi Đức Kitô được chuyển thông cho tín đồ các tôn giáo khác ngang qua “một trung gian” nào đó nơi truyền thống các tôn giáo này, như vậy, trong một mức độ nào đó, các truyền thống tôn giáo này cũng là một “con đường” cứu độ?

    Khoa nhân chủng học và xã hội học hiện tại giúp chúng ta ý thức rằng con người không phải là một hữu thể cô độc, lẻ loi mà là một nhân vị sống trong một xã hội nhân loại. Các hữu thể này trở thành con người đúng nghĩa nhờ những tương quan liên nhân vị với người khác. Chính tương quan này làm cho con người được triển nở và trở thành người hơn. Nhận định này cũng được áp dụng vào đời sống tôn giáo. Các tín đồ không hiện hữu như những cá nhân cô độc, nhưng như thành viên của những truyền thống và cộng đoàn tôn giáo nhất định nào đó. Họ trưởng thành và được đào luyện trong truyền thống tôn giáo riêng biệt.

    Nếu nhận định trên chính xác và nhất là nếu một số tín đồ của các tôn giáo ngoài Kitô giáo có kinh nghiệtâm linh sâu xa về Thiên Chúa, thì chúng ta có thể kết luận các tôn giáo này phần nào đã biểu lộ sự gặp gỡ giữa con người với ân sủng? Nếu như chúng ta không thể dễ dàng tách rời đời sống tâm linh của các tín đồ với truyền thống tôn giáo của họ, thì càng không thể quả quyết rằng tín đồ của các tôn giáo ngoài Kitô giáo có thể đạt đến ơn cứu độ nhờ sống trung thành với lương tâm và chân thành với đời sống tôn giáo, nhưng đồng thời lại cho rằng truyền thống tôn giáo của họ chẳng có một giá trị cứu độ nào cả.

    Dĩ nhiên cần phần biệt tâm tình tôn giáo chủ quan với giá trị tôn giáo khách quan, mặc dù không bao giờ có thể hoàn toàn tách rời chúng. Các truyền thống tôn giáo của nhân loại phát xuất từ kinh nghiệm tôn giáo của các cá nhân hoặc của các nhóm, được tích lũy qua các giai đoạn lịch sử lâu dài. Kinh điển tôn giáo vừa bảo lưu ký ước, vừa định chế hóa các kinh nghiệm tôn giáo. Như vậy thật khó chấp nhận quan điểm cho rằng tín đồ của các tôn giáo có thể đạt tới sự cứu độ, nhưng tôn giáo và văn hóa đã đào tạo nên họ lại chẳng có giá trị tích cực nào cả trong chương trình cứu độ.

    Để có thể hiểu làm sao truyền thống các tôn giáo có thể được sử dụng như một “cách thế trung gian nào đó” cho tín đồ của mình, chúng ta phải đi ngược dòng thời gian... lên tới mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Thật vậy, qua Đức Kitô, Thiên Chúa thiết lập một tương quan nhân vị với nhân loại. Ngài trở thành Thiên-Chúa-ở-với-con-người và hiện diện với một khuôn mặt nhân loại. Mỗi một kinh nghiệm đích thực về Thiên Chúa nơi Kitô hữu cũng như nơi tín đồ của các tôn giáo khác là một cuộc gặp gỡ nào đó giữa Thiên Chúa với nhân loại. Sự hiện diện của Thiên Chúa với nhân loại xét như là “hiện diện với”, đặt Ngài trong mối tương quan nhân vị với con người như tương quan giữa Anh với Tôi.

    Tuy nhiên, muôn đời Thiên Chúa vẫn là Đấng Tuyệt Đối, vượt bên trên và bên ngoài tất cả mọi hữu hạn và mọi khuôn mặt nhân loại. Việc Thiên Chúa hạ cố đến với con người là hoàn toàn do Ngài chủ động và vì khoảng cách cố hữu giữa Tuyệt Đối với tương đối là một khoảng cách vô biên, cho nên hành động chiếu cố này hoàn toàn là một ân huệ nhưng không.

    Trong Kitô giáo, sự hiện diện tự thân của Thiên Chúa đối với con người trong Đức Kitô đạt đến khả giác bí tích cao nhất, minh nhiên nhất và hoàn hảo nhất. Tuy nhiên “trung gian hoàn hảo của mầu nhiệm Đức Kitô” chỉ trực tiếp chuyển thông cho các Kitô hữu, những người lãnh nhận Tin Mừng và tham dự vào đời sống phụng vụ cũng như bí tích. Đối với tín đồ các tôn giáo khác thì sao? Theo một số thần học gia, chính qua kinh nghiệm tôn giáo của họ chúng ta nhận diện được kinh nghiệm về Thiên Chúa và về mầu nhiệm Đức Kitô. Có thể nói sự thực hành tôn giáo và kinh nghiệm tâm linh biểu lộ, nâng đỡ và hàm chứa cuộc gặp gỡ của họ với Thiên Chúa của Đức Kitô.

    Trong ý nghĩa và giới hạn đặc biệt đó, truyền thống các tôn giáo là “một thứ con đường hay một cách thế cứu độ nào đó” cho tín đồ của họ? Phủ nhận kết luận này rất có thể sẽ rơi vào sai lầm chia cắt đời sống tôn giáo của mỗi cá nhân khỏi truyền thống tôn giáo khách quan, kết tạo bởi giáo lý, lễ nghi tế tự, giới luật, dấn thân phục vụ ...

    Tuy nhiên, phải thành thật công nhận rằng trong giai đoạn hiện tại, rất khó xác định một cách chính xác các truyền thống tôn giáo thực hiện vai trò trung gian này cho tín đồ của họ ra sao. Càng khó khăn hơn nữa khi muốn xác định xem “trong các truyền thống tôn giáo khác, những yếu tố nào trong những yếu tố này, thực sự là do ân sủng, có khả năng giúp các tín đồ liên hệ đáp lại một cách tích cực lời mời gọi của Thiên Chúa(...). Nhiều chính nhân, được Thánh linh Thiên Chúa thúc đẩy, chắc chắn đã để lại dấu tích của mình trong nỗ lực hình thành và phát triển truyền thống tôn giáo liên hệ, nhưng sự kiện đó không muốn nói rằng đương nhiên tất cả mọi sự trong các truyền thống tôn giáo này nhất thiết phải là tốt lành”.

    Chúng ta có thể nói rằng chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau trong suốt lịch sử nhân loại. Ân sủng của Thiên Chúa, mặc dù rõ ràng là duy nhất, đã được chuyền thông cho con người qua nhiều hình thức và cách thế khác biệt nhau, không những chỉ ở cấp độ mà còn ở thể loại nữa. Do đó khi công nhận “yếu tố ân sủng” trong các truyền thống tôn giáo không có nghĩa là chủ trương rằng tất cả các truyền thống tôn giáo đó đều giá trị như nhau hoặc tất cả những yếu tố căn bản của các truyền thống tôn giáo đều hoàn hảo cả. Càng không thể đặt các giới luật và lễ nghi tế tự của các truyền thống tôn giáo này ngang hàng với các bí tích do Đức Kitô thiết lập.

    Nỗ lực tiếp cận và chân thành đối thoại với các truyền thống tôn giáo “cũng không cho phép chúng ta nhắm mắt trước những mâu thuẫn có thể có giữa các truyền thống này với mạc khải của Kitô giáo. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, chúng ta phải nhìn nhận có sự tương phản giữa một số yếu tố căn bản của Kitô giáo và một số khía cạnh của các truyền thống này”.

    Nói tóm lại mầu nhiệm cứu độ vẫn là mầu nhiệm của Đức Kitô. Tuy nhiên mầu nhiệm này đã được biểu lộ và chuyển đạt cho con người dưới nhiều hình thức khác nhau. Nếu như trong Kitô giáo mầu nhiệm này được biểu lộ một cách minh nhiên, với tất cả vẻ trong sáng và rõ rệt bao nhiêu có thể, thì trong các truyền thống tôn giáo khác chỉ dưới dạng thức mặc nhiên và ám thị mà thôi.

    Bất chấp những khó khăn và trắc trở gặp thấy trên bước đường đối thoại liên tôn, Sứ Điệp của Thượng Hội đồng Gíam mục Á châu bộc lộ niềm tin tưởng và lạc quan: “Chúng tôi vui mừng nhìn nhận những giá trị thiêng liêng của những tôn giáo cao cả của Á châu như Ấn giáo, Phật giáo, Do thái giáo, Hồi giáo... Chúng tôi quý trọng những giá trị luân lý trong những phong tục và những thực hành mà người ta tìm được trong giáo huấn của các hiền giả Á châu. Chúng tôi kính trọng các tín ngưỡng và tập quán tôn giáo của những anh chị em bản xứ hay các bộ tộc; lòng kính trọng của những anh chị em này đối với toàn thể thụ tạo diễn tả cho thấy sự gần gũi của họ đối với Đấng Tạo hóa.

    Cùng chung với tất cả các dân tộc Á châu, chúng tôi ao ước được lớn lên trong sự chia sẻ những điều phong phú của chúng ta và trong sự kính trọng đối với những khác biệt giữa chúng ta. Chúng tôi nhất quyết làm việc chung với nhau để nâng cao phẩm chất đời sống của dân tộc chúng ta. Chúng tôi coi đức tin của mình như kho tàng quí báu nhất và mong chia sẻ kho tàng đức tin này với tất cả mọi người, nhưng vẫn tôn trọng hoàn toàn những niềm tin tôn giáo và sự tự do của anh chị em xung quanh”.

    Có lẽ đây mới chỉ là những bước đầu chập chững trên chặng đường đối thoại liên tôn dài hun hút! Nhưng phải chăng, như Đức Kitô đã hé mở cho người thiếu phụ Samaria, với thiên niên kỷ thứ ba này, đã bắt đầu khai mở một một giai đoạn mới trong tiến trình cứu độ: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do thái. Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Ngài như thế. Thiên Chúa là thần khí và những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4,21-24).



    [1] Gioan Phaolô II, Redemptor hominis, số 6.

    Tác giả: Gm. Nguyễn Thái Hợp, op

    nguồn: http://www.conggiaovietnam.net/index...&id=98&ia=8931
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  2. #2

    Mặc định

    Tọa đàm thần học: "Giáo hội học trong viễn tượng liên tôn"


    “Đối thoại liên tôn thuộc bản chất của Kitô hữu. Đối thoại thần học được khởi điểm từ Thần Khí”

    Nhân chuyến về thăm và làm việc tại Việt Nam của Linh mục Tiến sĩ Peter Phan Đình Cho, Giáo sư Đại học Georgetown, nguyên Chủ tịch Hội Thần học Công giáo Hoa Kỳ, Học viện Mục vụ TGP TPHCM kết hợp với Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình tổ chức một buổi Tọa đàm thần học với chủ đề: “Đa nguyên tôn giáo và Mầu nhiệm Giáo hội: GIÁO HỘI HỌC TRONG VIỄN TƯỢNG LIÊN TÔN”, từ 15g00 đến 17g30 thứ Bảy 10 tháng 11 năm 2012, tại Trung tâm Mục vụ TGP TPHCM.

    Cha Cho đã bắt đầu đề tài bằng cách nhắc lại lịch sử Giáo hội từ thế kỷ IV, khi được vua Constantine và hoàng đế kế vị Theodosius công nhận như là tôn giáo của đế quốc La Mã, Kitô giáo đã có thái độ bài trừ các đạo khác, đặc biệt là Do Thái giáo. Các Kitô hữu nhìn các tôn giáo khác qua lăng kính của Kitô giáo nên không thể nào có sự khiêm hạ, lắng nghe. Công đồng Vatican II là một sự kiện, một biến cố của Chúa Thánh Thần, giúp Giáo Hội thay đổi cái nhìn về các đạo khác. Ý nghĩa sâu xa của sự kiện đa tôn đòi chúng ta suy nghĩ lại về chính mình và canh tân thái độ để làm chứng cho Tin Mừng. Văn kiện Nostra Aetate tuy chỉ có 1600 chữ nhưng giúp cho Kitô hữu nhận biết chân giá trị của các tôn giáo khác. Người Công giáo phải tôn trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị đó, cùng với các tín đồ tôn giáo khác.

    Từ năm 1972, qua các văn kiện của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu, sứ mệnh của Giáo Hội Á Châu gồm tóm trong từ ngữ “đối thoại”. Không phủ nhận sự cấp bách của việc truyền giáo, nhưng cách thức chúng ta thi hành việc loan báo Tin Mừng là “đối thoại”: 1/ Chung sống và chia sẻ với những người chung quanh. 2/ Cộng tác với họ để xây dựng một thế giới công lý và hòa bình. 3/ Đối thoại Thần học. 4/ Chia sẻ đời sống thiêng liêng, tâm linh.



    Sứ mệnh Kitô hữu là làm chứng tá cho ân sủng và sự hiện diện của Chúa, của Nước Trời, chứ không phải để thêm tiền tài, thêm giáo dân, thêm danh vọng. Đối thoại liên tôn không phải là vấn đề có dư thời giờ mới làm nhưng là sứ mệnh mà tất cả Kitô hữu phải thực hiện. Thái độ kiêu căng ngạo nghễ khi tiếp xúc với các tín đồ các tôn giáo bạn cần được thay thế bằng sự khiêm nhường, lắng nghe.

    Tiếp lời thuyết trình viên, Cha Phanxicô Xaviê Bảo Lộc đã góp vài ý kiến: Thứ nhất, sự đối thoại thuộc bản chất Giáo hội, là căn tính của Kitô hữu. Thứ hai, qua Đại hội Dân Chúa, người Công giáo nhận ra một khía cạnh ít được nhấn mạnh khi trình bày về Giáo hội là chiều kích gia đình. Giáo hội là gia đình gồm những người con của Thiên Chúa, là cộng đoàn những người môn đệ của Chúa Kitô. Khi hiểu Giáo hội như gia đình mầu nhiệm, Kitô hữu xem tất cả nhân loại là anh em. Thứ ba, Giáo Hội học luôn liên kết với Kitô học xem thế giới như gia đình nhân loại có Chúa Giêsu là Anh Cả.



    Đóng góp của Sr. Mai Thành: Chúng ta cần trở nên những con người của đối thoại khiêm nhường, lấy cái nghèo của cá nhân để giải quyết cái nghèo do bất công xã hội, theo hai gương "vượt qua" của Chúa Giêsu: cuộc vượt qua tự hạ nơi sông Giođan và cuộc vượt qua trên Núi Sọ.

    Cha Peter Phan Đình Cho đã trao đổi với các tham dự viên về một số đề tài mà cử tọa đang thao thức.

    Cha Phêrô Nguyễn Văn Hiền đặt câu hỏi: “Khi tiếp cận với các tôn giáo bạn, thì có điểm chung nào giữa các tôn giáo để từ đó Kitô hữu có thể bắt đầu cuộc đối thoại thần học?”

    Cha Peter đã trả lời: Trong cuộc đối thoại Thần học, cần khởi đi từ Thần Khí, vì Thần Khí của Thiên Chúa hiện diện trong bất cứ tôn giáo nào. Kitô hữu hay những người khác tìm đến Chúa cũng nhờ Thần Khí. Vai trò của Giáo hội Việt Nam không phải là trao tặng Thần Khí cho người ngoài Kitô giáo, mà là đặt tên cho Thần Khí (vốn đã hiện diện nơi các tôn giáo khác): Thần Khí là “Món quà của Đức Kitô Phục Sinh”. Từ đó Kitô hữu mới có thể nói tiếp về Đức Giêsu, về Giáo hội của Người,…

    Cha Giám đốc TTMV TGP đã kết thúc buổi tọa đàm với lời cám ơn cha Cho và mong được đón tiếp Cha Peter một lần nữa trong thời gian sớm nhất!


    Tóc Ngắn K1 - Ảnh: Văn Chức
    Nguồn: tgpsaigon.net



    nguồn: http://www.nhipcautamgiao.net/tintuc...-lien-ton.html
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  3. #3

    Mặc định

    HỢP TUYỂN THẦN HỌC SỐ 3


    ƠN CỨU ĐỘ

    TRONG CÁC TÔN GIÁO KHÔNG KITÔ [1]

    Battista Mondin

    Giáo Lý Cổ Truyền

    Từ bản chất, Giáo hội là truyền giáo. Công đồng chung Vaticanô II đã xác định lại như sau: "Từ bản chất của mình, Giáo hội lữ hành ở giữa trần gian có sứ mạng phải truyền giáo, vì Giáo hội phát sinh từ chính sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Thiên Chúa Cha. [...] Được Thiên Chúa phái gửi đến với muôn dân để nên như "bí tích cứu độ phổ quát", Giáo hội cố đem hết sức mình mà mang sứ điệp Tin mừng đến cho hết mọi người: làm thếtức là đáp ứng những đòi hỏi căn bản của công giáo tính, cũng như là để chu toàn mệnh lệnh đặc biệt của Đấng Sáng Lập [xem Mt 16, 15]" (TG 2 và 1).

    Giáo hội là thân mình Đức Kitô, và vì thế là hiện thân liên tục của Đấng Cứu Độ loài người. Giáo hội là tiếng nói loan Tin mừng, là ngôn sứ công bố ơn cứu độ, là vị tố tế thông ban ơn cứu độ ấy. Giáo hội là hoa trái đầu muà của Vương quốc công lý, tình thương và hòa bình, nghĩa là của thời đại ơn cứu độ. Giáo hội là tàu cứu vớt mà Thiên Chúa đã gửi đến cho loài người, để mọi dân nước có được một nơi ẩn náu an toàn. Ngoài Đức Kitô và ngoài Giáo hội của Người, không thể có ơn cứu độ (Xem Cv 4, 12).

    Đó là những chân lý làm nền tảng cho đà truyền giáo hăng say đã mạnh mẽ động viên Giáo hội trong thời các Tông đồ cũng như trong thời các vị tố đạo, trong thời các đội binh thánh giá cũng như trong thời chinh phục tân thế giới Châu Mỹ và thế giới thứ ba, rồi ngay cả trong thời đánh chiếm các thuộc địa cũng như trong thời hậu thuộc địa. Nhờ có nhiệt huyết truyền giáo mức ấy, nên Giáo hội đã thực sự trở thành là công giáo trong thực tế, chứ không phải chỉ mang danh nghĩa như thế trên lý thuyết mà thôi. Nhiều dân nước đã hân hoan đón nhận Tin mừng và đã trở thành những phần tố trọng yếu hữu hình trong Nước Thiên Chúa.

    Tuy nhiên, trong mấy thập niên gần đây, đà hoạt động truyền giáo đã sút giảm đi một cách có thể nói là đột ngột, và ngay cả sứ điệp cứu độ của Giáo hội cũng xem ra mất sức thu hút và tính chất nhạy bén đi rất nhiều trước những thách đố kinh hoàng do hiện tốợng tục hóa gây ra trong Tây phương, và do các tôn giáo lớn nêu lên trong Đông phương. Vì theo giả thuyết chủ trương không cần biết đến Thiên Chúa và vì đặt hết cả niềm tin vào nơi con người nay đã trưởng thành tự lập, nên hiện tốợng tục hóa quét sạch hết mọi ý niệm về ơn cứu độ trong đời sau, vượt ra ngoài lịch sử hay là siêu nhiên. Loại cứu độ duy nhất mà người tục hóa lo đạt cho được, là hoàn toàn nằm trong mức giới của thời gian, là ở trong cuộc sống trên mặt đất này; do đó, người tục hóa không tha thiết gì đến một sự cứu độ cánh chung,tức là trong đời sau, như Giáo hội hằng loan truyền; kiểu cứu độ ấy là cái thừa.

    Đối với những người theo các tôn giáo cổ truyền ngoài Kitô giáo, ở tại những nơi các tôn giáo này có ảnh hưởng lớn, thì cũng vậy, cho dù lý do có khác đi: chẳng hạn, các tôn giáo mạnh tại toàn vuìng Á Châu thường tự giới thiệu là "đạo", rồi đồng thời dạy rằng "đạo" là những con đường cứu độ cho đời sau và những con đường này được coi là chắc chắn cùng đáng tin cậy không kém gì con đường của Giáo hội Kitô; do đó, Giáo hội trở thành thừa; con đường của Giáo hội không còn được coi là cần thiết (Tôi đã viết về điểm này trong quyển L'eresia del nostro secolo, Borla, 1971).

    Đối diện với những trở ngại lớn lao như vậy, có người cảm thấy nản lòng, bỏ cuộc rút lui, hoặc là thay đổi chiều hướng, bỏ việc truyền giáo để làm việc cứu trợtừthiện, hay còn tệ hơn nữa: để hoạt động chính trị, có khi còn kết bè với các chính đảng chưng tôn giáo, chưng kitô ra mặt nữa.

    Nhưng đó chỉ là cách xoay xở của một số cá nhân lẻ tẻ, chứ không thể nào được coi như là đường lối của chính Giáo hội. Nếu làm như thế, thì Giáo hội sẽ đi ngược lại với bản chất của chính mình và sẽ phản bội Vị Sáng lập nên mình, là Đấng đã phái gửi Giáo hội đi khắp thế gian để loan báo Tin mừng cho mọi tạo vật: "Các con hãy đi kêu gọi muôn dân làm môn đệ của Thầy, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy cho họ giữ tất cả những điều Thầy đã truyền cho các con" (Mt 28, 19"20).

    Nếu sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội vẫn mãi có giá trị, thì điều đó không có nghĩa là thái độ của các tín hữu kitô đối với các tôn giáo không kitô và các tín đồ các tôn giáo khác phải có tính cách chung quyết, không thể thay đổi được. Như mọi người đều đã rõ, mãi cho đến Công Đồng chung Vaticanô II, lập trường chung của các nhà thần học kitô (công giáo, chính thống giáo và tin lành) đối với các tôn giáo không kitô mới thoát ra khỏi được thái độ chối bỏ thẳng thừng và lên án gay gắt. Vẫn còn đó và cũng nên nhớ lại những gì Clêmentê thành Alexandria viết trong cuốn Protrepticos (Huấntừviết cho dân Hy lạp vào hậu bán thế kỷ thứ hai) và thánh Âugutinô nói trong mười cuốn đầu của tác phẩm De Civitate Dei, để khắt khe bài bác các tôn giáo không kitô. Tất cả các nhà thần học,từthời Trung cổ cho đến thời Hiện đại, đều đồng ý nhận rằng Giáo hội là con thuyền duy nhất có thể đưa loài người đến bến cứu độ, và coi các tôn giáo khác như là những hiện tốợng xấu xa ma quái.



    Lập Trường Mới

    Nhưng sau Công đồng chung Vaticanô II, trong bầu khí cởi mở và đối thoại giữa các tín hữu công giáo và các tín đồ không những của Chinh Thống giáo, của Tin Lành mà cả của các tôn giáo lớn khác trong thế giới nữa (chẳng hạn như cuộc gặp gỡ cầu nguyện với Đức Gioan Phaolô II tại Assisi hồi năm 1986), cũng như nhờ học biết sâu rộng hơn về các tôn giáo không kitô, đặc biệt là về Hồi giáo, Ấn độ giáo và Phật giáo, các nhà thần học công giáo đã đi đến chỗ bỏ hẳn hay ít ra là xét lại học thuyết về "mối xung khắc giữa Đức Kitô với các tôn giáo không kitô khác", và cố tìm cho ra những câu giải đáp, những lập trường mới.

    Theo Paul Knitter phân tích (xem P. Knitter, La Teologia delle religioni ad un crocevia, trong "Concilium", bản tiếng Ý, 22 [1986] 1, tr. 133"143; bản t. Pháp: La théologie catholique des religions à la croisée des chemins, ” Conc.” N. 203/1986, 129"138) thì các lập trường mới này có thể xếp thành ba loại: a) Đức Kitô trong các tôn giáo; b) Đức Kitô vượt lên trên các tôn giáo; c) Đức Kitô với các tôn giáo. Hãy thử xem xét kỹ tống loại một.



    Đức Kitô Trong Các Tôn Giáo

    Giả thuyết đầu tiên này được tung ra tại đại hội về chủ đề ”Khả năng cứu độ của các tôn giáo không kitô ” nhóm họp tại thành phố Nagpur, Ấn độ, hồi năm 1971. Đại hội đã nhận định rằng: " việc mạc khải và thực thi kế hoạch cứu độ phổ quát của Thiên Chúa đối với loài người thì kỳ cựu hơn bước khởi đầu của Giáo hội, và bao la bát ngát hơn là bốn ngàn năm lịch sử hạn hẹp một chiều của Do thái và Kitô giáo" (xem D.S. Amalorpavadass, Traditions religieuses, développement et libération, trong "Théologies du Tiers Monde", tr. 213, L'Harmattan, Paris 1977). Giáo hội không thể ôm trọn hết cả hoạt động cứu độ của Đức Kitô biểu dương qua Thánh Linh của Ngài được. Do đó, không thể coi các tôn giáo Á châu là tiền"kitô, là hướng"về"kitô, và càng không phải nữa là không"kitô. Một phần nào đó, các tôn giáo ấy có tính cách kitô"giáo. Để cho vô tố hơn, thì giả thuyết này ưa gọi các tôn giáo này là "tôn giáo thế giới" hay la "các truyền thống tôn giáo của loài người".

    Đoạn văn căn bản của đại hội Nagpur đáng được trưng dẫn rộng rãi như sau đây: "Trong các tôn giáo (thế giới) ấy, chúng tôi nhận ra Đức Kitô và ân sủng của Ngài đang hoạt động. Dưới nhiều hình thái và nhiều cách thức khác nhau, mầu nhiệm khôn tả đang hoạt động ở giữa lòng mọi dân tộc trên trần gian để làm cho cuộc sống và những nguyện vọng của loài người có được một ý nghĩa tuyệt đối tối hậu. Được gọi bằng nhiều tên khác nhau mà không một ai có đủ khả năng để diễn tả nó cho chính xác, mầu nhiệm ấy đã được vén mở hẳn và đã được thông truyền ra trong Đức Giêsu thành Nadarét. Vì có một Đấng Quan phòng phổ quát đang hướng dẫn mọi người về với định mệnh cuối cùng của mình, và vì không một người nào có thể dùng sức riêng của mình để đạt tới được ơn cứu độ mà không cần Thiên Chúa trợ giúp, cho nên sự việc Thiên Chúa tự thông truyền chính mình ra cho con người không chỉ giới hạn ở trong phạm vi của truyền thống do thái"kitô, nhưng còn mở rộng ra cho toàn thể nhân loại, theo những cách thức và mức độ khác nhau trong cùng một kế hoạch cứu độ duy nhất của Thiên Chúa. Bởi vì có những người được cứu độ (nhờ ân sủng Thiên Chúa ban cho) trong bối cảnh truyền thống tôn giáo riêng của mình, thế nên tùy theo nhiều mức độ khác nhau, các sách thánh và các nghi thức phụng tự của các truyền thống tôn giáo trong thế giới có thể là những cách thức Thiên Chúa dùng để biểu lộ chính mình ra, và do đó cũng có thể đưa dẫn đến ơn cứu độ. Tất cả những nhận định trên đây không gây một sứt mẻ nào đến tính chất độc nhất vô nhị của kế hoạch cứu độ kitô, là kế hoạch đã được giao phó cho sứ mệnh gìn giữ cùng loan báo lời chung quyết mà Đức Kitô đã công bố cho thế giới, và xử dụng các phương thức cứu độ mà chính Ngài đã kiến tạo ra" (xem D.S. Amalorpavadass như trong ghi chú trước đây, tr. 215).

    Giả thuyết trên đây, tung ra tại đại hội Nagpur, đã chiếm được lòng của nhiều nhà thần học Á châu và làm cho các vị này phải xác nhận rằng quả thật Đức Kitô đang hiện diện trong các tôn giáo thế giới, cho dù không có Giáo hội can dự. Và các truyền thống tôn giáo như thế cần phải được coi như là những "đạo",tức là những con đường cứu độ đối với những ai đang đi trên đó. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, cách giải thích trên đây cho dù có giá trị trong những gì đã nói lên, thì cũng chưa nói hết những gì cần phải nói tới, nghĩa là gặp phải thiếu sót giống hệt như luận thuyết của linh mục K. Rahner về "Kitô giáo vô danh" đã gặp; vì chínhtừluận thuyết này mà lối giải thích kia khơi nguồn hứng. Quả thật, đối với người tin vào Đức Kitô là Đấng Cứu độ duy nhất của nhân loại, thì các tôn giáo kia chỉ là những sản phẩm của văn hóa,tức là phát sinhtừtài năng của một dân tộc: tự nó, chúng tốt lành vì tạo nên được ở giữa lòng con người, những thái độ kính trọng, vâng phục và kính mến Thiên Chúa; nói cách khác: đó là những hình thức thể hiện của "conversio ad Deum” (thái độ quay về với Thiên Chúa); do đó, Thiên Chúa có thể đón nhận chúng như là lời ứng đáp (ưng thuận) đối với thánh ý và kế hoạch cứu độ của Ngài đưa ra. Nhưng, chính vì là sản phẩm của loài người, cho nên các tôn giáo kia phải chịu tình cảnh bất hảo, và như thế phải cần đến ánh sáng cùng ân sủng của Đức Kitô thì mới được cứu chuộc và được biến hình đổi dạng. Và dù có nằm trong chân trời hết sức mênh mông của ân sủng Ngài, các tôn giáo ấy cũng chưa gặp được Đức Kitô. Muốn được hoàn toàn ở trong Đức Kitô, các tôn giáo ấy cần phải được gắn liền vào thân thể của Ngài,tức là cần phải trở nên thành phần của Giáo hội Ngài. Điều này không thể có được mà không trải qua một cuộc hoán cải sâu rộng.



    Đức Kitô Vượt Lên Trên Các Tôn Giáo

    Không hài lòng với luận thuyết của Rahner, một số các nhà thần học quả quyết rằng các tôn giáo khác (không kitô) có một giá trị độc lập; cho dù, theo họ, Đức Kitô không phải là nguyên nhân duy nhất của ơn cứu độ, thì Ngài vẫn "ở trên” tất cả mọi tôn giáo và mọi dân tộc. Để giải cứu tín điều về tính chất độc nhất vô nhị (unicità), tính chất cứu cánh (finalità) và quy phạm (normatività) của Đức Kitô, các nhà thần học này đã dùng đến nhiều cách giải thích khác nhau. Có người cho rằng Đức Kitô là người "xúc tác” duy nhất đối với cả các tôn giáo khác nữa; linh mục Geffré thì cho rằng vì là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, nên Đức Kitô có quyền phổ quát trên tất cả mọi dân tộc; trong khi đó, vì nằm trong lịch sử loài người, nên Kitô giáo không có được quyền ấy (xem G. Geffré, "La mission de l'Eglise à l'âge de l'oecuménisme interreligieux," Spiritus , tr. 6, 1987).

    Tuy nhiên, tôi thấy rằng ngay cả giả thuyết này cũng không thể chấp nhận được hoàn toàn, vì nó đánh giá nhẹ ý nghĩa chiều hướng lịch sử của kế hoạch cứu độ: kế hoạch này vẫn còn tiếp diễn với và trong Giáo hội, chứ không phải đã chấm dứt với cuộc sống dương thế của Đức Giêsu Kitô. Chính thế, Giáo hội không phải đơn thuần là dấu chỉ ơn cứu độ đã hoàn thành, nhưng còn là lối ngõ chính yếu và căn bản thông ban ân sủng Đức Kitô mang lại, và chính vì thế mà được gọi là "nhiệm tích cứu độ đại đồng cho muôn dân".



    Đức Kitô Với Các Tôn Giáo

    Có những nhà thần học đặc biệt quan tâm đến những đòi hỏi của nỗ lực đối thoại đại kết, thì nghĩ rằng nỗ lực này không thể nào đạt tới chỗ thành tựu được nếu một bên trong hai phía đối thoại cứ cho là mình nắm giữ chân lý tuyệt đối. Không những là quan điểm về xung khắc giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác mà thôi, nhưng cả các giả thuyết về "Đức Kitô trong các tôn giáo" và "Đức Kitô vượt lên trên các tôn giáo" nữa cũng đều bị các nhà thần học này coi là chưa thỏa đáng. Theo các nhà thần học này thì để có thể đối thoại, điều kiện tiên quyết là mọi phía phải bình đẳng. Điều kiện đó được hội đủ nếu biết chấp nhận quyền tối cao tuyệt đối của Thiên Chúa đối với tất cả mọi sứ giả của Ngài, và biết nhìn nhận quyền bình đẳng căn bản giữa tất cả các vị "thiên sai".

    Theo ông R. Panikkar là người biện hộ hùng hậu và có thế giá nhất cho giả thuyết vừa nói trên, thì cần phải phân biệt rõ giữa Đức Kitô lịch sử và Đức Kitô "vũ trụ", rồitừđó phân biệt giữa Đức Giêsu thành Nadarét và Ngôi Lời (Đức Kitô hoàn vũ). Chỉ có một Đức Kitô Tư tế vũ trụ, chiếu sáng khắp nơi, mang lại nguồn hứng cho khắp nơi; còn việc Ngôi Lời nhập thể thì không phải chỉ có một lần. Ngôi Lời-Kitô hằng hữu và hoàn vũ đã nhập thể làm người trong Đức Giêsu thành Nadarét. Tuy nhiên, cuộc nhập thể ấy không phải là cuộc nhập thể duy nhất và cũng không phải là tuyệt đối. Trong những năm gần đây, Panikkar vẫn quả quyết rằng không một tên tuổi lịch sử nào có thể biểu đạt Đức Kitô một cách tối hậu được.

    Không một nhân vật lịch sử nào riêng một mình, có thể "khách thể hóa và hiện vật hóa" thực thể Đức Kitô một cách trọn vẹn được. Trong khi đó, Kitô giáo phải mạnh mẽ xác quyết rằng Đức Kitô hoàn vũ đã trở thành xương thành thịt cụ thể trong Đức Giêsu, và rằng đối với các tín hữu của mình, Đức Giêsu là hình thái tối hậu của Đức Kitô (xem R. Panikkar, The Unknown Christ of Hinduism, Maryknoll, N.Y. 1981).



    Không Thể Chấp Nhận Được

    Theo tôi nghĩ thì giả thuyết trên đây của ông Panikkar không thể nào chấp nhận được, bởi vì nó đi ngược lại với các tín điều kitô học đã được Giáo hội minh định một cách dứt khoát không thể xóa bỏ được tại các công đồng chung Nikêa, Êphêxô, Khalkêđôn và Cônstantinốp. Theo các tín điều này, Đức Giêsu thành Nadarét không phải chỉ là một hình thức hiển linh (tỏ lộ mình ra) nào đó của Ngôi Lời, nhưng chính là Con Một của Thiên Chúa Cha, là Ngôi Lời đã nhập thể một lần duy nhất và bằng một cuộc nhập thể không bao giờ còn tái diễn lại. Như thế, Đức Kitô cũng là Đấng Cứu Thế duy nhất, là con đường hy vọng có một không hai.

    Thánh Âugutinô đã trình bày về chân lý này khi viết như sau ở trong cuốn De Civitate Dei (IX, 15): "Vì phải chết, nên tất yếu mọi người đều phải sống qua cảnh khốn khổ; bởi vậy, cần phải tìm cho ra một vị trung gian hội đủ điều kiện làm người mà vừa là Thiên Chúa, ngõ hầu cái chết hồng phúc của vị trung gian môi giới ấy sẽ dẫn đưa loài người đitừchỗ khốn khổ chết chóc đến tình trạng trường sinh bất tố: và trước đó, vị trung gian không được do dự nề hà chấp nhận cảnh sống chết chóc, nhưng đồng thời cũng không được cam chịu giữ mãi thân phận phải chết của mình. Dĩ nhiên là vị trung gian làm người hay chết, nhưng không vì thế mà làm cho thiên tính của Ngôi Lời bị suy suyển đi; ngược lại, vị ấy ôm trọn cả nỗi yếu hèn của xác phàm vào trong con người của mình, nhưng không sống mãi thân phận hay chết trong cái xác phàm đã tống được chính người làm cho sống lạitừcõi chết; bởi vì thành quả công trình môi giới của người trung gian chính là làm sao để ngay cả những kẻ được người làm môi giới, cũng không phải chịu thân phận trầm luân trong cõi chết đời đời, dù chỉ là về mặt xác phàm. Vì thế, đã cần đến một Vị Trung gian giữa chúng ta và Thiên Chúa, hội đủ các điều kiện này là: vừa mang tính chất tạm thời hay chết, vừa có đặc tính hưởng phúc vĩnh viễn, để có thể qua trung gian của yếu tố tạm thời mà tiếp xúc với những kẻ hay chết hầu chuyển đưa họ về với yếu tố vĩnh viễn".

    Trong cùng một tác phẩm, thánh Âugutinô đã đưa ra nhận định về những con đường cứu độ do các triết gia và các tôn giáo thế giới đề ra, và nói rằng các con đường ấy chỉ được dành cho một số ít người lỗi lạc, hay chỉ cho riêng một dân tộc nào đó. Rồi thánh nhân viết tiếp: "Ngoài con đường ấy (của Đức Kitô) --con đường luôn luôn rộng mở trước mắt loài người: vì đã được tiên báo cho hậu thế hoặc là vì đã được loan báo lúc thành tựu-- không bao giờ có một ai hoặc đã, hoặc đang hay là sẽ có thể đạt đến được ơn cứu thoát" (Th. Âugutinô, De Civitate Dei, X, 32).



    Giải Pháp Mới Mẻ Và Sâu Rộng Hơn

    Nếu luận thuyết cổ truyền cho rằng giữa Đức Kitô và các tôn giáo khác có một mối xung khắc không thể nào san bằng được, và nếu các luận thuyết mới chủ trương Đức Kitô ở trong hay là ở trên các tôn giáo không kitô, hoặc là các tôn giáo ở trong Đức Kitô: đều không giải đáp vấn đề gay cấn nêu trên cho thỏa đáng được, thì thử hỏi có thể tìm ra được một giải pháp nào khả dĩ cùng lúc đảm bảo được một bên là tính chất nguồn gốc độc nhất và không thể thay thế được của Đức Kitô, và bên kia là phần đóng góp cứu độ trong các tôn giáo không kitô hay không ?

    Theo tôi nghĩ thì có thể có một giải pháp đáp ứng thoả đáng cho những đòi hỏi của cả hai phía nói trên; và đó là giải pháp nêu lên sự phân biệt rõ giữa con đường lịch sử của kế hoạch cứu độ và chân trời toàn diện của ơn cứu độ. Con đường lịch sử của ơn cứu độ đi ngang qua các Tổ phụ và dân tộc Ítraen, để tổng kết trong Đức Kitô và Giáo hội là Nhiệm thể của Ngài. Còn chân trời toàn diện của ơn cứu độ thì bao gồm hết thảy nhân loại kể từ thời các tổ tiên cho đến tận thế. Con đường lịch sử ơn cứu độ thì riêng biệt, nhưng có tác dụng phổ quát cho muôn dân vì ơn cứu độ này tỏa rộng đến hết mọi người. Dù thế, các tôn giáo vẫn là những con đường ưu việt qua đó ân sủng của Đức Kitô tuôn tràn ra ngoài Giáo hội. Do đó, các tôn giáo khác nhau trong thế giới không phải chỉ đóng vai trò vỏn vẹn nhân bản hay văn hóa mà thôi, nhưng còn giữ cả vai trò cứu độ nữa. Đó là luận thuyết sẽ được trình bày rõ hơn sau đây.

    Chân trời toàn diện của ơn cứu độ được chọn làm khởi điểm: ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa bao trùm cả nhân loại kể từ thời khởi nguyên. Không ai có thể chối cãi được là có một thời trước Đức Kitô và một thời sau Đức Kitô, nhưng không thể nói là có một thời có ơn cứu độ và một thời không có ơn cứu độ. Rất nhiều đoạn văn trong Kinh Thánh dường như cũng tỏ ý biện hộ cho điều đó. Đặc biệt là những đoạn sau đây: "Thiên Chúa thương mến các dân tộc" (Đnl 33, 3); "Tình thương Chúa chan hòa mặt đất" (Tv 32, 5); "Khôn ngoan và Thần khí Ngài yêu thương toàn cõi trái đất" (Kn 1, 7).

    Thánh Phaolô công bố Đức Kitô là nền tảng và là khối đá đỉnh vòm của toàn bộ lịch sửcon người: mọi sự đã được tạo dựng bởi Ngài và trong Ngài, mọi sự tồn tại nhờ Ngài, và mọi sự đều quy hướng về với Ngài; trong Ngài, Thiên Chúa đã muốn giảng hòa muôn vật với chính mình (xem Cl 1, 15"20) . Thánh Gioan giới thiệu Đức Kitô như là Chúa tể càn khôn: trong đoạn mở đầu Phúc âm thứ bốn, tác động của Đức Kitô được mô tả theo hai chiều kích song đôi: một đàng là qua sự hiện diện của Ngài ở trong thế giới như là ánh sáng và sự sống thần linh của mọi người, và đàng khác là qua sự kiện lịch sử Ngài đến trong nhân thế, tức là trong "nhà của Ngài"; và trong Sách Khải huyền, Đức Kitô, "Đấng Đầu hết và Sau hết, là Đấng Hằng sống" (1, 18), được giới thiệu như là Chiên Con đã bị sát tế và đã toàn thắng ngay từ thuở tạo thiên lập địa (13, 8), đang nắm trong tay cuốn sách ghi chép nhũng bí quyết của lịch sử (5, 6"9).

    Trong phạm vi chân trời toàn diện của ơn cứu độ, Thiên Chúa hành động theo một "kế hoạch dựa trên khôn ngoan", còn trong con đường lịch sử của kế hoạch cứu độ, thì Ngài hành động qua tác động bí tích. Từ ngữ "kế hoạch dựa trên khôn ngoan" muốn chỉ về hành động của Thiên Chúa triển khai trong thế giới "qua trung gian của sự Khôn ngoan và Thánh Linh của Ngài, như đã được mô tả trong bộ sách lớn gọi là các sách khôn ngoan, cũng như trong các chương đầu tiên của sách Sáng thế, của sách Đệ nhị luật, sách các Tiên tri và của các văn bản Tân ươc" (P. Rossano, "Teologia e religioni: un problema contemporaneo", trong Problemi e prospettive di teologia fonda" mentale , tr. 372; xem thêm J. Daniélou, Saggi sul mistero della storia, ttr. 128"134, Morcelliana, Brescia 1963).

    Học thuyết này -- học thuyết cho rằng trong lãnh vực ơn cứu độ, cần phải phân biệt giữa một bên là chân trời rộng lớn bao trùm hết thảy mọi người, và bên kia là con đường trực hướng đến họaa động bí tích ở trong một phạm vi thu hẹp (phạm vi Dân Thiên Chúa) -- là hoàn toàn thỏa đáng đối với các đòi hỏi của chân lý nói về ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Nhưng học thuyết này giải thích như thế nào về tín điều minh định rằng Giáo hội là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ, một tín điều chắc chắn không kém gì chân lý trên đây? Đã giải thích khá chỉnh: quả thật, vai trò của Giáo hội không phải là vai trò của nguồn gốc, của 'nguyên nhân tác thành' chính yếu của ơn cứu độ, nhưng của 'nguyên nhân dụng cụ' chính (mà cũng không phải là chuyên nhất) và của dấu chỉ chắc chắn về ân sủng Thiên Chúa ban; Giáo hội là nhiệm tích chỉ cho thấy, làm chứng cho biết và biểu hiện cho rõ về sự việc ơn cứu độ đã được ban ra ở đâu và trong cách thức nào.

    Giáo hội có sứ mệnh làm nhiệm tích cứu độ không những đối với từng cá nhân riêng rẽ, nhưng còn đối với cả các đoàn thể xã hội, các dân tộc và các quốc gia nữa. Vì là Dân mới của Thiên Chúa, nên Giáo hội cũng là chiếc đèn sáng chiếu soi và hướng dẫn các dân tộc khác, các nền văn hóa và cả các tôn giáo của họ nữa, cho dù các tôn giáo này vốn là những con đường cứu độ. Bởi vì các tôn giáo này chỉ là những con đường ngòng ngoèo, đầy chông gai chướng ngại gây lệch lạc do bởi sự kiện trí tuệ con người khó mà hiểu thấu được cái "Linh vực"; và lại càng không thể dùng các nghi thức và các lễ bái phụng tự mà bắt lấy được.

    Những hình thức tôn giáo của loài người, kể cả những hình thức tiến bộ tinh vi và tinh ròng nhất cũng không khỏi phản ánh, qua nhiều khía cạnh khác nhau, tình trạng hay sai lầm bẩm sinh của trí tuệ con người và cách thức lệch lạc trong lối xử dụng tự do, cũng như thái độ ít dễ bảo của con người đối với tác động soi dẫn của Thánh Linh. Các văn kiện của Công đồng chung Vaticanô II đã thẳng thắn nói đến các điểm thiếu sót kia ở trong các hình thức tôn giáo giữa loài người và đã vạch rõ cho đó là vết tích của ảnh hưởng Ác thần (xem GH 16, 17; TG 9, 11.1). Do đó, xét về mặt thần học, "các tôn giáo lịch sử và nội dung giáo lý của chúng không những không phản ánh trung thực được chân lý thuần túy và thực tại thần học làm căn bản cho chúng, mà còn chứa đựng nhiều hình thức thiếu sót, suy biến, sai lầm và bại hoại tôn giáo. Vì thế, tính cách mập mờ nước đôi của những gì là linh thiêng cũng như các tôn giáo" (H.Fries, "Das Christentum und die Religionen der Welt", trong Das Christentum und die Weltreligionen, tr 24, Wurzbírg 1965).

    Phần đông các nhà thần học đều dừng lại ở mức nhận định này: một đàng, họ nhận rằng cả các tôn giáo không kitô cũng có thể là những con đường cứu độ và, đàng khác, họ khẳng định rằng các tôn giáo này nhất thiết cần đến hoạt động của Giáo hội là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ, để nhờ đó mà được chỉnh đốn và trở thành hoàn bị. Nhưng chúng tôi xin bàn xa hơn như sau:

    Những tín đồ theo các tôn giáo không kitô (như Do thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Ấn giáo, v.v...) đạt đến ơn cứu độ trong cách thức tương tự như các tín hữu kitô, nghĩa là nhờ việc thi hành ba tác vụ chính của Đấng Thiên sai Cứu thế; đó là các tác vụ tư tế, tác vụ sứ ngôn và tác vụ quản trị/hướng đạo: tác vụ quản trị là khi làm chủ chính mình; tác vụ sứ ngôn là khi họ loan báo và phổ biến các giá trị tôn giáo cũng như tất cả mọi giá trị trường tồn góp phần làm cho nhân loại tiến bộ không những về mặt vật chất mà cả về mặt tinh thần nữa; còn tác vụ tư tế thì bằng cách tiến hành các nghi thức phụng tự của riêng mỗi tôn giáo.

    Và làm thế nào để giúp chỉnh đốn và hội nhập các tôn giáo không kitô: thì đó là công trình có thể phát hiện được bằng cách phân tích kỹ lưỡng những nguyên tố khác nhau cấu tạo nên các tôn giáo ấy và đem các nguyên tố đó so sánh với những gì Thiên Chúa đã ban cho Dân của Ngài.

    Chúng ta biết rằng chính Thiên Chúa đã lấy lòng nhân lành mà cung ứng cho Dân Ngài (Dân cũ cũng như Dân mới) những yếu tố căn bản của ơn Ngài cứu độ: đầu tiên là với Lề Luật của Môsê, rồi sau đó với Phúc Âm Ngài đã làm cho Dân Ngài biết các chân lý chính yếu liên quan đến Thiên Chúa, đến con người, đến thế giới, đến lịch sử nhân loại cũng như liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống con người; Ngài đã vén mở cho Dân Ngài thấu hiểu về các giá trị tối hậu, đã ban cho họ những luật lệ, những nghi thức, những cơ cấu tổ chức và những tác vụ cần thiết. Tất cả những điều ấy làm tiêu chuẩn giúp họ có thể cầm cân nảy mực một cách vững chắc mà đánh giá, phê bình cũng như hoàn thiện các tôn giáo không kitô.

    Khi phân tích kỹ các tôn giáo, thì sẽ nhận ra rằng trong tất cả các tôn giáo không kitô, kể cả các tôn giáo gần Kitô giáo nhất như Do thái giáo và Hồi giáo, người ta gặp thấy những nét dị biệt rất lớn đối với các nguyên tố căn bản làm nên "nền văn hóa tôn giáo" của Dân mới Thiên Chúa, "bởi vì trong nhiều điểm, những lối hành động và cách thức sống, những huấn giới và giáo thuyết của các tôn giáo kia khác hẳn với những gì chính Giáo hội tin nhận và đề ra” (NK 1).

    Tuy nhiên, dù có những khác biệt to lớn, Công đồng chung Vaticanô II cũng không tiên thiên gạt bỏ đi những nét đặc thù của các tôn giáo khác, nhưng trái lại, giữ một thái độ kính cẩn và coi trọng nhất là đối với các giá trị đích thực, và khuyên các phần tử trong Giáo hội hãy "lấy khôn ngoan và bác ái mà đối thoại và hợp tác với tín đồ các tôn giáo khác bằng cách không ngừng làm chứng cho đức tin và cho đời sống kitô, ngõ hầu gìn giữ và đẩy mạnh những giá trị thiêng liêng, luân lý đạo đức cũng như văn hóa xã hội gặp thấy ở trong các tôn giáo ấy" (NK 2).



    Kết Luận

    Từ cuộc phân tích về vai trò cứu độ của các tôn giáo không kitô, có thể rút ra được ba nhận định kết luận như sau:

    1. Nguồn suối từ đó xuất phát ơn cứu độ là duy nhất, tức là có một không hai, và nguồn suối đó chính là Đức Giêsu Kitô: trong Ngài, với Ngài và nhờ Ngài, Thiên Chúa đã muốn thiết lập một mối quan hệ tình yêu và ân sủng với tất cả mọi người;

    2. Giáo hội, Dân mới của Thiên Chúa, Thân mình của Đức Kitô, có nhiệm vụ chính thức loan báo Tin mừng và làm nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ cho muôn dân;

    3. Các tôn giáo không kitô cũng là những phương thế lưu chuyển ơn cứu độ, có thể dẫn đưa con người đến với Đức Kitô, với điều kiện là đã sẵn có, hoặc sẵn sàng đón nhận các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa và đã được rộng ban cho Dân Ngài, là Giáo hội, nhờ công nghiệp của Đấng Cứu Thế.



    Sesto Quercetti Hoàng Văn Lục chuyển ngữ.

    [1] Bài viết của Battista Mondin, mang tựa đề -La Salvezza nelle religioni non cristiane-, đăng trong tạp chí CITTAÌ DI VITA, Gen.-Feb. (1990) 5-14.

    nguồn: http://www.htth.org/so/so03/03d_on_cuu_do.html

    Hợp tuyển thần học: http://www.htth.org/cac_so_bao.html#mucluc03
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  4. #4

    Mặc định

    đây là những cuộc bàn cãi của con người với nhau thôi, theo vitxiem thì Thiên Chúa là người quyết định số phận mỗi linh hồn, dĩ nhiên là nếu 1 người lương thiện của đạo khác chết đi Chúa đâu bắt họ xuống địa ngục mà họ đi đâu thì đó là chuyện của Thiên Chúa , trong khi đó Chúa Giê Su xuống thế dạy những gì thì ai cũng biết rồi, người ngoại đạo cũng biết nhưng họ có theo hay không thì mọi người ai cũng biết rồi, nói tóm lại, cái gì trong kinh thánh là cái Chúa phán, ta cứ thế nghe theo, còn thì dùng trí óc con người suy luận đó nhưng cũng chẳng thể kết luận đó là ý của CHúa được, tất cả những chuyện bàn cãi trên là vì các quốc gia Á Châu theo nhiều đạo khác nên hội đồng Giám mục đưa ý kiến lên để thảo luận vậy thôi, còn tất cả chỉ trong vòng bàn cãi, Thiên CHúa cho ta 1 cuốn sách rồi, trong đó nói đầy đủ hết , Kinh Thánh đó , sách cũ mà lúc nào cũng mới hết !
    Last edited by Vitxiem; 30-01-2013 at 06:59 PM.
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  5. #5

    Mặc định

    [QUOTE=minhthai;1068906]

    3. Các tôn giáo không kitô cũng là những phương thế lưu chuyển ơn cứu độ, có thể dẫn đưa con người đến với Đức Kitô, với điều kiện là đã sẵn có, hoặc sẵn sàng đón nhận các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa và đã được rộng ban cho Dân Ngài, là Giáo hội, nhờ công nghiệp của Đấng Cứu Thế. QUOTE]

    đoạn này không có nói về PG đâu, vì đạo phật hoàn toàn độc lập, họ không có đón nhận "các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa và đã được rộng ban cho Dân Ngài, là Giáo hội, nhờ công nghiệp của Đấng Cứu Thế" vì họ có các phương thức cứu độ riêng của họ :happy:
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  6. #6

    Mặc định

    Những người luôn áp đặt và không muốn đối thoại với các tôn giáo khác thường khó chấp nhận.

    Dù sao thì Công đồng Vaticano II không phải dành riêng cho Châu Á, mà dành cho đối thoại Liên tôn.

    Những gì giáo hội Á Châu viết không phải là bàn cãi nữa, mà là những trải nghiệm tinh tuý nhất của giáo hội Á Châu trong việc khơi mở 1 con đường truyền giáo mới, gọi là Tân phúc âm hoá. Và vấn đề này Châu Âu không phải đối mặt giữ dội như Á Châu.

    Nếu tôi thấy có gì đó không ổn ở đây, việc đầu tiên tôi làm là đi hỏi 10 Linh mục về vấn đề tôi đang nghi ngờ, sẽ tốt hơn rất nhiều cho việc định hình 1 tâm thế khi đối thoại với những người bạn thuộc tôn giáo hay 1 tín ngưỡng khác. Đấy mới thực sự là yêu Chúa.

    Vì nếu tôi không hiểu, có thể tôi sẽ chống lại các tư tưởng của chính anh em mình, và bảo nó là Tà đạo, phản Ki-tô giáo,vv...
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  7. #7

    Mặc định

    Muốn xem PG có thể là phương thế lưu truyền ơn cứu độ và Thần khí có hoạt động trong PG không, hay đặt câu hỏi:

    Họ có sống cuộc đời theo các giá trị tốt lành để hướng tới Chân-Thiện-Mỹ không ?
    Từ By Hỷ Xả có phải là cuộc sống từ bỏ, tự huỷ vì anh em đồng loại không ? Đấy có phải là cây thập tự họ đang mang trên mình không ?

    Bát chánh đạo có phải là cách để con người từ bỏ các tham lam, thế tục, tiền-quyền-danh,vv... từ đó rũ bỏ hết mọi tà kiến để tiến tới gần Thiên Chúa không ?

    vv....

    Từ đó sẽ thấy hình ảnh của Đức Ki tô và Thần khí thúc đẩy trong những tư tưởng triết học tốt lành ấy.

    Thuốc đắng thì dã tật, Thiên Đàng là 1 nơi mà con người phải hằng ngày từ bỏ các tư tưởng cố chấp,sai lầm, bảo thủ của mình. Và nhiều người đã được nếm thử Phúc Thiên Đàng ngay ở cuộc sống hằng ngày.
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  8. #8

    Mặc định

    Các dự tòng tốt lành là những minh chứng cho sự hoạt động của chúa thánh thần nằm ngoài giáo hội
    -Người Đời Cười Ta Quá Điên Khùng†Ta Cười Người Đời Nhìn Không Thấu- :D

  9. #9

    Mặc định

    Thông thường khi 1 cái cành cây bắt đầu già đi, thì cần cắt tỉa, và các trồi non mới mọc sẽ có sức sống mạnh nhất. Người tân tòng như những chồi non mới mọc.

    Như mùa xuân là nhờ mùa đông mà có. Hay Steve Jobs nói " Sự chết là phát minh vĩ đại nhất của sự sống, ngay cả người muốn lên Thiên Đàng cũng không muốn chết để được đến đó" :)

    Những người tân tòng như 1 cái ly còn cạn nước được đổ đầy, nhiều người có những trải nghiệm về đức tin rất mãnh liệt.

    Còn cứ quanh năm chỉ có 1 mùa, nhiều khi không biết hết được giá trị. Hoặc là bởi vì những người Công giáo theo đạo do được truyền lại, cái cây đã già, Thiên Chúa cho nhưng không, nhưng lại không biết giá trị của nó.

    Vì vậy cắt tỉa, đau khổ, mất mát, thảm họa, bệnh tật,thập giá, cái chết,vv... chính là phương để nhận ra được các giá trị của sự sống hay Thần khí.
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  10. #10

    Mặc định

    Như chúa giêsu đã từ bỏ và chấp nhận hi sinh để giao hòa thiên chúa và con người để làm gương cho chúng ta vì thế chúng ta phải từ bỏ những tư tưởng ko hay về dân ngoại để cho họ nhận biết chúa và giao hòa với người ̣ vì thế là người kitô hữu hay ko phải kitô hữu hãy để cho chúng ta có cái nhìn tốt đẹp về nhau
    Last edited by HungGiuse; 31-01-2013 at 01:13 AM.
    -Người Đời Cười Ta Quá Điên Khùng†Ta Cười Người Đời Nhìn Không Thấu- :D

  11. #11

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi minhthai Xem Bài Gởi
    3. Các tôn giáo không kitô cũng là những phương thế lưu chuyển ơn cứu độ, có thể dẫn đưa con người đến với Đức Kitô, với điều kiện là đã sẵn có, hoặc sẵn sàng đón nhận các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa và đã được rộng ban cho Dân Ngài, là Giáo hội, nhờ công nghiệp của Đấng Cứu Thế.
    vitxiem hỏi minhthai 1 câu này , bạn trả lời thẳng vô câu hỏi đừng nói vòng vo loanh quoanh nghe, câu hỏi là " Đạo Phật giáo có phải là đối tượng mà đoạn văn trên đề cập tới hay không?"
    bạn phải trả lời rõ ràng và thẳng vào vấn đề , bạn hiểu đoạn văn trên và PG liên can thế nào, phân tích đi
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  12. #12

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi minhthai Xem Bài Gởi
    Những người luôn áp đặt và không muốn đối thoại với các tôn giáo khác thường khó chấp nhận.

    Vì nếu tôi không hiểu, có thể tôi sẽ chống lại các tư tưởng của chính anh em mình, và bảo nó là Tà đạo, phản Ki-tô giáo,vv...
    chẳng qua minhthai muốn hợp thức hóa cái chuyện tử vi, xủ quẻ, phong thủy, bói toán của PG qua CG nên minhthai muốn trộn 2 bên với nhau thôi, ai mà nói minhthai sai thì minhthai cho là áp đặt và không muốn đối thoại, bạn của tui PG đầy ra đó, nên nhớ ở VN người CG chỉ có 1 nhúm thôi, bạn tưởng bước chân ra ngoài đường chỉ toàn tín hữu CG thôi à??
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  13. #13

    Mặc định

    Bạn Càng nói càng sai.

    PG không có tử vi phong thủy gì đâu. Ngay cả nguyên lý của các môn này đến giờ vẫn còn là bí ẩn vì quá trừu tượng.

    Ở đây đang nói về chủ đề Đức Ki tô trong các tôn giáo khác.

    Vấn đề là bạn không thể chấp nhận 1 Đức Ki tô và Thánh Linh hoạt động ngoài Ki tô giáo.

    Bạn nên đọc cuốn Lão Tử-Đạo đức Kinh luận giải của tác giả công giáo Lý Minh Tuấn, sẽ thấy cách Lão Tử miêu tả về Thiên Chúa qua cách nhìn của người Á Đông thế nào.

    Tác giả Lý Minh Tuấn viết nhiều sách về Đông Phương học dưới góc nhìn về Thiên Chúa, đây có lẽ là cách kết nối và con đường mở lối vào Ki tô giáo hiệu quả 1 cách tự nhiên nhất.

    Đọc rồi thì không nghi ngờ nữa.
    Last edited by minhthai; 31-01-2013 at 09:52 AM.
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  14. #14

    Mặc định

    CÙNG QUAN SÁT 1 NGÔI NHÀ TA CÓ THỂ ĐỨNG Ở NHIỀU GÓC ĐỘ TRƯỚC MẶT , SAU LƯNG HAY BÊN CẠNH , BÊN TRÊN NHƯNG CHUNG QUY VẪN CHỈ LÀ 1 NGÔI NHÀ ĐÓ....
    CÁC TÔN GIÁO DẪN CON NGƯỜI TỚI GẦN VỚI THƯỢNG ĐẾ VÀ SỐNG TỐT HƠN ĐỀU LÀ CÁC TÔN GIÁO CHÂN CHÍNH , THƯỢNG ĐẾ MỞ RA NHIỀU CON ĐƯỜNG CHO NHIỀU HẠNG NGƯỜI CÓ NHỮNG NĂNG LỰC KHÁC NHAU CÓ THỂ CÙNG ĐẾN VỚI NGÀI , AI THÍCH TRIẾT HỌC THÂM SÂU THÌ CÓ PHẬT GIÁO ,ĐẠO GIÁO.... AI CÓ ĐỨC TIN VÀ LÒNG SÙNG TÍN THÌ CÓ THIÊN CHÚA GIÁO , HỒI GIÁO.... NGAY CẢ CÁC DÂN TỘC BÁN KHAI CÒN HOANG SƠ NƠI RỪNG RẬM , SA MẠC THÌ CŨNG CÓ CÁC TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA CỦA HỌ.... ĐIỀU ĐÓ CHO THẤY SỰ CÔNG BÌNH CỦA THIÊN CHÚA TRƯỚC VẠN VẬT...
    VÌ SAO ..??? VÌ NGÀI CHÍNH LÀ TOÀN THỂ TẤT CẢ .... VÀ TẤT CẢ HIỆP NHẤT TRONG NGÀI
    KINH THÁNH LÀ 1 CUỐN SÁCH KÌ DIỆU VÀ 5 SÁCH ĐẦU TIÊN CÒN GỌI LÀ SÁCH NGŨ KINH MOISE NHƯNG THỬ HỎI TRƯỚC THỜI MOISE THÌ KHI KHÔNG CÓ KINH THÁNH THỜI CÁC ÔNG NÔ-Ê ,APRAHAM CÁC ÔNG ẤY DỰA VÀO ĐÂU...??? TRONG MỖI THỜI ĐẠI KHÁC NHAU THIÊN CHÚA LUÔN LIÊN TỤC CÓ CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN ĐẠT TỚI LOÀI NGƯỜI THÔNG QUA CÁC TÔN GIÁO THẾ NÊN CHỚ VỘI MÀ CHO RẰNG MÌNH CAO HƠN HẾT THẨY TẤT CẢ , TRƯỚC THỜI CHÚA JESU ĐÃ TỪNG CÓ VÀ SAU NÀY TRONG TƯƠNG LAI SẼ CÒN CÓ NHIỀU NHỮNG CHÂN GIÁ TRỊ RẤT CAO NỮA :
    12 Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi.13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.14 Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em.15 Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em.

  15. #15

    Mặc định

    chủ đề gì cũng vậy thôi, hồi nào giờ vx đặt cho bạn nhiều câu hỏi từ tử vi , phong thủy cho tới cđ vatican2 nhưng bạn thường né trả lời mà thích phê bình lại thôi v.v... chuyện phê bình thì dễ rồi nhưng cái chuyện dùng kinh thánh để chứng minh cách thực hành tử vi bói toán của bạn là đúng thì vx chờ mỏi cả cổ chả thấy bạn chứng minh được gì cả

    bạn chả cần đưa bằng chứng mà bạn cho bạn đúng biết bao nhiêu vấn đề rồi, trong khi đó mình nói bạn sai thì mình lập nguyên cả 1 chủ đề dùng đến cả kinh thánh, bạn làm mình mất hứng thú nhiều lần rồi vì hong thấy bạn trả lời các câu hỏi của mình nên bạn khó thuyết phục được người đọc lắm, thôi mình hong nói với bạn nữa vì bạn làm cho mình có cảm giác như mình đang nc với lãnh tụ ấy
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  16. #16

    Mặc định

    mt cũng chẳng có hứng thú khi trao đổi 1 vấn đề mà người khác ko biết chút gì.

    Rất tiếc với Vịt xiêm là nhiều người học huyền học đã nhận ra Thiên Chúa theo 1 cách nào đó, mặc dù họ ko gọi đó là Chúa.

    Người không tin thì không nên cố hiểu làm gì, và cũng ko nên cãi lý mãi, vì Thiên Chúa của vịt xiêm chỉ dành cho người TCG thôi, không phải là Thiên Chúa mà Thái dương 162 đề cập :)
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  17. #17

    Mặc định

    tôi thì thấy thế này.những người không phải đạo thiên chúa,mà đang đi tìm thiên chúa đấng tạo hóa.khi họ gặp được tin mừng,tân ước.thì họ ngộ ra rất nhanh,nhanh hơn nhiều những người đạo gốc.lý do là họ chịu học hỏi nhiều hơn,và cũng vì họ biết những lời khuyên đích thực nhiều lên khi gặp được tin mừng.họ có thể phân tích kinh thánh như những nhà thần học,vấn đề này ta phải suy nghĩ nhiều hơn.đúng là giáo lý cơ bản thì không trê được nhưng độ sâu xa thì còn kém hơn những người bổn đạo mới.vì tôi cũng có quen biết nhiều người đạo mới ,thực nhiều cái mình giật mình vì còn kém hơn họ về kinh thánh đó.lên tôi nghĩ thần khí chúa cũng dẫn dắt họ từ các tôn giáo.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  18. #18

    Mặc định

    CHÚA THÁNH THẦN
    TRONG SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI
    Lời mở
    Bàn về sứ mệnh của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhận định rằng: “Chúa Thánh Thần tỏ mình một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các phần tử của Giáo hội. Tuy nhiên, Người hiện diện và hoạt động ở khắp nơi, không bị giới hạn bởi không gian cũng như thời gian”[1]. Vì thế, để tìm hiểu về đề tài này, chúng ta đề cập đến hai khía cạnh chủ chốt về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội và ngoài biên cương của Giáo hội.
    1. Thánh Thần hướng dẫn sứ vụ của Giáo hội
    Trước hết, dựa vào nền thần học của thánh Gioan, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khẳng định sứ vụ của Giáo hội là công trình của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, khởi đi từ lễ Ngũ tuần, các tông đồ đầu tiên đã được Thần Khí của Đấng Phục sinh hướng dẫn, soi sáng tâm trí để hiểu về mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa và chương trình cứu độ của Ngài (x. Ga 16, 13; 14, 26).
    Cùng với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các tông đồ từ những người nhút nhát đã trở nên can đảm và xác tín một cách mạnh mẽ hơn vào Chúa đến độ họ không thể giữ riêng trong lòng mình: “điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống… chúng tôi đã thấy và chúng tôi làm chứng… chúng tôi loan báo cho cả anh em để anh em cũng được hiệp thông với Chúa Cha và Con Người là Chúa Giêsu Kitô” (1Ga 1, 1-3).
    Vâng, chỉ khi các Tông đồ gặp được “Mặt Trời” chân lý thì lời rao giảng của họ sẽ không dừng lại tại một mớ lý thuyết trừu tượng khó hiểu như trước nữa, nhưng lời rao giảng của các Tông đồ càng trở nên xác tín hơn, sống động hơn xuyên qua một kinh nghiệm sống, một cuộc gặp gỡ thân tình với Đấng đã chết và đã sống lại. Và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, lời rao giảng của các Tông đồ giờ đây trở nên như “gươm hai lưỡi”, có sức đánh động và làm thay đổi tâm hồn con người như tác giả sách Tông đồ Công vụ thuật lại: “nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phêrô cùng các Tông đồ khác : thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?”. Ông Phêrô đáp: “anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2, 37-38).
    Theo trình thuật trên đây, Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh không chỉ hoạt động trong các Tông đồ - là những người được Đức Kitô tuyển chọn và sai đi (x. Mt 28, Mc 16, Lc 24 và Ga 20), mà chính Ngài còn làm cho những người nghe lời giảng của các Tông đồ được thấu hiểu và được biến đổi để trở nên người môn đệ đích thực của Chúa Kitô. Nói khác đi, Chúa Thánh Thần vừa hoạt động trong những người rao giảng Tin mừng, vừa tác động một cách mạnh mẽ trong tâm hồn của những người nghe lời rao giảng.
    Ngoài ra, để củng cố tinh thần hiệp nhất giữa các tông đồ, Thần Khí còn thúc đẩy họ biết sống chia sẻ tình hiệp thông huynh đệ, trở nên cộng đoàn kiểu mẫu của Giáo hội tiên khởi (x. Cv 2, 42-47) đồng thời tiếp tục làm chứng cho Chúa Giêsu, Đấng đã phục sinh (x. RM 26; EN 41-42).
    Các Tông đồ làm chứng cho Chúa Phục Sinh, chắc chắn không chỉ bằng lời nói suông, song bằng cả hành động nữa (x. EN 75) kể cả khi họ gặp thử thách gian nan thì chính Thánh Thần sẽ dạy họ biết điều phải làm như chính Chúa Giêsu đã báo trước: “Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, nhưng là chính Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em” (Mt 10, 18-20). Vậy Thánh Thần không chỉ hiện diện và hoạt động trong Giáo hội mà thôi, nhưng Đấng là “gió muốn thổi đâu thì thổi” cũng luôn hiện diện và tác động ngoài biên cương của Giáo hội.
    2. Hoạt động của Thánh Thần ngoài Giáo hội
    Như chúng ta đã biết, sách Tông đồ Công vụ kể lại việc Chúa Thánh Thần tác động trên viên đại đội trưởng Cornelio. Ông là một người lương dân, có lòng đạo đức, kính sợ Thiên Chúa và chuyên cần cầu nguyện (x. Cv 10, 1-2) mặc dù ông chưa biết Thiên Chúa. Qua cung cách sống của ông và gia đình ông, có thể nói họ được soi chiếu dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần (x. Cv 10, 4). Còn Phêrô, khi tiếp nhận người ngoại giáo đầu tiên, trưởng hội đường Roma là Cornelio ở Cesarea vào cộng đoàn tiên khởi, Phêrô biết rõ không chút nghi ngờ về hành động tiếp nhận của ông. Chắc chắn thái độ này không phải do phong tục tôn giáo, nhưng là vì đó là ý muốn của Chúa như Phêrô đã xác tín điều đó giữa Hội đường rằng: “Quý vị thừa biết: giao du hay vào nhà một người khác chủng tộc là điều cấm kỵ đối với người Do thái. Nhưng tôi thì Thiên Chúa đã cho tôi thấy là không được gọi ai là ô uế hay không thanh sạch” (Cv 10, 28). Theo đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, sự kiện này diễn tả một biến cố lớn lao trong lịch sử cứu độ đó là Phêrô đã giữ lại nguồn gốc cho Hội thánh tiên khởi; tuy nhiên, Phêrô cũng hiểu rằng mình còn phải là dụng cụ của Chúa Thánh Thần để khởi đầu sứ mệnh đến với “các dân tộc” theo lệnh truyền của Chúa Kitô (x. Mt 28, 19). Biến cố này cũng mạc khải tính cách phổ quát của Nước Thiên Chúa trong thế giới: Phêrô đã mở ra một con đường mới cho Luật mới, trong đó, Tin mừng của ơn cứu độ phải đạt tới nơi mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, giai cấp, quốc gia, văn hóa và tôn giáo.
    Nhưng để đạt tới sự nhận thức đặc biệt về biến cố này, đức giáo hoàng Gioan Phaolô II còn nói thêm rằng sách Tông đồ Công vụ mô tả trước hết về một tiến trình nội tâm, một “thị kiến” mà qua đó, chúng phát sinh ra những vấn nạn, những suy tư mập mờ còn để lại trong tâm hồn của Phêrô do tác động của Chúa Thánh Thần liên hệ đến lệnh truyền của Chúa Kitô trong sứ mệnh truyền giảng Tin mừng: “Hôm sau, đang khi họ đi đường và đến gần Gia-phô, thì ông Phê-rô lên sân thượng cầu nguyện; lúc đó, vào khoảng giờ thứ sáu. Ông thấy đói và muốn ăn. Đang khi người ta dọn bữa thì ông xuất thần. Ông thấy trời mở ra va một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, đang được thả xuống đất. Trong đó có mọi giống vật bốn chân và rắn rết sống trên đất, cùng mọi thứ chim trời. Có tiếng phán bảo ông: "Phê-rô, đứng dậy, làm thịt mà ăn! Ông Phê-rô thưa: "Lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô uế và không thanh sạch". Lại có tiếng phán bảo ông lần thứ hai: "Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế". Việc ấy xảy ra đến ba lần, và lập tức vật ấy được đưa lên trời”. (Cv 10, 9-16).
    Khi tiến trình nội tâm đã thực hiện xong, thì Phêrô được sai đến nhà ông Cornelio bởi Thần Khí. Tại đây, Phêrô bằt đầu bài giảng của mình với những lời lẽ thần học truyền giáo: “Quả thật tôi biết Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận. Ngài đã gửi đến cho con cái nhà Israel lời loan báo Tin mừng bình an, nhờ đức Giêsu Kitô, là Chúa của mọi người …” (Cv 10, 34-43). Đức Gioan Phaolô II cho rằng bài giảng kerygma và giáo lý về ngày lễ Ngũ tuần của Phêrô đã được lập lại ở Cesarea trong nhà của người ngoại giáo Cornelio, nơi biến cố tiệc ly diễn ra một lần nữa, biến cố đó có thể gọi là lễ Ngũ tuần cho các dân ngoại. Quả thật, “Ông Phêrô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Những tín hữu thuộc giới cắt bì cũng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả dân ngoại nữa, bởi họ nghe những ngừơi này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa” (Cv 10, 44-45). Việc này không phải chỉ có các tông đồ biết, nhưng kể cả các “anh em” khác cũng cảm thấy hành động “thúc đẩy” của Chúa Thánh Thần, chẳng hạn như trừơng hợp của tông đồ Stephano (x. Cv 6, 5), Barnaba hay Phaolô (x. Cv 13, 2.4.9)[2]. Sau cùng, tác gỉa sách Công vụ kết luận Phêrô “truyền làm phép rửa cho họ nhân danh đức Giêsu Kitô” (Cv 10, 48). Với quyền của người tông đồ, Phêrô, dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, đã khởi đầu việc truyền bá Tin mừng và Giáo hội của Người đến các biên cương của dân tộc Israel.
    Vậy dưới tác động của Chúa Thánh Thần, các Tông đồ là những người đại diện Giáo hội tiên khởi được sai đi rao giảng và đem Tin mừng cứu độ của Chúa Kitô, không chỉ cho dân tộc Do thái và những tín hữu đã tin vào Chúa Kitô mà thôi; nhưng khởi đi từ Giáo hội của Chúa Kitô, ơn cứu độ còn được Thánh Thần ban xuống cho các dân ngoại ở mọi nơi trong khắp cùng bờ cõi trái đất như thánh Tông đồ dân ngoại đã diễn tả một cách xác tín rằng: Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và được nhận biết danh Ngài (x.1Tm 2, 4).
    Nt. Minh Quang O.P
    -Người Đời Cười Ta Quá Điên Khùng†Ta Cười Người Đời Nhìn Không Thấu- :D

  19. #19

    Mặc định

    Chứng nhân trong sự hiệp nhất yêu thương
    Thế giới ngày hôm qua cũng như hôm nay luôn ngưỡng mộ những chứng nhân cho tình yêu. Một Tê-rê-sa thành Calcutta nhỏ bé nhưng có một trái tim lớn lao đã làm cho cả thế giới kính phục. Ở Việt Nam, người công giáo hay không công giáo họ vẫn nói với nhau về một vị giám mục dám bỏ ngai tòa để đến ở cùng những người cùi tại trại cùi Di linh. Đó chính là Đức Giám mục Cassien. Ngài đã dùng tình yêu để xoa dịu những những đau đớn cho người cùng khổ. Ngài đã chết cho tình yêu, nên tình yêu của Ngài mãi ở lại nơi dương thế qua mọi thời đại.
    Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, thiết tưởng là dịp thuận lợi để chúng ta nhìn lại tinh thần chứng nhân tin mừng của giáo hội sơ khai. Một giáo hội non trẻ nhưng có sức mạnh biến đổi trần gian. Một giáo hội bị cấm đoán nhưng vẫn lan tỏa đến tận cùng thế giới. Một giáo hội nhỏ bé nhưng ai cũng có tinh thần truyền giáo, khiến thánh Phao-lô đã từng nói rằng: “Tôi trồng, Apolo tưới, Thiên Chúa mới cho mọc lên”. Vậy đâu là điểm son để giáo hội có thể vượt qua mọi trở ngại để phát triển và canh tân bộ mặt trái đất? Thưa đó chính là tinh thần hiệp nhất yêu thương.
    Theo sách tông đồ công vụ, thời giáo hội sơ khai, các tín hữu “sống hiệp nhất với nhau, và để mọi sự là của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu” (Tđcv 2, 44). Họ hợp nhất với nhau không chỉ về niềm tin mà còn hiệp nhất trong tình liên đới chia sẻ của cải vật chất cho nhau. Sự liên đới này tạo nên một cộng đoàn bác ái yêu thương, trong đó mỗi người đều được cộng đồng quan tâm, nâng đỡ và chia sẻ cho nhau tùy theo nhu cầu của từng người.
    Chính đời sống yêu mến nhau nơi các tín hữu mà Giáo hội sơ khai đã được toàn dân thương mến. Sự thương mến đó đã đem nhiều người về với Chúa. Sự thương mến đó cũng là nơi bảo vệ các tín hữu khỏi những cuộc tàn sát của bạo chúa hung tàn. Vâng, nếu ngày xưa cộng đoàn Giáo hội sơ khai đã được “toàn dân thương mến” (Tđcv 2,47a), thì đời sống của xứ đạo chúng ta hôm nay, cũng phải là một cộng đoàn được những người chung quanh nhìn bằng ánh mắt trìu mến thân thương. Đó cũng là cách chúng ta ca tụng Chúa và giúp cho “càng ngày càng có nhiều người gia nhập Giáo hội” (Tđcv 2, 47b)
    Thế nên, tinh thần truyền giáo mời gọi chúng ta hỗ trợ nhau không chỉ về tinh thần mà còn cả về vật chất, không chỉ là những người có đạo mà còn cả những người lương dân. Đồng thời sự chia sẻ này cũng nói lên sự xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét trong cộng đoàn để đón nhận nhau trong tinh thần bác ái huynh đệ. Lấy “dĩ hòa vi quý” để sống hài hòa, nâng đỡ đùm bọc lẫn nhau tạo nên một cộng đoàn chan hòa yêu thương, bác ái, chia sẻ, cảm thông. Đó cũng là dấu chỉ cho thấy chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu, là chứng nhân của Tin mừng giữa lòng dân tộc Việt Nam.
    Vì chưng, giới luật quan trọng nhất của kytô giáo chính là Mến Chúa – yêu người, thì người người ky-tô hữu chúng ta phải thể hiện điều đó qua từng lời nói, từng việc làm, luôn được cân nhắc cho vừa ý trời và phù hợp với luân thường đạo lý làm người. Vì vậy, một đời sống chứng nhân Tin mừng cũng phải thể hiện bằng một đời sống hòa hợp với cộng đồng, với tha nhân. Nhất là biết thể hiện sự tương thân tương ái nơi cộng đồng giáo xứ, sự hiệp nhất yêu thương trong tình huynh đệ với tha nhân, nhờ đó mà Tin mừng mới nở hoa trên từng môi trường sống của người tín hữu. Chúng ta không thể là một người kytô hữu tốt mà lại đối xử thật tồi tệ với anh chị em chung quanh. Lối sống này không chỉ là lỗi luật Chúa mà còn là cớ vấp phạm cho những người chưa biết Chúa. Nhà lãnh tụ Ganhi của An Độ đã từng nói: “Nếu những người kytô giáo sống đúng tinh thần giáo lý của họ. Tôi sẽ mời gọi cả dân tộc Ấn trở lại”. Chúng ta không thể truyền giáo mà còn mang nặng tính bè phái, tỵ hiềm, chia rẽ. Lối sống này đã không thu góp về cho giáo hội những tín đồ mới mà còn đẩy biết bao người ra khỏi giáo hội bởi lối sống ích kỷ, độc đoán của chúng ta. Thực tế đã có rất nhiều những cộng đoàn, những xứ đạo đổ vỡ vì sự bè phái đã phá đổ tình hiệp nhất yêu thương. Đã có rất nhiều người bỏ đạo, chối đạo vì sự bất khoan dung của chúng ta đã đẩy họ ra khỏi Giáo hội, khỏi cộng đoàn. Và cũng có rất nhiều cái nhìn thiếu thiện cảm của anh em lương dân nhìn đến chúng ta, chỉ vì chúng ta sống thiếu công bình, thiếu lòng bác ái, thiếu lòng bao dung.
    Thế nên mỗi người tín hữu phải biết sống tinh thần truyền giáo khởi đi từ lòng mến Chúa, yêu người nơi mỗi người chúng ta. Chúng ta mến Chúa nên chúng ta hăng say truyền giáo. Chúng ta yêu mến tha nhân nên chúng ta muốn chia sẻ niềm vui với tha nhân. Tình yêu mến mời gọi chúng ta đi đến với tha nhân bằng một tình yêu chân thành, không khoe khoang, không giả dối. Tình yêu mến mời gọi chúng ta dấn thân một cách quảng đại để đem tình yêu Chúa nối kết tình người, đưa con người đến cùng Thiên Chúa và giúp con người xích lại gần nhau.
    Nguyện xin Chúa Giê-su là Đấng đã từ trời xuống để gieo tin mừng yêu thương vào cho nhân thế, nâng đỡ và giúp chúng ta sống ơn gọi truyền giáo bằng một tình yêu mến nồng nàn. Ước gì đời sống chúng ta cũng trở thành một lời chứng sống động cho tin mừng khi chúng ta dám sống triệt để theo những đòi hỏi của tin mừng là mến Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân như chính mình. Amen
    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
    -Người Đời Cười Ta Quá Điên Khùng†Ta Cười Người Đời Nhìn Không Thấu- :D

  20. #20

    Mặc định

    1 bác thợ đãi vàng cũng biết không vì 1 mớ đất đá tưởng vô dụng mà không gạn lọc khơi trong các giá trị trong đó.

    Và đôi khi trong 1 mớ đất đá tưởng vô dụng, có khi có cả 1 mỏ vàng.

    Thường thì chỉ những ai miệt mài tìm kiếm mới có thể biết cách khai thác mỏ vàng đó.

    Người ko hoặc chưa có kinh nghiệm tìm kiếm thì không thuộc đường và dễ bị lạc trong mê trận.
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Tác động của Thần khí nơi các tôn giáo khác
    By minhthai in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 32
    Bài mới gởi: 24-11-2016, 06:47 PM
  2. CHÚA CHA PHÁN DẠY CON CÁI CỦA NGƯỜI phần 1
    By lethang in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 28-10-2012, 12:00 AM
  3. Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 01-06-2012, 11:51 AM
  4. KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN M.E.L
    By tuanvu_quynh1949 in forum Luân xa, Nhân điện, Cảm Xạ, Yoga, Thôi miên học.
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-04-2011, 03:26 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •