kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Giai thoại về cụ Nguyễn Khuyến

  1. #1

    Mặc định Giai thoại về cụ Nguyễn Khuyến

    Tạ người cho hoa trà

    Tương truyền khi Lê Hoan là tuần phủ Hưng Yên đứng ra tổ chức cuộc thi thơ vịnh "Kiều" ở Tao đàn Hưng Yên năm 1905, hắn có mời Nguyễn Khuyến vào ban chấm thi.
    Khi ấy, khách văn chương ở các tỉnh gửi bài về rất nhiều; riêng Chu Mạnh Trinh gửi hai chục bài đến dự thi và đoạt giải nhất. Nguyễn Khuyến chấm thơ Chu Mạnh Trinh cho là khá; nhưng đọc đến hai câu trong bài vịnh Sở Khanh:

    Làng nho người cũng coi ra vẻ,
    Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay!


    Nguyễn Khuyến tỏ vẻ không bằng lòng, phê ngay vào bên cạnh rằng:

    Rằng hay thì thực là hay,
    Đem "nho" đối "xỏ" lão này không ưa.


    Chẳng mấy chốc, chuyện ấy lọt ra ngoài rồi lan khắp trong làng nho, ai nghe cũng lấy đó làm một giai thoại để giễu họ Chu.Chu Mạnh Trinh từ đấy giận Nguyễn Khuyến. Khi làm án sát Hưng Yên, nhân ngày Tết, Chu cho người mang đến biếu Nguyễn Khuyến một chậu hoa trà với dụng ý cũng khá thâm: Nguyễn Khuyến lúc ấy đã bị lòa cả hai mắt, mà họ Chu lại tặng hoa chỉ có sắc, không có hương, như thế là có ý xỏ lá. Hiểu thâm ý của Chu, Nguyễn Khuyến bèn làm bài thơ mỉa như sau gửi lại cho Chu Mạnh Trinh:

    Tết đến người cho một chậu trà
    Đương say còn biết cóc đâu hoa!
    Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ,
    Áo tía đai vàng, bác đó a?
    Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá (1)
    Gió to luống sợ lúc rơi già! (2)
    Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi,
    Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà! (3)


    Chu Mạnh Trinh đọc xong thơ vừa thẹn vừa ân hận.Người ta nói đùa rằng một phần chính vì bài thơ này, nhất là hai câu 3, 4 mà Chu Mạnh Trinh đã phải xin từ chức án sát, không làm quan nữa. Cố nhiên lý do không phải là như vậy.Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch (sưu tầm)
    -----------------
    (1) Xỏ lá: còn có nghĩa là nguy hại; do câu thơ chữ Hán "Tầm thường vì vũ kinh xuyên diệp" (Những hạt mưa nhỏ dần dà cũng có thể xuyên thủng lá).
    (2) Rơi già: rơi rụng quả, gẫy mầm; do câu thơ chữ Hán "Tiêu sắt thời phong khủng lạc già" (Gió mùa khô, mạnh, làm cho quả rụng, mầm rơi).
    (3) Khà: tiếng cười khà: mắt lòa không thấy sắc đẹp nên phải ngửi, ngửi cũng "đếch thấy hơi thơm" nên đành phải cười khà.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  2. #2

    Mặc định

    Chót vót trên này có một tao

    Nhân dịp ông Hoàng Trọng Phu du học bên mẫu quốc Phú lãng sa (Pháp)trở về, ông Hoàng Cao Khải mở tiệc cực lớn để đón con trai... Ông mời rất đông thực khách,các quan viên danh giá và các sĩ phu Bắc Hà đều có mặt. Cụ Tam nguyên Yên Đổ (Nguyễn Khuyến)cũng (bất đắc dĩ )đến dự tiệc.
    Mọi người đều ca tụng tài đức của quan Khâm sai Đại thần họ Hoàng và tỏ rất ngưỡng mộ Vị tân học Hoàng Trọng Phu... Một sĩ phu Bắc hà khởi xướng làm thơ để thêm phần vui vẻ... Mọi người đều hưởng ứng, xin cụ Hoang Cao Khải ra đề... Ông Hoàng Cao Khải vuốt râu cười rồi ra đề

    "Trời xanh có nói gì đâu"

    Có ý tự mãn về những thành đạt của mình... Mọi người đều đọc thơ của mình .... các bài thơ đếu có ý tán dương, xu nịnh chủ tiệc... Riêng cụ Tam Nguyên Yên Đổ vãn ngồi im. Đẻ có người nhắc cụ mới hắng giọng đọc

    Chót vót trên này có một tao
    Mày xem, tao có nói đâu nào ?
    Da tao tím ngắt , pha đen trắng
    Bởi tại Dì Oa*... vá váy vào


    -------------------------------------
    *Xem điển tích Nữ Oa vá trời Cả phòng tiệc im lặng, có người sợ hãi... Ai cũng biết cụ Nguyễn Khuyến chửi ông Hoàng Cao Khải... mà ông cũng không thể có phản ứng gì được...
    Theo CHU VĂN (tiểu thuyết Bóng nước Hồ Gươm)
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  3. #3

    Mặc định

    Câu đối dán chuồng heo

    Nhà thầy học có giỗ, môn sinh được thầy cho ăn cỗ. Còn thừa một cỗ xôi, họ bàn chia phần. Một anh nẩy ra ý hay: ai dẫn được một câu trong sách ứng với việc lấy phần thì cho hưởng cả, khỏi phải chia. Mọi người tán thưởng..
    Từ trưởng tràng (trưởng tràng là người học trò có uy tín được cử chỉ huy cả lớp học như lớp trưởng bây giờ) trở xuống đều gãi đầu, gãi tai, vắt óc lục hết Tứ thư, Ngũ kinh mà không tìm được câu nào. Riêng Nguyễn Thắng ( tên “cúng cơm” của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến) cứ tủm tỉm cười. Cuối cùng khi mọi người đã chịu, Thắng mới ung dung đọc:

    “Thủ kỳ dư dĩ tử tôn! ”

    Tức là “Lấy phần thừa để cho con cháu”

    Nói rồi anh ta trút cả cỗ xôi thừa vào tráp của mình, đậy nắp lại.
    Mọi người tưng hửng song đều phục Thắng là tài. Đó là một câu trong sách nói về việc tích đức để dành phần cho con cháu nhưng vận dụng vào việc lấy phần xôi thịt thừa thì quả là “láu”.
    Trưởng tràng tức lắm, chọc Nguyễn Thắng:
    -Chữ nghĩa chú mày cũng khá đấy. Lúc nào thư thả nghĩ cho mình đôi câu đối dán chuồng lợn.
    Môn sinh cười ầm lên. Thắng ung dung:
    -Nếu nhà anh cần, lấy ngay giấy bút ra đây, tôi đọc cho ghi.
    Thấy câu chuyện ra chiều lý thú, anh em bèn đem giấy bút cho trưởng tràng, rồi xúm quanh chờ xem. Thắng đọc:

    -Tràng tràng tràng tràng tràng tràng tràng

    Mọi người ngơ ngác. Trưởng tràng quẳng bút không chịu viết tiếp. Thắng giục: “Cứ ghi đi!” và đọc tiếp:

    -Tràng tràng tràng tràng tràng tràng tràng

    Môn sinh cười ồ, tưởng Thắng chỉ đọc nhăng cho qua chuyện. Không ngờ, Thắng giật lấy bút ở tay trưởng tràng, vẽ thêm mấy nét móc cần thiết vào đầu mấy chữ “tràng” để thành chữ “trưởng”.
    Do vậy hai câu trên thành đôi câu đối:

    Trưởng trưởng, tràng tràng, tràng trưởng trưởng
    Tràng tràng, trưởng trưởng, trưởng tràng tràng

    Nghĩa là:

    Lớn lớn, dài dài, dài lớn lớn
    Dài dài, lớn lớn, lớn dài dài


    Câu đối treo chuồng heo cầu cho heo chóng lớn, thiết tưởng không còn câu đối nào hay hơn nữa
    Nhưng oái oăm thay, toàn bộ hai vế đối treo chuồng heo thu lại chỉ có hai chữ “trưởng tràng”
    Anh trưởng tràng càng ngẫm lại càng cay


    Câu đối tết

    Cùng với chữ Hán, nhiều danh sĩ nước ta còn viết câu đối Tết bằng chữ Nôm. Ðầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyến (1835-1909) đã sử dụng tài tình chữ viết của dân tộc, đưa cả ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào câu đối. Trong 67 câu đối hiện còn của cụ thì 47 câu đối Nôm. Ðây là cảnh Tết của một nhà nghèo mà lòng vân phơi phới sắc xuân khi giao thừa sắp đến:

    Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
    Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"


    Hiểu rõ vần xoay của tạo hóa, cụ ước ao: "Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân"
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Giai thoại về cụ Nguyễn Du
    By 470525 in forum Truyền thuyết - Giai thoại - Lịch sử VIỆT NAM
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 22-11-2012, 04:00 PM
  2. Giai thoại về Nguyễn Công Trứ
    By 470525 in forum Truyền thuyết - Giai thoại - Lịch sử VIỆT NAM
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 19-11-2012, 04:53 PM
  3. Dẫn nhập giả thuyết về thiền định
    By vuhanp in forum Thiền Tông
    Trả lời: 53
    Bài mới gởi: 25-09-2012, 07:04 PM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 25-04-2012, 05:26 PM
  5. Cụ chánh bá mất giày
    By hungsodep09 in forum Nguyễn Công Hoan
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 09-12-2011, 02:38 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •