Trang 2 trong 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 21 tới 40 trên 58

Ðề tài: Thần chú của Mật Tông

  1. #21

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi khahuy_qn Xem Bài Gởi
    khahuy la người mới , nên cho khahuy hỏi. có người chi cho khahuy đọc UM, lại AN vậy từ nào đúng?
    Tôi thấy người Kim Cang Đạo Sư- các Ripoche người Tây Tạng đọc là: OM A.. ( như là hát ru vậy)
    Last edited by Tam_Minh_2003; 22-05-2012 at 08:59 PM.
    Dân ham sính lễ là điềm nguy xã tắc
    Khi nào dân Ngộ Đạo mới là điềm Thịnh của Quốc gia

  2. #22

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi tri_sieu Xem Bài Gởi
    có thể giải thích cho mình hiểu thêm không? mình đang tìm hiểu về mật tông. mật tông cũng có chánh và tà nữa à bạn?
    chánh là thế nào tà là thế nào bạn giải thích cho mình mở mang với nhé, cảm ơn nhiều
    Tôi tạm hiểu như thế này , nêu sai xin cáạo Hc Đữu chỉ giáo:
    Chánh Đạo là tu theo Đạo giải thoát khỏi Lục Đạo Luân hồi ( càng tu bản ngã càng xuống thấp, người ta càng Khiêm hạ).
    Theo quan điểm này người tu Mật theo con đường giải thoát là phải có bậc Thầy là bậc đã tu chứng Thánh quả ( Kim Cang Đạo Sư- Ripoche) theo một dòng truyền thừa không đứt đoạn)
    Tà( tôi tạm hiểu) là tu theo các con đường trong luân hồi, không tu giải thoát ( càng tu bản ngã càng lên cao- Những người ham thần thông hay tu theo con đường này)
    Mời bạn tham khảo-Mười loại thồi phồng hoang tưởng có thể làm ta rõ hơn chăng?:
    http://www.thegioivohinh.com/diendan...ead.php?t=8700
    Last edited by Tam_Minh_2003; 22-05-2012 at 09:01 PM.
    Dân ham sính lễ là điềm nguy xã tắc
    Khi nào dân Ngộ Đạo mới là điềm Thịnh của Quốc gia

  3. #23

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Bin571 Xem Bài Gởi
    Thần chú của Mật Tông (Phần 1)
    27/05/2007 11:13
    Kiêm Đạt


    Hầu hết kinh điển Mật Tông đều nhấn mạnh rằng: Những mật chú đều là những chân ngôn của chư Phật và chư Bồ Tát có giá trị nhiếp tâm và truyền giảng vô lượng. Mật Chú giúp đỡ cho chúng sinh xa lìa tham, sân si, là những độc hại trong việc tu hành. Việc trì tụng những mật chú sẽ tiêu trừ các tai ương, giải cứu những ách nạn, đưa con người thoát khỏi cảnh giới sa đoạ. Thành thử, kiên tâm trì tụng với tất cả tâm thành, kết quả tốt đẹp không biết đâu lường được.


    Kinh Chuẩn Đề Đà Ra Ni của Mật Tông dạy những phương pháp trì tụng và nói về công năng của việc trì tụng những Chân ngôn. Có đến 10 bộ kinh dạy về Chân ngôn, từ thấp đến cao, mà trong ứng dụng bất cứ trình độ nào cũng tu tập được. Khi trì tụng lâu, sẽ được ứng hiện trong mộng tưởng.
    Kinh Chuẩn Đề dạy rằng: "Tu tập vững vàng sẽ tạo mộng lành. Hoặc mộng thấy chư Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Nữ. Hoặc mộng thấy tự thân bay lên hư không một cách tự tại. Hoặc vượt qua biển lớn, hoặc trôi nổi trên sông Giang Hà, hay lên lầu các, hoặc lên cây cao hoặc trèo lên núi tuyết, hoặc chế ngự được voi, sư tử, hoặc thấy nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cũng có thể mộng thấy là vị tu hành, sa môn. Hoặc nuốt bạch vật, nhả ra hắc vật. Hoặc thâm nhập vào tinh tú, thiên hà...". Trong khi trì tụng kinh điển này, thường phát ra ánh sáng lạ kỳ, do Phán nhãn mang lại. Có người thấy lạc vào cõi Tịnh Độ, cảnh giới giải thoát hoàn toàn. Cũng có người thấy được kiếp trước của mình.
    Nội dungBộ kinh trên có giành phần lớn để nói về các Thần Chú: bản văn Thần Chú và công năng của Thần Chú. Thần Chú không sử dụng tùy tiện được. Phải có đức giác ngộ mới đọc Thần Chú có hiệu quả. Mật Tông nói về trường hợp nhiều đạo sĩ dùng những Thần Chú không đúng hướng gây tác hại: chẳng những không đạt được kết quả theo ý muốn, mà còn gây thêm những nguy hiểm khôn lường được.

    Nội dung các Thần chú này được phân chia ra 9 phẩm. Mỗi phẩm có sức nhiếp phục và sở cầu khác nhau:

    Nội dung 3 phẩm đầu

    Hạ Phẩm: nếu thành tựu hạ phẩm của Thần Chú, thì có thể năng nhiếp phục tất cả tứ chúng, phàm có sở cầu điều gì thì đạt được, sai khiến được nhiều hạng, kể cả Thiên Long cũng thuần phục. Những Thần Chú này lại còn có thể hàng phục được 45 loại trong các "trùng thú" và "quỷ mị".

    Trung Phẩm: Khi thành tựu được việc dùng Thần Chú của Trung Phẩm, sẽ có công năng sai khiến được tất cả Thiên Long, Bát Bộ, khai mở những "bảo tàng" dấu kín. Cũng có thể đi vào trong Tu La Cung, Long Cung... bất cứ trong trường hợp nào.

    Thượng Phẩm: Nếu thành tựu được phần Thượng Phẩm, sẽ có được những khả năng phi thường: hoặc dùng phép khinh thân để chu du khắp nơi, cũng có thể dùng đến thuật "tàng hình" để tránh tai biến.

    Nội dung 3 phẩm giữa

    Hạ phẩm: Nếu thành tựu hạ phẩm của phần này (Trung Độ) sẽ điều hành được nhiều cảnh giới, tái sinh trong vô lượng kiếp, phúc huệ chiếu sáng trong 3 cõi, hàng phục chúng ma.

    Trung phẩm: Nếu thành tự phẩm này, thì có sức thần thông qua lại các thế giới khác, có khả năng chuyển hoá Luân Vương, trụ thọ trong nhiều kiếp sau này.

    Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, sẽ hiệu chứng được nhiều phép lạ, từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên.Trung độ là trình độ khó thành; chỉ những bậc cao tăng nhiều kiếp mới nhiếp phục được 3 phẩm này.

    Nội dung 3 phẩm cuối

    Hạ phẩm: Nếu thành tự phẩm này, sẽ đạt được Đệ Ngũ Địa Bồ Tát trở nên.

    Trung phẩm: Nếu thành tựu phẩm này sẽ đạt được từ Đệ Bát BồTát Địa trở lên.

    Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, thì Tam Mật sẽ biến thành Tam Thân. Trong cảnh giới hiện tại thì có thể chứng quả "Vô Thượng Bồ Đề".


    Ứng dụng những Mật Chú

    Những nhà tu hành Mật Tông dùng những Mật Chú trong những trường hợp cần thiết nhất và cũng hạn chế nhất để tránh những tác hại khác. Một trong những loại Mật Chú quan trọng và thông dụng là Mật Chú Đà Ra Ni (Dharani). Theo nguyên nghĩa thì Đà Ra Ni là bảo tồn, gìn giữ, chống lại những lôi cuốn khác bất cứ từ đâu tới. Những Mật Chú này dùng để khống chế vọng tưởng và vọng động. Trong một giá trị khác, Mật Chú Đà Ra Ni sẽ phát huy đạo tâm của hành giả đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Tà ma, ngoại đạo đều bị Mật Chú Đà Ra Ni chế ngự ngay từ bước đầu. Dùng Mật Chú không thể khinh thường và thiếu cẩn trọng. Chỉ trong những trường hợp khổn cùng, cấp bách, không thể thoát khỏi tai kiếp thì mới đọc lên.

    Mật Chú Đà Ra Ni còn được gọi là "chân ngôn" hay "chân kinh" tức là những câu nói ngắn nhưng rất vi diệu, chân thật, "bất khả tư nghị" của chư Phật hay chư Bồ Tát. Mật Chú không thể giải nghĩa được hay lý luận được. Những buổi lễ quan trọng nhất của Mật Tông mới được dùng những Mật Chú này. Công dụng chính là đưa những sức huyền diệu, anh linh của vũ trụ đi vào trong nội tâm của con người. Mật Chú cũng có thể tiêu trừ những bệnh khổ do Tứ Đại gây ra. Những bệnh do Ngũ uẩn, hay do quỷ thần gieo rắc cũng có thể giải cứu bằng Mật Chú được. Cũng như Đàn Tràng (hay Đàn Pháp) (Mandala), Mật Chú có công dụng vô biên, khó lường được. Nhiều người coi thường Mật Chú và Đàn Tràng, cho nên khó giải thoát. Hiển Mật Viên Thông có chép rằng: "Ba đời của đức Như lai, chưa hề có vị Phật nào không theo Đàn Pháp mà thành Phật Đạo".

    Lời dạy này mang hai ý nghĩa: (a) Mật Chú và Đàn Pháp vốn rất huyền diệu (b) Chỉ dùng đến hai loại này trong trường hợp cần thiết nhất mà thôi.Giá trị của Mật Chú Đà Ra Ni không thể lường được. Chẳng hạn như một cao tăng tụng Mật Chú với tất cả lòng thành của mình thì sẽ tiêu trừ những nghiệp chướng rừng vướng mắc vào nội tâm hay từng gây tai họa lớn lao. Sức tiêu trừ này khó hình dung được, nhưng giải toả được những nguy hiểm do tha nhân tạo nên.

    Những cao tăng Tây Tạng ít khi nói đến những Mật Chú. Theo họ, một giới tử nào vọng động trong việc dùng Mật Chú, tưởng là cứu cánh tu hành, sẽ bỏ mọi khả năng tu tập chính của mình để học Thần Chú. Mật Chú chỉ được dùng như là cẩm nang tối hậu chỉ được mở ra thực hiện trong một thời điểm cần thiết nhất. Một giới tử sau khi được Điểm Đạo hay Quán Đỉnh thì được nhắc nhở điều này.

    Kinh Thủ Lăng Nghiêm trong phần nói về công năng của những loại Thần Chú của Kim Cang Thừa (Tantra) có đoạn viết:- "Mật Chú của chư Phật vốn là phép bí mật. Chỉ có đức Phật với Phật tự biết với nhau mà thôi; các vị Thánh cũng không thể nào thông đạt về Chú được. Chỉ trì tụng là diệt được tội lỗi, nhanh chóng đạt được Thánh Vị" (Phẩm Chú Hạnh).
    Trong một đoạn khác có viết: "Thần Chú là mật ấn của chư Phật: Những vị Phật và Phật truyền cho nhau, người khác trong cảnh giới nào cũng không thể nào thông hiểu được..."

    Trong Hiển Thủ Bát Nhã Sớ viết: " Chú là Pháp môn bí mật của chư Phật, không thể nào thấu hiệu được nhân vị của những lời Chú". Viễn Công Niết Bàn Sớ khi luận về Thần Chú cũng viết: "Chân Ngôn chưa chắc là chuyên ngữ của người Thiên Trúc. Nếu đem ra phiên dịch thì lại không hiểu nổi, vì lẽ đó cho nên không thể nào phiên giải được...".

    Thiên Thai Chỉ Quán của Thiên Thai Tông cũng viết về các Thần Chú như sau: "Chỉ có bậc Thánh Thượng thì mới có thể nói đến (giải lý đến) 2 pháp: Mật và Hiển. Những kẻ phàm nhân chỉ có thể xưng tán được những lời kinh trong Hiển Giáo; còn về Mật Giáo thì không giải thích được. Đà Ra Ni, nhân vị của Thánh Hiền không thể nào hiểu giải được, chỉ có thể tin mà thọ trì mà thôi. Trì Chú thì có thể diệt được mọi nghiệp chướng, kết tựu được phước đức". Theo những cao tăng của Mật Giáo, những Mật Chú (Mantras) là Viên Mãn, nếu giải thích ra chỉ là phiến diện, có thể sai lầm nữa. Thành thử không nên tìm cách để giải thích. Những kinh sách cho rằng: đây là guyên nghĩa của những câu Thần Chú chỉ là ngụy ngôn.

    Mật nghĩa chỉ là "bất khả tư nghị". Trong Pháp Hoa Sao Sớ có đoạn nêu rõ rằng: "Về Bí Pháp của chư Phật, thì không thể nào hiểu được ý nghĩa, cho nên được gọi là Mật ngôn". Bát Nhã Tâm Kinh viết: "Tổng trì cũng như loại thuốc thần, như Cam Lộ, uống vào thì lành bệnh, nhưng khi phân tích trong đó có gì, là điều sai lầm. Tuy là mật ngôn, nhưng công dụng, giá trị của những lời Thần Chú này thật bao la".

    Theo Đà Ra Ni Kinh thì: "Thần Chú vốn là tối thắng, có thể giải trừ được tội lỗi của chúng sinh, giải thoát được sinh tử luân hồi, chứng quả Niết Bàn, an lạc pháp thân...".

    Khi tụng những câu Thần Chú, phải chú ý đến toạ bộ. Chẳng hạn như trì tụng Đại Tam Muội Ấn thì: "Lấy hai tay ngửa ra, rồi tay hữu để lên trên tay tả, hai đầu ngón cái giáp lại với nhau, để ngang dưới rốn". Thực hiện việc trì tụng này, kết quả không lường được: Ấn này có thể diệt được tất cả cuồng loại, vọng niệm, điên đảo, tư duy tạp nhiễm. Còn khi chấp thủ về Kim Cang Ấn Quyền thì kết ấn như sau đây: "Lấy ngón cái để trong lòng bàn tay bấm tại đốt vô danh chỉ giáplòng bàn tay, rồi nắm chặt; sau đó tay phải cầm chuỗi ký số, miệng tụng: "Tịnh pháp giới chân ngôn" (108 biến).

    Ấn này trừ được nội ngoại chướng hiện ra hay nhiễm phải; thực hành đúng đắn thì thành tựu tất cả công đức. Về Chuẩn Đề Chú thì kết ấn như sau: "Sau khi đảnh lễ (3 lạy) xong, thì hành giả ngồi kiết già. Lấy ngón tay áp út và ngón út bên mặt và bên trái xỏ lộn với nhau vào trong hai lòng bàn tay; dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của hai ngón giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón áp út bên mặt. Để ấn này ngang ngực.

    Sau đó chí tâm tưng 108 lần câu chú "Chuẩn Đề" và chú "Đại Luân Nhất Tự" như sau: "Nam Nô Tát Đa Nẫm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẫm, Đát Điệt Tha. Án Chủ Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Đề, Ta Bà Ha - Bộ Lâm."
    Có thể trì tụng nhiều hơn nữa. Khi niệm số đã ấn định, muốn nghỉ thì xả ấn lên trên đỉnh, kế đó dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 vị trí như sau: 1) Trên đảnh đầu 2) Nơi vai bên trái 3) Ở vai bên mặt 4) Tại ngang ngực 5) Nơi yết hầu

    (Còn tiếp)
    Ban Ghi sai rồi kia "Án Chiếc" chứ không phải "Án Chủ"

  4. #24

    Mặc định

    nghe nói mật tông là tâm truyền tâm có phải ko? vô pháp thắng hữu pháp!

  5. #25

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hovankhon Xem Bài Gởi
    Ban Ghi sai rồi kia "Án Chiếc" chứ không phải "Án Chủ"
    Án Chiếc là mật tông thiên đình
    Đọc đúng phải là
    Om Cha Le Chu Le Chum Đê Soa Ha.


    Người nào tu mật tông mà còn lòng tham cầu thì sẽ bị dắt vào con đường tà không chóng thì chầy, vì trong 5 bô chỉ có Phật bộ là tu tánh không, mà đã là tánh không thì chẳng mong cầu điều gì cả.
    Đa số người Tu mật không đi vào Phật bộ, mà đi sang kim cang bộ hay bồ tát bộ, có người lòng tham còn nhiều đi theo quỹ thần bộ....
    Nên nhớ một điều tu hành là phải tự tâm mình sửa cái phần "con" của mình cho nó thành cái phần "người", miệng niệm chú mà thân tâm lúc nào cũng không lìa ái dục thì càng ngày càng xa Phật.
    Last edited by Tâm_định; 21-06-2012 at 09:47 AM.
    Lang thang trong cỏi luân hồi
    Cùng nhau suy ngẫm chuyện đời, chuyện tu
    Pháp Phật là pháp tự tu
    Xa rời nhân thế, sao tu đây người?

  6. #26

    Mặc định

    CHÂN GIẢI THOÁT NHẤT TRẦN BẤT NHIỄM
    DIỆU TRANG NGHIÊM VẠN PHÁP GIAI KHÔNG

    A DI ĐÀ PHẬT

  7. #27

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Bin571 Xem Bài Gởi

    Thần chú của Mật Tông
    (Phần 1)
    27/05/2007 11:13
    Kiêm Đạt

    Hầu hết kinh điển Mật Tông đều nhấn mạnh rằng: Những mật chú đều là những chân ngôn của chư Phật và chư Bồ Tát có giá trị nhiếp tâm và truyền giảng vô lượng. Mật Chú giúp đỡ cho chúng sinh xa lìa tham, sân si, là những độc hại trong việc tu hành. Việc trì tụng những mật chú sẽ tiêu trừ các tai ương, giải cứu những ách nạn, đưa con người thoát khỏi cảnh giới sa đoạ. Thành thử, kiên tâm trì tụng với tất cả tâm thành, kết quả tốt đẹp không biết đâu lường được.
    (Còn tiếp)
    Hiển Tông và Mật Tông (Phần 2 )
    Kiêm Đạt


    Đại Nhật là bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tôn. Đại Nhật được dịch từ chữ "Đại Tỳ Lô Giá Na" (Mahavairocana), nguyên nghĩa là "đại giải thoát" hay "đại giác ngộ". Đại Nhật cũng được gọi là "ánh sáng mặt trời". Đây là sự sáng chói do công năng tu hành đạt được.

    Kinh Đại Nhật (Mahavairocana Sutra)


    Đại Nhật là bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tôn. Đại Nhật được dịch từ chữ "Đại Tỳ Lô Giá Na" (Mahavairocana), nguyên nghĩa là "đại giải thoát" hay "đại giác ngộ". Đại Nhật cũng được gọi là "ánh sáng mặt trời". Đây là sự sáng chói do công năng tu hành đạt được. Màn vô minh sẽ bị đẩy lùi, sức sáng trí tuệ lan toả. Toàn bộ kinh hướng về trọng tâm nầy.Kinh điển Nhật Bản gọi là "đạo bồ đề"; Kinh điển Trung Hoa dịch là "đại chứng quả". Những ý niệm nầy có điểm tương đồng về mục đích cuối cùng của tu chứng.

    Bộ kinh nầy dày đến 14 cuốn, được phân chia làm 123 chương, đại cương trình bày 2 vấn đề chính: vấn đề lý thuyết (50 chương đầu) và vấn đề thực hành (73 chương). Tuy nhiên hai phần bổ sung cho nhau và vấn đề nghiên cứu phải đi từ đầu.

    Những vấn đề căn bản của kinh Đại Nhật: Nghiên cứu những vấn đề chính trong kinh Đại Nhật, phải đi từng phẩm một. Những phẩm nầy có những liên hệ với nhau. Hành giả phải tiến theo từng bước. Có theo trình tự, mới quán triệt ý nghĩa. Không thể tách từng phần để hiểu ngang và điều nầy là chướng ngại trong học đạo và tu trì.

    Những phẩm chính là:- Pháp Tam mật- Chưng ba kiếp- Sáu Vô úy- Đàn pháp Mạn Đà La. Mỗi phẩm lại còn chia thành nhiều vấn đề nhỏ. Đại Phật Kinh kiến giải bằng mật ngôn, nên gây trở ngại không ít về dịch thuật. Thành thử nhiều tác giả đã hiểu sai lầm hay sơ sót, thiếu nghĩa. Ngài Long Thọ, vị Bồ Tát đã được truyền thụ đầu tiên và nhiếpđịnh kinh nầy đã nhận thức rằng: " Hành giả! Đại Nhật Kinh vốn là vua trong Đại Thừa; trong giáolý Mật Tông, đây là những lời Tối Mật". Thành thử trong những bản văn nghiên cứu Kinh Đại Nhật ở Trung Hoa và Nhật Bản, vì hiểu được tánh chất của Mật ngôn, thường khởi đầu bằng câu "Có thể hiểu như vầy", để tỏ rõ sự hiểu biết giới hạn về từng câu kinh của Đại Nhật.

    Pháp Tam mật: Tam mật gồm có Thân mật, Ngữ mật và Tâm mật. Phàm người tu hành theo kinh điển nầy phải dùng đến 3 phương tiện tối mật nầy để tạo thanh tịnh cho 3 Nghiệp là Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và Ý Nghiệp. Nhờ đến cố gắng để bảo vệ 3 Nghiệp, sẽ nhận được sự gia trì do Tam mật của đức Như Lai. Thành tựu được phápmôn nầy sẽ được đắc quả Giải thoát, Giác Ngộ, không phải trải quanhiều kiếp sống để tu tập cho đủ các hạnh khác.

    Chứng ba kiếp: Bên cạnh pháp môn Tam mật, Giáo lý về ba kiếp,là phần quan trọng trong bộ Kinh nầy. Trong Kim Cang Thừa, tu Thiền Định có thể vượt qua những vọng chấp, thoát khỏi 160 Tâm và các loại phiền não, tức là vượt qua được A Tăng Kỳ Kiếp thứ nhất. Sau đó hành giả vượt qua vọng chấp vi tế của 160 Tâm: đó là ATăng Kỳ Kiếp thứ 2. Sau cùng, nhờ công năng tu hành, vượt qua được những vọng chấp còn lại, vứt bỏ được 160 Tâm, gạt được phiền não, để đạt được Sở Tâm của Trí Tuệ Phật. Nhờ Thiền định, hành giả có thể đẩy xa các phiền não đen tối, các u ám vây quanh, đạt đến sự sáng suốt của Tâm Bồ Đề.

    6 Vô Úy: gồm có Thiện Vô Úy, Thần Vô Úy, Vô Ngã Vô Úy, Pháp Vô Úy, Pháp Ngã Vô Úy và Nhất Thiết Pháp Tự Tánh Bình Đẳng Vô Úy. Trong Thiện Vô Úy, phải giữ vững Ngũ giới, làm 10 điều lành (Thập Thiện), sẽ tránh được những khổ não trong ba cõi ác (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh). Khi thực hành Thân Vô Úy, thì suy tưởng đến sự dơ bẩn của thân, vứt bỏ hết cái Ngã thường tình, trần tục, không còn chấp trước đến cái ngã của mình nữa.

    Thực hành Vô Ngã Vô Úy tức là quán tưởng thân xác của mình là chẳng qua là sự kết hợp của Ngũ Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Thực tập Thiền định để quán tưởng về tự tánh của Tâm, thoát tham, sân, si, tâm không phiền não, thân không kiêu căng, con người vốn chỉ do tứ đại hợp thành. Pháp Vô Úy tức là quán đến ngũ uẩn đều là không, các pháp uẩn đều trống rỗng, các hình tướng đều không có thực. Pháp Vô Ngã Vô Úy là quán về ba cõi do Tâm tạo nên. Ngoài Tâm ta ra, thì không có pháp; khi đó chính Tâm ta cũng rỗng không. Nhờ quán tưởng đến lý vô thường nầy, hành giả sẽ đắc quả Bồ Tát.

    Nhờ Thiền định, có thể thấy rõ bản chất của Tâm, đạt được "cái dụng tự tại" của Tâm. Nhất Thiết Pháp Tự Tánh Bình Đẳng Vô Úy giúp ta hiểu rằng: các pháp đều do nhân quả tuần hoàn lưu chuyển mà sanh ra, không hề có tự tánh. Các tánh đều có chung một tự tánh: đó là Không tánh. Phàm những người tu theo hạnh Chơn Ngôn (trì tụng Thần Chú), sẽ đạt được trạng thái thật của Bồ Đề Tâm, vạn vật đều là như huyễn.

    Đàn pháp Mạn Đà la trong kinh Đại Nhật Kinh Đại Nhật còn chỉ rõ những nhận định cần thiết trong việc lập Đàn pháp Mạn Đà La. Mạn Đà La được thực hiện trong Lễ Quán Đảnh, là hình tượng cao nhất để biểu hiện sự Giác Ngộ, Giải Thoát của chư Phật. Khi thực hiện Mạn Đà La, chỉ có những vị Kim Cang Sưmới đủ khả năng và đạo hạnh để thực hiện. Không thể tùy tiện sáng chế ra Mạn Đà La.Trong lễ Quán Đảnh, dựng Mạn Đà La lên, phải chọn đất và làm lễ Trí Địa (Earth Healing). Lễ Trí Địa nhằm mục đích "thanh tịnh hóa" vùng đất đó trước khi tổ chức Lễ Quán Đảnh. Nhờ vậy, tăng thêm phần uy nghi của cuộc lễ. Sau việc chọn đất là chọn ngày lành. Việc nầy phải lễ kính đến các Địa Thần phù trì.

    Như thế việc chọn lấy thời gian và không gian để tổ chức lễ Quán Đảnh, thực hiện đàn pháp Mạn Đà La rất quan trọng. Những vị Đạo sư chủ lễ Quán Đảnh tập trung Thiền định và quán tưởng đến 5 vị Thiền Na Phật (Djinas). Đó là chư vị: Đức Đại Nhật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) ngự ở trung tâm, đức A Súc Bất Động Như Lai (Aksobhya), ngự ở phương Đông, đức Bảo Sanh Nhật Lai (Ratsa Sambhava) ngự ở phương Nam, đức Vô Lượng Quang A Di Đà Như Lai (Amitabha) ngự ở phương Tây và đức Bất Không Thành Tựu (Amoghasidhi) ngự ở phương Bắc.

    Trong đàn pháp nầy thường có rất nhiều loại Mạn Đà La khác nhau, như: Đại Mạn Đà La, Tam Muội Gia Mạn Đà La, Pháp Đại Mạn Đà La,Yết Ma Mạn Đà La. Những Mạn Đà La có thể vẽ bằng những hạt cát có nhuộm màu; có loại được vẽ bằng sơn màu. Những giới tử trong buổi lễ thường được vị Kim Cang Sư chủ lễ trao cho sợi chỉ Kim Cang màu đỏ hay màu vàng. Có người được đón nhận lấy cây xỉ mộc hay đóa hoa khô.. Sợi chỉ màu tượng trưng cho 5 vị Thiền Na Phật. Cây xỉ mộc và đoá hoa khô được gieo vào nơi hành lễ của giới tử. Khi cây xỉ mộc hay đoá hoa khô rơi vào 1 trong 5 phương hướng nào, tương ứng với 5 vị Thiền Na Phật kể trên, thì giới tử đó sẽ nhận vị Thiền na Phật đó làm Bổn Tôn. Sau nầy sẽ thờ cúng và trì tụng vị Thiền Na Phật đó.

    Buổi lễ Quán Đảnh được kết thúc bằng lễ Hộ Ma. Hộ Ma có nghĩa là giải trừ các chướng ngại, khai mở Trí Tuệ Thậm Thâm.
    Đạo sư Kim Cang hay Kim Cang Sư

    Trong Kim Cang Thừa, vị Đạo sư Kim Cang có chức năng quan trọng nhất trong việc truyền thừa. Cũng như Pháp môn Thiền định, bao giờ cũng cần đến vị chân sư chỉ dẫn để khỏi sai lầm ngay từ đầu, trong Mật Tông cũng vậy.Vị Đạo sư Kim Cang lúc nào cũng tích cực, bình tĩnh và quán triệt mọi việc trong việc giáo huấn đồ đệ mình. Hình ảnh sâu sắc nhất của vị Đạo sư là tay phải cầm "cây cờ lịnh". Biểu tượng của cây cờ lịnh nầy cũng giống như chày Kim Cang hay "lưỡi tầm sét". Công năng của "lưỡi tầm sét" là phóng ra những tia tầm séttừ trong tay của mình với đối tượng trước mắt.

    Quan hệ giữa Đạo sư Kim Cang với giới tử rất quan trọng; nếu tương quan nầykhông thích hợp hay thiếu chặt chẻ, có tác dụng thì vị Đạo sư sẽ điều chỉnh lại sao cho thích hợp. Vị Đạo sư trong Mật Tông là người trung gian giữa giới tử với cảnh giới bên kia. Trong trường hợp nầy, có thể ví Đạo sư như thầy phù thủy. Thầy phù thủy có liên hệ với cảnh giới bên kia và có khả năng tiếp cận với cảnh giới ấy với khả năng của mình. Tuy nhiên tiếp cận có nghĩa là tìm hiểu, chứ không thể nào biến đổi. Nhiều người đã hiểu sai điều đó rồi khuếch đại lên về tài "hô phong hoán vũ". Đó là điều sai lầm.

    Nhưng vị Đạo sư của Mật Tông chỉ là người vận dụng những thần lực (Pháp Nhãn) để tiếp cận, chứ không phải là vị phù thủy được xem là có những tài năng đặc dị thay đổi cảnh giới.

    Thông thường, vị Đạo sư thường tiếp xúc với giới tử bằng cách đưabàn tay chạm vào vai, vào tay, đồng thời theo dõi từng nhịp tim của giới tử, để truyền đạt những năng lực của mình; cũng có khi hai người đụng nhẹ đầu vào nhau, cũng trong ý nghĩa trên. Tuy nhiên việc tạo năng lực của giới tử là khả năng vốn có của mình, chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào kẻ khác. Hiểu sai, là nhận định lệch lạc ngay từ bước đầu.

    Sự tiếp cận và cảm nhận nói trên thường được gọi là "Abhisheka",đôi khi được gọi là "Lễ Điểm Đạo". Dịch theo ý nầy không đượcchính xác cho lắm. Theo nghĩa của tiếng Sanskrit, thì "Abhisheka"có nghĩa là "sự gột rửa". Nó thường được biểu tượng bằng lối gột rửa trong nước Thánh, thứ nước đã được những vị Đạo sư Kim Cang đã làm cho tinh khiết. "Ashisheka" không phải là một buổi Điểm Đạo, hay một lễ Tiếp Nhận. Nó hoàn toàn khác hẳn lễ đó.

    Đạo sư Kim Cang "chiếm giữ" phần hồn các giới tử và các giới tử đã đón nhận uy quyền; uy quyền nầy mạnh hay yếu thuộc về khả năng của bản thân giới tử đó và vị Đạo sư.Vị Đạo sư nắm giữ chúng ta, để đua chúng ta vào một cảnh giới khác. Vai trò của vị Đạo sư Kim Cang chẳng khác nào một cột thu lôi để truyền năng lượng của vũ trụ sang chúng ta. Việc thu nhận nầy có hai hệ quả khác nhau: có thể tạo nên một cơn "sốc"; cũng có thể sử dụng làm điện lượng tốt. Người thọ giới cũng thường gặp hai hiện tượng nầy.

    Khả năng tu học theo Mật Tông là làm sao thu nhập được điện lực tốt, tránh cơn "sốc" trong tư tưởng của mình. Trong Giáo lý của Kim Cang Thừa, thuờng nói đến tương quan trực tiếp của Đạo sư với đồ đệ không thể thiếu được. Con đường đi vào Mật Tông không dễ dàng, nếu chỉ hiểu qua loa một số giáo lý nhà Phật hay một số kinh điển nào đó.

    Người đệ tử không thể nào thực hành một phép tu Mật Giáo một cách thực thụ mà không có sự quan hệ với vị Đạo sư. Một vị Đạo sư như thế không phải là nhân vật tưởng tượng, nhân vật trong quá khứ hiểu qua sách sử, mà phải là vị Đạo sư đang hiện hữu và đã từng trải qua quá trình hành trìvề Tantra. Lạt Ma Choegyam Trungpa trong những tác phẩm nổi tiếng của mìnhvề "Thực hành Kim Cang Thừa" thường hay cảnh cáo: "Nếu không thể hiểu biết rõ ràng cách nhập môn Kim Cang Thừa với vị Đạo sư hướng dẫn, thì thà rằng đừng bước vào. Đi vào với những sai lầm, sẽ gây nhiều phiền phức và nguy hiểm..." Đạt đến vị thế của một Đạo sư trong Mật Tông là bài học của kiên trì, cương quyết, tin tưởng và dũng mãnh.

    Những vị Đạo sư của Mật Tông Tây Tạng trên con đường tìm hiểu đạo pháp thường trải qua muôn ngàn khó khăn. Việc tu chứng của Mật Tông đòi hỏi nhiều công phu, và nếu không có vị Chân sư dìu dắt sẽ rơi vào nhiều nguy hiểm. Trong Kim Cang Thừa, vị chân sư là tối quan trọng và không thể thiếu được. Trên nghiệm lý, người thầy hay vị Đạo sư Kim Cang chính là bản thân của sự truyền thừa năng lượng. Không có những vị nầy, giới tử không thể nào tiếp cận với thế giới hiện hữu một cách quán triệt thấu đáo được.Theo Ngài Bạch Liên (Padma Karpo) thì "Thực hành Mật Tông (Tantra) chẳng khác nào là "cỡi trên con dao". Người hành giả sẽ chọn một trong 2 con đường: Hoặc tuột theo con dao, hoặc ngồichết dính trên đó, tức là không tiến hành được chút nào. Tuy nhiên, nếu như giới tử biết được phương thức nào để có thể tuột trên con dao đó, thực hành dễ dàng thì sẽ thành công. Nhưng nếu khôngchịu tìm hiểu tường tận, lại muốn tỏ ta đây là kẻ tài giỏi, thìngười đó sẽ bị lưỡi dao cắt làm 2 mảnh". Việc học và thực chứng Mật Tôn cũng giống như người nằm trên con dao đó.

    Nhiều vị chân sư Mật Tông khuyên rằng: Càng có những lời cảnh cáo nầy trên đường tu hành thì càng tốt. Vì như thế sẽ thận trọng từng bước để kiên trì và nghiêm tu. Nhưng nếu vị chân sư đã không cảnh cáo giới tử đúng lúc và đúng cách, giới tử không thể vào được con đường của Mật Tông, vì chính họ đã không thấy nguy hiểm "khi trượt tên lưỡi dao". Khủng hoảng là nguồn gốc của sự cởi mở và của những nghi vấn trên con đường tu tập. Hồi hộp, nghi vấn là nguồn gốc của sự phơi bày tâm và phơi bày cảnh giới. Tâm và cảnh giới phải hoà hợp làm một.

    Trong lịch sử truyền thừa Mật Tông có nhiều huyền thoại về vấn đề tìm học. Những vị tổ Mật Tông như Marpa, Milarepa, Tilopa,Naropa là gương sáng.

    Trong cuốn Mystiques et Magiciens du Tibet, bà Alexandra David Neel có kể lại việc cầu đạo của vị tổ Tipola như sau: Tipola là một trong những vị khai sáng Mật Tông Tây Tạng, tuy nhiên ông ở tại Ấn Độ và chưa hề đặt chân lên đất Tây Tạng bao giờ. Ông từng trải qua nhiều Giáo phái Mật Tông như Giáo phái Kaguy Pa (phái áo vải) phái Sakya Pa (phái đất xám) phái Geluk Pa (mũ vàng)... Ông từng tham dự nhiều cuộc hội thoại và tranh luận về tôn giáo tại Ấn Độ và lần nào cũng bẻ gãy tất cả những lập luận của đối phương. Một buổi chiều nọ, ông đang nghiền ngẫm một cuốn luận thuyết quan trọng thì có một bà lão rách rưới ngang qua. Trông thấy ông đăm chiêu suy nghĩ, bà lão nhổ toẹt vào cuốn sách rồi phì cười: "Chỉ là thứ từ chương vô dụng. Có gì đáng quan trọng".

    Tipola nổi giận nhưng ngay sau đó dường như bị một thứ quyền lực siêu hình nào, khiến ông ta nguôi giận ngay, nhìn bà lão rồi cố theo bà ta. Lần đầu tiên, ông cảm thấy bất ổn trong việc tu học do chính câunói của bà lão. Thế là ông quyết chí đuổi theo tìm cho được bà lão đó. Cũng trải qua hơn ba năm dong ruỗi, ông đã tìm được bóng dáng của bà lão trong một khu rừng. Ông tìm đến trò chuyện, nhân đó đem hết sở học ra thao thao bất tuyệt. Nhưng bất cứ lý giải nào cũng bị bà lão bẻ gãy ngay từ đầu. Một vị học giả nổi tiếng như ông mà lại lúng túng như một đứa trẻ. Đến đây thì ông mới vỡ lẽ: những thứ kiến thức đó chỉ nhìn phiá bên ngoài, không thể giải thích được những huyền bí. Cuối cùng ông chịu phục và xin bái bà lão làm thầy.

    Bà lão nói: "Những điều mà ta hiễu biết không chứa đựng trong sách vở. Sách vở chỉ chứa những điều hữu hạn cuả thế gian, đều là từ chương, chỉ hiểu được hiện tượng mà không đi đến bản chất của sự vật. Ta thấy người thu thập được khá nhiều kiến thức có ích thật, tuy nhiên, muốn quán triệt được Giáo lý thượng thừa, phải đi vào cảnh giới cao hơn. Cảnh giới đó được gọi tên là "Đạo giới của các Thiên thần Daikini".

    Cũng có gọi danh xưng nào tương tự như thế. Cuộc hành trình nầy đầy gian khổ. Hàng trăm hàng ngàn thử thách giăng mắc. Phải vượt qua những thách đố nầy và khắc phục chúng. Nhưng nếu nhà ngươi đã nhất quyết theo con đường ta học, thì có thể truyền thụ cho nhà người bí quyết nầy: Hoàn toàn làm chủ Thân, Khẩu, Ý qua niệm chú, bắt ấn quyết, chuyên tâm nhập định. Phảinhớ điều nầy trong suốt cuộc hành trình dài. Ghi nhớ rằng 3 điều nầy: - Nhờ giữ ấn quyết, thân nghiệp được thanh tịnh. - Nhờ niệm Chân Ngôn (Thần chú), khẩu nghiệp được tịnh. - Nhờ quán tưởng vào Tam Ma địa, ý nghiệp được tịnh". Theo truyền thuyết Phật Giáo Tây Tạng, bà lão kia chính là hoá thân của Bồ Tát Dorji Chang. Bà biến mất sau khi đó.

    Từ đó, vâng theo những lời chỉ dạy, Naropa lên đường tìm đến cảnh giới các thiên thần Daikini. Cảnh giới nầy có thật hay chỉ là ảo tượng? Có người cho rằng:Cảnh giới đó có thật. Nơi toạ lạc của nó ở vùng đất vô cùng hẻo lánh tại Bắc Ấn, gần biên giới giáp Afghanistan. Những theo đa số đây là cảnh giới giả tượng. Marpa thực hành theo 3 điều căn bản đó suốt hành trình trên đường tu tập. Tipola gặp vô vàng thử thách trên chặng đường nầy. Ông ta phải vượt suối, băng ngàn, vượt qua những sa mạc hoang vu, nóng bỏng, qua nhiều núi rừng thâm u, lạnh lẽo nhưng với thân xác Kim Cương Bất Hoại, ông đã tìm đến được. Đây là cung điện oai nghiêm, tráng lệ, khác cõi trần. Nhưng điều chính quyết là sau những thử thách, nhất là với cách tu luyện nầy, Marpa đắc quả.Trong tu trì, điều căn bản để chuyển hoá tâm tính và tinh thần chính là giới luật.

    Đức Phật dạy:- "Có 10 điều trọng giới và 48 điều khinh giới. Nếu người thọ giới Bồ Tát mà không tụng những giới răn cấm nầy, thì người ấy khôn gphải là Bồ Tát, không phải là Phật Tử. Chính ta cũng tụng như vậy. Tất cả Bồ Tát đã học, sẽ học và đang học. Đã lược giảng xong tướng tạng của giới Bồ Tát, thì cần nên học, hết lòng kính trọng phụng trì giới luật".

    Những giới luật của những người tu tập và hành trì theo Đại Thừa và Kim Cang Thừa bao gồm có 10 giới trọng (nặng) và 48 giới khinh (nhẹ).10 giới trọng là: 1- Không được dâm dục 2- Không được sát sanh 3- Không được trộm cướp 4- Không được vọng ngữ 5- Không được nói lời tứ chúng6- Không được bán rượu 7- Không được khen mình, chê người 8- Không được bỏn xẻn 9- Không được giận hờn mãi không nguôi 10- Không được tà kiến phỉ báng tam bảo 48 giới khinh là: 1- Giới không kính thầy bạn 2- Giới không uống rượu 3- Giới ăn thịt 4- Giới ăn ngũ tân 5- Giới không dạy người sám hối 6- Giới không kính dường thỉnh pháp 7- Giới không đi nghe pháp 8- Giới cố tâm trái bỏ đại thừa 9- Giới không khán bệnh 10- Giới chứa khí cụ sát sanh 11- Giới đi sứ 12- Giới buôn bán phi pháp 13- Giới hủy báng 14- Giới phóng hỏa 15- Giới dạy giáo lý ngoài Đại thừa 16- Giới vì lợi mà giảng pháp lộn lạo17- Giới cậy thế lực quyền thế 18- Giới không thông hiểu mà làm thầy truyền giới 19- Giới lưỡng thiệt 20- Giới không phóng sanh 21- Giới đem sân báo sân, đem đánh trả đánh 22- Giối kiêu mạng không thỉnh pháp 23- Giới khinh đạo không tận tâm dạy 24- Giới không tập học Đại thừa 25- Giới tri chúng vụng về 26- Giới riêng thọ lợi dưỡng 27- Giới thọ biệt thỉnh 28- Giới biệt thỉnh tăng 29- Giới tà mạng nuôi sống 30- Giới quản lý cho bạch y 31- Giới không mua chuộc 32- Giới gây tổn hại chúng sanh 33- Giới tà nghiệp giác quán34- Giới tạm bỏ Bồ đề Tâm 35- Giới không phát nguyện 36- Giới không phát thệ 37- Giới vào chỗ hiểm nạn 38- Giới trái tôn ty trật tự 39- Giới không tu phước huệ 40- Giới không bình đẳng truyền giới 41- Giới vì lợi mà làm thầy 42- Giới vì người ác giảng nói 43- Giới cố móng tâm phạm giới 44- Giới không cúng dường Kinh Luật 45- Giới không giáo hoá chúng sanh 46- Giới pháp không đúng pháp 47- Giới chế hạn phi pháp 48- Giới phá diệt Phật pháp. (ST)

  8. #28
    Nhất Đẳng
    Gia nhập
    Nov 2012
    Nơi cư ngụ
    ನೀ ಜಾಹಾಎ ಇನ್ದಿಅ ರ
    Bài gởi
    1,442

    Mặc định

    thưa đạo hữu,mật tông Phật pháp.theo Muội HTL không nên theo như
    'Mật tông thiên đình", mât tông trên hoa sen tren đá cũng không phãi, còn tam mat .net thi ông thanh hùng đó không phải chánh pháp , còn mật tông Phật thì là tự tu hành,trì giới nghiêm Tu hành như Phật dạy, không có chuyện thỉnh Khăn Ấn, điểm đạo internet ji đâuu nghe
    càng không có vụ ngồi mà tưỡng cho ra các chữ Thần chú chơn ngôn.
    QUÁN : LÀBAN NIỆM CHÚ KHÔNG CÓ QUAN GÌ HẾT, rồi khi thân tâm mình trong suốt<mình cầu các chân ngôn đó trên kinh đàn< Khi nào kinh đàn hiển ra các chân ngôn có màu sắc khác nhau thì Khõi cầu nửa, Từ đo về sau thì trì bình thương ,NHU PHÂN bài trên HTL viết,
    Trong chánh pháp Phật hong có cái vụ tưỡng tượng,T6am trong suốt,Thì các chữ thân chú với màu sắc nó tụ hiện ra rỏ ràng.Lúc đó bạn niêm 1 câu ra tiếng,thì Chân ngôn đó nó từ Pháp thân bạn hiện ra,Chấn động 3 cõi, hữu tình địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh các tội nhân được về cõi Phật, cõi lành, Xong việc chơn ngôn chạy vào nguơi hành giả lại,,
    "KHÔNG TIN thì không ĐŨ DUYÊN nhưng xin chớ phĩ báng ,MUỘI HTL xin cảm ơn"

  9. #29

    Mặc định A Di Da Phat

    trong muon coi the gioi nay , moi chuyen dieu co the va cung nguoc lai . Nhung neu chuyen gi da xay ra hay mat di do cung la 1 dieu khong ai can dc va cung nguoc lai . Moi chuyen co roi khong va khong roi co dung co hon trach chi cho so phan minh !!!

  10. #30

    Mặc định

    minh ten tam loc ko biet lam sao de tim duoc nguoi thay mat tong de diem dao may huynh nao biet xin chi gium de voi nha dia chi mail mykysky@yahoo.com hoac so dien thoai 01643047106 tam loc

  11. #31

    Mặc định

    sao không thấy anh bin57 bình luận gì thêm nhỉ.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  12. #32

    Mặc định

    Minh song o Da Nang. Minh cung duoc Diem Dao MAt Tong . Nay neu co vi suHuynh , nao o Da Nang Thi cho Minh duoc di theo hoc Dao voi duoc ok? Mail Minh la : inizio300@gmail.com , dt 0935111201

  13. #33

    Mặc định

    chào tất cả các đạo hữu.thật sự rất cảm ơn bạn đã đăng bài viết quý giá này.mình nghĩ rằng thần chú là những lời của chư phật nó thật sự rất màu nhiệm không thể nghĩ bàn.tùy theo căn cơ và sự tu tập của mỗi người mà có những kết quả khác nhau.vấn đề này mọi người không nên nhìn nhận ở sở hiểu của mình.hãy tìm cho mình một con đường đi cho đúng và một người thầy tốt thì chắc chắn cắc bạn sẽ đạt được thành quả viên mãn.chúc tất cả các đạo hữu tu tập thật tốt.

  14. #34

    Mặc định

    Xin hỏi tôi đã nhận 2 lễ quán đảnh của dòng drukpa tây tạng về tara xanh -trắng và văn thù sư lợi . và chuẩn bị nhận lực từ thầy trì om mani pad me hum .. vậy tôi nên trì 1 pháp để thành tựu hay là có thể trì 1 lúc 3 cái vẫn đc

  15. #35

    Mặc định

    úm lam úm xỉ lâm úm mani pademehum úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha bộ lâm

  16. #36

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Thiên Linh Cái Xem Bài Gởi
    Xin hỏi tôi đã nhận 2 lễ quán đảnh của dòng drukpa tây tạng về tara xanh -trắng và văn thù sư lợi . và chuẩn bị nhận lực từ thầy trì om mani pad me hum .. vậy tôi nên trì 1 pháp để thành tựu hay là có thể trì 1 lúc 3 cái vẫn đc
    trì 1 cái thôi bạn, chuyên nhất thì thành tựu

  17. #37

    Mặc định

    Bạn phải tịnh tâm mà quán xét cho kỹ thì sẽ biết phải làm như thế nào thôi!
    Chúc bạn thành tựu.

  18. #38

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Thiên Linh Cái Xem Bài Gởi
    Xin hỏi tôi đã nhận 2 lễ quán đảnh của dòng drukpa tây tạng về tara xanh -trắng và văn thù sư lợi . và chuẩn bị nhận lực từ thầy trì om mani pad me hum .. vậy tôi nên trì 1 pháp để thành tựu hay là có thể trì 1 lúc 3 cái vẫn đc
    Bạn phải tịnh tâm mà quán xét cho kỹ thì sẽ biết phải làm như thế nào thôi!
    Chúc bạn thành tựu.

  19. #39
    Thành viên tích cực SPAM Avatar của hcthinh
    Gia nhập
    Apr 2010
    Bài gởi
    38,281

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Thiên Linh Cái Xem Bài Gởi
    Xin hỏi tôi đã nhận 2 lễ quán đảnh của dòng drukpa tây tạng về tara xanh -trắng và văn thù sư lợi . và chuẩn bị nhận lực từ thầy trì om mani pad me hum .. vậy tôi nên trì 1 pháp để thành tựu hay là có thể trì 1 lúc 3 cái vẫn đc
    nhận quán đảnh từ ai thì hỏi người đó...:whew:
    Hoàng Đế Spam
    Chủ Tịch Hội Đồng KHOA HỌC HUYỀN BÍ - TÂM LINH - HUYỀN THUẬT.

  20. #40

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hcthinh Xem Bài Gởi
    nhận quán đảnh từ ai thì hỏi người đó...:whew:
    Anh Hcthinh nói rất chính xác nè, y vậy mà làm.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. TÂM VŨ TRỤ
    By doxuantho in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 26-03-2012, 02:27 PM
  2. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 13-04-2011, 11:41 AM
  3. Truyền thọ tam quy
    By phúc minh in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 21-03-2011, 06:28 PM
  4. Nghi thức quán đảnh và trì chú Mật tông
    By bienvasong in forum Mật Tông
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 21-12-2010, 04:03 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •