kết quả từ 1 tới 5 trên 5

Ðề tài: Những Ngôi Chùa Mang Tên Bà

  1. #1

    Mặc định Những Ngôi Chùa Mang Tên Bà

    CHÙA BÀ ĐANH


    Chùa Bà Đanh còn được gọi là Bảo Sơn tự, nằm ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Từ thị xã Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, theo đường 21, đến cây số 7, qua cầu Quế, đi thêm 2km là đến chùa.

    Cũng như các ngôi chùa khác, chùa Bà Đanh thờ Phật, song ở chùa Bà Đanh ngoài tượng Bồ Tát còn có tượng của Thái Thượng Lão Quân, tượng Nam Tào, Bắc Đẩu và các tượng của tín ngưỡng Tứ Phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Có tượng của hệ thống Tứ Phủ vì chùa thờ Tứ Pháp. Sự tích Tứ Pháp với các bà mẹ Mây(Pháp Vân), Mưa (Pháp Vũ), Sấm (Pháp Lôi), Chớp (Pháp Điện) như là sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa đã được chép trong Truyện Man Nương của Lĩnh Nam chính quái (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh – Kiều Phú, 1492).


    Chùa Bà Đanh lúc vắng khách - Ảnh: N.B


    Câu chuyện về gốc tổ Tứ Pháp được hình thành từ mẹ Phật Man Nương đã lan truyền khắp vùng đồng bằng Bắc bộ và cũng được lưu hành ở đây. Người dân Kim Bảng tin rằng, từ khi thờ Tứ Pháp, vùng Bắc Ninh được mưa thuận gió hoà, phong đăng hoà cốc, mùa màng bội thu. Do vậy, họ bèn họp nhau lên xứ bắc để xin chân nhang về thờ. Các làng Vân Lâm, Đặng Xá, Vân Châu, Bầu thôn, Bài Lễ… đã xin chân nhang, tạc tượng Tứ Pháp để thờ, từ đó, tục thờ Tứ Pháp lan truyền ở các xã vùng ven sông Đáy trên đất Hà Nam.

    Dân làng Đanh cũng đang có ý định xin chân nhang ở Bắc Ninh về thờ thì xảy ra một câu chuyện lạ. Địa phương còn lưu hành một truyền thuyết sau: Trước đây, ở vùng này luôn gặp mưa to, gió lớn nên việc sản xuất gặp nhiều khó khăn, mùa màng thất bát gây ra cảnh đói kém triền miên. Cho đến một hôm, một cụ già cao tuổi trong làng nằm mộng thấy một người con gái trẻ trung, xinh đẹp, đoan trang, khuôn mặt phúc hậu, vầng trán và đôi mắt thông minh hiện ra nói rằng: Ta được thần cho về đây để chăm nom và chỉ khu rừng đầu làng làm nơi dựng chùa. Nơi ấy bấy giờ là vạt rừng rậm rạp có nhiều cây cổ thụ, sát bờ sông là một hòn núi nhỏ, nhô mình ra mặt nước, trong rừng rộn rã tiếng chim quang cảnh thật là thần tiên.

    Ngôi chùa ban đầu được xây dựng tranh tre nứa lá đơn sơ, đến năm Vĩnh Trị, đời Lê Hy Tông, khu rừng mới được mở mang quang đãng để xây chùa lại cho khang trang. Khu vực này cấm người dân làm nhà ở nên cảnh chùa càng thêm trang nghiêm, vắng vẻ. Ngôi chùa được xây dựng ít lâu thì có một cây mít cổ thụ ở quanh chùa bỗng dưng bị gió to quật đổ. Dân làng đã đẵn lấy gỗ để tìm thợ về tạc tượng.

    Bỗng nhiên có một khách thập phương tìm đến chùa nói rằng mình làm nghề tạc tượng và được báo mộng đến đây. Người khách tả hình dáng và dung nhan người con gái đã báo mộng thì thấy giống hệt vị thần đã báo mộng cho cụ già trong làng. Năm ấy gặp mùa mưa lũ, nước sông dâng cao, tạc tượng gần xong thì dưới bến nước trước chùa có vật lạ, nửa nổi, nửa chìm, không trôi theo dòng nước, đẩy ra mấy lần lại thấy trôi trở lại. Thấy chuyện lạ, dân làng vớt lên xem thì hoá ra đó là một cái ngai bằng gỗ bèn rước ngay vào chùa. Thật lạ lùng, pho tượng tạc xong thì đặt vừa khít vào ngai. Từ đó trong vùng mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tiếng đồn Thánh Bà Bảo Sơn linh ứng lan truyền khắp nơi, khách thập phương về lễ rất đông. Những người làm nghề sông nước xuôi ngược qua đoạn sông này gặp mùa lũ đều lên chùa thắp hương cầu mong yên ổn.

    Truyền thuyết này có đôi nét gần gũi với truyền thuyết Man Nương, ở những chi tiết như cây gỗ trôi sông (Truyện Man Nương) và ngai gỗ trôi sông (truyền thuyết về Bà Đanh), ở bản chất của vị thần cả hai nơi thờ đều là nữ thần nông nghiệp. Ngoài ra, ở truyền thuyết về Bà Đanh ta còn thấy bóng dáng của tục thờ thần sông nước của nhân dân vùng ven sông Đáy.


    Chùa quay mặt ra hướng nam mạn sông Đáy. Phía ngoài cùng, giáp với đường đi và gần bờ sông là cổng tam quan của chùa. Công trình này được tôn cao vượt hẳn lên năm bậc và hai đầu xây bít đốc. Tam quan có ba gian, hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái, lợp bằng ngói nam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can và những chấn song con tiện, tầng này sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim. Phía ngoài cửa hai bên là hai cột đồng trụ được xây nhô hẳn ra. Trên nóc tam quan đắp một đôi rồng chầu vào giữa. Hai bên cổng chính là hai cổng nhỏ có tám mái, cửa phía trên lượng cong hình bán nguyệt. Ngày thường, khách ra vào lễ chủ yếu đi bằng cửa bên này, chỉ khi nào nhà chùa có đại lễ thì cửa chính ở giữa mới được mở.

    Qua cổng tam quan là khu vườn hoa, sân lát gạch, hai dãy hành lang hai bên. Nhà bái đường có 5 gian, hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam. Nhà rung đường 5 gian hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam, cửa đức bàn nối liền với toà bái đường. Nhà thượng diện có 3 gian, hai bên xây tường bao, phía trước là hệ thống cửa gỗ lim. Lòng nhà ở đây so với khu bái đường và trung đường thì hẹp hơn nhưng được xây cao hẳn lên. Nằm về phía tây khu chùa là khu nhà ngang gồm 5 gian, ba gian vừa dùng làm nơi thờ các vị tổ đã trụ trì ở đây, hai gian đầu hồi được ngăn thành 2 gian buồng làm nơi ở cho người tu hành. Đằng trước nhà tổ là một sân gạch, phía ngoài là khu vườn để trồng hoa với cây lưu niên. Phía đông của khu chùa là phủ thờ Mẫu làm giáp với dãy trung đường. Toàn bộ khu vực chùa có tường bao quanh.

    Chùa Bà Đanh là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều công trình với gần 40 gian nhà. Theo nhân dân địa phương cho biết thì ngôi chùa đã được xây dựng từ lâu đời nhưng được trùng tu nhiều lần. Các công trình còn lại đều được xây dựng từ thế kỷ XIX trở lại đây.

    Xưa nay khi nhắc tới chùa Bà Đanh, người ta thường hiểu đó là ngôi chùa có cảnh quan sơn thuỷ hữu tình, thanh u, cô tịch và linh thiêng nổi tiếng một thời. Chùa có vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm vào loại hiếm có của tỉnh Hà Nam.

    Chính giữa hệ thống của bức bàn bằng gỗ lim của tầng dưới tam quan có bức chạm ngũ phúc (5 con dơi ngậm chữ thọ). Ở mỗi cột trụ được thiết kế nhô hẳn ra phía ngoài hai tường bên, nghệ nhân xưa đều đắp nổi tường hình tứ linh: long, ly, quy, phượng theo thế đối xứng, cầu kỳ, uyển chuyển. Trên nóc tam quan có đắp một đôi rồng chầu mặt nguyệt bằng vôi cát và mảnh sứ, mang phong cách rồng thời Nguyễn. Đáng chú ý nhất ở tam quan là đôi rồng đá và đôi hổ đá được bố trí dọc theo hai bên bậc lên xuống, theo thế đối xứng, chầu vào nhà Bái đường. Nếu so với tượng đôi rồng chầu mặt nguyệt trên nóc tam quan, thì tượng đôi rồng đá dưới chân trong tam quan được trổ đơn giản, hiền lành hơn, còn phảng phất bóng dáng con rắn, chứ chưa mang hình kỳ đà. Tương tự như thế, đôi hổ đá ngồi chếch 450 phía sau, cũng được chạm trổ đơn giản, hiền lành, không dữ tợn như tượng ngũ hổ các nơi thờ khác. Đây là những di vật thuộc loại quý hiếm đầy chất dân gian rất cần được bảo vệ.

    Gần như toàn bộ nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc của ngôi chùa tập trung thể hiện ở nhà bái đường – nơi hành lễ thường ngày của các nhà sư và các phật tử. Nhà bái đường năm gian, khung gỗ lim, đầu hồi bít đốc và cũng đắp nổi hai con rồng. Quan sát từ giữa sân gạch, người ta sẽ thực sự hứng thú khi được chiêm ngưỡng hệ thống tượng đắp nổi theo đề tài “Tứ long chầu mặt nguyệt” trên nóc nhà mái đường. Cả bốn con rồng, từ kiểu dáng thân hình uốn lượn, đến mắt, râu, vuốt, vây đều rất sinh động, uyển chuyển, mà cũng rất dữ dội, tưởng như đang vờn nhau, bay lượn trong khoảng không bao la. Phong cách rồng thời Nguyễn thể hiện ở đây rất đậm nét.

    Đầu hai dãy hành lang và liền với nhà bái đường là hai cột trụ cao vút, sừng sững, uy nghi. Trên mỗi cột đều đắp nổi hình tứ linh: long, ly, quy, phượng theo thế đối xứng, gợi cảm giác hài hoà, cân đối, vững bền. Từng đường nét của hình long, ly, quy, phượng đều toát ra vẻ tỷ mỷ, đông phu, tài hoa của các nghệ nhân xưa. Tài năng chạm khắc của nghệ nhân xưa thể hiện trên sáu cột cái của toà nhà này. Vì kèo thứ nhất (tính từ Tây sang Đông) một mặt áp tường, chạm mặt hổ phù, trúc hoá long, hoa hồng, quả đào, quả lựu.


    Vì kèo thứ hai, mặt trước chạm “Ngũ phúc” (năm con dơi), hoa mai, hoa hồng dàn tranh, bút lông quả và bầu rượu, mặt sau chạm (ngũ long tranh châu), hoa hồng, hoa lan, mai hoá. Vì kèo thứ ba, mặt trước chạm “Tứ linh” (long, ly, quy, phượng), “Tùng mã” (từng và ngựa), “Mai điểu” (hoa mai và chim), quá giang chạm đàn tranh, đàn nguyệt, phách, mặt sau, chạm “Tứ linh”, bầu rượu, cuốn thư. Vì kèo thứ tư, mặt trước phía trên chạm “Lưỡng long chầu nguyệt”, phía dưới chạm “Tứ linh”, quá giang: chạm hoa hồng, cây tùng, cuốn thư, kim tiền, đàn và sáo. Vì kèo thứ năm, mặt trước chạm mặt hồ phù, nghê chầu hai bên, mai hoá, quá giang chạm: quả đào, phật thủ, quả lựu, hoa hồng, cuốn thư và con dơi, mặt sau: chạm “Ngũ phúc”, quả đào, hoa hồng, cuốn thư. Vì kèo thứ sáu, (một mặt áp tường) chạm mặt hổ phù, thông hoá long, trúc hoá long, trên quá giang chạm quả đào, mai, trúc, nho, lựu, đào mai, quạt vải. Ngoài sáu vì kèo còn có sáu cột cái bằng gỗ lim, đứng giáp ranh giữa nhà bái đường và nhà trung đường. Trên mỗi thân cột đều chạm chìm hình rồng leo chầu vào ban thờ ở giữa gian thứ ba với các nét chạm rất tinh xảo.

    Về mặt đề tài, nếu là động vật, thì nghệ nhân đắp nổi hay chạm theo đề tài: “Tứ long” (long, ly, quy, phượng), “Ngũ phúc” (năm con dơi), “Lưỡng long chầu nguyệt”, “Ngũ long tranh châu”, “Tứ long chầu mặt nguyệt”, nếu là thực vật, thì có các đề tài: “Tứ quý” (Tùng, cúc, trúc, mai), “Bát quả” (đào, nho, lựu, vả, phật thủ), nếu là thực vật kết hợp, thì các các đề tài: “Mai điểu” (Hoa mai và chim), “Tùng mã” (cây tùng và ngựa), “Trúc hóa long”, “Thông hoá long”… Ngoài ra, còn có đề tài quen thuộc như dàn tranh, dàn nguyệt, phách, sáo, bút lông, bầu rượu, quạt quả vả mà dân gian vẫn hiểu là “Bát bảo” (tám loại quý). Trong quá trình sáng tạo, nghệ nhân xưa đã kết hợp thể hiện những đề tài ước lệ tượng trưng của nghệ thuật mang tính cung đình (“Tứ linh”, “Ngũ phúc”, “Lương long chầu nguyệt”, “Ngũ long tranh châu”, “Mai điểu”, “Tứ quý”, “Tùng mã”) với những đề tài thuộc nghệ thuật dân gian như “Ngũ quả”, “Bát quả”, đàn, sáo, nhị, phách. Lối thể hiện phối hợp khéo léo giữa lối chạm nổi, chạm long với lối chạm chìm. Tất cả đều được cách điệu hoá mà vẫn có hồn, sinh động.



    CHÙA BÀ ĐANH (BẢO SƠN TỰ)


    Trong nhà thượng đường của chùa Bà Đanh, có nhiều tượng thờ như tượng Tam thế, tượng Ngọc Hoàng và thái thượng Lão Quân, tượng Bà Chúa Đanh. Có thể coi pho tượng Bà Đanh là một trung tâm của chùa. Tượng được tạc theo tư thế toạ thiền trên chiếc ngai đen bóng (chứ không phải là toà sen), với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết, chứ không có dáng vẻ siêu thoát, thần bí như các tượng Phật khác. Sự hài hoà giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh.

    (theo website Hà Nam)
    Last edited by dragonle; 27-11-2009 at 08:41 PM.
    Chu du thiên hạ
    Hãy Tu theo cách của mình!
    Để học rùng mình

  2. #2

    Mặc định Chùa bà già

    CHÙA BÀ GIÀ


    Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội.

    Chùa Bà Già có một lai lịch khá cổ. Nguyên, Phú Gia (tên nôm là làng Gạ) là nơi các vua nhà Trần định cư. Một bộ phận người Chăm được đưa từ phía nam ra đã dựng một ngôi chùa mà sử Toàn thư đã phiên âm là Đa-da-li. Thái úy Trần Nhật Duật (1254-1330) thường tới đây đàm đạo về Phật giáo với vị sư người Chăm trụ trì. Có thể cái tên Bà Già là từ Đa-da-li mà ra. Nay trong chùa còn bức hoành phi cổ khắc ba chữ “Bà Già tự”.

    Ngôi chùa toạ trên một khuôn viên không rộng nhưng cây cối xum xuê, không khí trong lành, yên tĩnh. Sáng sáng tiếng chim hót trên cây hồng xiêm trước sânlàm cho ngôi chùa càng thêm gần gũi.


    Chùa Bà Già nằm ngay bên bờ sông Hồng, nay thuộc phường Phú Thượng (Tây Hồ), là một công trình kiến trúc Phật giáo có niên đại sớm.Ngôi chùa toạ trên một khuôn viên không rộng nhưng cây cối xum xuê, không khí trong lành, yên tĩnh. Sáng sáng tiếng chim hót trên cây hồng xiêm trước sân làm cho ngôi chùa càng thêm gần gũi. Sở dĩ chùa mang tên “Bà Già” bởi trên mảnh đất này, xưa lắm rồi, có ngôi chùa An Dưỡng tọa lạc. Do bị hư hại nặng, có hai chị em gái chuyên nghề buôn muối, đã phát tâm bồ đề bỏ tiền ra xây dựng, tu sửa lại chùa, tạc tượng Phật, dựng gác chuông đồng. Khi hai bà mất đi, để tỏ lòng biết ơn, dân trong vùng đã đúc tượng hai bà và rước vào chùa thờ, gọi là tượng hậu Phật, từ đó chùa được gọi là chùa Bà Già. Được tận mắt ngắm hai pho tượng Bà Già mới thấy được nét đẹp, nét hồn nhiên với phong cách dung dị, trong tư thế ngồi rất đời thường của người phụ nữ Hà Nội xưa. Pho tượng bà chị được đúc to hơn, trong tư thế ngồi một chân gập, một chân chống, tay phải úp lên đầu gối, tay trái để vào lòng. Ngồi bên cạnh là bà em, ngồi xếp bằng, cả hai tay đều để trên lòng, trong tư thế một người mẹ luôn cầu mong cho mọi người an khang thịnh vượng, sẵn mở lòng nhân ái. Đặc biệt là khuôn mặt của hai bà tròn trịa, hiền lành, phúc hậu, nhưng không giấu nỗi suy tư. Từ thời Lê, chùa Bà Già đã có qui mô bề thế và nổi tiếng kinh thành Thăng Long xưa. Đã có câu ca rằng: “Thứ nhất chùa Bà Đá” (quận Hoàn Kiếm), “Thứ nhì chùa Bà Đinh” (chùa Châu Lâm, phường Thuỵ Khuê), “Thứ ba chùa Bà Già, (phường Phú Thượng)


    Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng, thoáng gọi là “Quy độ đầu”, thế đất hình con rùa đỗ ở phía Bắc của làng. Đây là điểm di tích khá hấp dẫn trong quần thể di tích chùa Kim Liên – Phủ Tây Hồ – Đình Vẽ – Đình Chèm. Căn cứ theo tấm bia “Bà Già tự bi ký” dựng tại chùa cho biết, chùa được trùng tu lớn vào tiết xuân năm Dương Hoà 2 (1636) và bài văn trên chuông “Trùng tạo chú hồng Chung Bà Già Tự” niên hiệu Chính Hoà 16 (1665) cho thấy, chùa Bà Già được xây dựng trước năm 1636, khoảng thời tiền Lê. Chùa có bố cục mặt bằng kiểu chữ “công”. Từ ngoài vào chùa có các công trình kiến trúc: Cổng Tam quan, Nhà tiền đường, nhà thiên hương, thượng điện, nhà thờ tổ, thờ mẫu và các công trình kiến trúc được bố cục hài hoà trong một không gian rộng thoáng, những cây xanh toả bóng bốn mùa tạo thêm vẻ u tịch tĩnh lặng nơi cửa thiền. Tam quan, gác chuông của chùa làm theo kiểu nhà mái chồng diêm, hai tầng tám mái theo lối kiến trúc truyền thống. Nhà tiền đường gồm 7 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, bên trong bộ khung có tám bộ vì kiểu “chồng giường-giá chiêng” kết hợp vì xà nách bẩy hiên. Toà thượng điện ba gian nối với toà tiền đường tạo thành kết cầu kiểu chữ đinh, thượng điện có kết cấu kiểu dáng đơn giản vì chồng giường nhưng toàn bộ vì làm bằng gỗ lim bền chắc. Hiện nay chùa còn bảo lưu bộ sưu tập di vật khá phong phú, trong đó có nhiều di vật có giá trị đặc sắc về nghệ thuật như tấm bia hậu Phật có niên đại Dương Hoà 2 (1636), hai pho tượng phỗng đá mang phong cách thế kỷ thứ 18, Một quả chuông đồng mang niên hiệu Chính Hoà 16 (1665), bộ tượng tròn gồm 46 pho tượng thuộc nghệ thuật thế kỷ thứ 18 -19, hai hương án thiếp vàng chạm khắc hình tứ quí, tứ linh, một đôi nghê và hai hạc thờ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17, cùng nhiều di vật khác như bát hương đồng, hoành phi, cuốn thư …


    Quả là chùa Bà Già là một vốn cổ quí giá cần được trân trọng và bảo tồn. Nhằm tôn vinh những giá trị văn hoá cũng như tín ngưỡng sâu sắc mà chùa Bà Già để lại cho đến ngày nay, các nhà quản lý văn hóa đã công nhận và xếp bằng Di tích lịch sử văn hoá cho chùa từ năm 1996. Với hệ thống giáo lý khuyến thiện trừ ác, chùa là trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần của một cộng đồng dân cư, một địa chỉ văn hoá khá hấp dẫn về nội dung lịch sử và vẻ đẹp cổ kính thâm nghiêm với cái tên khá độc đáo – chùa Bà Già, góp vào nền văn hoá ngàn năm Thăng Long- Hà Nội.

    (sưu tầm)
    Chu du thiên hạ
    Hãy Tu theo cách của mình!
    Để học rùng mình

  3. #3

    Mặc định Chùa bà ngô

    CHÙA BÀ NGÔ


    Theo cuốn Thăng Long cổ tích khảo thì chùa được xây dựng vào thời vua Lý Thần Tông (1127 – 1128). Cũng theo sách này, vào thời Lê, có một người con gái đẹp lấy chồng là một nhà buôn người Hoa giàu có, bà đã bỏ tiền ra xây dựng lại ngôi chùa này to đẹp hơn chùa cũ, do đó mới có tên Bà Ngô (Ngô Khách). Chùa được sửa chữa và làm mới qua nhiều năm như 1863, 1864, 1865…


    Vào năm Ất Hợi (đời vua Bảo Đại, tức 1934), chùa được sửa chữa lớn nên đã có câu đối (tạm dịch): “Không nhớ tháng Bà Ngô sửa chữa, Chỉ biết năm Bảo Đại khánh thành”.

    Sự tích kể rằng: có một lần Lê Thánh Tông thăm chùa, thấy trên gác chuông có bóng người đẹp ngâm 2 câu thơ:

    Ở đây mến cảnh mến thầy

    Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng người.

    Cũng có thuyết nói rằng nhà vua thấy một thiếu nữ xinh tươi cầm một cành mẫu đơn ngâm mấy câu như sau:


    Bà Ngô Phong cảnh xinh thay

    Đố ai cắt mối sầu này cho xong

    Bao giờ về tới ngự cung

    Thì ta sẽ dải tấm lòng cho hay



    Vua bèn gặp hỏi chuyện và muốn cùng nàng xướng họa. Nàng nhường vua làm trước, lấy đề bằng 2 câu thơ nàng vừa ngâm. Vua làm bài thơ Đường Luật 8 câu trong đó có 2 câu:

    Chày kình mấy khắc tan niềm tục

    Hồn bướm năm canh lẩn sự đời


    Nàng xin phép sửa lại là:

    Gió xuân đưa kệ tan niềm tục

    Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời

    Vua rất phục, mời nàng lên kiệu về cung, nhưng đến cửa Đại Hưng thì nàng biến mất. Vua cho là tiên giáng trần, dựng lầu Vọng Tiên ở đó để tưởng nhớ. Lầu Vọng Tiên bị dỡ khi phá thành Thăng Long xây lại và được chuyển về số 120B phố Hàng Bông thành đền Vọng Tiên.

    Một đêm nhà vua nằm mơ thấy Tiên hiện tới tự tình và nói ở nơi kinh thành lâu nay thường xảy ra tai dịch là bởi có con Thạch tinh ở dưới cái ao ngay trước quán , đã hóa ra một con gà bay đi tác quái khắp Kinh thành, phải kịp trừ ngay mới khỏi sinh tra hậu họa lớn.

    Khi tỉnh dậy, nhà vua cho đào ngay ở giữa ao trước quán sâu tới 3 thước, đất đỏ như máu, thấy một một hòn đá, bèn đập vỡ tan, vứt ra ngoài sông rồi lấp phẳng ao đi. Từ đó kinh thành rất yên ổn

    Tam quan của chùa là gác chuông 2 tầng, 8 mái với 8 góc đao cong. Một quả chuông đồng đúc năm Canh Dần Thành Thái thứ 2 (1887) được treo ở giữa tam quan có dòng chữ Ngọc Hồ tự chung. Phật điện gồm tiền đường và hậu cung làm theo kiểu chữ Đinh. Hiên trong tiền đường dạng vòm cuốn mở rộng bằng một vì vỏ cua, là một kiểu kiến trúc ít có ở miền Bắc mà chỉ thấy ở Hội An, Huế với 2 đầu làm theo kiểu nhà kèn. Hậu cung 4 gian có nhiều của võng. Nhà Tổ, ngoài 2 ban thờ các sư tổ Bồ Đề đạt ma, các sư tổ của chùa đã viên tịch, còn có bàn thờ đức Văn Xương

    Điện Mẫu thờ các Mẫu, Ngọc Hoàng và vua Lê Thánh Tông ngồi trong ngai rồng. Hai bên thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo cùng hai gia tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. Tượng trong chùa hiện có 35 pho được sắp xếp dọc Phật điện. Ngoài những pho như Tam thế, A di Đà tam tôn, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, Ngọc hoàng Thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, còn có 10 vị Diêm Vương và tượng Bà Ngô trang phục gần như tượng Mẫu. Tượng Tổ mang nhiều nét chân dung của sư nữ…

    Đặc biệt, trước hai bên cổng chính của chùa là một câu đối chữ Nôm, điều rất hiếm gặp tại các chùa ở Hà Nội.

    Chùa Bà Ngô được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá năm 1993.


    (sưu tầm)
    Chu du thiên hạ
    Hãy Tu theo cách của mình!
    Để học rùng mình

  4. #4

    Mặc định Chùa bà đá

    CHÙA BÀ ĐÁ


    Ở số 3 phố Nhà Thờ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, tọa lạc một ngôi chùa với cái tên rất nôm na là Bà Đá. Nguyên danh tên chùa bao đời nay là “Linh Quang tự” (Linh Quang nghĩa là ánh sáng thiêng liêng)(1)


    Chùa được xây dựng từ đời Lê Thánh Tông 1460 – 1497 ở làng Báo Thiên. Chùa Linh Quang là một nơi danh lam thắng tích ở kinh thành Thăng Long. Trải bao thăng trầm của lịch sử, chùa Linh Quang cũng thay đổi ngày một khác. Đến đời vua Lê chúa Trịnh triều đình bắt dân đào đất chung quanh vườn chùa để lấy đất đắp thành Thăng Long. Trong khi đào, dân phát hiện một pho tượng đá, hình dáng một phụ nữ. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật bà nên rước vào thờ phụng trong chùa, từ đấy mới gọi là chùa Bà Đá(2)

    Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, trong cuộc binh đao, ngọn lửa vô tình đã làm cho chùa Bà Đá hóa tro tàn, để sau này nên một hình tướng khác. Sau hồi ấy, chùa bị cháy chỉ còn một nền đất không, cỏ mọc rêu phong. Bấy giờ quan trên bắt dân làm cỏ vườn hoang ấy để sửa sang lại cảnh cũ điêu tàn. Dân làng lại phát Bồ đề tâm làm nên một ngôi chùa toàn bằng tranh tre, gọi là tỏ lòng kính Phật để có chỗ vãng lai lễ bái.

    Năm Quý Sửu (1793), sư tổ Khoan Giai trụ trì chùa, dần dần dựng lên một ngôi chùa ba gian lợp ngói. Năm Tân Tỵ (1821), tổ Giác Vượng kế đăng. Tổ lại được thập phương công đức, bèn lập nên một ngôi chùa rộng lớn hơn, lại làm thêm mấy dãy hành lang và tăng phòng khách xá. Tiếp đấy là tổ Phổ Sĩ lên kế đăng.

    Từ đây trở đi, chùa Bà Đá hồi phục lại cái vẻ danh lam thắng tích như xưa. Chư tổ lại dạy được nhiều đệ tử nên do sơn môn này bổ đi các chùa ở Bắc kỳ từ đấy càng ngày càng thêm nhiều.

    Sau sư tổ Phổ Sĩ đến sư tổ Nguyễn Văn Hợp rồi đến sư tổ Nguyễn Văn Khánh lại càng làm cho ngôi chùa trang nghiêm, tăng đồ thêm lắm. Đến thời sư cụ Đỗ Văn Hỷ (1884 – 1968) kế đăng, chẳng may chùa lại bị hỏa thiêu, ngài phải lo liệu làm lại các chỗ bị cháy. Sư cụ Đỗ Văn Hỷ được triều đình ban cho chức Tăng cang Hòa thượng.

    Như vậy chùa đã được sửa chữa nhiều lần cho đến ngày nay. Chùa không có Tam quan như các chùa khác, lối vào qua một cửa hẹp (tức mặt chùa – hướng bắc) theo ngõ sâu 9m dần tiến vào trong, càng vào càng rộng. Tiền đường xây kiểu chữ nhất, chính điện xây kiểu chữ đinh được nối liền với nhau tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thiếp vàng. Chùa có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 vô 1881 cùng một cái khánh đúc năm 1842.

    Nếu truy nguyên ra thì sơn môn Bà Đá (Thiền Lâm Tế) với sơn môn Hồng Phúc (Thiền Tây Động) hai chi hai nhánh khác nhau, nhưng pháp phái vốn là một là Thiền tông. Bởi vì chư tổ chùa Bà Đá cũng từ sơn môn chùa Hồng Phúc mà ra nên Bà Đá, Hòa Giai (Hòe Nhai) hai chi cùng chung một tổ. Theo Tiếng chuông sớm số 3 ra ngày 1-9-1936 thì ở Bắc Kỳ hầu như các chùa đều do một chốn tổ Hồng Phúc mà phân ra nhiều sơn môn khác nhau. Chùa có mối quan hệ tốt với trường Viễn Đông Bác Cổ (VĐBC) Pháp: hàng ngày chùa cử một ban tăng phái chuyên đến VĐBC để sao các kinh tạng của trường mua từ Nhật Bản đem về, lại cử một tổ thợ khác quanh năm khắc kinh ấn tống đi các chùa. Đã khắc được bộ “Đại Bảo Tích” và nhiều bộ khác.

    Thời kỳ Chấn hưng Phật giáo, chùa Bà Đá cũng là nơi có nhiều đóng góp tích cực. Năm 1935, Bắc kỳ Phật giáo cổ sơn môn được phép ra bán nguyệt san Tiếng chuông sớm, hòa thượng Đỗ Văn Hỷ (Thích Thanh Thao) trụ trì chùa Bá Đá là một trong những người sáng lập, được cử làm chủ nhiệm tờ báo Trụ sở báo đặt tại chùa Bà Đá.

    Ngày 15-8-1945, các sư Thanh Đặc (Vũ Nguyên Hồng), Thanh Trà, Thanh Chế bí mật thành lập Đội Thanh niên Phật tử quân tại chùa Bút Tháp, Thuận Thành, Bắc Ninh. Đội do sư ông Pháp Lữ chỉ huy, ban đầu có 19 người

    Ngày 20-8-1945, sau khi tham gia cướp chính quyền tại địa phương chùa Bút Tháp thượng tọa Thanh Đặc và sư ông Pháp Không dẫn đội về đóng ở chùa Bà Đá, Hà Nội. Được sự giúp đỡ của hòa thượng Thanh Thao (Đỗ Văn Hỷ), tăng cang trụ trì chùa Bà Đá, đội tuyển chọn thêm những tăng ni trẻ ở chùa Bà Đá, quân số lên tới hơn 50 người do sư ông Pháp Không và Pháp Lữ chỉ huy. Ngày đem trong sân chùa Bà Đá anh em luyện tập côn quyền hoặc tập trung nghe cán bộ Việt Minh giảng giải về đường lối chính trị của cách mạng(3).

    Ngày 23-8-1945, từ chùa Bà Đá, một đoàn đại biểu Phật giáo Hà Nội gồm hơn 10 nhà sư do hòa thượng Thanh Thao dẫn đầu vào yết kiến ông Võ Nguyên Giáp đại diện Chính phủ Lâm thời.

    Ngày 25-8, chùa cử tăng ni Phật tử Hà Nội sang Gia Lâm đón Hồ Chủ tịch và Chính phủ Lâm thời từ chiến khu Tân Trào về Hà Nội.

    Ngày 26-8, Hồ Chủ tịch đến chùa Bà Đá thăm nơi thờ phật và nhà tổ, đến phòng riêng thăm hòa thượng bản tự Thích Thanh Thao, khuyến khích ngài vận động chư tăng ni, các tín đồ ủng hộ cách mạng, góp công sức đánh đuổi giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc

    Ngày 28-8, một cuộc họp trọng thể được tổ chức tại trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức (gần chùa Bà Đá) gồm trên 100 nhà sư đại diện cho các sơn môn ở Hà Nội, Hà Đông, Hưng Yên… do hòa thượng Thanh Thao chủ trì, có các ông Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt đại diện Mặt trận Việt Minh tham dự Hội nghị giơ cao tay nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ Việt Minh. Sau đó bàn bạc rồi quyết định thành lập một tổ chức của Phật giáo yêu nước lấy tên là Hội Phật giáo Cứu quốc. Một Ban chấp hành được bầu gồm 9 người do hòa thượng Thanh Thao làm Chủ tịch, thượng tọa Thanh Đặc và bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết làm Phó Chủ tịch, trụ sở của Hội đặt tại chùa Bà Đá(4)

    Ngày 5-1-1946, Hội Phật giáo Cứu quốc tổ chức tuần lễ mừng Chính phủ Liên hiệp quốc gia tại chùa Bà Đá. Tuần lễ mừng có mục đích cầu chư Phật, Bồ tát; và liệt Thánh chứng giám lời thề của cụ Chủ tịch và các nhân viên trong Chính phủ, hơn nữa để cầu nguyện nền độc lập cho nước Việt Nam. Lễ khai mạc được cử hành vào hồi 18 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến chủ tọa và nhiều thành viên trong Chính phủ đã tới dự, có cả các đại biểu Công giáo Hồ Chủ tịch đã nói chuyện với các Phật tử: “Nước Phật ngày xưa có những 4 đắng cấp làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc Nhưng Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia Tô giáo tin đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân, ta đừng làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy”, sau đó người cùng ăn cơm chay với mọi người và đi thăm các nơi trong chùa(5).

    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1947-1954), chùa Bà Đá – là cơ sở đi lại của cán bộ Việt Minh.

    Sau ngày thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (5-1958), chùa Bà Đá là trụ sở Ban Liên lạc Phật giáo Hà Nội.

    Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập (11-1981), chùa trở thành Trụ sở thành hội; Phật giáo Hà Nội, hòa thượng Thích Tâm Tịch là Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội, khi hòa thượng đảm nhiệm ngôi và Pháp chủ GHPG Việt Nam, hòa thượng Thích Thanh Chỉnh lên thay.

    Tháng 8-2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính bao gồm Hà Nội cũ và tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, hợp nhất tổ chức Phật giáo các địa phương trên, thượng tọa Thích Bảo Nghiêm, Phó chủ tịch HĐTS Giáo hội PGVN được suy cử làm Trưởng ban Trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội.

    Ngoài truyền thống kết hạ hàng năm, từ năm 1992 tại chùa Bà Đá khai giảng lớp Trung cấp Phật học Hà Nội khóa đầu tiên (1989 – 1992) và hiện nay là địa điểm của trường Trung cấp Phật học Hà Nội.

    Giữa chốn đô thị ồn ào huyên náo, người ta vẫn tìm đến chùa Bà Đá – nơi thanh tĩnh yên hòa để tĩnh tâm rửa sạch bụi trần ai, để sửa mình sao cho vượt qua bể khổ lên ngàn giác, tìm nơi cực lạc ngay tâm mình.

    CHÚ THÍCH

    (1) Bán nguyệt san Tiếng chuông sớm – cơ quan hoẵng pháp của Bắc Kỳ Cổ Sơn môn đặt trụ sở tại chùa Bà Đá, số 1 ra ngày 15-6-1935 viết: Chùa Bà Đá nguyên danh là Tự Pháp Linh Quang. Đời cổ, còn huyện Thọ Xương xưa, phố Hàng Trống vốn là một xã, tên làng là Tự Pháp xã; đất vua chùa dân; dân dựng nên chùa, đặt tên là Linh Quang tự, để phụng thờ chư phật như muôn vàn dân xã trong nước Nam ta.

    (2) Pho tượng đá đã bị mất trong vụ chùa bị hỏa hoạn thời Pháp thuộc

    (3) Xem: Từ Tùng Lâm Văn Miếu đến Chùa Bà Đá, Vũ Nguyên Hồng, báo Giác Ngộ, 1985 và lời kể của cựu đại tá Đinh Thế Hinh tức sư Pháp Lữ năm 2005.

    (4) Nguyễn Đại Đồng, Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920 -1953), Nxb Tôn Giáo, 2008

    (5) Báo Cứu Quốc ra ngày 8-1-1946.


    (sưu tầm)
    Chu du thiên hạ
    Hãy Tu theo cách của mình!
    Để học rùng mình

  5. #5

    Mặc định Chùa bà nành

    CHÙA BÀ NÀNH


    Tiên Phúc tự


    Chùa còn có tên gọi dân dã là chùa Bà Nành, hiện di tích còn ở số nhà 27 phố Văn Miếu. Theo sử sách thì có hai truyền thuyết về việc xây ngôi chùa này. Truyền thuyết thứ nhất là chùa trước kia được dựng lên để thờ một bà cụ bán hàng không rõ tên tuổi. Bà cụ thường bán nước chè, đậu nành cho các học trò Trường Quốc Tử Giám. Lại có tư liệu nói thêm là chùa dựng và đầu triều Lê, thế kỷ XV trên nền quán hàng nước của cụ già ấy và có lần vua Lê Thánh Tông (l460-1497) đến thăm Quốc Tử Giám đã ghé vào vãn cảnh chùa.


    Truyền thuyết thứ hai thì có vẻ cặn kẽ hơn, với một câu chuyện gắn liền với một bối cảnh tình thơ đầy lãng mạn. Ấy là từ đầu thế kỷ XIII, vua nhà Lý đã cho dựng ngôi chùa này. Chùa làm trên một cái gò có hình dáng trông như một cái bình đựng rượu, do đó còn có tên là Ngọc Hồ. Đến đời nhà Trần thì chùa đổi tên là Tiên Phúc vì theo lời đồn đại trong dân gian, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy có nàng tiên xuất hiện thướt tha trước sân chùa. Được gặp tiên là một mong muốn không chỉ của người dân thường mà cả của bậc đế vương, cho dù đó mới là tin đồn. Thế rồi một ngày nọ, vua Lê Thánh Tông đến chùa, lững thững đi ngắm cảnh (có thể ngài vừa thăm Quốc Tử Giám xong). Bỗng từ trên gác chuông thấy hiện ra một người con gái đẹp đang nhàn nhã thả hồn vào cảnh thiền rồi thong thả ngâm nga mấy câu thơ thánh thót, véo von:

    ”Ở đây mến cảnh, mến thầy

    Tuy vui đạo Phật, chưa khuây lòng người”.

    Nhà vua mừng rỡ cho rằng mình đang gặp mặt một nàng tiên nên khẩn khoản mời mọc: ”Nàng là ai mà có lời thơ hay vậy? Ta cũng thích văn chương, nàng có thể cùng ta xướng họa để kỷ niệm ngày gặp gỡ tuyệt vời này không?”. Người con gái không tỏ vẻ ngượng ngùng hay bối rối mà nhoẻn miệng cười tươi tắn: ”Nhà vua thích xướng họa với thiếp ư? Vậy xin nhà vua cho biết trước lời châu ngọc?”. Vì muốn trổ tài xuất khẩu thành thơ của mình nên nhà vua mời cô gái ra đề trước, nàng ung dung đề nghị nhà vua lấy hai câu thơ lục bát mà nàng vừa ngâm lúc trước để làm đề. Nhà vua bèn đọc bài thơ hoạ như sau:

    ”Ngẫm sự trần chuyện khéo nực cười

    Tuy vui đạo phật chửa khuây người

    Chày kinh mấy khắc tan niềm tục

    Hồn bước ba canh lẫn sự đời

    Bể thẳm muôn tầm mong tát cạn

    Sóng ân ngàn trượng dễ khơi vơi

    Nào nào cực lạc là đâu tá

    Cực lạc là đây chín rõ mười”

    Ngâm xong bài thơ, nhà vua đầy vẻ tự hào hỏi cô gái xem nàng bình phẩm bài thơ thế nào? Cô gái mỉm cười mà rằng: ”Thơ quả là hay. Song nếu được phép thì thiếp cũng muốn thay đi vài chữ”. Nhà vua tuy thoáng sửng sốt nhưng cũng đồng ý. Cô gái bèn đọc lại cả bốn câu thơ ở giữa bài đã sửa thành:

    ”Gió xuân đưa kệ tan niềm tục

    Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời

    Bể khô muôn tầm mong tát cạn

    Nguồn ân ngàn trượng dễ khơi vơi…”

    Vua Lê Thánh Tông giật mình chắp tay: ”Xin bái phục và mong nàng cho nghe bài thơ họa?”. Cô gái lại cười: ”Thật ra khi lấy hai câu lục bát làm đầu đề, vô tình thiếp đã xướng rồi đấy. Bài của nhà vua rõ ràng là đã họa ý thiếp, còn bảo thiếp họa thêm làm gì nữa?”. Nhà vua càng lúng túng trước trí thông minh của cô gái bèn ngập ngừng bày tỏ ý muốn mời nàng về cung để cùng bàn chuyện văn chương, cô gái không từ chối, thong thả bước lên kiệu vua đang chờ ngoài cổng chùa! Nhưng đến cổng thành phía Nam thì mấy người đang chạy chân kiệu bỗng thấy chiếc kiệu nhẹ bẫng, họ ghé mắt nhìn qua mành lụa thì chỉ thấy chiếc kiệu trống, không thấy cô gái đâu nữa, bèn hốt hoảng báo với nhà vua. Ngài đành chép miệng: ”Thôi chắc đúng là tiên rồi. Chỉ có tiên mới có phép biến hóa như vậy. Thế là trẫm gặp may mà chẳng được may”. Và cũng vì bùi ngùi thương nhớ nàng tiên thơ ấy nên nhà vua xuống chỉ cho dựng một cái lầu cao ở ngay chỗ nàng tiên đã biến mất và đặt tên là Vọng tiên lâu (Lầu ngóng tiên). Lầu này xưa kia ở cửa Đại Hưng, bây giờ là đầu phố Hàng Bông, chỗ vườn hoa Cửa Nam.

    Năm Đinh Hợi (1887), vào đời vua Đồng Khánh, chùa Tiên Phúc được tu sửa lớn. Cấu trúc phía ngoài có tam quan, bên trong hình chuôi vồ chia làm hai nơi tiếp khách và bàn thờ có tượng Phật. Chùa cúng thờ Bà Nành bên cạnh bàn thờ Phật nên trong chùa còn hưu giữ một phiến đá hình chữ nhật, tương truyền vốn là nơi bà cụ bày hàng nước để bán. Chùa Bà Nành – Tiên Phúc ngoài giá trị lịch sử văn hóa tự thân, còn được coi là một di tích nằm trong quần thể di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày l2-12-l986.


    Theo tạp chí Hà Nội ngàn năm tháng 7/2009
    Chu du thiên hạ
    Hãy Tu theo cách của mình!
    Để học rùng mình

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Lọai đá màu đen mang bên mình, chống lại bùa.
    By Thanhbinh123 in forum Thế Giới Bùa Ngải
    Trả lời: 51
    Bài mới gởi: 03-01-2015, 10:47 AM
  2. Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 19-06-2010, 05:25 PM
  3. Các Bài Lễ Mang Hồn đạo Thiêng Dân Tộc Việt Nam.....
    By maytrang in forum Đạo Mẫu,Đạo Tứ phủ
    Trả lời: 19
    Bài mới gởi: 22-07-2008, 11:08 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •