Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 40

Ðề tài: Nền tảng của người tu Tịnh độ

  1. #1

    Mặc định Nền tảng của người tu Tịnh độ

    Chương Một: GIỚI THIỆU ĐỆ TỬ QUY


    弟子規,聖人訓。首孝悌,次謹信。
    泛愛眾,而親仁。有餘力,則學文。

    Đệ tử quy, thánh nhân huấn. Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín.
    Phiếm ái chúng, nhi thân nhân. Hữu dư lực, tắc học văn.


    Đệ tử quy, thánh nhân huấn.



    Những quy củ, quy tắc dành cho trẻ nhỏ này được biên soạn từ những lời giáo huấn của các vị thánh nhân. “Quy củ” nghĩa là gì? “Quy” là compa dùng để vẽ hình tròn, “củ” là thước kẻ để vẽ đường thẳng. Không có compa hay thước kẻ, chúng ta không thể vẽ được một đường thẳng ngay ngắn hay một đường tròn chỉn chu được. Vì vậy, “gui ju” là tức là quy tắc, chuẩn thước. Vậy những quy tắc này đến từ đâu? Chúng được dựa trên những lời giáo huấn của nhà hiền triết Trung Quốc cổ đại - ngài Khổng Tử. Thiên thứ nhất - Học Nhi của sách Luận Ngữ nói:

    Tử viết: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân; hành hữu dư lực tắc dĩ học văn”.

    Dịch.- Khổng tử nói: “Con em (thanh niên) ở trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm được thế vậy rồi mà còn dư sức thì sẽ học văn (tức học Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch…).

    Trích đoạn này sẽ được giải thích phía sau. Một vị thánh nhân không chỉ có kiến thức sâu rộng mà còn phải có nhân cách cao thượng. Nếu một người thông minh và có học thức nhưng thiếu đạo đức, trí thông minh và học thức của anh ta sẽ trở thành công cụ tạo ác; chẳng khác nào hổ mọc thêm cánh. Một con hổ vốn rất đáng sợ, nếu như nó có thể bay, thì nó có thể tự do đi khắp nơi và làm bất cứ điều gì nó muốn. Vì vậy, đạo đức quan trọng hơn nhiều so với kiến thức và kỹ năng. Do đó, trong phần mở đầu, đạo đức và phẩm cách được đặt lên trước kiến thức và kỹ năng. Khi một nhà hiền triết khi giáo dục một người thì luôn hy vọng người đó có thể trở thành một người có đạo đức.

    Đạo Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể trở thành Phật”. Người Trung Quốc cũng có câu nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn”. Phật là đấng đại trí tuệ đã giác ngộ được Phật tánh. Tất cả chúng sanh vốn có Phật tánh, nhưng chúng ta không thể nhận ra điều đó vì đang bị che phủ bởi vô minh. Nếu như ta có thể làm theo những lời dạy của Phật, chúng ta sẽ khai mở được trí tuệ vốn có như Đức Phật. Nghiêu và Thuấn là hai vị vua của Trung Quốc thời cổ nổi tiếng về sự nhân từ, độ lượng và hiếu thảo. Nếu chúng ta học hỏi họ, lẽ nào chúng ta lại không thể trở thành người có đạo đức như họ? Vì thế, Khổng Tử đã truyền lại cho chúng ta những chuẩn mực đạo đức, giúp chúng ta có cơ hội học tập người xưa.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  2. #2

    Mặc định

    Khổng Tử là ai? Ông là một thánh nhân và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo, cha mất khi ông còn nhỏ nên ông phụ giúp mẹ việc nhà và học được rất nhiều kỹ năng. Ông rất thông minh và ham học. Dù cho đó là kiến thức ở trong sách hay gặp được trong cuộc sống hằng ngày, ông đều siêng năng học tập và tìm cách thực hành những điều đã học. Bằng cách này, ông đã thành tựu được nhân cách phi thường và vốn kiến thức uyên bác cùng sự tinh thông các kỹ năng trong mọi việc.

    Khổng lão phu tử không chỉ tự trau dồi tự thân mà còn mong ước giúp đỡ người khác vun bồi nhân cách. Vì thế ông đã thu nhận rất nhiều đệ tử trên nguyên tắc “hữu giáo vô loại”, nghĩa là “trong giáo dục không hề có phân biệt giai cấp”. Ông không bao giờ có ý phân biệt dù chỉ là nhỏ nhất về gia thế, trí thông minh hoặc khả năng của học trò. Hễ ai muốn theo học với ông đều được chấp thuận, miễn là người học trò có chuẩn bị một món quà nhỏ dâng lên thầy theo nghi thức.

    Ông dạy học trò theo thiên hướng của từng người. Dựa trên năng khiếu, trí tuệ, nền tảng học vấn và địa vị khác nhau của từng cá nhân mà lời dạy của ông thay đổi cho phù hợp với từng người, tất cả đều dễ hiểu nhưng lại chứa đựng ý nghĩa sâu xa. Ông say mê với sự nghiệp dạy học mà không hề nhàm chán. Khổng Tử không bao giờ cảm thấy mệt nhọc, không bao giờ thiếu kiên nhẫn, và không bao giờ nghỉ đến việc nghỉ ngơi. Vì thế, nhiều người học trò của ông trở thành người tài, hữu ích cho xã hội; tư tưởng của ông được lưu truyền qua nhiều thế hệ, giữ vị trí chủ đạo trong nền văn hóa Trung Quốc. Khổng Tử được người đời sau tôn là “vạn thế sư biểu”, nghĩa là người thầy vĩ đại nhất của mọi thế hệ.

    Ngày nay chúng ta có cơ hội học tập “Đệ Tử Quy” và tiếp thu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, như vậy chúng ta cũng giống như là học trò của ông. Vì thế, chúng ta nên trân quý cơ hội này để học ông cách trở thành một vị thánh nhân.

    __________________
    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

    Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa - Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không: http://niemphat.net/Luan/tinhdodaiki...hdodaikinh.htm

    "Khắp khuyên đồng phát nguyện lành, nguyện cầu vãng sanh. Đất khách suối non hiểm nhiều, mặc ai luyến tình! Tự mình không muốn về thôi, quyết về tất được. Đường quê có ai tranh giành, gió mát trăng thanh!"

    Những khách nhớ quê, xin cùng chú ý!
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  3. #3

    Mặc định

    Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín.



    Trước tiên, chúng ta phải hiếu thuận cha mẹ và kính trọng các anh chị cùng những người lớn tuổi hơn; kế đến, chúng ta cần cẩn trọng trong lời nói và hành vi, giữ được lòng tin của mọi người đối với mình. Luận Ngữ nói: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ”. Chữ “nhập” (入) nghĩa là ở nhà, chữ “xuất” (出) nghĩa là đi ra khỏi nhà. Chữ “đễ” thì thời cổ xưa dùng chữ (弟)thay cho chữ (悌) hiện nay. Từ này theo nghĩa gốc là chỉ cho sự yêu thương và tôn trọng của một người em đối với anh mình; sau lại mở rộng ra bao gồm cả kính trọng người bề trên.

    Cha mẹ chúng ta chịu rất nhiều gian khổ để sinh thành và dưỡng dục chúng ta. Trong Kinh Thi của Nho giáo có một bài ca dao nổi tiếng nói về công ơn cha mẹ:

    “Phụ hề sinh ngã
    Mẫu hề cúc ngã
    Ai ai phụ mẫu
    Sinh ngã cù lao
    Dục báo thâm ân
    Hạo thiên võng cực.”

    Dịch:

    “Cha sinh ta! mẹ nuôi ta!
    Nhớ ơn cha mẹ, xót xa tấc lòng !
    Thương vì khó nhọc vô cùng,
    Nhớ ơn cúc dục, nhớ công sinh thành
    Sánh cùng trời rộng mông mênh,
    Ơn sâu muốn báo, hỏi mình làm sao?”
    (Lê Phục Thiện dịch)

    Cha cho ta sự sống, mẹ sinh ra và nuôi dưỡng ta. Chữ “cúc” nghĩa là nâng đỡ. Cha mẹ bảo vệ ta như bảo vật vô giá, hết lòng yêu thương và lo lắng cho ta. Tuy cha mẹ phải trải qua bao nỗi vất vả nhọc nhằn không kể xiết, tất cả nỗi nhọc nhằn ấy đều tan biến đi khi nhìn thấy con yêu được no ấm. Không chỉ nuôi con, cha mẹ còn lãnh trách nhiệm giáo dục con nên người. Cha mẹ chăm sóc con, luôn dõi theo con, bảo vệ con mà chẳng bao giờ xao lãng, mệt mỏi. Cha mẹ đã nuôi chúng ta khôn lớn như thế đó!

    Cha mẹ hao mòn sức lực lo cho ta cơm ăn áo mặc và dành cho ta tình thương vô tận. Khi nào chúng ta mới có thể đền đáp hết công ơn của đấng sinh thành? Chúng ta sẽ không bao giờ có thể báo đền trong muôn một, nhưng chúng ta phải tận hết sức mình. Trong câu “thủ hiếu đễ”, ta thấy lòng hiếu thảo được đặt lên hàng đầu trong các phép tắc. “Thủ” tức là đầu, nghĩa là quan trọng nhất, cũng như đầu là bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. “Đễ” là sự mở rộng ra của“hiếu”. Anh chị em trong nhà đều do cha mẹ sinh ra, đều liên hệ với cha mẹ như mười ngón tay nối liền bàn tay. Dù cho tính tình sai khác, hiếu thuận hay ngỗ nghịch thì cũng như các ngón tay dài ngắn khác nhau, chúng vẫn không thể tách rời nhau được. Vì thế, chỉ khi nào chúng ta yêu thương và quan tâm đến anh chị em của mình thì chúng ta mới làm cho cha mẹ yên lòng.

    Người bề trên bao gồm những người thầy nuôi dưỡng Pháp thân huệ mạng, họ hàng thân thích của chúng ta và những người lớn tuổi. Chúng ta kính trọng thầy và người lớn tức là chúng ta đang kính trọng cha mẹ vậy. Không những chúng ta có được lợi ích cho bản thân mà còn làm cha mẹ chúng ta tự hào, chúng ta sẽ không làm cho cha mẹ phải hổ thẹn vì người khác không có nguyên cớ nói cha mẹ chúng ta không biết cách giáo dục con cái. Như vậy, “hiếu” - “đễ” là đức tính quan trọng và cơ bản nhất của mỗi người.

    Tiếp theo, đức tính chúng ta cần học là cẩn thận và trung tín. Dù cho một người hiếu thảo với cha mẹ và kính trọng người lớn, nếu anh ta làm mọi việc một cách hời hợt và không giữ uy tín, không những mọi việc sẽ không theo ý muốn mà anh ta còn có thể tự mang lại phiền phức và tai họa cho chính mình. Hành động này bị coi là bất hiếu và bất kính vậy. Vì thế, sự cẩn trọng và trung tín cần được mỗi người chú tâm rèn luyện cho chính mình.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  4. #4

    Mặc định

    Tại sao chúng ta phải yêu thương tất cả chúng sinh? Tại sao không chỉ lo lắng cho bản thân chúng ta thôi? Có câu: “Thượng thiên hữu hảo sinh chi đức” (Trời có đức hiếu sinh). Nếu chúng ta chỉ quan tâm đến hạnh phúc riêng của ta mà quên đi hạnh phúc của người hoặc loài vật khác, như thế là chúng ta quá ích kỷ.


    Tạo hóa sinh ra muôn loài, mỗi loài đều có quyền được sống và tự do phát triển. Ngay cả một loại cây dại nhỏ bé cũng nỗ lực vượt qua mùa đông lạnh giá để nở hoa rực rỡ vào mùa xuân; sao ta có thể nhẫn tâm ngắt bẻ nó? Ngày nay, nhân duyên đã đưa chúng ta hội tụ lại cùng một lúc và ngay một nơi trên quả đất đã có hàng tỷ năm tuổi. Không phải là đáng tiếc lắm sao khi thay vì quý trọng nhân duyên này, chúng ta lại luôn muốn làm tổn thương và xúc phạm lẫn nhau? Tất cả chúng ta ai cũng đều do cha sinh mẹ dưỡng. Phải chăng chỉ có chúng ta mới được cha mẹ yêu thương và chỉ có chúng ta mới yêu thương cha mẹ mình? Lẽ nào người khác không như vậy?


    Chính vì thế, hiếu thuận cha mẹ cùng kính trọng người bề trên, cẩn thận và trung thực trong cuộc sống vẫn chưa đủ. Chúng ta còn cần phải thân ái với mọi người và mọi vật. Đó mới là nhân ái thật sự. Nếu muốn ngăn ngừa mọi điều xấu ác và thực hành những việc tốt đẹp, chúng ta nên thường xuyên thân cận người đức hạnh để học cách cư xử đúng đắn và trừ bỏ những hành vi sai trái. Để được gần gũi họ, chúng ta không nên nhút nhát hoặc ngại khó. Khi cần vượt xa ngàn dặm để cầu học thì chúng ta hãy cố gắng, đừng ngồi nhà mà chờ đợi trong hy vọng rằng minh sư sẽ đến với mình.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  5. #5

    Mặc định

    Sông núi đâu ngăn được tấm lòng,
    Tấm lòng trùm phủ cả non sông;
    Muốn đi ai cấm về ai cản,
    Kim cổ bao giờ vẫn chủ ông.

    Ông chủ tạo ra được các loài,
    Thánh phàm tự nắm lấy nơi tay;
    Quyền năng không hạn cùng Trời đất,
    Ứng dụng nhiệm mầu chữ bế khai.
    Mẹ đấy con! Xác phàm mang mển,
    Chẳng một ai không đến lỗi lầm;
    Nhưng kẻ lầm biết hối nơi tâm,
    Là kẻ trí sẽ làm Tiên Phật.

  6. #6

    Mặc định

    Chương Hai: HIẾU THUẬN

    父母呼,應勿緩,父母命,行勿懶。
    父母教,須敬聽,父母責,須順承。

    Phụ mẫu hô, ứng vật hoãn.
    Phụ mẫu mạng, hành vật lãn.
    Phụ mẫu giáo, tu kính thính.
    Phụ mẫu trách, tu thuận thừa.

    (Cha mẹ gọi, trả lời ngay.
    Cha mẹ bảo, chớ làm biếng.
    Cha mẹ dạy, phải kính nghe.
    Cha mẹ trách, phải thừa nhận
    .)

    1. Khi cha mẹ gọi thì phải trả lời ngay.

    Khi cha mẹ đang ở xa hoặc ở căn phòng khác, họ có thể gọi chúng ta khi cần giúp đỡ. Nếu chúng ta không trả lời ngay, cha mẹ nghĩ rằng chúng ta không có ở gần đó hoặc không nghe thấy tiếng gọi, như thế cha mẹ sẽ gọi tiếp cho đến khi khản giọng hoặc bực tức, điều này không tốt cho sức khỏe của họ. Một người con có hiếu sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cha mẹ. Anh ta sẽ không lặng thinh hoặc giả vờ không nghe tiếng gọi, và anh ta cũng không dám làm ngơ cho dù anh ta có cảm thấy bị quầy rầy chăng nữa.

    2. Cha mẹ sai bảo việc gì thì cần phải làm liền, không được chần chừ.

    Khi cha mẹ sai bảo chúng ta làm gì, dù với giọng nghiêm nghị hay nhẹ nhàng, chúng ta phải vâng lời, đừng kiếm lý do trì hoãn. Chúng ta cũng không được giả vờ nhận lời nhưng lại không làm, hoặc là làm một cách miễn cưỡng và cứ kêu ca trước mặt hoặc sau lưng cha mẹ.

    3. Khi cha mẹ dạy, chúng ta phải cung kính lắng nghe.

    Cha mẹ là người lớn nên kinh nghiệm sống phong phú hơn chúng ta. Vì thế, khi cha mẹ dạy ta cách đối nhân xử thế, chúng ta phải cung kính lắng nghe lời cha mẹ. Chúng ta phải nghe rõ ràng, hiểu đúng đắn và ghi nhớ trong lòng. Chúng ta không được nghĩ là cha mẹ quá lỗi thời rồi nghe tai này để lọt qua tai kia.

    Người xưa có câu:
    " Chúng nhân thị ngã sư,
    Ngã thị chúng nhân sư,
    Thời thường sư tự kỷ".
    (Chúng nhân thị ngã sư": mọi người đều là thầy ta. Song, "Ngã thị chúng nhân sư": tôi cũng là thầy của mọi người. Chúng ta học tập và làm gương cho nhau noi theo. "Thời thường sư tự kỷ": tôi luôn làm thầy dạy cho chính mình, tôi thường xuyên hành xử như người thầy cho chính mình.)

    Dù cho người khác có tốt hay không thì chúng ta luôn học hỏi được từ họ. Người có những điều hay sẽ là mẫu mực cho ta, ta sẽ học tập theo họ. Với người có những điều sai lầm, tự ta sẽ sửa đổi, tránh xa điều xấu ác mà không bắt chước họ.

    Đối với cha mẹ, chúng ta lại càng phải học hỏi nhiều hơn nữa. Lẽ tất nhiên, chúng ta phải vâng theo cha mẹ mình khi cha mẹ đúng; nhưng khi lời của cha mẹ không hợp lý thì chúng ta tuy vẫn kính trọng cha mẹ nhưng không nên làm theo.

    4. Khi cha mẹ quở trách, chúng ta phải nhận lỗi và nỗ lực tự tu sửa mình.

    Nếu chúng ta làm sai điều gì hoặc làm cho cha mẹ thất vọng, cha mẹ có thể nghiêm khắc la rầy chúng ta hoặc quở trách nhẹ nhàng. Dù thái độ cha mẹ thế nào đi nữa, chúng ta cũng lắng nghe lời khuyên răn, không được cãi lại khiến cho cha mẹ tức giận.

    Bốn câu thơ:
    Cha mẹ gọi, trả lời ngay.
    Cha mẹ bảo, chớ làm biếng.
    Cha mẹ dạy, phải kính nghe.
    Cha mẹ trách, phải thừa nhận.


    được đặt ở đầu của phần hiếu thuận vì chúng nêu lên các tình huống phổ biến nhất thường xảy ra trong nhà. Chúng ta có thể dễ dàng khẳng định một người con có hiếu thảo hay không bằng cách quan sát cách cư xử của nó đối với cha mẹ trong sinh hoạt đời thường. Nếu một đứa trẻ tự cho mình là có hiếu nhưng lại không thể làm được bốn nguyên tắc cơ bản này trong cuộc sống hằng ngày thì liệu ai có thể tin được? Nhưng thật không may, chúng ta lại có khuynh hướng coi nhẹ những điều trên và xem chúng như là chuyện nhỏ nhặt. Chúng ta không nhận ra rằng nếu chúng ta làm trái với bốn nguyên tắc thì những thói xấu nhỏ này dần dần tích lũy thành sự bất hiếu. Khi chúng ta không thật lòng chịu làm thì việc hô hào hiếu thảo nơi cửa miệng nào có ích chi?
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  7. #7

    Mặc định

    Điển hình là một câu chuyện trong Nhị Thập Tứ Hiếu của lịch sử Trung Quốc. Hoàng Hương, tự là Văn Cường, người đời Hậu Hán, mới 9 tuổi thì mẹ mất. Hoàng Hương thương nhớ mẹ khóc thảm thiết, thờ cha rất mực cung kính, thức khuya dậy sớm hầu cha, không dám xao lãng. Mùa đông, Hoàng Hương nằm ủ chăn chiếu của cha để truyền hơi nóng cho cha khỏi rét, đến mùa hè quạt màn gối của cha để cho mát mẻ luôn, nhờ đó mà cha được ăn ngon ngủ yên, quanh năm vui vẻ không biết có mùa đông, mùa hè. Quan Thái thú ở quận ấy nhận thấy họ Hoàng là người con hiếu thảo, liền làm sớ tâu vua Hán. Hán đế ban cho Hoàng Hương tấm biển vàng đề chữ là người con hiếu đễ để làm gương tốt cho mọi người. (Trích Nhị thập tứ hiếu, Lý Văn Phức)



    Nguyên bản:
    Đông nhật ôn khâm noãn,
    Viên thiên phiến chẩm lương.
    Nhi đồng tri tử chức,
    Thiên cổ nhất Hoàng Hương

    Có nghĩa là:
    Mùa đông thì ủ cho ấm chăn,
    Mùa nực thì quạt cho mát gối.
    Trẻ thơ đã biết đạo làm con,
    Ngàn xưa chỉ có một Hoàng Hương.


    Diễn Quốc Âm:
    Đời Đông Hán Hoàng Hương chín tuổi,
    Khuất bóng từ dòi dõi nhớ thương.
    Hạt Châu khôn ráo hai hàng,
    Tiếng hiền đồn dậy trong làng đều khen.
    Thờ nghiêm phụ cần chuyên khuya sớm,
    Đạo làm con chẳng dám chút khuây,
    Trời khi nắng hạ chầy chầy,
    Quạt trong mán gối hơi bay mát dầm.
    Trời đông buổi sương đầm tuyết thắm,
    Ấp hơi mình cho ấm chiếu chăn.
    Nhờ con cha được yên thân,
    Bốn mùa không biết có tuần hạ đông.
    Tiếng hiếu hạnh cảm lòng quận thú.
    Biển nêu treo chói đỏ vàng son.
    Cho hay tuổi trẻ mà khôn,
    Ngàn xưa sớm biết đạo con mấy người?

    Thực hiện việc này thường xuyên không dễ dàng gì, nhưng Hoàng Hương còn nhỏ tuổi đã làm đều đặn mỗi ngày để cha có thể yên giấc. Quả là một đứa bé đáng khâm phục biết bao!

    6. Mỗi buổi sáng chúng ta phải vấn an cha mẹ, tức là chúng ta tỏ ra quan tâm cha mẹ, buổi tối phải để cho cha mẹ ngủ được ngon giấc.

    Buổi sáng cha mẹ thức dậy, chúng ta gấp chăn màn, hỏi thăm cha mẹ có ngủ được ngon không, hoặc là xem cha mẹ có cần gì sai bảo hoặc căn dặn gì không. Buổi tối, ta chuẩn bị giường chiếu, giăng màn, đắp chăn cho cha mẹ và chúc cha mẹ ngủ ngon.

    7. Khi chúng ta muốn ra khỏi nhà, trước hết phải thưa để cho cha mẹ biết chúng ta đi đâu, bởi vì cha mẹ lúc nào cũng lo lắng cho con. Sau khi về đến nhà thì liền trình diện cho cha mẹ biết là đã về rồi để cha mẹ được yên tâm.

    Trước khi ra khỏi nhà, chúng ta đến xin phép cha mẹ, nói rõ đi đâu và khi nào về. Chúng ta không được lẻn đi mà không báo trước cho cha mẹ. Nên ghi lại số điện thoại nơi chúng ta đến và đặt tại chỗ cha mẹ dễ nhìn thấy. Nếu chúng ta không thể về đúng giờ, hãy gọi điện về nhà thông báo cho cha mẹ biết. Khi đã về nhà rồi, chúng ta lập tức đến chào cha mẹ, đừng im lặng đi vào phòng riêng, vì cha mẹ sẽ thức khuya chờ đợi trong lo lắng cho sự an toàn của chúng ta.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  8. #8

    Mặc định

    8. Chỗ ở của chúng ta phải cố định, cuộc sống của chúng ta phải có quy củ. Làm việc cũng phải nhẫn nại vững bền, không nên tùy ý thay đổi ý chí của mình.

    Ngày nay, rất nhiều người thích sống kiểu nay đây mai đó và thay đổi công việc chỉ vì muốn tìm kiếm sự mới mẻ. Tuy nhiên, chúng ta nên biết rằng khi đổi chỗ ở và công việc thường xuyên khiến cho cha mẹ cảm thấy cuộc sống của con mình thật bấp bênh. Nếu cha mẹ sống với ta, họ cũng phải đi theo và sẽ ưu phiền vì người già không thích di chuyển nhiều. Vì thế, chúng ta hãy cố gắng tránh thay đổi nơi cư trú và nghề nghiệp. Trong tình thế bắt buộc, chúng ta nên thông báo cho cha mẹ ngay để họ an tâm và biết rõ phải tìm chúng ta ở đâu khi có việc khẩn cấp.

    Trước kia có một góa phụ tên là Brown sống đơn độc trong căn hộ ở Los Angeles. Mặc dù con trai bà không phải là kẻ lông bông nhưng anh ta chưa bao giờ có một nơi cư trú và nghề nghiệp ổn định. Anh thay đổi chỗ ở vài lần trong một năm. Thỉnh thoảng anh nhớ thì gọi điện cho mẹ thông báo địa chỉ và số điện thoại mới, nhưng thông thường bà chỉ có hai hoặc ba địa chỉ cũ của anh ta trong cuốn sổ tay của mình. Bà Brown luôn thở dài buồn rầu mỗi khi nhắc tới con. Lúc nào bà cũng lo lắng, băn khoăn không biết hiện giờ con bà đang ở đâu và có tự lo được cho bản thân không. Rồi bà Brown qua đời vì đột quỵ não. Sau vài hôm không thấy bà, hàng xóm e rằng có chuyện không hay nên đã phá cửa vào. Qua mấy ngày tìm kiếm, cuối cùng họ liên lạc được với con trai bà, anh ta vừa mới mất việc làm và đổi chỗ ở hai lần. Một câu chuyện đáng buồn thương!

    事雖小,勿擅為,苟擅為,子道虧。
    物雖小,勿私藏,苟私藏,親心傷。

    Sự tuy tiểu, vật thiện vi.
    Cẩu thiện vi, tử đạo khuy.
    Vật tuy tiểu, vật tư tàng.
    Cẩu tư tàng, thân tâm thương.


    (Việc tuy nhỏ, chớ tự làm.
    Nếu đã làm, thiếu đạo con.
    Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng.
    Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.)


    9. Tuy là một việc nhỏ, nếu không hợp tình không hợp lý, thì mình không nên làm. Nếu như đã làm, tức là bất hiếu. Bởi vì cha mẹ không muốn thấy con cái của mình làm việc không hợp tình, không hợp lý, không hợp pháp.


    Chuyện gì chúng ta cũng nên thưa trước với cha mẹ mà không tự làm theo ý thích, chẳng được như thế thì chúng ta chưa làm tròn trách nhiệm của một người con. Dù muốn làm gì cũng phải hỏi ý cha mẹ, cha mẹ cho phép thì chúng ta mới làm. Không nghĩ rằng ta đã trưởng thành rồi tùy tiện quyết định mọi việc theo ý ta. Sau khi được cha mẹ lo cho học hành tử tế, chúng ta đừng xem cha mẹ như những người quê mùa cổ hủ mà coi thường họ. Cũng đừng cho rằng cha mẹ không cần lưu tâm đến các chuyện nhỏ rồi chỉ báo với cha mẹ những việc lớn, như vậy chúng ta đã lỗi đạo làm con. Chúng ta thường nâng niu và bảo vệ những thứ của cải trang sức như là tính mạng, sợ bị hư tổn hoặc mất mát. Tuy nhiên, chúng ta lơ là trong việc giữ gìn lòng hiếu thảo - thứ trân bảo quý giá nhất trên đời của mỗi người; thay vào đó lại đi hủy hoại nó. Thứ tự ưu tiên này quá đỗi sai lầm.


    10. Đồ vật tuy nhỏ, không nên cất giấu để làm của riêng mình. Nếu làm vậy khi cha mẹ biết được thì nhất định sẽ đau lòng.


    Hai câu trước nói về xử lý việc còn hai câu này bàn về cách xử lý vật. Chúng ta không tự lấy dù chỉ một món đồ nhỏ, nghĩ rằng cha mẹ không biết hoặc không quan tâm. Hành vi đó sẽ làm đau lòng cha mẹ. Bất cứ ai cũng đều cảm thấy tổn thương khi bị phớt lờ, huống chi là cha mẹ thì càng buồn tủi hơn nữa.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  9. #9

    Mặc định

    Lòng hiếu thảo bắt đầu từ sự kính trọng. Nếu chúng ta chỉ chăm lo cho cha mẹ ăn uống đầy đủ mà lại không kính trọng họ thì có khác gì với việc xem thường họ như vật nuôi? Chúng ta hãy thể hiện sự cung kính của mình bằng cách cho cha mẹ biết tất cả mọi việc chúng ta làm. Chúng ta không nên nghĩ “Ồ, mình không muốn làm phiền cha mẹ bằng những việc nhỏ nhặt thế này”, hoặc “Mình đang cố gắng tự lập”. Những suy nghĩ ấy không những làm tổn hại đến đức tính hiếu thảo mà còn làm đau lòng cha mẹ kính yêu.





    Tăng Sâm (Tăng Tử) là một học trò xuất sắc của Khổng Tử, ông rất nổi tiếng về lòng hiếu thảo. Cha ông là Tăng Điểm (tự Tăng Tích), một trong những môn đồ đầu tiên của Khổng Tử. Ông thờ phụng cha mẹ rất có hiếu. Mỗi bữa ăn Tăng Sâm thường tự xào nấu các món ăn để cha mẹ dùng. Khi cha mẹ dùng bữa xong, còn thừa món ăn nào, ông hỏi cha cho ai thì ông vâng mà cho người ấy. Trong khi ăn, cha ông thỉnh thoảng hỏi thức ăn còn không, Tăng Sâm luôn đáp “Còn ạ”. Do vậy cha ông có thể yên tâm ăn mà không lo lắng.


    Sau này, con trai Tăng Sâm là Tăng Nguyên cũng hầu cha ăn. Khi Tăng Sâm ăn xong, Tăng Nguyên cất thức ăn đi mà không hỏi ý cha về cách xử lý thức ăn thừa. Tăng Sâm hỏi con thức ăn còn thừa không thì người con đáp “Không ạ”. Tăng Nguyên làm như vậy vì ông muốn để dành thức ăn lại cho bữa sau của cha.


    Mạnh Tử đánh giá như sau: “Tăng Tử nuôi cha ông là thầy Tăng Tích, bữa ăn có tất cả rượu thịt; sắp dọn mâm, tất thỉnh ý cha rằng còn dư đây muốn cho ai. Hoặc cha hỏi đồ ăn có còn thừa không? Thì tất thưa rằng có còn thừa. Khi thầy Tăng Tích chết đi rồi, Tăng Nguyên nuôi thầy Tăng Tử, bữa ăn tất có rượu thịt, sắp dọn mâm, Tăng Nguyên cũng chẳng thỉnh cha rằng còn dư muốn cho ai. Hoặc đồ ăn có còn thừa không? Thì thưa rằng không còn thừa; tính là để dành thức ăn bữa sau lại dâng lên vậy; như thế gọi là nuôi cái miệng của cha đấy thôi. Như ông Tăng Tử thì mới xứng đáng gọi là nuôi cái chí của cha vậy”.

    (Trích ý chương XIX, tiết 1, 2, Thiên Ly Lâu Thượng, Mạnh Tử Quốc Văn Giải Thích, Nxb Tp.HCM)


    Với một vấn đề nhỏ như thế, Tăng Sâm còn không dám tự quyết. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi hậu nhân tôn xưng ông là Tông Thánh. Ông cũng được đức Khổng Tử chọn để giảng dạy kỹ về vấn đề hiếu đễ, sau này được ghi thành sách Hiếu Kinh.

    親所好,力為具,親所惡,謹為去。

    Thân sở hiếu, lực vi cụ.
    Thân sở ố, cẩn vi khứ.

    (Cha mẹ thích, dốc lòng làm.
    Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ.)

    11. Cha mẹ ưa thích những chuyện hợp tình, hợp lý, hợp pháp, thì chúng ta phải tận tâm tận lực vì cha mẹ làm cho tốt đẹp.


    Những thứ mà cha mẹ thích và muốn có, khó đến mấy chăng nữa thì chúng ta cũng nên cố sức chu cấp cho cha mẹ. Chúng ta hãy dâng biếu cha mẹ với niềm hoan hỷ, để cha mẹ được vui vẻ và thoải mái. Khi thật sự có lòng hiếu thảo thì các đức tính như thương người, chịu khó, kiên trì và dũng cảm tự nhiên sẽ tăng lên.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  10. #10

    Mặc định

    Khi ngắm bầu trời vào ban đêm, người ta có thể nhìn thấy một nhóm bảy ngôi sao sáng có hình dáng giống như cái gáo múc nước, gọi là chòm Gáo Lớn hay Muỗng Lớn (Big Dipper) nằm trong chòm Đại Hùng Tinh (Ursa Major). Có rất nhiều thần thoại và truyền thuyết cảm động về chòm sao này trong nền văn hóa phương đông lẫn phương tây. Trong số đó, câu chuyện về một cô bé có tấm lòng hiếu thảo khá phổ biến với nhiều người phương tây.





    Chòm Gáo Lớn





    Chòm Đại Hùng Tinh (chòm Gấu Lớn)

    Chuyện kể rằng ngày xửa ngày xưa, có một cô bé sống với mẹ trong căn nhà gỗ ngay cạnh khu rừng đen. Một đêm mùa hè, người mẹ trằn trọc mãi mà không ngủ được. Bà cảm thấy rất khát và muốn uống một cốc nước. Mặc dù đang buồn ngủ, cô bé vẫn lập tức ra khỏi giường, khoác áo ấm và cầm lấy chiếc gáo cán dài để múc nước giếng. Khi kéo xô ra khỏi miệng giếng, cô bé không thấy một giọt nước nào cả. Cái giếng đã hoàn toàn cạn khô. “Mình nên làm thế nào bây giờ?”, cô bé tự hỏi. “Có một con suối sâu ở trong khu rừng, nhưng nó ở quá xa và mình phải đi bộ xuyên qua khu rừng để đến đó”. Nhưng nghĩ đến mẹ đang mong mỏi một cốc nước mát, cô bé dũng cảm dò dẫm trong đêm tối, theo lối mòn đi vào rừng.


    Những con cú rúc lên từng hồi âm thanh kỳ quái và những con dơi thỉnh thoảng bay ra từ các hang động khiến cô bé lo lắng và sợ hãi. Một lần nữa, hình ảnh mẹ đang đợi nước ở nhà thôi thúc cô tiến bước. Rất lâu sau, cô bé nghe được tiếng róc rách của dòng suối. Cô bé múc đầy gáo nước và nhanh chóng quay trở về. Trên đường, cô gặp một chú chó và một ông lão cũng đang khát nước. Cô vui vẻ chia cho họ một ít nước.


    Mỗi lần cô bé cho nước thì chiếc gáo trong tay cô bé lại một lần biến đổi. Ban đầu bằng gang, nó biến thành bạc, sau đó biến thành vàng, rọi sáng cho cô bé tìm đường về nhà. Khi người mẹ uống nước xong và nằm xuống ngủ một cách mãn nguyện, chiếc gáo liền biến thành kim cương rồi bay qua cửa sổ. Nó treo cao trên bầu trời đêm, sung sướng tỏa ánh sáng lấp lánh cho mọi người chiêm ngưỡng. Bây giờ mỗi khi nhìn bảy ngôi sao của chòm Gáo Lớn, người ta lại nhớ về một cô bé hiếu thảo, can đảm và tốt bụng.





    12. Trong phạm vi hợp lý, những việc làm của mình khiến cha mẹ phiền lòng thì chúng ta phải cẩn thận trừ bỏ ngay.


    Chúng ta nên dùng thái độ gì đối với vật hay việc mà cha mẹ không thích? Về cơ bản, tất nhiên ta nên tránh hoặc bỏ chúng đi, nhưng khi làm thế ta phải cẩn thận không làm cha mẹ kinh sợ hoặc làm tổn thương chúng, bởi vì điều đó đi ngược với đạo đức. Chẳng hạn, nếu ta thấy một con rắn và hung hãn xua đuổi nó đi, chúng ta có thể làm cho cha mẹ kinh sợ hoặc thậm chí bị rắn cắn. Vậy nếu cha mẹ rất ghét ai thì sao? Chúng ta phải thận trọng nhìn nhận cho chính xác và khách quan. Nếu chúng ta muốn hóa giải hiềm khích giữa mọi người thì sự dũng cảm vẫn chưa đủ, cần dùng lý trí để hành động một cách đúng đắn và thích hợp nhất. Như thế chúng ta sẽ có thể loại bỏ khéo léo những thứ mà cha mẹ không thích.


    Trên thế giới này, những nỗi khổ do sự sinh đưa đến (tuổi già, bệnh tật, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, vô thường) và cái chết là những thứ mọi người sợ và ghét nhất. Liễu thoát sanh tử và đạt đến niết bàn không sanh không diệt mới là niềm vui chân thật. Tình cảm, tài sản và địa vị đều là giả, không thể trường tồn, sanh không mang đến, chết không mang đi. Chỉ khi ta siêng năng tu hành để chấm dứt sanh tử thì ta mới có thể cứu được cha mẹ và người khác. Nếu không, chúng ta như là Bồ Tát bằng đất, qua sông còn không tự cứu nổi mình.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  11. #11

    Mặc định

    Làm cha mẹ vui sướng là hiếu, giúp mọi người an vui là nhân, ban vui cho tất cả chúng hữu tình là từ. Giúp cha mẹ không sợ hãi là thuận, bố thí vô úy cho mọi người là bác ái (nghị), cứu khổ tất cả các loài chúng sanh là bi. Vì thế, chúng ta có thể thấy lòng hiếu thảo bắt đầu từ sự quan tâm và kính trọng những người thân yêu nhất, dần dần mở rộng đến tất cả mọi người, đến cả hữu tình và vô tình chúng sanh khắp mười phương pháp giới. Đây chính là cảnh giới đại từ đại bi vậy: “Thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật” (Có yêu thương người thân thì mới có lòng nhân với người khác, có lòng nhân với người khác thì mới có thể yêu thương muôn loài)

    (Thân bị thương, cha mẹ lo.
    Đức tổn thương, cha mẹ tủi
    )

    13. Nếu thân thể của chúng ta bị thương, thì cha mẹ sẽ lo âu. Nếu đức hạnh của chúng ta không tốt, thì cha mẹ cũng cảm thấy tủi hổ.


    Phần trên đã bàn về cách chúng ta nên xử sự với những điều cha mẹ thích và không thích. Phần này sẽ trình bày về khó khăn và vướng mắc có thể gặp phải. Để làm được một người con hiếu thảo, nếu chỉ có tính kiên nhẫn, lòng dũng cảm, sự quyết tâm vẫn chưa đủ. Chúng ta cần có trí tuệ. Nếu không, chúng ta có thể vô tình gặp nguy hiểm hoặc rơi vào tình thế không hợp pháp. Như thế, tuy ý định ban đầu là hiếu nhưng lại thành ra bất hiếu.


    Ví dụ như trường hợp rất khó khăn để đáp ứng điều cha mẹ muốn hoặc vứt bỏ thứ cha mẹ ghét. Để làm vừa lòng cha mẹ, chúng ta liều mạng bằng mọi giá và thậm chí còn phạm tội ác như trộm cướp, đốt phá, giết hại, hoặc mưu phản. Hậu quả nhỏ là gây nguy hiểm cho tính mạng của bản thân; hậu quả lớn hơn là làm tan nát gia đình và phá hoại đất nước. Cha mẹ ta không chỉ đau lòng mà còn chịu nhục nhã khi người khác nhạo báng cha mẹ ta thiếu đức, không biết cách dạy dỗ con cái.


    Thiên II – Vi Chính của sách Luận Ngữ viết: Mạnh Vũ Bá hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp: “Cha mẹ chỉ lo cho con bị bệnh tật”. (Mạnh Vũ Bá vấn hiếu. Tử viết: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu”), cho thấy cha mẹ luôn quan tâm đến thân thể, tinh thần và cuộc sống của con cái. Khi tự chăm sóc tốt bản thân tức là chúng ta đã gián tiếp thực hiện lòng hiếu thảo.


    Trong chương một của Hiếu Kinh, Khổng Tử dạy Tăng Sâm rằng: “Ngô ngứ nhữ thân thể phát phu thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã. Phù hiếu thủy ư sự thân, trung ư sự quân, chung ư lập thân.” (Ta nói cho ông nghe. Thân thể, tóc, da là cha mẹ ban cho, nên chẳng dám hủy hoại; ấy là khởi đầu của đạo hiếu. Lập thân hành đạo, lưu danh cho đời sau, hiển vinh cho cha mẹ; đó là làm tròn đạo hiếu. Hiếu, bắt đầu ở việc phụng dưỡng cha mẹ, giữa là phụng sự quốc trưởng, và sau cùng là lập thân vậy.)


    Giữ cho thân thể khỏe mạnh và tinh thần tráng kiện để cha mẹ không phải lo lắng là bước đầu của đạo hiếu. Sau đó hoàn thiện bằng cách bồi dưỡng phẩm cách đạo đức cho tốt và học tập để trở thành người có ích cho xã hội và quốc gia. Như thế cha mẹ ta mới được hãnh diện.


    Nếu tiêu chuẩn này quá cao thì ít nhất chúng ta cũng không làm những điều xấu ác và sai trái, để cha mẹ ta khỏi chịu hổ thẹn. Một trong các định nghĩa của Kinh Thánh về tình yêu là “không kiếm tư lợi”, “không cư xử không đứng đắn”, “không nghĩ đến điều độc ác” (I Cor. 13).
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  12. #12

    Mặc định

    Vào thời Xuân Thu [722-481 Trước Công Nguyên] ở Trung Quốc, Tấn là một trong những nước chư hầu hùng mạnh nhất của nhà Chu. Tấn Hiến Công, tên thật là Cơ Quỹ Chư, là vị vua thứ 19 nước Tấn. Tấn Hiến Công say đắm vợ lẽ là Ly Cơ. Ly Cơ luôn muốn Hiến Công phế con trai cả là thế tử Cơ Thân Sinh (con của vợ chính Tề Khương) và lập con trai mình là Hề Tề thừa kế ngai vàng. Một ngày nọ, khi Thân Sinh dâng thịt cúng lên cho vua cha, Ly Cơ bí mật bỏ thuốc độc vào rồi vu cáo Thân Sinh có ý giết cha chiếm đoạt ngôi vị. Tấn Hiến Công nổi giận, không tra xét kỹ càng mà sai người đi bắt giết Thân Sinh. Thủ hạ của Thân Sinh khuyên ông tố cáo Ly Cơ bỏ thuốc nhưng Thân Sinh vì có hiếu, biết vua cha quá yêu Ly Cơ, ông nói: “Nhà vua già rồi. Nếu như không có Ly Cơ thì ăn không ngon, ngủ không yên. Chi bằng ta chết sớm cho vừa lòng phụ thân ta”. Sau đó, ông tự vẫn mà không biện bạch nỗi oan.





    Bây giờ ta thử nghĩ: Thân Sinh thà chết để thuận theo ý cha sẽ được lịch sử ca ngợi là người con hiếu thảo chăng? Hoàn toàn không. Sau khi chết, ông chỉ được tôn xưng kính trọng là Cung thế tử. Khổng Tử đánh giá như sau: Trong khi Thân Sinh biết cách làm một người con ngoan, ông lại không hiểu ý nghĩa thật sự của lòng hiếu thảo. Ông không chỉ làm tổn thương thân thể, hủy hoại mạng sống mà còn khiến cha bị người khác trách mắng là kẻ hồ đồ và bất nhân bất nghĩa; vì thế ông là người con bất hiếu vậy.


    Vậy trong khi thực hành hiếu đạo, chúng ta phải sử dụng lý trí. Về cơ bản, chúng ta giữ vững nguyên tắc không làm tổn thương thân thể hoặc đức hạnh. Chúng ta hiếu nhưng không nhiệt tình một cách ngu ngốc. Tuyên Công thượng nhân thường giáo hóa chúng sanh: “Tố nhân yếu ái quốc ái gia ái thân mệnh” (Làm người, chúng ta phải yêu tổ quốc, yêu gia đình, trân quý thân thể và mạng sống của chúng ta). Đây là lời của vị thánh đã hiểu sâu sắc và thật sự thực hành hiếu đạo.

    親愛我,孝何難,親憎我,孝方賢。

    Thân ái ngã, hiếu hà nan.
    Thân tăng ngã, hiếu phương hiền.

    (Cha mẹ thương, hiếu đâu khó.
    Cha mẹ ghét, hiếu mới tốt.)



    14. Nếu cha mẹ thương yêu thì việc hiếu thuận với cha mẹ không khó. Nhưng nếu cha mẹ chán ghét thì vẫn phải hiếu thuận mới hợp với đạo thánh hiền.


    Dân gian có câu tục ngữ: “Lễ thượng vãng lai” (có qua có lại). Kinh Thi có câu: “đầu đào báo lý” (tặng quả đào, đáp lại quả lý), ý nói có đi có lại. Nếu ai đó đối xử tốt với chúng ta thì chúng ta đối xử tử tế với họ. Nếu người khác cười với ta, ta không thể nhăn mặt đáp lễ. Đây là lẽ tự nhiên trong mối quan hệ giữa người với người. Trong mối quan hệ cha con, nếu cha mẹ thương yêu chăm sóc chúng ta và chúng ta vâng lời cha mẹ thì đó là điều bình thường. Nếu như cha mẹ quá bận rộn không thể chăm sóc ta chu đáo hoặc là thờ ơ lạnh lùng, thậm chí ghét bỏ chúng ta, nhưng chúng ta vẫn một lòng hiếu thảo, ngoan ngoãn và quan tâm đến cha mẹ. Như thế chúng ta mới thật sự có đức hạnh.

    Trong cuộc sống, người ta thường hành xử bằng cảm tính. Tùy theo người khác đối với họ ra sao mà họ chọn cách “ăn miếng ngọt trả miếng bùi” hoặc “ăn miếng trả miếng” để đáp lại. Câu “ăn miếng ngọt trả miếng bùi” nghĩa là người cho của này, mình lại trả của khác; hoặc là người tốt với mình thì mình tốt lại. Còn câu “ăn miếng trả miếng” thì miếng đây không phải miếng ăn. Miếng là miếng đòn, miếng võ. Nghĩa là bị người ta đánh thì đánh trả người ta, bị người ta lừa gạt thì lừa gạt lại, bị người ta làm hại thì làm hại lại. Ý nói hai bên không bên nào chịu kém bên nào, luôn luôn tìm cách trả thù nhau. Khi có tâm phân biệt yêu ghét này, chúng ta sẽ mãi mãi bị lưới nghiệp trói buộc.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  13. #13

    Mặc định

    Nguyên Bản:
    Đội đội canh điền tượng,
    Phân Phân vân thảo cầm,
    Phụ Nghiêu đăng báo vị,
    Hiếu cảm động thiên tâm

    Có nghĩa là
    Hàng đàn voi về cày ruộng,
    Hàng bầy chim đến nhặt cỏ,
    Giúp vua Nghiêu lên ngôi báu,
    Hiếu thảo động lòng trời.


    Mặc dù các khái niệm về “hiếu thảo” và “nhân quả” không được phổ biến trong văn hóa phương tây, nhưng cũng không hẳn là hoàn toàn xa lạ mà ẩn chứa trong tư tưởng ở hiền gặp lành. Tư tưởng này được minh họa rõ nét trong những câu chuyện thần tiên như “Lọ Lem”, “Bạch Tuyết”…


    Chuyện kể rằng ngày xưa có một cô bé xinh đẹp tên là Cinderella. Sau khi mồ côi cha, cô ở với bà mẹ kế và hai cô chị con riêng của mẹ kế. Họ bắt một mình cô phải làm tất cả những việc nặng nhọc trong nhà. Cô thường xuyên bị bụi bám đầy người nên mọi người gọi cô là Lọ Lem. Một hôm, nhà vua tổ chức vũ hội để kén vợ cho hoàng tử. Mẹ kế đưa hai cô con gái đi tham dự và bắt Lọ Lem ở nhà làm việc. Khi họ đi rồi, một bà tiên xuất hiện biến bộ đồ nhếch nhác bẩn thỉu cô bé đang mặc thành một chiếc đầm dạ hội sang trọng kèm với đôi giày thủy tinh. Bà lại biến quả bí ngô thành cỗ xe ngựa và những chú chuột thành người đánh xe. Trước khi đi, bà tiên dặn Lọ Lem phải về nhà trước 12 giờ đêm vì phép thuật chỉ có tác dụng đến lúc đó. Trong vũ hội, Lọ Lem là người duy nhất được Hoàng tử chọn làm bạn nhảy. Khi đồng hồ đánh chuông gần nửa đêm, Lọ Lem vùng chạy và đánh rơi một chiếc giày thủy tinh. Để tìm lại cô, Hoàng tử cử người đi khắp nước và yêu cầu tất cả các cô gái đến ướm thử giày. Hai người chị của Lọ Lem cũng xỏ thử nhưng không vừa chân, đến phiên Lọ Lem thì vừa khít. Hoàng tử cưới Lọ Lem và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau.

    Cũng rất lâu xa về trước, có một bà hoàng hậu chỉ sinh được duy nhất một đứa con gái. Bà đặt tên con là Bạch Tuyết vì cô có làn da rất trắng đẹp. Khi hoàng hậu mất, cha Bạch Tuyết lấy vợ hai. Bà vợ mới là người kiêu ngạo, hẹp hòi, xấu xa và độc ác. Mỗi sáng bà đứng trước gương và hỏi “Gương kia ngự ở trên tường, ai người đẹp nhất trên đời hả gương?”. Chiếc gương luôn trả lời hoàng hậu là người đẹp nhất, cho đến một ngày nó nói Bạch Tuyết là người đẹp nhất. Hoàng hậu ghen tức, ra lệnh cho một cận thần mang Bạch Tuyết vào rừng sâu để giết hại. Người cận thần này thấy tội nghiệp Bạch Tuyết nên đã thả cô đi và tìm vật thay thế để đánh lừa hoàng hậu. Bạch Tuyết cô độc và đói rét, lang thang mãi trong rừng cho tới khi tìm thấy một ngôi nhà nhỏ. Khi chủ nhân ngôi nhà - bảy chú lùn trở về sau ngày làm việc, họ đồng ý cho Bạch Tuyết ở lại. Mỗi ngày nàng dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn. Họ sống vui vẻ hạnh phúc đến khi hoàng hậu biết Bạch Tuyết vẫn còn sống và hiện đang ở cùng bảy chú lùn. Trong khi các chú lùn đang làm việc, hoàng hậu cải trang thành người bán rong và đến nhà đưa cho Bạch Tuyết một quả táo tẩm thuốc độc. Bạch Tuyết cắn một miếng và nàng ngã xuống bất tỉnh. Các chú lùn buồn bã đặt nàng vào cỗ quan tài bằng thủy tinh. Thời gian trôi qua, một vị hoàng tử tình cờ đi ngang khu rừng. Khi nghe chuyện, hoàng tử thương cảm xin đưa nàng về cung điện. Trên đường đi, người hầu khiêng quan tài bị vấp ngã, miếng táo độc văng ra khỏi miệng Bạch Tuyết và nàng tỉnh lại. Hoàng tử vui mừng xin cưới Bạch Tuyết và họ sống hạnh phúc bên nhau đến răng long đầu bạc.

    Qua hai câu chuyện, chúng ta thấy tuy bị mẹ kế hắt hủi, đối xử độc ác nhưng cả hai cô gái đều rất hiền lành, đều có lòng bao dung độ lượng, luôn nhẫn nhịn và cam chịu, vẫn sống vui vẻ mà không hề hờn giận, không có ý định trả thù. Chính bởi vì không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết nên các cô mới có được cuộc sống hạnh phúc về sau. Tiếc thay, những đứa trẻ ngày nay thường mất niềm tin vào bản thân và không có lòng vị tha. Chúng dễ dàng trách cứ cha mẹ lơ là, bỏ bê con cái và không thấu hiểu cho chúng. Thậm chí chúng còn nuôi lòng thù oán, luôn tìm cách chống đối lại cha mẹ. Thật quá cách xa tấm gương người xưa!


    Dù hai câu chuyện trên chỉ là chuyện cổ tích nhưng cũng có thể nuôi dưỡng giá trị đạo đức và nhân văn trong trẻ em - những vị chủ nhân tương lai của đất nước. Như vậy vẫn còn hy vọng ngăn chận sự gia tăng của bạo lực trong xã hội ngày nay. Cảm Ứng Thiên viết: “Họa và phúc không có cố định, đều do chúng ta tự tạo lấy” (họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu). Nhiều người đang hưởng hạnh phúc là những người con hiếu thảo. Những người dùng thiện tâm để đối đãi với ác ý và luôn hiếu thảo ngay cả khi cha mẹ ghét bỏ mình là những người hiếu thảo nhất trong những người hiếu thảo, và trời sẽ không phụ lòng người tốt.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  14. #14

    Mặc định

    親有過,諫使更,怡吾色,柔吾聲。

    Thân hữu quá, gián sử canh.
    Di ngô sắc, nhu ngô thanh.

    (Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi.
    Mặt phải vui, lời phải dịu.)


    15. Khi cha mẹ có lỗi lầm phải hết lòng khuyên họ sửa lỗi. Lúc khuyên thái độ phải nhu hòa.


    “Khuyên thay đổi” là ý gì, đặc biệt là khi thuyết phục người lớn tuổi hơn hay có thân phận địa vị cao hơn, chẳng hạn như một đứa trẻ khuyên cha mẹ thay đổi hoặc triều thần khuyên vua thay đổi? Tức là để sửa những thói quen, hành vi và suy nghĩ sai trái của họ. Câu thơ này mô tả cách ứng xử thích hợp đối với lỗi lầm của cha mẹ. Trong xã hội hiện đại, trường hợp này khá khó khăn vì người ta rất chú trọng vào sự phát triển, tự do và bình đẳng của cá nhân. Trẻ em ngày nay có tính tự lập quá mức nên ít khi nào sẵn lòng nghe theo lời cha mẹ. Ở Trung Quốc thời cổ có một tư tưởng phổ biến là cha mẹ không bao giờ sai. Người Do Thái và người La Mã cổ đại cũng cho rằng vua và cha đáng được tôn kính nhất. Trước thập niên 1950, trẻ em Mỹ vẫn xưng hô với cha mẹ theo cách thể hiện sự kính trọng cao nhất, luôn luôn trả lời “Yes, sir” (một cách trả lời trang trọng, lịch sự vào ngày nay). Nhưng tất cả những phong tục này hiện nay đã không còn. Điều này xấu hay tốt? Đây là vấn đề gây tranh cãi giữa những chuyên gia giáo dục và dường như họ khó có thể tìm được tiếng nói chung. Ta hãy đặt nó sang một bên và nhìn xem trẻ em ngày trước cư xử với cha mẹ như thế nào.


    Khi đứa trẻ thấy cha mẹ chúng làm sai, chúng có nên bao che cho cha mẹ hay là nên khuyên can cha mẹ? Hay là chúng nổi giận và đòi phán xét? Điều này thật sự phức tạp và khó xử. Theo lẽ thường, rõ ràng chúng ta nên thuyết phục cha mẹ không lặp lại sai lầm đó nữa mà thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Lòng hiếu thảo thật sự không chỉ làm cho cha mẹ hạnh phúc ngay hiện tại mà còn phải bảo vệ cha mẹ khỏi điều tiếng xấu. Nếu như cha mẹ giận dữ khi chúng ta cố nài họ thay đổi thì sao? Chúng ta vẫn từ tốn khuyên lơn cha mẹ. Tuy nhiên, để xử lý vấn đề này cho thích hợp, chúng ta cần xem xét kỹ tình thế.


    Nếu lỗi cha mẹ nhỏ, chúng ta liên tục thuyết phục họ thay đổi, dù cho họ có bực tức rầy la hoặc đánh đập thì chúng ta vẫn không từ bỏ. Nếu lỗi cha mẹ rất nghiêm trọng đến nỗi có thể gây nguy hại cho người khác, cho gia đình, hoặc xã hội, và họ từ chối nghe lời khuyên của ta, ta nên làm thế nào? Cách giải quyết của người xưa là lui ra và buồn bã, âu sầu. Tuy nhiên, cách giải quyết tốt nhất là làm những việc tốt để bù lại cho việc làm xấu của cha mẹ, rồi hồi hướng cho cha mẹ với hy vọng rằng họ sẽ tỉnh ngộ và sửa đổi.


    Vào những năm cuối triều nhà Minh, người Mãn Châu chiếm gần hết Trung Quốc. Cha của Trịnh Thành Công là một người sở hữu rất nhiều đất đai và có lực lượng vũ trang lớn mạnh, quyết định đầu hàng nhà Thanh vì tham sống và hám lợi. Rất nhiều lần Trịnh Thành Công cầu xin cha đừng quy hàng vì đó là hành động phản bội ô nhục, nhưng cha ông gạt đi, cho rằng ông còn trẻ và không có kinh nghiệm. Mẹ của ông - một người phụ nữ đức hạnh và chính trực, phản đối chồng quy thuận nhà Thanh nên đã tự vẫn để dạy con trai trung thành với tổ quốc chứ đừng theo cha để làm người con có hiếu. Trịnh Thành Công đã cùng với một tốp lính rời bỏ doanh trại của cha, tiếp tục đấu tranh chống lại người Mãn Châu. Mặc dù sau này cha ông bị giết bởi người Mãn Châu và triều nhà Minh vẫn bị diệt vong, hành động trung thành của Trịnh Thành Công vẫn sống mãi trong lòng người dân và lịch sử Trung Quốc.





    Bằng việc làm của mình, Trịnh Thành Công cứu cha khỏi bị khinh miệt và phỉ báng bởi người đời sau. Lòng trung thành của ông với đất nước chính là một hình thức của lòng hiếu thảo với cha mẹ. Khi chúng ta can gián cha mẹ, nếu không khéo léo thì chúng ta không chỉ trái nghịch với đạo làm con mà còn làm cha mẹ mất cơ hội sửa sai. Khi khuyên răn người ít tuổi hơn, chúng ta có thể cứng rắn hoặc mềm mỏng. Khi khuyên nhủ bạn bè, chúng ta nên nói chuyện với họ một cách nghiêm túc bởi vì họ đã quen với việc đùa giỡn. Chúng ta nên lựa lời cẩn thận khiến họ có thể dễ dàng nghe theo lời khuyên của chúng ta. Nếu họ lờ đi, chúng ta không nên tranh cãi với họ, bằng không họ có thể giận dữ và gây hấn với chúng ta. Một người thông minh sẽ không liều mạng cho việc vô nghĩa. Vậy ta nên khuyên giải cha mẹ như thế nào? Đầu tiên phải ghi nhớ là không bao giờ dùng giọng nói gay gắt, mà vẻ mặt phải tươi vui ôn hòa và lời lẽ dịu dàng lễ phép để cha mẹ biết chúng ta rất kính trọng họ. Cha mẹ sẽ cảm thấy được an ủi và sẵn sàng chấp nhận lời khuyên. Cha mẹ không nỡ làm con thất vọng nên sẽ cố hết sức để sửa đổi. Khi khuyến khích cha mẹ sửa lỗi, chúng ta nên nhẹ nhàng và kiên trì. Người ta rất khó chối từ một viên kẹo ngọt ngào và mềm dẻo!
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  15. #15

    Mặc định

    Trước khi xuất gia, đại sư Thường Nhân được ngợi khen là Vương Hiếu Tử. Vì sao ngài có được danh hiệu này? Trong quyển “Thủy Kính Hồi Thiên Lục”, hòa thượng Tuyên Hóa nói phụ thân ngài nghiện thuốc á phiện, ngài phải dùng hết tiền làm công để chu cấp cho cha. Mỗi khi cha hút thuốc, ngài đều ân cần cung kính ở bên cạnh, hầu hạ không biếng nhác. Cha ngài có tật say thuốc, say thuốc thì ngủ, hoặc lâu hoặc mau; ngài đều hầu hạ đến khi cha tỉnh dậy mới đi ngủ. Ngày ngày lúc nào ngài cũng lo cho cha như vậy. Một hôm cha ngài tỉnh lại, cảm thấy hổ thẹn vô cùng. Ông nói: “Ta mỗi khi hút thuốc vào đều ngủ ngay, mà con cứ đứng hầu, không chịu đi ngủ, ban ngày lại phải làm việc, nếu cứ kéo dài như thế thì về sau con sẽ kiệt sức! Ta quyết ý cai bỏ thói nghiện thuốc này!”

    Trong Kinh Thi, có một bài thơ tựa đề Gió Nam (Khải Phong Ca) là lời người con tự trách mình kém tài, không an ủi được mẹ để mẹ phải đi tái giá. Người mẹ là góa phụ, tuy đã có bảy đứa con vẫn muốn đi lấy chồng nữa. Bảy đứa con ấy không hề oán ghét mẹ mà chỉ tự trách mình không phụng dưỡng mẹ tốt:

    Gió nam từ phương nam thổi tới,
    Lòng khóm gai phơi phới thổi qua.
    Ngọn gai tươi tốt nõn nà,
    Riêng lòng mẹ chịu xót xa nhọc nhằn.

    Gió nam từ phương nam đưa lại,
    Thổi lùa vào trong mấy cành gai.
    Mẹ ta hiền sáng trên đời,
    Còn ta con cái chẳng người giỏi ngoan.

    Nước suối lạnh một dòng tuôn chảy,
    Dưới Tuấn đều nhờ đấy tốt tươi.
    Mẹ ta con có bảy người,
    Thế mà phải chịu một đời khổ đau.

    Chim hoàng ly véo von giọng hót.
    Đem tiếng ca lảnh lót hòa vui.
    Chúng ta có cả bảy người.
    Mà không an ủi mẹ vơi lòng sầu.

    (Tạ Quang Phát dịch)


    Chu Hy chú giải như sau: Đoạn thứ nhất: người mẹ tuy đã có bảy đứa con còn không thể yên nơi nhà chồng, còn muốn đi lấy chồng nữa, cho nên bảy đứa con ấy làm bài thơ này, lấy gió nam ví với mẹ, lấy gai non của bụi gai ví với bầy con còn nhỏ. Ví rằng mẹ sinh ra bầy con, nuôi nấng bầy con bé ấy, công lao nhọc rất nhiều. Đoạn thứ hai: Bụi gai đã thành củi, tức là đã lớn, nhưng thành củi tức là không phải thứ gỗ đẹp quý để khởi hứng vì với bầy con tuy lớn, dụng tráng, nhưng không phải là thứ con lành, con giỏi. Lại dùng chữ “thánh thiện” (trong bản dịch âm) là sáng suốt, giỏi giang để khen tặng người mẹ và tự nói mình không phải là hạng con giỏi, con lành. Lời tự trách ấy thật là thâm thiết vậy. Đoạn thứ ba: Các người con tự trách mình, nói rằng dòng suối lạnh ở ấp Tuấn của nước Vệ còn có thể doanh dưỡng bổ ích cho ấp Tuấn, huống chi chúng ta là bảy người con, trái lại chẳng phụng sự mẹ được, để khiến mẹ phải khổ nhọc hay sao? Do đó mới kín đáo chỉ vào việc ấy mà tự trách mình một cách đau đớn và nghiêm khắc để cảm động lòng mẹ. Mẹ không kềm giữ được mình, khiến các con phải tự trách, nhưng chỉ lấy lời lẽ là không phụng sự được mẹ, khiến mẹ phải lao khổ để khéo léo nhẹ nhàng can gián, không muốn điều xấu xa của mẹ bộc lộ ra. Thật là con có hiếu vậy. Đoạn thứ tư: Ý nói chim hoàng ly còn có thể lấy tiếng hót trong trẻo, hòa dịu và uyển chuyển để đẹp tai người. Còn chúng ta bảy đứa con lại không thể an ủi được lòng mẹ ru? (Trích Kinh Thi, Tạ Quang Phát dịch).


    Chúng ta hãy học tập những ý nghĩ hiếu thảo như thế này và cách khuyên nhủ cha mẹ một cách nhẹ nhàng khéo léo mà người xưa sử dụng

    諫不入,悅復諫,號泣隨,撻無怨。

    Gián bất nhập, duyệt phục gián.
    Hiệu khấp tùy, thát vô oán.

    Khuyên không nghe, vui can tiếp
    Dùng khóc khuyên, đánh không giận


    16. Nếu cha mẹ không nghe lời khuyên ấy, chúng ta phải nhẫn nại đợi khi tâm trạng của cha mẹ vui vẻ thì lại khuyên can. Nếu cha mẹ vẫn không chịu tiếp nhận lời khuyên, chúng ta có thể khóc để cha mẹ biết sai mà sửa lỗi. Cho dù cha mẹ đánh mắng cũng không bao giờ có tâm oán trách.


    Khi thuyết phục cha mẹ sửa lỗi, chúng ta cần kiên trì. Nếu cha mẹ trở nên khó chịu do cảm thấy bị quấy rầy, chúng ta dừng lại ngay và đợi một vài ngày cho tâm trạng cha mẹ tốt trở lại. Nếu cần thì ta có thể khóc lóc cho đến khi cha mẹ thay đổi. Giả như thay vì lắng nghe lời khuyên, cha mẹ cho rằng ta sai nên người rầy la hoặc thậm chí đánh ta thì sao? Thánh nhân Trung Quốc có một lời khuyên hữu ích là: “cha đánh bằng roi vọt thì cam chịu; đánh bằng gậy gộc thì chạy trốn”(Tiểu trượng tắc thụ, đại trượng tắc đào).


    Thầy Tăng Sâm bừa cỏ ruộng dưa, lỡ tay làm đứt mất ít rễ. Cha là Tăng Tích giận, cầm gậy đánh vào lưng. Tăng Sâm đau quá, nhưng sợ cha giận thêm, không dám bỏ chạy. Đương cơn tức giận, cha đánh đến ngất đi, ngã gục hồi lâu mới tỉnh lại. Khi về nhà đến thưa với cha rằng:
    - “Lúc nãy con có tội đến nỗi cha phải đánh, thật con lỗi đạo. Xin cha tha thứ”.
    Nói xong lui xuống vừa gảy đàn vừa hát, có ý để cho cha nghe tiếng biết rằng mình không còn đau đớn gì nữa.
    Đức Khổng Tử nghe chuyện, bảo học trò cấm cửa không cho Tăng Sâm vào. Tăng Sâm nghĩ mình vô tội, mượn bạn lại hỏi vì cớ gì mà ngài giận. Đức Khổng Tử nói:
    - “Ngày trước ông Thuấn phụng sự cha là Cổ Tẩu, luôn ở bên cạnh, cha sai khiến gì cũng không dám trái. Cha đánh bằng roi vọt thì cam chịu, đánh bằng gậy gộc thì chạy trốn, lúc cha giận dữ muốn giết thì lánh xa. Thế cho nên ông Cổ Tẩu không mang tiếng bất từ. Nay Sâm thờ cha, liều mình để chịu cơn giận đến nỗi ngất đi. Giá lỡ cha đánh quá tay mà chết mất, thì có phải làm cho cha mắc tội chăng? Tội bất hiếu còn to hơn nữa?”
    Tăng Sâm nghe dạy, biết mình lầm lỗi, đến tạ tội cùng đức Khổng Tử.
    (trích “Những Tấm Gương Xưa” - tác giả Quách Tấn)
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  16. #16

    Mặc định

    親有疾,藥先嘗,晝夜侍,不離床。

    Thân hữu tật, dược tiên thường.
    Trú dạ thị, bất ly sàng.

    Cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước.
    Ngày đêm hầu, không rời giường.


    17. Khi cha mẹ có bệnh, chúng ta sắc thuốc xong phải nếm trước. Chúng ta sớm hôm chăm sóc cha mẹ cho đàng hoàng, không được rời đi.


    Hai câu thơ này nói về nghĩa vụ của người con khi cha mẹ bị bệnh. Tuy nhiên, do thời đại không đồng, phong tục xã hội và nền văn hóa cũng khác nên hai câu thơ này bị mất đi ý nghĩa ban đầu. Nếu hiểu theo nghĩa đen thì chúng ta nên nếm thuốc như thế nào trước khi đưa cha mẹ uống? Không phải là rất nguy hiểm hay sao khi tùy tiện uống thứ thuốc không phải dành cho mình? Hãy tìm hiểu ý nghĩa thật sự của câu thơ này.


    “Nếm” có nghĩa là dùng đầu lưỡi để nhận biết vị của đồ ăn thức uống. Thời xưa, các loại dược thảo được đun sôi và nấu cho cô đặc lại (sắc thuốc). Vì thế, nếm thuốc là chỉ dùng đầu lưỡi để thử thuốc đã sắc, không phải là nuốt vào bụng. Ngày nay chúng ta không có cách để nếm các loại thuốc hiện đại được đóng gói dưới dạng viên nén hoặc viên con nhộng. Thứ duy nhất mà ta có thể nếm thử là lớp vỏ đường bọc bên ngoài.


    Mục đích của việc nếm thuốc là xác định liệu thuốc có nóng không và có dùng đúng loại không. Thuốc Bắc (là cách gọi ở Việt Nam đối với các loại thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền của Trung Quốc) chỉ có hiệu quả khi được uống lúc còn ấm. Tuy nhiên nó cũng không nên quá nóng vì có thể gây hại cho người bệnh nặng. Ta không thể dùng tay để đo nhiệt độ của thuốc vì độ chính xác thuộc vào người đo, chén đựng và đặc tính thuốc. Cách duy nhất để thử là dùng đầu lưỡi nhẹ nhàng kiểm tra nước thuốc vừa sắc. Một người con hiếu thảo biết quan tâm cha mẹ sẽ không khinh suất dâng lên cha mẹ một chén thuốc quá nóng hoặc đã nguội lạnh.


    Làm sao để xác định là thuốc có đúng hay không? Trong vô số loại thảo dược, chỉ có vài ngàn thứ được sử dụng phổ biến. Tất cả chúng có thể phân loại theo năm vị: chua, đắng, ngọt, cay và mặn. Năm vị này được sử dụng chủ yếu để chữa trị cho năm cơ quan chính: gan (can), tim (tâm), lá lách (tỳ), phổi (phế) và quả cật (thận). Mùi vị được Ðông y rất chú trọng, coi đó là một chỉ tiêu dược lý cần phải lưu ý, thông qua vị giác mà nhận thấy. Thuốc có vị chua dùng để trị bệnh gan và bệnh thấp khớp. Thuốc có vị ngọt dùng để chữa bệnh của lá lách, dạ dày và chứng suy nhược. Thuốc có vị đắng dùng cho tim. Thuốc có vị cay dùng cho phổi và vị mặn dùng cho thận.


    Khi một người nếm thuốc, họ có thể nhận định sơ lược về thuốc được sắc có đúng hay không. Mặc dù có thể chưa thật sự chính xác do không nắm rõ về dược liệu và dược tính, việc nếm thuốc trước khi dâng cha mẹ là cử chỉ quan tâm của người con có hiếu. Đối với thuốc viên ngày nay, chữ “nếm” có thể hiểu là “kiểm tra”, nghĩa là đảm bảo cho cha mẹ uống đúng thuốc, đúng giờ và đúng liều. Bây giờ người bệnh thường phải uống nhiều hơn một loại thuốc. Đây là một trong những lý do chúng ta nên săn sóc cha mẹ cẩn thận khi họ bị ốm.


    Người bệnh có thể bị chóng mặt, gặp khó khăn khi đi lại, hay không thể tự đút ăn và tự đi vệ sinh được; họ cần người khác hỗ trợ trong mọi việc. Khi họ buồn phiền, đau đớn và sợ hãi, họ đặc biệt cần người khác an ủi và giúp đỡ. Việc chăm sóc bệnh nhân sẽ càng khó nhọc khi một người gặp khó khăn về tài chính, gánh trách nhiệm gia đình nặng nề, và chịu áp lực trong công việc hoặc học hành. Nếu một người phải thường xuyên đi lại giữa nhà và bệnh viện để chăm sóc người bệnh hay thậm chí người bệnh có tâm trí không bình thường, họ có thể trở nên kiệt quệ cả về thể lực cũng như tinh thần. Người xưa có câu: “Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường” (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Vì thế rất khó mà trách cứ trẻ con. Một đứa trẻ xứng đáng được khen ngợi là “hiếu thảo” bởi vì nó đã có thể tách khỏi đám đông mà làm được những việc khó làm, nhẫn được những gì khó nhẫn.


    Câu thơ thứ hai nói rằng chúng ta nên bên cạnh cha mẹ ngày đêm không rời. Mặc dù điều này rất khó thực hiện trong xã hội hiện đại, chúng ta cũng nên cố gắng hết sức. Hãy tự nghĩ xem mình đã trọn lòng chăm sóc cha mẹ chưa. Phương pháp không có cố định mà phụ thuộc vào thời gian và hoàn cảnh của mỗi người.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  17. #17

    Mặc định

    Vào đời nhà Tây Hán, có một Hoàng Đế tên là Lưu Hằng. Mọi người đều gọi là Hán Văn Đế. Ông là con thứ ba của người vợ thứ, vợ của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Mặc dù không phải là thái tử nhưng ông là người hiền lương và hiếu thảo nên được các triều thần mến phục và ủng hộ lên làm vua. Sau khi lên ngôi vị đế vương, ông là một vị minh quân, lại còn hết mực phụng dưỡng mẫu thân là Bạc thái hậu, ân cần săn sóc sớm hôm. Nếu đến lúc mẹ cần uống thuốc, ông cũng đích thân nếm qua trước xem có đắng hay có nóng không, nếu không sao thì mới đem dâng cho Mẹ dùng. Tuy Hán Văn Đế là đấng thiên tử nhưng vẫn luôn chiếu cố và hầu hạ mẫu thân, một chút cũng không nản lòng. Vào thời bấy giờ, vì lòng hiếu thảo của Hán Văn Đế, trong triều văn võ bá quan, ngoài đến tới lê dân bá tánh, ai ai cũng kính ngưỡng cảm mến. Nhờ đó, người người trong nước đều hiếu thảo hòa mục, thiên hạ thái bình thịnh trị.
    (Trích Nhị thập tứ hiếu, Htr. Nguyên Thuận soạn dịch).

    Tuy Văn Đế là vua và bận rộn với vô số việc triều chính, ông vẫn đích thân phục dịch mẹ cả ngày lẫn đêm. Chúng ta không nên nói rằng: “Ờ, vua thì luôn giàu có và không phải làm việc để kiếm sống. Tất nhiên ông ta có thời giờ và sức lực để chăm sóc mẹ suốt ngày đêm. Có gì lớn lao đâu khi thỉnh thoảng nếm thuốc cho mẹ?” Vậy thì hãy xem lại lịch sử từ ngàn xưa đến nay để xem có bao nhiêu đứa trẻ cũng có lòng hiếu thảo xuất thân từ gia đình giàu có.


    Câu “ngày đêm hầu, không rời giường” nói về thái độ khi chăm sóc cha mẹ. Chúng ta không nên bám chặt vào chi tiết thời gian và nơi chốn làm hiểu nhầm ý của thánh nhân.


    Khi đọc sách cổ, chúng ta phải nắm bắt được ý nghĩa và vận dụng các nguyên tắc đó trong cuộc sống hàng ngày. Không dịch quá sát theo từng chữ để đến nỗi ý nghĩa bị mất, hoặc chỉ đạt được chút ý của người xưa. Nếu coi kinh sách thời xưa là lạc hậu, chúng ta sẽ chẳng gặt hái được lợi ích gì. Chúng ta chỉ đơn thuần nhắc lại y nguyên những gì chúng ta nghe, vốn dựa trên kiến giải sai lầm. Nếu vội vàng đưa ra kết luận như thế, chúng ta đã không đánh giá đúng người xưa.
    喪三年,常悲咽,居處變,酒肉絕。
    喪盡禮,祭盡誠,事死者,如事生。

    Táng tam niên, thường bi nhiết.
    Cư xứ biến, tửu nhục tuyệt.
    Táng tận lễ, tế tận thành.
    Sự tử giả, như sự sanh.

    Tang ba năm, thường thương nhớ.
    Chỗ ở đổi, không rượu thịt.
    Tang đủ lễ, cúng hết lòng.
    Việc người chết, như người sống.



    18. Sau khi cha mẹ qua đời, nhất định phải để tang 3 năm, luôn nhớ công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Trong thời gian để tang không tham gia những cuộc vui chơi ăn uống linh đình. Đối với tang lễ của cha mẹ cần phải coi trọng lễ nghi, khi cúng tế phải có thành tâm. Đối với cha mẹ đã qua đời cũng vẫn cung kính giữ lễ như khi còn sống.


    Ở Trung Quốc thời xưa, khi cha mẹ qua đời thì con cái để tang ba năm. Suốt thời gian đó, họ sống ẩn dật và hiếm khi đi ra ngoài. Mọi sự hưởng thụ như ở nơi cao sang, dùng thức ăn ngon, mặc quần áo đẹp đều bị hạn chế. Thú vui tinh thần như đi xem hoặc tham gia ca múa, uống rượu, tiệc tùng, du lịch, săn bắn,… cũng bị tiết chế.


    Nghi thức để tang được áp dụng cho tất cả mọi người từ hoàng đế xuống đến dân thường. Một số vị vua rời xa cung điện trong ba năm, giao công việc triều chính cho quần thần để cư tang. Họ sống nơi hẻo lánh, mặc áo thô, ăn cơm lạt, không đến thăm thê thiếp, không cắt tóc cạo râu, không nói năng trừ khi thật sự cần thiết. Cách hành xử như vậy được thánh nhân khen ngợi. Những người làm quan cũng trở về quê khi cư tang ba năm. Điều này tương tự như xin nghỉ phép về quê trong xã hội hiện tại, họ không đi làm mà chỉ ở nhà. Thậm chí một số người còn dựng túp lều cạnh mộ cha mẹ và cư ngụ ở đó.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  18. #18

    Mặc định

    Vì sao họ lại phải cư tang ba năm? Có lần, một môn đồ của Khổng Tử là Tể Ngã hỏi về phép để tang cha mẹ ba năm, bảo: “Một năm cũng đã lâu rồi. Người quân tử (để tang) ba năm không học tập lễ, lễ nghi tất phải đổ nát, ba năm không tấu nhạc, âm nhạc tất thất truyền. (Đủ một năm) lúa cũ đã ăn hết, lúa mới đã chín, cây dùi cây đe lấy lửa đã dùi hết một hết một vòng (Mỗi mùa dùi một loại cây để lấy lửa, hết bốn mùa là hết một vòng), để tang một năm là được rồi”. Khổng Tử nói: (Chưa hết ba năm) mà ăn cơm gạo thơm, mặc áo gấm thì trò có yên lòng không?”. Tể Ngã đáp: “Yên”. Khổng Tử nói: “Yên lòng thì cứ làm! Người quân tử cư tang, ăn đồ ngon không biết mùi, nghe nhạc không thấy vui, ở nhà của mình không thấy yên ổn (thời đó cất một nhà xấu ở gần mộ để cư tang), cho nên không làm như vậy (không ăn gạo ngon, mặc áo tốt…). Nếu trò thấy yên lòng, thì cứ làm!”.
    Tể Ngã ra rồi, Khổng Tử nói: “Dư là đứa bất nhân? Đứa trẻ sinh ra, sau ba năm cha mẹ mới thôi bồng bế, (cho nên) để tang ba năm là lệ phổ biến trong thiên hạ. Dư nó được cha mẹ bồng bế ba năm hay không?” (Có sách dịch là: Dư nó có yêu thương cha mẹ được ba năm hay không?).
    (Trích Luận Ngữ, thiên XVII - Dương Hóa, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu).


    Nghi lễ được thiết lập dựa trên sự đồng thuận của đa số quần chúng để mọi người có thể làm theo, do đó trật tự xã hội sẽ được duy trì; đây không phải là những luật lệ vô nghĩa áp đặt cho mọi người để kìm hãm sự tự do. Vào thời xưa, con người sống rất giản dị và tốt bụng. Trong gia đình luôn có cha từ con thảo. Khi cha mẹ khuất núi, người con không thiết gì ăn uống ngủ nghỉ là việc tự nhiên. “Phụ mẫu chi ân, hạo thiên võng cực”. Tình thương của cha mẹ lớn hơn trời, sâu hơn biển; dù cho suốt đời thương nhớ cũng chẳng thể đủ.


    Thế nhưng, mỗi người chúng ta ai cũng có trách nhiệm và nghĩa vụ riêng. Chúng ta không thể quay lưng lại với cuộc đời và chìm đắm mãi trong sự thương nhớ. Khoảng thời gian cư tang một năm thì lại quá ngắn. Do vậy, người ta đã chọn cách dung hòa là cư tang ba năm nhằm bày tỏ sự biết ơn cha mẹ đã vất vả nuôi nấng trong ba năm đầu đời.


    Hết thời hạn ba năm để tang, người ta phải nén buồn thương để quay về cuộc sống bình thường. Khi môn đệ của Khổng Tử là Tử Lộ không muốn xả tang khi đã hết thời gian để tang người em gái, Khổng Tử khiển trách ông: “Ông cho rằng chỉ có mình ông biết thương tiếc hay sao? Trong tất cả những người mà ông gặp trên đường, có ai mà không do dự khi cởi bỏ đồ tang? Cổ nhân chế ra lễ nghi là để giúp những người sầu khổ vơi bớt nỗi buồn và giúp những kẻ dửng dưng cư xử đúng mực”. Các nghi thức đều có nguyên tắc hợp lý, mục đích nhằm giúp người ta chế ngự cảm xúc và biểu lộ chúng trong các giới hạn vừa phải mà không tước đoạt tự do của họ.


    Nếu như có lý do chính đáng khiến ta không thể cư tang, như phải kiếm tiền nuôi gia đình, bị bắt đi quân dịch, hay là đang phụ trách những công việc quan trọng của xã hội thì không ai có thể trách ta. Nghi lễ chủ yếu dựa trên sự thành kính, nếu chỉ giả bộ ở vẻ bề ngoài thì không có nghĩa lý gì cả. Thà cứ thẳng thắn như Tể Ngã còn hơn. Trên thực tế, nghi lễ được quần chúng chấp nhận thì cũng bị thay đổi bởi quần chúng. Xã hội ngày nay khác xưa nên các lễ nghi phép tắc cũng theo đó mà khác; nhưng nguyên tắc đằng sau vẫn không thay đổi.


    Nguyên tắc đó là gì? Là phải cạn lòng thành, tận lòng kính; không chỉ trong lễ tang mà còn trong lúc chôn cất và thờ cúng. “Sự tử giả, như sự sanh” nghĩa là lòng hiếu kính không thay đổi dù cho cha mẹ còn sống hay đã mất. Có nhiều người con keo kiệt, không hề phụng dưỡng cha mẹ chu đáo khi họ còn sống. Khi cha mẹ qua đời, họ lại tổ chức đám tang rình rang, thuê người khóc lóc thảm thiết, đãi khách mâm cao cỗ đầy, kèn trống ầm ĩ ngày đêm. Hành vi đạo đức giả đó thật đáng khinh và đáng tiếc.


    Tử Lộ nói: “Những người nghèo không có tiền thật đáng thương! Khi cha mẹ còn sống chẳng có cách nào phụng dưỡng tốt, đến khi cha mẹ mất cũng không làm được đám tang hợp với lễ nghi đã quy định”.
    Khổng Tử cho rằng: “Khi cha mẹ còn sống chỉ ăn chút cháo đỡ đói, chỉ uống nước lã đỡ khát, song nếu con cái làm cho tinh thần cha mẹ thỏa ý, cuộc sống vui vẻ thì cũng gọi là tận hiếu rồi. Khi cha mẹ mất đi, chỉ cần có đủ áo quần mặc cho thân từ đầu đến chân rồi chôn cất bất kể lúc nào, hoặc giả thậm chí chưa chuẩn bị kỹ thì cũng chẳng sao vì với tiền của hiện có đã gắng hết sức mình làm lễ tang thì như vậy đã hợp tình rồi”.
    (Tử Lộ viết: “Thương bần dã! Sanh vô dĩ vi dưỡng, tử vô vi lễ dã”. Khổng tử viết: “Hấp thụ ẩm thủy, tận kỳ hoan. Tư chi vị hiếu, liễm tục tác hình, hoàn táng nhi vô hanh, xưng kỳ tài, tư chi vị lễ”) (trích thiên Đàn Cung Hạ, Lễ Ký).


    Theo Khổng Tử, khi tổ chức đám tang và thờ cúng người đã khuất, phải có lễ phù hợp với sức lực và tiền bạc của mỗi người, không quá phô trương cũng không quá sơ sài; và trong lễ phải có thành ý
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  19. #19

    Mặc định

    Ngọn trúc oằn mình dưới sức mạnh của gió nhưng rồi lại bật thẳng lên đầy kiêu hãnh như chưa từng xảy ra chuyện gì. Mỗi người chúng ta đều mang trong mình tính cách của ngọn trúc. Đấy là điều chắc chắn.

    Nếu ta có thể đứng ngay thẳng như cây tùng (cây thông) và ngồi vững chắc như cái chuông lớn thì tự nhiên sẽ có phẩm giá và dáng vẻ khí khái phi phàm. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều thích ngồi ngả nghiêng một cách uể oải, đi với hai vai thõng xuống và lưng gập cong lại, và đứng với toàn bộ trọng lượng dồn lên một chân, còn chân kia duỗi ra. Khi nằm, họ dang hai tay hai chân rộng ra như hình chữ “đại” (大). Họ nghĩ rằng như vậy là thoải mái, nhưng thực tế thì những tư thế này không dễ chịu chút nào, vả lại sau này xương sống và xương hông sẽ bị biến dạng. Tư thế sai không chỉ khó coi mà còn là nguyên nhân rối loạn chức năng của một cơ quan nào đó trong thân thể.

    Nhịp sống hối hả và áp lực công việc của cuộc sống hiện đại làm cho các chứng bệnh đau đầu, hoa mắt, đau lưng trở nên phổ biến. Các thứ thuốc giảm đau sẽ nhanh chóng dẫn đến tình trạng bị lờn thuốc và chỉ làm tăng thêm khổ não. Những nghiên cứu gần đây cho thấy tất cả bệnh này bắt nguồn từ xương sống không mạnh khỏe do tư thế sai khi nằm, ngồi, đứng, nhặt hoặc mang đồ vật. Các bài tập mát xa và vật lý trị liệu ngày càng được sử dụng rộng rãi để cải thiện các chứng bệnh cột sống. Tuy nhiên, nhiều người nhanh chóng nhận ra rằng kết quả chữa trị không phải lúc nào cũng cố định, có khi tốt hơn nhưng cũng có khi tệ hơn. Họ đã không chữa trị tận gốc của vấn đề, tức là họ không sửa lại những tư thế sai. Vì thế, nếu tư thế đi, đứng, ngồi, nằm không đúng thì họ không những không có uy nghi mà còn làm tổn hại sức khỏe chính mình.

    Tuy nhiên, nếu một người chỉ ngồi ngay và đứng thẳng nhưng động tác lại lóng ngóng không gọn hoặc có phần lỗ mãng, họ không được xem là người có giáo dục tốt. Hai dòng thơ “ấp thâm viên, bái cung kính” mới đạt tới sự hoàn mĩ: “thâm” biểu thị mức độ thành kính khi hành lễ - khi chào nên cúi xuống thấp với hết lòng cung kính hơn là chỉ khoanh tay và gập người lại; “viên” chỉ cho sự trang nhã trọn vẹn khi hành lễ - không nên giả tạo hoặc thô lỗ.

    Người xưa dùng câu “cây ngọc đón gió” (ngọc thụ lâm phong) để miêu tả một người có vóc dáng cao to oai vệ, gương mặt tuấn tú, cử chỉ nhã nhặn và lịch sự. Đây thực sự là lối ví von thích hợp! Ta không vội vàng cũng không chậm chạp khi bước đi và cử chỉ luôn luôn tự nhiên đúng mực thì cũng giống như cây ngọc khẽ đung đưa trong gió nhẹ, khiến người khác nhìn vào sẽ có cảm giác thư thái dễ chịu. Đây là dáng vẻ tao nhã và tự tại của người có học thức! Ngày nay nhiều thanh thiếu niên không chỉ coi thường khuôn phép, luật lệ mà còn rất hững hờ và luộm thuộm trong cách cư xử; họ nghĩ rằng mình trông rất bảnh (tiếng lóng của giới trẻ ngày nay là “cool”). Một sự hiểu nhầm quá đỗi nghiêm trọng!

    Khi Khổng Tử tuổi đã cao, ông có lần đến thăm Nguyên Nhưỡng - một người bạn thời niên thiếu. Nguyên Nhưỡng là người như thế nào? Từ lúc còn nhỏ, ông là đứa trẻ tinh quái không biết nghe lời cha mẹ; đến khi trưởng thành, ông lại không lo làm gì để kiếm sống. Ngày mẹ qua đời, ông không thể lo được tang lễ cho chu đáo tử tế nên Khổng Tử đến giúp ông. Nhìn thấy bàn tay Khổng Tử trắng trẻo thanh tú, ông bắt đầu nghĩ đến những thứ không đứng đắn và lúng búng những câu phù phiếm, hoàn toàn quên đi người mẹ vừa mất. Loại người như vậy tất nhiên không thể thành tựu bất cứ điều gì đáng giá trong cuộc đời và không được ai yêu thương. Tuy thế, Khổng Tử vẫn nhớ đến người bạn cũ này, thỉnh thoảng ngài đi thăm ông ta.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

  20. #20

    Mặc định

    Lần đó, Nguyên Nhưỡng uể oải chìa hai chân ra giống như một cái dụng cụ hốt rác sống khi ông ngồi xổm ngay cửa để đợi Khổng Tử. Điều này làm Khổng Tử rất tức giận, ông dùng gậy gõ vào ống chân của bạn và mắng: “Ông hồi nhỏ không biết hiếu thuận cha mẹ và yêu thương anh em, lớn lên không làm được gì đáng khen, nay già rồi mà vẫn bất lương như cũ! Vậy sống lâu có ích gì? Ông không có chút hổ thẹn nào sao?”. Thậm chí một người có tình có nghĩa như Khổng Tử cũng không thể không thẳng thắn trách móc ông ta, việc này cho ta thấy ngồi dang hai chân ra thật là xấu.

    Ngồi chồm hỗm với hai chân xoạc ra trông không đẹp chút nào, uốn éo hay lắc lư khi đi cũng vậy. Vài cô gái nghĩ rằng cứ lắc hông qua lại khi đi sẽ làm họ trông quyến rũ hơn, vì thế họ cố gắng bắt chước cách đi của người mẫu trên sàn diễn. Thế nhưng, nếu họ không khéo léo thì dáng đi của họ có thể giống với vịt hay khỉ hơn. Thật đáng tiếc cho sự mê mờ của họ!

    緩揭簾,勿有聲,寬轉彎,勿觸稜。
    執虛器,如執盈,入虛室,如有人。

    Hoãn yết liêm, vật hữu thanh.
    Khoan chuyển loan, vật xúc lăng.
    Chấp hư khí, như chấp doanh.
    Nhập hư thất, như hữu nhân.

    Vén rèm cửa, chớ ra tiếng.
    Rẽ quẹo rộng, chớ đụng góc.
    Cầm vật rỗng, như vật đầy.
    Vào phòng trống, như có người.


    6. Mở hoặc đóng cửa phải làm chầm chậm, đừng gây quá nhiều tiếng động. Khi đi ngang những vật như giường, tủ, bàn,… thì phải đi vòng quanh, đừng tông vào góc cạnh sắc của nó. Lúc bê vật dùng để chứa đựng mà nó rỗng bên trong thì cũng phải cẩn thận như nó chứa đầy. Vào phòng không có người thì vẫn phải cẩn trọng như là phòng có nhiều người.

    Đoạn thơ trước đề cập đến bốn uy nghi – đi, đứng, ngồi, nằm, nói rằng ta nên “hành như phong”. Chúng ta có thể bàn thêm câu này một chút vì từ “hành” không chỉ có nghĩa là đi, mà còn chứa nhiều hành động khác như là đóng mở cửa, vào ra, rẽ quẹo ngay góc cạnh, nhặt đồ vật, xử lý công việc, v.v… Động tác của một cá nhân phản ánh cá tính, đạo đức và sự giáo dục thuở ban đầu anh ta được tiếp thụ.



    Vào thời xưa, ở các lối ra vào không có cửa, chỉ có một tấm màn để ngăn cách trong ngoài. Tấm màn được làm từ nhiều chất liệu như: vải, lụa, trúc, ngọc trai, pha lê và ngọc bích. Nói chung, chúng không cứng chắc như cửa gỗ hay cửa sắt. Nếu ta mạnh tay gạt tấm màn sang một bên thì có thể hất tấm màn trúng người hay con vật đang đứng phía bên kia hoặc làm những người trong phòng giật mình, vả lại tấm màn càng dễ rơi ra. Nếu ta vén tấm màn lên và nhẹ nhàng thả xuống thì sẽ không gây ồn ào làm phiền người khác. Hơn thế, tấm màn cũng sử dụng được lâu.

    Ngày nay, rèm cửa không còn được nhiều người dùng, thay vào đó là cánh cửa có chất liệu rắn chắc. Do đó, khi ta đóng mạnh cửa sẽ tạo ra tiếng động lớn hơn, vết thương cũng nghiêm trọng hơn khi bị nó va trúng. Vì những lý do như vậy, chúng ta nên đóng mở cửa nhẹ nhàng và chậm rãi để giảm tiếng ồn, tránh gây nguy hiểm hoặc làm hư hỏng cửa.



    Người nhẹ nhàng cầm lấy tay nắm cửa khi mở và đóng cửa là người cẩn thận và có trách nhiệm. Một người chạy ào vào phòng và để cửa tự đóng sầm lại là người táo bạo không hề xem xét đến hậu quả của hành động, hoặc anh ta là người vô trách nhiệm, hoặc là người không biết quan tâm đến cảm giác của người khác. Người giữ lấy tay nắm cửa thật chặt, rất chậm rãi mở cửa rồi khép kín cửa là người siêng năng và có trách nhiệm, thỉnh thoảng có chút rụt rè hoặc căng thẳng. Người từ tốn mở cửa nhưng sau đó quên đóng nó lại, là người có ý định tốt đẹp nhưng chưa trọn vẹn do không thể hoàn tất công việc đã khởi đầu. Từ cách một người mở cửa, ta có thể nói được phẩm hạnh, tính tình của anh ta như thế nào và dự đoán được thành tựu trong tương lai của người đó.

    Do not praise the love for it were not true, no matter how pretty that is false, not worthy of praise, praising the truth even if the truth is very bitter, very bland.
    Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
    Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Bí ẩn cuộc sống sau khi chết!!! (Tổng hợp)
    By dc_bac in forum Chuyện Ma, Quỉ
    Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 17-12-2012, 11:36 AM
  2. PHƯƠNG TU THỜI TAM KỲ PHỔ ĐỘ
    By kinhvotu in forum Đạo Cao Đài
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 22-07-2012, 12:50 AM
  3. Thiền học
    By The_Sun in forum Thiền Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 03-09-2011, 08:52 AM
  4. Trả lời: 48
    Bài mới gởi: 29-04-2011, 12:15 AM
  5. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 13-04-2011, 11:41 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •