Trang 41 trong 97 Đầu tiênĐầu tiên ... 31353637383940414243444546475191 ... Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 801 tới 820 trên 1939

Ðề tài: Xin mời mọi người chia sẻ và tìm hiểu về những khái niệm Phật Pháp

  1. #801

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hoaphudung Xem Bài Gởi
    Tâm có Phật tự khắc an
    Trí sáng suốt là pháp bảo
    Thân, khẩu xuất ngôn chính là tăng.

    Tùy duyên bất biến......
    tìm một người thầy, một pháp môn, một chùa mà bạn cảm thấy tin tưởng và gắn bó. để cho dù có bao nhiêu chướng ngại cũng vẫn k bỏ. cũng phải xác định tư tưởng cho mình và gia đình nữa.
    trước tiên làm cư sĩ dài ngày tại chùa đã bạn ạ. tuy cũng chỉ là vào đến ngõ thôi, chứ chưa nằm ở trong chăn. nhưng còn hơn ở ngoài mà đếm cua trong lỗ. muốn xuống tóc phải có sự đồng thuận của hội đồng tỳ kheo nữa.
    Chúc bạn luôn tinh tấn, tỉnh giác và kiên định trên con đường của mình.
    vẫn còn đi còn đi

  2. #802

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi huuthuongsl Xem Bài Gởi
    xuất gia chỉ là biện pháp cuối cùng
    bạn cẩn thận khẩu nghiệp. thân
    vẫn còn đi còn đi

  3. #803

    Mặc định

    dù gì thì đã tu thì xuất gia vẫn hơn chứ,tu tại gia là biện pháp tạm bợ thôi ko thể=xuất gia đc

  4. #804

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi bachbjt Xem Bài Gởi
    dù gì thì đã tu thì xuất gia vẫn hơn chứ,tu tại gia là biện pháp tạm bợ thôi ko thể=xuất gia đc
    đúng đúng tại gia vẫn là tạm bợ trước sao gì cũng xuất gia . đời này chưa xuất gia đời sao xuất gia . đời sao vẫn chưa đủ duyên thì vị lại xuất gia

    nhưng trước khi xuất gia , hãy nghĩ kĩ lại vì sao tôi xuất gia . có khi người xuất gia mà tâm chưa xuất gia . có người tại gia nhưng tâm họ xuất gia .
    ráng tu để chết .
    đừng để chết rồi mà không có tu .

  5. #805

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi trango Xem Bài Gởi
    tìm một người thầy, một pháp môn, một chùa mà bạn cảm thấy tin tưởng và gắn bó. để cho dù có bao nhiêu chướng ngại cũng vẫn k bỏ. cũng phải xác định tư tưởng cho mình và gia đình nữa.
    trước tiên làm cư sĩ dài ngày tại chùa đã bạn ạ. tuy cũng chỉ là vào đến ngõ thôi, chứ chưa nằm ở trong chăn. nhưng còn hơn ở ngoài mà đếm cua trong lỗ. muốn xuống tóc phải có sự đồng thuận của hội đồng tỳ kheo nữa.
    Chúc bạn luôn tinh tấn, tỉnh giác và kiên định trên con đường của mình.
    ................
    Last edited by Giác Chúng; 20-08-2012 at 05:44 PM.

  6. #806
    Nhất Đẳng Avatar của huuthuongsl
    Gia nhập
    Jun 2011
    Nơi cư ngụ
    Vùng biên địa hạ tiện
    Bài gởi
    1,231

    Mặc định

    ánh sáng của phật khác ánh sáng của ma , lên bạn phải phân biệt :
    ánh sáng phật có màu vàng ,xanh đỏ , tím đủ các màu sắc, sáng ngời hơn mặt trời, nhưng không chói lòa , khi nhìn vào cảm thấy rất êm dịu ,thoải mái , thâm tâm an lạc và phát tâm bồ đề
    ánh sáng của ma có màu sáng như vậy , nhưng chói lòa , khó chịu , dễ bị ma lôi kéo nếu tâm định không kiên cố
    khi niệm phật hãy quán tưởng : thân như kim cang , tâm như hư không ,mới là thành tựu , dù ngoại cảnh có sảy ra chuyện gì , ta vẫn cứ lặng thinh , dù trong tâm có sảy ra chuyện gì ,hay suy nghĩ gì , cảnh giới gì , tâm vẫn an định trong câu niệm phật
    a di đà phật
    điện thoại thông minh

    sắp giầu rùi

  7. #807

    Mặc định

    kinh để phổ độ quần sanh .... chỉ là nhất thời ... khi ngộ đạo rồi thì tinh tấn hạ thủ công trình ...... rồi sau đó lại dùng kinh để chỉ dẫn .... ây da ..... thật gian nan lắm ...
    Vô Thường Mà Thường
    Thường Mà Vô Thường

  8. #808

    Mặc định

    Giác Chúng bị thổi lạc vào đây cũng tốt, mình còn phải học nhiều lắm, mình không hiểu các bạn nói gì hết. Lòng dạ mình sao mình nói vậy, không ham muốn làm gì cao cả chỉ muốn chia sẻ, giúp bạn nào tu tốt hơn được thì mình hết lòng, mình biết mình tu tệ lắm mà, mình nói thật lòng nhưng các bạn nghĩ khác đi. Thôi chắc Giác Chúng không vào đây nữa.

  9. #809

    Mặc định

    (ảnh mang tính minh họa)

    Hỏi:
    Theo con thấy người Mỹ tu rất chính chắn hơn chúng con, qua thời gian họ làm ra tiền, họ không có trói buộc như người Việt Nam, nhưng không biết họ có phải tu theo Tổ Sư thiền không?


    Đáp:
    Họ tu theo cách tìm hiểu, tức là dùng bộ óc đi tìm hiểu chân lý. Họ dám hy sinh để tu, nhưng họ kiến lập năng biết thì phải có sở biết. Như 4 bài kệ của Ngài Vĩnh Gia nói: “Biết tịch lặng còn không được và không có sở biết mà chỉ có năng biết cũng còn chưa phải”, còn cái biết của chân như không có kiến lập năng sở, vì nó vốn là vậy. Nếu có kiến lập thì không phải cái biết chân như.


    (trích khai thị của Hòa Thượng Thích Duy Lực)

    :nerd:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  10. #810

    Mặc định



    Hỏi: Khi con ngồi tham thiền, thấy lửa cháy xung quanh người, vậy có sao không?

    Đáp: Chớ nói đó chỉ là ảo tưởng, cho dù lửa cháy thật, nếu lòng tin chơn thật đầy đủ cũng không sợ. Có một vị Thiền sư đi với nhiều người lên núi, đang đi đột nhiên gặp đám cháy to, mọi người hoảng sợ bỏ chạy, Thiền sư nói:”Nhất thiết duy tâm tạo, nếu tâm không tạo thì làm sao có.” Lửa cháy xung quanh, nhưng khi đến gần Thiền sư thì tự tắt.

    (trích Duy Lực Ngữ Lục)

    :thumbs_up:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  11. #811

    Mặc định



    Hỏi: Diệt tận định, hành pháp thế gian và tổng trì, tương ưng bất tương ưng?

    Đáp: Diệt tận định có hai thứ: Một là của ngoại đạo và một là của A-la-hán. Ngoại đạo diệt hết tất cả niệm nhưng còn chấp ngã, như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng.


    (trích Duy Lực Ngữ Lục)

    :yawn:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  12. #812

    Mặc định



    170. Tại sao nhập Niết bàn lại có hiện tượng phi thường?

    - Thưa đại đức! Tất cả các vị A-la-hán khi Niết bàn, thi thể hỏa táng của các ngài đều có hiện tượng phi thường xảy ra phải chăng?
    - Có vị có thần thông phép lạ xuất hiện, có vị không có gì cả, tâu đại vương!
    - Tại sao lại như thế, đại đức?
    - Tâu đại vương! Thần thông phép lạ hay là hiện tượng phi thường xảy ra nơi thi thể hỏa táng của các bậc A-la-hán Niết bàn, là do một trong ba điều kiện sau đây:

    Thứ nhất, có vị A-la-hán sắp Niết bàn, vì muốn đem đến lợi ích cho những người đến lễ bái, cúng dường; nên chú nguyện rằng: "Xin cho thi thể này hiện ra những năng lực phi thường." Nguyện như thế xong, Niết bàn, thi thể hỏa táng của vị ấy sẽ xảy ra thần thông phép lạ.

    Thứ hai, một số chư thiên có thần thông biết rằng, lễ bái, cúng dường thi thể hỏa táng của các bậc A-la-hán được rất nhiều phước báu cao thượng. Các vị chư thiên ấy muốn làm cho chư thiên trong các cõi và nhân loại phát sanh tín tâm trong sạch; nên họ đến nơi hỏa đài phát lời chú nguyện: "Xin cho thi thể hỏa táng của bậc A-la-hán này hiện ra những năng lực phi thường để tăng trưởng đức tin cho phần đông." Chư thiên nguyện thế xong, sau đó, thần thông phép lạ sẽ xảy ra ngay nơi chỗ hỏa táng ấy.

    Thứ ba, có những nam, nữ cư sĩ là bậc trí thức, có trí tuệ, giàu đức tin... họ cúng dường vật thơm, tràng hoa hay vải vóc đến lễ đài hỏa thiêu rồi phát nguyện: "Mong cho thi thể hỏa táng của bậc A-la-hán này phát sanh năng lực mầu nhiệm vì lợi ích cho chư thiên và loài người."
    Lời cầu nguyện ấy sẽ được ứng nghiệm.


    Nghe xong đức vua Mi-lan-đà hỏi:

    - Nếu không có ba trường hợp chú nguyện ấy thì sẽ không có phép lạ sao, đại đức?
    - Tâu, vâng!
    - Đến các vị đại A-la-hán thuần thục lục thông, nếu không chú nguyện cũng không có hiện tượng phép lạ xuất hiện sao?
    - Tâu, vâng.
    - Như vậy rõ ràng là trường hợp nào cũng vì lợi ích cho chư thiên và loài người cả. Đáng ngưỡng mộ làm sao!

    (trích Mi Tiên Vấn Đáp)

    surrender
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  13. #813

    Mặc định



    173. Tại sao không diễn tả Niết bàn một cách cụ thể?

    Hôm đó, khi vừa gặp đại đức Na tiên, không biết trong tâm của đức vua nghĩ ngợi gì mà ngài cứ mỉm cười hoài! Sau đó, đức vua không mở đề như thường lệ, mà buông lời như trống không, vô nghĩa.
    - Gẫm cũng thú vị quá, đại đức nhỉ?

    - Ý đại vương muốn nói gì?
    - Ô! Đức Phật đó! Giáo hội đó! Chư Tăng đó! Tất cả sa môn trong hàng ngũ của đại đức đấy!
    - Bần tăng vẫn không hiểu gì!
    - À, là thế này! Niết bàn ấy mà! Ai cũng nói Niết bàn là vô thượng, tối thượng, là hạnh phúc, là an lạc. Nhưng khi diễn tả Niết bàn cho mọi người cùng thấy, cùng biết... thì quý vị cứ ởm ờ, trả lời vòng quanh, trườn uốn như con lươn! Này nhé, đại đức hãy nghe đoạn đối thoại sau đây:
    "- Thưa đại đức, Niết bàn có sắc tướng không?"
    - Không, không có sắc tướng, không phải kết hợp do tứ đại.
    - Thế ra nó phải có một diện tích, một cảnh, một cõi, một xứ, một nơi chốn nào đó?
    - Không, hoàn toàn không phải là như vậy!
    - Cũng không có bộ phận, chi tiết gì cả sao?
    - Không, không có!
    - Có thể nào đưa ra một sự ước lượng, một sự độ chừng được không?
    - Thưa, không thể.
    - Có thể đưa ra một ví dụ chăng?
    - Chẳng thể nào!
    - Thế Niết bàn chắc phải có nhân gì chứ?
    - Nó không nhân!
    - Thế thì duyên?
    - Cũng không!
    - Chẳng có cách thức, phương pháp gì để chứng thực, để diễn đạt sao?
    - Không có! "
    Đấy! Đoạn đối thoại như vừa rồi là cách trả lời phổ thông nhất của quý ngài đấy! Nếu trường hợp đại đức thì đại đức sẽ trả lời sao?

    - Tâu đại vương! Nếu được hỏi như thế thì bần tăng cũng chỉ trả lời được như thế thôi!
    - Thế không có cách gì cụ thể để cho mọi người dễ lãnh hội hơn sao?
    - Tâu, có thể trả lời cụ thể, nhưng cụ thể ấy không phải là Niết bàn. Có thể từ ví dụ cụ thể ấy khơi mở cho ta thấy "bóng dáng" của Niết bàn!
    - Ồ! Vậy là hay lắm!
    - Thế gian nói có biển lớn, và đại vương không biết đã thấy biển lớn chưa?
    - Thưa, có thấy rồi!
    - Quả thật có biển lớn chứ?
    - Vâng, có thật.
    - Đại vương đã thấy biển lớn rồi và xác định biển lớn ấy có thật. Vậy thì xin hỏi đại vương, biển lớn ấy rộng bao nhiêu, dài bao nhiêu, sâu bao nhiêu? Và trong biến ấy ước chừng bao nhiêu lượng nước, bao nhiêu loài cá, mỗi loại như thế số lượng được bao nhiêu con?
    - Không ai nói được điều đó, không ai biết được điều đó. Vả lại, đây là loại câu hỏi không nên đặt ra, đại đức!
    - Tại sao thế? Biển cả có thật, nước có thật, cá có thật - mà tại sao đại vương không chịu trả lời? Hay là đại vương chưa hề thấy biển?
    - Trẫm thấy thật chứ - nhưng bề dài, rộng, sâu, bao nhiêu cá thì quả thật trẫm chịu; trẫm chưa đủ kiến thức về hải dương học, nếu có, trả lời cũng không chính xác đâu!
    - Biển cả là cái cụ thể, đại vương đã từng thấy bằng mắt, thế mà hỏi về dài, rộng, sâu, bao nhiêu cá... đại vương cũng không độ chừng được, ước lượng được... Thế mà đại vương bảo bần tăng độ chừng, ước lượng, đưa ra bộ phận, chi tiết... về Niết bàn, là pháp siêu thế sao?
    - Ồ!
    - Giả dụ như có người có thần thông, có kiến thức uyên bác, có trí nhớ tuyệt hảo; y có thể độ chừng bề dài, rộng, sâu, nước và cá trong biển lớn; nhưng đối với Niết bàn y cũng không thể nói được, trình bày được!
    - Tại sao?
    - Vì sao thì đại vương biết rồi đó chứ! Vì Niết bàn ở ngoài mọi ước lượng, mọi nhân, duyên, ví dụ, so sánh..., tâu đại vương!
    Đức vua Mi-lan-đà nóng nảy:
    - Nhưng đại đức có nói, là có thể có ví dụ cụ thể, từ đó khơi mở cho người khác thấy "bóng dáng" của Niết bàn kia mà! Trong tâm của trẫm đang có một lò lửa thiêu đốt đấy!

    Đại đức Na tiên nói:
    - Vậy thì đại vương hãy nghe cho kỹ đây! Đây là những ví dụ cụ thể, từ đó ta sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của Niết bàn:
    Một là, hoa sen có một đức tính tương tợ Niết bàn.
    Hai là, nước có hai đức tính tương tợ Niết bàn.
    Ba là, thuốc trị độc rắn có ba đức tính tương tợ Niết bàn.
    Bốn là, biển lớn có bốn đức tính tương tợ Niết bàn.
    Năm là, vật thực có năm đức tính tương tợ Niết bàn.
    Sáu là, hư không có mười đức tính tương tợ Niết bàn.
    Bảy là, ngọc ma ni có ba đức tính tương tợ Niết bàn.
    Tám là, chiên đàn đỏ có ba đức tính tương tợ Niết bàn.
    Chín là, sữa Sappi (tức sữa chua, bơ lỏng) có ba đức tính tương tợ Niết bàn.
    Mười là, đỉnh núi có năm đức tính tương tợ Niết bàn.

    Nghe xong mười điều, đức vua Mi-lan-đà hoan hỷ nói:
    - Hay lắm! Vậy thì đại đức bi mẫn cho nghe từng điểm một.

    - Vâng, đây là điều thứ nhất. Hoa sen có một đức tính khả dĩ từ đó chúng ta hình dung ra Niết bàn. Đức tính ấy là gì? Ấy là hoa sen không dính nước, không thấm nước. Niết bàn cũng như hoa sen vậy, có đặc tính là, nước cấu uế, nước phiền não không dính được, không thấm vào đấy được!
    - Vâng, cho xin nghe tiếp hai đức tính của nước?
    - Khi trời nóng nực, nước giúp ta tắm rửa mát mẻ, đồng thời, tẩy sạch tất cả những dơ dáy bụi bặm. Cũng tương tự thế, Niết bàn làm lắng dịu hận tâm, sân tâm; làm mát mẻ tất cả sự bực tức, bực bội, nóng nảy, ngoài ra còn tẩy rửa tất cả tâm tư, ý niệm dơ dáy, bất tịnh - tâu đại vương!
    - Đúng là như vậy, thế cho nghe ba đức tính của thuốc trị độc rắn.
    - Vâng. Điều thứ nhất, thuốc ấy uống vào là tan độc tính. Thứ hai, uống vào là hết bệnh. Thứ ba, uống vào là ngăn được sự chết. Tương tợ như thế, Niết bàn làm tiêu vong phiền não, thứ nữa là diệt tận khổ đau, chấm dứt tham sân si; cuối cùng là ngăn giữ cho chúng sanh khỏi rơi vào sanh gìa bệnh chết!
    - Điều thứ tư, bốn đức tính của biển lớn là như thế nào?
    - Vâng!
    Thứ nhất, biển lớn luôn giữ gìn sự trong sạch của mình, không dung chứa những xác tử thi bất tịnh; cũng vậy, Niết bàn bao giờ cũng thanh khiết, không dung chứa bất cứ sự cấu uế, bất tịnh nào.
    Thứ hai, biển lớn rộng mênh mông; bao nhiêu con sông lớn ngày đêm tuôn chảy vào cũng không đầy. Tương tự như thế, Niết bàn mênh mông không thấy mé bờ; nếu vô lượng chúng sanh đời này, đời kia vào an trú, không vì thế mà Niết bàn đầy hơn.
    Thứ ba, biển lớn là nơi sinh sống của hằng trăm triệu thủy tộc, tha hồ cho chúng bơi lội vẫy vùng. Tương tự thế, Niết bàn là cảnh giới của vô lượng bậc Thánh nhân vô lậu cư trú, tha hồ sống đời hạnh phúc, an lạc chơn thường.
    Thứ tư, biển cả là nơi chôn dấu, sinh trưởng của biết bao nhiêu loài, giống, loại quý báu. Không kể ngọc, kim cương, xà cừ, pha lê, trân châu... mà còn hương liệu, tinh chất được lấy ra từ các loại thảo mộc chưa có tên gọi. Tương tự thế, Niết bàn là nơi hội tụ của mọi loài hương hoa thơm ngát được chiết ra từ các pháp thanh tịnh; biết bao trí đức, tuệ đức quý báu; vô lượng đức tính toàn mỹ, toàn thiện không đếm xiết được.
    Đại vương thấy thế nào? Bốn đức tính của biển có tương ưng, tương hợp với Niết bàn chăng?

    - Quả là vậy. Xin đại đức cho nghe tiếp năm đức tính của vật thực?
    - Vâng.
    Thứ nhất, vật thực nuôi dưỡng sanh mạng chúng sanh, Niết bàn cũng nuôi dưỡng đời sống bất tử của chúng sanh không cho tiêu hoại bởi già và chết.
    Thứ hai, vật thực cho chúng sanh sức lực và sức mạnh, Niết bàn cũng là nơi cho chúng sanh thần lực và năng lực.
    Thứ ba, vật thực làm cho tươi sắc da, Niết bàn cũng làm tươi đẹp thêm màu sắc của giới.
    Thứ tư, vật thực dứt sự quằn quại xót xa do đói - thì Niết bàn cũng chấm dứt tất cả sự thống khổ, sầu muộn do phiền não.
    Thứ năm, vật thực giúp chúng sanh giải quyết sự đói thèm - thì Niết bàn cũng làm cho tất cả sự khao khát, tham muốn thảy đều yên lặng.

    - Ví dụ ấy thật là sít sao! Đại đức cho nghe tiếp.
    - Vâng, bây giờ là mười đức tính của hư không.
    Thứ nhất, hư không và Niết bàn đều không già.
    Thứ hai, hư không và Niết bàn đều không chết.
    Thứ ba, hư không và Niết bàn đều không rời đi, rớt đi.
    Thứ tư, hư không và Niết bàn đều không tái sanh.
    Thứ năm, hư không và Niết bàn không ai áp chế được.
    Thứ sáu, hư không và Niết bàn không ai trộm cắp hoặc sở hữu được.
    Thứ bảy, hư không và Niết bàn đều không có gì dính mắc được.
    Thứ tám, hư không là nơi đi lại của chim, chư thiên, người và dạ xoa có thần thông- Niết bàn là nơi đi lại của bậc Thánh.
    Thứ chín, hư không và Niết bàn không có gì ngăn ngại.
    Thứ mười, hư không và Niết bàn là nơi mênh mông không có chỗ cuối cùng.

    - Hay vậy thay! Xin cho nghe về ngọc ma ni?
    - Vâng, ngọc ma ni có ba đức tính:
    Một là, ngọc ma ni và Niết bàn làm cho thành tựu sở nguyện.
    Hai là, ngọc ma ni và Niết bàn làm cho hoan hỷ
    Ba là, ngọc ma ni và Niết bàn làm cho an lạc.

    - Cho nghe thêm về ba đức tính về chiên đàn đỏ.
    - Vâng, chiên đàn đỏ và Niết bàn đều có ba đức tính tương tợ nhau.
    Trước hết, nó là cái khó tầm cầu, khó được
    Thứ hai, có mùi thơm không gì sánh bằng.
    Sau nữa, chiên đàn đỏ được thế gian ưa thích thì Niết bàn là nơi bậc thánh ưa thích.

    - Thế còn ba đức tánh của bơ lỏng?
    - Vâng.
    Đầu tiên, nếu bơ lỏng có màu sắc đẹp thì Niết bàn có vô lượng đức tính đẹp.
    Tiếp đến, bơ lỏng có vị ngon đặc biệt thì Niết bàn cũng có vị ngon đặc biệt (diệt phiền não, được an vui).
    Cuối cùng, bơ lỏng có mùi thơm đặc biệt thì Niết bàn cũng có mùi thơm đặc biệt (ấy là tuệ hương, giải thoát hương...)

    - Bây giờ còn năm đức tính của núi nữa, đại đức?
    - Vâng!
    Một là, đỉnh núi là điểm cao nhất - Niết bàn cũng là cõi cao nhất.
    Hai là, đỉnh núi không hề rung chuyển, lay động thì Niết bàn cũng thế.
    Ba là, đỉnh núi người lên một cách khó khăn - Niết bàn người đắc cũng rất khó khăn.
    Bốn là, trên đỉnh núi đá không cây gì mọc được, ở Niết bàn, tham sân si, phiền não cũng không mọc được.
    Năm là, đỉnh núi và Niết bàn đều xa lìa sự thương và ghét.
    Tâu đại vương! Đấy là tất cả các ví dụ tạm thời nhằm so sánh với Niết bàn - mà trình độ của bần tăng có thể nói được. Mong đại vương suy gẫm, may ra có thể thấy thấp thoáng bóng dáng của Niết bàn chăng?

    - Vậy là đã quá nhiều rồi! Có gì chưa thông suốt, trẫm sẽ xin hỏi lại vào một dịp khác.
    - Tâu, vâng.


    (trích Mi Tiên Vấn Đáp)

    green3
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  14. #814

    Mặc định



    174. Làm cho rõ Niết bàn?

    - Thưa đại đức! Hôm qua đại đức đã nêu ra hằng chục đức tính cao quý vô thượng của Niết bàn do nhờ hình tượng của sự vật nói lên. Hiện tại, trẫm đã hình dung ra được Niết bàn ấy. Tuy nhiên, theo trẫm được học hiểu thì Niết bàn không phải quá khứ, Niết bàn không phải vị lai, Niết bàn không thể là hiện tại. Lại nữa, Niết bàn ấy cũng không phải cái mà mọi người làm cho nó sanh lên. Quả thật trí óc phàm phu chẳng thể nào mà nắm bắt được!
    Vậy thì sao ạ, thưa đại đức, những người thực hành đúng đắn chánh pháp, tinh cần chỉ tịnh và quán minh thì sẽ làm cho tỏ lộ Niết bàn? Hay cứ thực hành cho rõ con đường ấy tất là làm cho rõ Niết bàn? Hoặc là cứ tu tập như thế thì Niết bàn sẽ tự tỏ lộ, sau đó mới làm cho rõ hơn nữa.

    - Tâu đại vương! - Khi mà thực hành đúng đắn chánh pháp rồi thì sẽ làm cho tỏ lộ Niết bàn hoặc là Niết bàn tự tỏ lộ, rồi làm cho rõ rệt thêm lên đều được cả. Cách nói nào cũng đúng cả! Chỉ đừng nên hiểu sai là Niết bàn được sanh lên bởi một nhân nào đó. Có lẽ khi mình thấy rõ Niết bàn, chứng nghiệm Niết bàn rồi - thì sự diễn tả, phát ngôn của mình mới chính xác hơn, phải thế chăng?
    - Đúng vậy!
    Nhưng... nhưng hiện tại, trẫm và thính chúng nơi này, và mai sau nữa, đều là kẻ phàm phu; nên vẫn mong những kiến giải đầy trí tuệ của đại đức, những ví dụ sống động và cụ thể của đại đức, để đem ánh sáng cho phần đông, thưa đại đức!

    - Tâu, vâng! Như đại vương biết rồi, người nào theo lời giáo huấn của Đức Toàn Thắng - mà thực hành tốt, thực hành đúng đắn, dùng trí tuệ quán xét pháp hành, thì sẽ tỏ lộ được Niết bàn tối thượng lạc ấy. Ví như người học trò tìm thầy để học nghề nghiệp. Nhờ tin tưởng vào thầy, thực hành tốt, thực hành đúng đắn lời chỉ dạy của thầy, người học trò ấy nắm được bí quyết thiện xảo của nghề nghiệp. Như thế, có thể nói, là nhờ đức tin, nhờ theo lời chỉ dạy của thầy, nhờ thực hành đúng đắn, người học trò kia nắm bắt được nghề nghiệp, mà trước đây y chưa có? Nói thế được không đại vương?
    - Có thể được.
    - Niết bàn trước đây chưa có, nhưng nhờ trí tuệ làm cho tỏ lộ Niết bàn cũng y như thế, tâu đại vương!
    - Hay lắm! Vậy thì tỏ lộ làm cho ta thấy được rõ, phải thế chăng? Niết bàn có thể thấy rõ, ta có thể thấy rõ như thế nào hả đại đức?
    - Tâu đại vương! Niết bàn có thể thấy rõ được do sự chứng nghiệm ở trong tâm. Ta chứng nghiệm được những trạng thái như: mát mẻ, thanh khiết, an lạc, hòa bình trường cửu v.v... và rõ ràng như vừa xa lìa được sự nóng bức, sự ô nhiễm, sự thống khổ, sự bất an dao động vậy, tâu đại vương!
    - Sự xa lìa ấy là như thế nào, đại đức? có ví dụ cụ thể chăng?
    - Được chứ! Ví như có người ở trong một căn nhà bị lửa thiêu cháy xung quanh, người ấy hốt hoảng, sợ hãi, dao động... Sau một hồi bình tĩnh, người ấy tìm được đường thoát ra - sau khi bị thiêu cháy gần chết - đến một nơi an toàn, mát mẻ. Đấy là hình ảnh rõ ràng cho ta thấy rõ thế nào là sự xa lìa thống khổ, tìm đến chỗ an vui, tâu đại vương!
    - Vâng!
    - Chúng sanh ở cõi đời này cũng giống như thế, nào có khác gì? Cả ba đống lửa lớn là tham, sân, si hằng thiêu đốt chúng sanh trong ba cõi. Nếu biết nghe lời Đức Đạo Sư để thực hành chánh pháp - như lý tác ý - rồi cũng sẽ tìm được đường thoát ra, đến chỗ mát mẻ, an vui, thanh khiết, hòa bình trường cửu là Niết bàn đấy, tâu đại vương!
    - Rõ ràng lắm!
    - Lại nữa, ví có người thấy được nơi nghĩa địa nọ bốc mùi những xác chết, nào người, nào rắn, nào chó, nào chuột,v..v... Muốn thoát ra được sự nhiễm ô, người ấy vào rừng kiếm củi, tấp lên những xác chết để đốt. Đốt xong, người ấy thở dài khoan khoái, không còn thấy hôi, không còn sợ lây lan ô nhiễm nữa. Tâu đại vương! Những kẻ tu hành như chúng ta có khác gì những người đi kiếm củi để đốt những xác chết hôi hám ấy? Đi kiếm củi khó khăn vất vả thì tầm cầu chánh pháp nào có dễ gì? Những xác chết ví cho ngũ dục cùng tấm thân bất tịnh này? Chánh pháp phải được nhen lên, tỏa bùng ngọn lửa trí tuệ để thiêu cháy những ham muốn thấp hèn, ô uế và tục lụy. Đốt xong, người kia thở dài khoan khoái, không còn thấy hôi hám, không còn sợ lây nhiễm nữa - thì có giống như bậc Thánh nhân chứng nghiệm hạnh phúc Niết bàn vô cấu, vô uế không, đại vương?
    - Quả vậy!
    - Lại nữa, ví như có người sắm chiếc thuyền nhỏ, vượt biển sang bờ bên kia; người ấy sợ sóng to, sợ bão lớn, sợ cá dữ, sợ lạc phương hướng. Sau khi lên bến người ấy thoát khỏi bốn sợ hãi. Cũng vậy, chúng sanh trôi nổi giữa biển đời, bốn nỗi sợ hãi là sanh, gìà, bịnh, chết thường trực bủa vây. Sau khi tìm được Niết bàn, người ấy thoát khỏi bốn nỗi sợ hãi ấy, được lạc, được vui, tâu đại vương!
    - Chính vậy!
    - Lại nữa, tâu đại vương! Ví như có kẻ bộ hành đi qua quãng đường lầy lội, trơn trợt, bị té lên té xuống mình mẩy lắm lem dơ bẩn. Nhưng sau khi sang khỏi đoạn ấy, là đại lộ cao ráo, phong quang; người bộ hành tắm rửa sạch sẽ rồi lên đường một cách thoải mái, dễ dàng. Người tu hành bước qua thế giới bùn lầy uế trược, té xiêu, vấp ngã, lấm lem ngũ trần, vẫn cương quyết lên đường; hướng tâm đúng, tinh tấn đủ thì có lúc sẽ đến được cõi an vui, thanh khiết, vô nhiễm!
    - Cảm ơn đại đức! Trẫm đã hiểu những ví dụ xa lìa chỗ này để đến chỗ kia. Nhưng còn cái gọi là làm cho Niết bàn tỏ lộ hay làm cho Niết bàn rõ rệt - xin đại đức giảng thêm.
    - Vâng, tâu đại vương! bần tăng xin được hầu chuyện với đại vương. Ví như có người tu hành chơn chánh, thường quán chiếu để mong thấy rõ các pháp hành, tức là pháp hữu vi ở trong tâm, hiện ra tam tướng: vô thường, khổ não, vô ngã. Và pháp hữu vi nào cũng nằm trong định luật sanh, trụ, dị, diệt. Nhưng sự quán chiếu, trực thị, thấy rõ ấy chưa được trọn vẹn. Nói cách khác, có kẻ thấy được vô thường nhưng chưa thấy khổ và vô ngã. Có kẻ thấy khổ mà chưa liễu ngộ được vô thường v.v...vì thế Niết bàn chưa rõ rệt đối với vị ấy. Nghĩa là họ còn đắm say hoặc chấp trước ở một chỗ nào đó, chưa thật sự xả ly, buông bỏ hết. Tương tự như một thanh sắt được nung đỏ từ đầu đến đuôi, chúng sanh không ai cảm giác gì - nhưng người tu hành thấy rõ là nóng. Có kẻ thấy nóng ở đằng đuôi nên cầm ở đằng đầu. Có kẻ thấy nóng ở đằng đầu nhưng cho ở đuôi là mát. Có kẻ đầu đuôi đều nắm được nhưng chỉ sợ ở giữa ! Chỉ có người quán chiếu trọn vẹn mới thấy lửa đốt ở ba nơi, xa lìa cả ba điểm nóng , đấy mới chính là làm cho Niết bàn rõ rệt, tâu đại vương!
    - Xin đại đức giảng thêm về điều ấy.
    - Vâng, vì chưa thấy Niết bàn rõ rệt nên xem thế gian này còn chỗ vui, còn chỗ để bám víu. Đến bao giờ thấy rõ thanh sắc nóng từ đầu đến đuôi, mới chịu buông bỏ, chịu xa lìa. Nghĩa là khi ấy mới thật sự nhàm chán cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc; chẳng còn một chấp thủ, dính mắc ở cõi nào nữa.
    - Trẫm đã hiểu.
    - Nói sâu hơn một tí nữa, quán chiếu để thấy rõ pháp hành (hay pháp hữu vi) là thấy rõ sự sanh, trụ, diệt của tâm, nó là đầu mối của cấu sanh tương tục, là luân hồi sanh tử. Tất cả đều là vô thường, khổ và vô ngã. Thấy rõ "hành" ấy tất Niết bàn tỏ lộ, chấm dứt vô minh và ái dục, tận diệt phiền não, nhiễm ô, được vô sanh bất tử.
    - Trẫm hiểu.
    - Ví như kẻ bộ hành lạc đường, đã tìm lại đúng phương hướng; tinh tấn, kiên trì, nỗ lực, lên đường, đến lúc sẽ vượt khỏi thế gian; cõi xuất thế gian càng ngày càng tỏ lộ trước tầm mắt, Niết bàn càng lúc càng rõ rệt hơn, tâu đại vương.
    Đức vua Mi-lan-đà vui vẻ:
    - Thế ra, tỏ lộ Niết bàn và làm cho Niết bàn tỏ lộ, chỉ khác nhau cách nói, lối diễn đạt - chứ thật ra nó chẳng khác nhau là bao, phải không đại đức?

    - Tâu, vâng!
    - Trẫm còn muốn hỏi về Niết bàn nữa đấy, mà không phải hỏi cho trẫm đâu, xin hẹn bậc đại trí tuệ hôm khác nhé!
    - Bần tăng đồng ý.


    (trích Mi Tiên Vấn Đáp)

    :worried:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  15. #815

    Mặc định



    175. Niết bàn không ở đâu cả!

    - Bây giờ chúng ta trở lại đề tài Niết bàn! Đại đức nói rằng có Niết bàn và trẫm cũng tin như thế - Nhưng nó ở đâu đại đức? Nó ở đông, tây, nam, bắc, thượng, hạ, trung?
    - Ở một nơi nào đó, một chỗ nào đó thì không phải Niết bàn, tâu đại vương!
    - Thế là đã rõ!
    - Đại vương rõ sao ạ?
    - Thưa, rõ là không có Niết bàn; Niết bàn chỉ là hư vô, không tưởng! Niết bàn đã không có thì làm gì có chuyện tỏ rõ Niết bàn, tỏ ngộ Niết bàn? Và lại càng không có cái gọi là an trú Niết bàn? Tại sao lại như thế? Vì khái niệm "trú" là gì đại đức biết chăng? Trú có nghĩa là phải có một địa cư, một vùng đất, một nơi chốn, một miền, một xứ, một cõi, một cảnh...để ở đấy, nương gá đấy, trụ ở đấy! Ví dụ như người ta nói rằng, ruộng là nơi trú của rất nhiều chủng loại lúa: lúa Sàlì, lúa thơm, lúa ngắn ngày, lúa dài ngày v..v... Ví như người ta nói biển là nơi trú của vô lượng loài thủy tộc, vô lượng trân châu, bảo ngọc v.v...Ví như quả đất làm nơi nương trú của người, vật, chim muông, cây cỏ v.v....
    Vậy thì nếu Niết bàn không có một chỗ nào cả - thì chữ "trú" này không được thành lập, trú không được thành lập thì tỏ rõ, tỏ ngộ Niết bàn cũng không được thành lập; tỏ rõ, tỏ ngộ Niết bàn không được thành lập thì người chứng đạt Niết bàn cũng không thành lập? Vậy Niết bàn ấy chỉ là khoảng không, không có gì cả. Tất cả không! Thưa đại đức.

    Đại đức Na tiên nói:
    - Thật là hùng hồn! Tuy nhiên, tâu đại vương! Có một chỗ nào đó, dù là "khoảng trống không" để Niết bàn trú ở đấy cũng không được. Niết bàn là pháp vô vi, xa lìa hữu vi thì làm sao có chỗ trú được? Ví như "lửa" có chỗ trú không, hở đại đức? Đại vương có thể chỉ cho bần tăng thấy rõ lửa nó ở hướng đông, tây, nam, bắc, chỗ này, chỗ kia không?

    - Không thể chỉ được!
    - Vậy là lửa không có rồi. Chính đại vương nói đấy nhé!
    - Không, lửa có. Tuy lửa không ở chỗ nào, không thể chỉ được; nhưng ta lấy hai thanh gỗ cọ xát vào nhau thì lửa sẽ hiện ra, thưa đại đức!
    - Cũng vậy, tâu đại vương! Niết bàn tuy không ở chỗ nào cả, không thể chỉ được; nhưng khi hàng giả quan sát thấy rõ sự sanh diệt của pháp hành (Sankhàra) thì Niết bàn sẽ hiện ra, tâu đại vương!
    - Có lý lắm, nhưng cũng không thể thuyết phục được trẫm, tại sao? Lửa là pháp hữu vi, là điệu kiện sanh, do nhân duyên sanh; trong lúc Niết bàn là pháp vô vi, không có điều kiện, không bị chi phối bởi định luật nhân quả. Đem lửa mà ví dụ cho Niết bàn, đại đức có thấy mình rơi vào luận thuyết của ngoại đạo tà giáo chăng?
    - Hay lắm! Thật ra, phải từ ví dụ này để hiểu chuyện khác. Đại vương đã không hiểu lại còn bắt bẻ bần tăng rất hợp lý nữa. Vậy ta có thể tìm ví dụ khác nhé!
    - Vâng!
    - Đại vương có biết Đức Chuyển luân Thánh vương có bảy loại ngọc, là: bánh xe ngọc, voi ngọc, ngựa ngọc, mani ngọc, nữ ngọc, gia chủ ngọc, tướng quân ngọc không?
    - Thưa, có biết từ kinh điển, từ truyền thuyết.
    - Trước khi bảy loại ngọc vi diệu ấy hiện đến do phước báu của Đức Chuyển luân, nó ở từ đâu không?
    - Không biết nó ở đâu!
    - Vậy chắc nó không có rồi.
    - Nó có đấy, thưa đại đức! Khi một vị vua tài đức vô song, phước báu cao quí không thể nghĩ nghì - thì bảy thứ ngọc vi diệu ấy đồng hiện đến, như là chứng cứ tôn xưng vị vua ấy thành đức Chuyển luân Thánh vương!
    - Cũng tương tự thế, đại vương! Khi quán chiếu pháp hành (Sankhàra), thấy rõ pháp hành là sanh diệt; pháp hành là vô thường, khổ não, vô ngã; pháp hành là bất tịnh, là sầu bi, khổ ưu, phiền não, lúc ấy Niết bàn cũng tự hiện ra. Nó không phải là một chỗ nào đó để mà đến đâu, tâu đại vương!
    - Chí lý lắm! Nhưng nếu đi sâu vào lĩnh vực luận lý, thì luận cứ của đại đức vẫn chưa trôi, vẫn còn dính mắc ở một chỗ, đại đức có biết không?
    - Xin cho nghe, ấy là chỗ nào?
    - Là cái chỗ mà từ đó Niết bàn hiện ra! Ví như đức vua có tài đức, có phước báu vô song; chính từ "địa vị" ấy, "chỗ ấy" thì bảy loại ngọc báu mới hiện ra. Trong trường hợp Niết bàn hiện ra, thì địa vị ấy, cái chỗ ấy là cái gì hở đại đức?
    - Câu hỏi vi tế lắm, thâm sâu lắm! tâu đại vương! Địa vị ấy, chỗ ấy có - đó chính là giới định tuệ! Bất cứ hành giả nào nếu giới thanh tịnh, định thanh tịnh, tuệ thanh tịnh; kiên trú vững chắc vào giới định tuệ thanh tịnh ấy, địa vị ấy, chỗ ấy - thì Niết bàn sẽ hiện ra; không kể người ấy ở đâu, trú xứ nào!
    - Bắt đầu tỏ lộ rồi đấy, thưa đại đức! Ngài hãy bi mẫn cho nghe tiếp.
    - Tâu, vâng! Nhưng đại vương đã suốt thông chỗ "địa vị" ấy rồi chứ? Đã "trôi" điều ấy rồi chứ?
    Đức vua Mi-lan-đà vui vẻ:
    - Trẫm nhận tội rồi, đừng nên trả đũa nữa, đại đức.

    - Ô! Vậy thì ta tiếp tục.
    - Thưa vâng!
    - Đại vương! Bất cứ ai kiên trú vững chắc nơi giới định tuệ rồi, người ấy sẽ tỏ lộ Niết bàn giống nhau, chẳng hề sai khác!
    - Giống nhau như thế nào hở đại đức?
    - Giống nhau như "hư không", đại vương! Ví như có người trú trong rừng Sakàya thấy được hư không, người trú trong quốc độ Alasandana..., quốc độ Kàsìkosala, quốc đô Kasinara..., quốc độ Ganchàra... cõi trời Phạm thiên, tầng trời tịnh cư v..v... thấy được hư không! Những hư không kia giống nhau như thế nào thì Niết bàn sẽ giống nhau y như thế đó, đại vương!
    - Trẫm hiểu rồi.
    - Chúng lại còn giống nhau như "phương đông" nữa, đại vương! Tất cả chúng sanh ở bất cứ cảnh giới nào, xa gần, cao thấp khác nhau - nhưng phương đông mà chúng nhìn thấy, đều giống nhau, tâu đại vương!
    - Đại đức đã dựng đứng, đã nêu cao cây cờ Pháp làm cho trẫm khả dĩ cắt đứt được sự nghi ngờ về "trú xứ" của Niết bàn. Trẫm rất hoan hỷ vậy


    (trích Mi Tiên Vấn Đáp)

    :idea:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  16. #816

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Richardhieu05 Xem Bài Gởi


    Hỏi: Diệt tận định, hành pháp thế gian và tổng trì, tương ưng bất tương ưng?

    Đáp: Diệt tận định có hai thứ: Một là của ngoại đạo và một là của A-la-hán. Ngoại đạo diệt hết tất cả niệm nhưng còn chấp ngã, như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng.


    (trích Duy Lực Ngữ Lục)

    :yawn:

    hình xâm đẹp quá.....
    Mẹ đấy con! Xác phàm mang mển,
    Chẳng một ai không đến lỗi lầm;
    Nhưng kẻ lầm biết hối nơi tâm,
    Là kẻ trí sẽ làm Tiên Phật.

  17. #817

    Mặc định

    Tuy tụng ngàn lời, chẳng tu ích gì, chẳng bằng chợt nghe, siêng tu được ích.
    Tuy tụng ngàn lời, nghĩa, câu chẳng trúng, chẳng bằng trúng một, nghe liền dứt ý.
    Tuy tụng ngàn lời chẳng hiểu ích chi, chẳng bằng một nghĩa, nghe tu được độ.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng kính ích chi, chẳng bằng chút kính, vui vẻ vâng tu.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng trừ ngã chấp, chẳng bằng một câu, bỏ tâm buông lung.
    Tuy tụng ngàn lời, cầu danh càng lắm, chẳng bằng một lời, bỏ rời chấp trước.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng muốn chừa lỗi, chẳng bằng một chữ, xa lìa sanh tử.
    Tuy tụng ngàn lời, sắc dục càng nặng, chẳng bằng chút hiểu, tâm cảnh tiêu tan.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng cầu giải thoát, chẳng bằng thoạt ngộ, ra khỏi tam giới.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng tu bi trí, chẳng bằng chợt nghe, mình người lưỡng lợi.
    Người sống trăm tuổi, tham lam càng lắm, chẳng bằng một ngày, vất bỏ tài sắc.
    Sống lâu trăm năm; ưa thói buông lung, chẳng bằng một ngày, tịnh tâm giữ giới.
    Sống lâu trăm tuổi, lười nhác chẳng siêng, chẳng bằng một ngày, kiềm thúc thân tâm. Sống lâu trăm tuổi, lòng ưa phóng túng, chẳng bằng một ngày, giữ tâm vắng lặng.
    Sống lâu trăm tuổi, tâm thức mù mờ, chẳng bằng một ngày, suốt ngộ vô minh.
    Sống lâu trăm tuổi, vụng khiến thân tâm, chẳng bằng một ngày, khéo léo vận dụng. Sống lâu trăm tuổi, tâm thường khiếp sợ, chẳng bằng một ngày, huệ lực mạnh mẽ.
    Sống lâu trăm tuổi, chẳng phát nguyện lành, chẳng bằng một ngày, phát tứ hoằng-thệ. Sống lâu trăm tuổi, chẳng sanh chút trí, chẳng bằng một ngày, tánh huệ sắc bén.

    Kinh Đại-Pháp-Cú

    Nguồn đọc thêm: Phật giáo Thánh kinh

  18. #818

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi 0127 Xem Bài Gởi
    hình xâm đẹp quá.....
    Hì, cám ơn bạn có lời chia sẻ vui nhé! Chúc bạn an lành ! wellcome1
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  19. #819

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi dienthoai Xem Bài Gởi
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng tu ích gì, chẳng bằng chợt nghe, siêng tu được ích.
    Tuy tụng ngàn lời, nghĩa, câu chẳng trúng, chẳng bằng trúng một, nghe liền dứt ý.
    Tuy tụng ngàn lời chẳng hiểu ích chi, chẳng bằng một nghĩa, nghe tu được độ.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng kính ích chi, chẳng bằng chút kính, vui vẻ vâng tu.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng trừ ngã chấp, chẳng bằng một câu, bỏ tâm buông lung.
    Tuy tụng ngàn lời, cầu danh càng lắm, chẳng bằng một lời, bỏ rời chấp trước.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng muốn chừa lỗi, chẳng bằng một chữ, xa lìa sanh tử.
    Tuy tụng ngàn lời, sắc dục càng nặng, chẳng bằng chút hiểu, tâm cảnh tiêu tan.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng cầu giải thoát, chẳng bằng thoạt ngộ, ra khỏi tam giới.
    Tuy tụng ngàn lời, chẳng tu bi trí, chẳng bằng chợt nghe, mình người lưỡng lợi.
    Người sống trăm tuổi, tham lam càng lắm, chẳng bằng một ngày, vất bỏ tài sắc.
    Sống lâu trăm năm; ưa thói buông lung, chẳng bằng một ngày, tịnh tâm giữ giới.
    Sống lâu trăm tuổi, lười nhác chẳng siêng, chẳng bằng một ngày, kiềm thúc thân tâm. Sống lâu trăm tuổi, lòng ưa phóng túng, chẳng bằng một ngày, giữ tâm vắng lặng.
    Sống lâu trăm tuổi, tâm thức mù mờ, chẳng bằng một ngày, suốt ngộ vô minh.
    Sống lâu trăm tuổi, vụng khiến thân tâm, chẳng bằng một ngày, khéo léo vận dụng. Sống lâu trăm tuổi, tâm thường khiếp sợ, chẳng bằng một ngày, huệ lực mạnh mẽ.
    Sống lâu trăm tuổi, chẳng phát nguyện lành, chẳng bằng một ngày, phát tứ hoằng-thệ. Sống lâu trăm tuổi, chẳng sanh chút trí, chẳng bằng một ngày, tánh huệ sắc bén.

    Kinh Đại-Pháp-Cú

    Nguồn đọc thêm: Phật giáo Thánh kinh
    Chào đạo hữu dienthoai, cám ơn đạo hữu ghé thăm và chia sẻ những lời quý báu từ Kinh Pháp Cú. Chúc đạo hữu bình an ! :big_hug:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  20. #820

    Mặc định



    Hỏi: Tiểu nghi tiểu ngộ, đại nghi đại ngộ, là ngộ cái gì?

    Đáp: Đã nói chẳng phải ngộ cái gì. Nếu có cái gì để ngộ thì chẳng phải rồi.

    (trích Duy Lực Ngữ Lục)

    :votay:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Mật tông vấn đáp
    By ductri16580 in forum Mật Tông
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 05-09-2014, 11:53 AM
  2. Kinh Vô Lượng Thọ Phật !
    By kinhdich in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 04:26 PM
  3. Xin hỏi về phương thức trợ niệm
    By ngocbich.ploy in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 30-10-2011, 11:46 PM
  4. Dành cho người hữu duyên
    By nguoi_mu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 101
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 07:54 PM
  5. NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG -PHÁP MÔN THIỀN-TỊNH
    By linh_tinh_85 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 22-02-2011, 08:47 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •