Hỏi: Những vị Tổ đã ra đi thường để lại xá lợi, còn những vị Tổ thời gần đây như ngài Nguyệt Khê, sao để lại kim thân bất hoại làm gì?
Đáp: Nguyện lực của mỗi người mỗi khác, như ngài Lục Tổ, Hám Sơn, Đơn Điền cũng để lại nhục thân, ngài Nguyệt Khê cũng vậy. Theo nghi lễ của Phật giáo, các vị Tổ khi thị tịch thường là hỏa táng, vị nào có sự tu chứng thì để lại xá lợi, vị nào chẳng tu chứng thì không. Nhưng có xá lợi chẳng thể chứng minh cho sự kiến tánh, kiến tánh mới cần thiết, còn việc có xá lợi chưa chắc đã giải thoát, có khi còn ở trong sanh tử luân hồi
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:yawn:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Thế nào là chánh pháp nhãn tạng?
Đáp: Tổ sư thiền này là chánh pháp nhãn tạng. Khi đức Phật truyền pháp cho Sơ tổ Ma Ha Ca Diếp, Ngài có nói:”Nay đem chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm truyền cho Ca Diếp,” vậy là rõ rồi.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:star:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Có người hỏi Thiền sư Nam Tuyền :”Dưới pháp hội của Ngũ Tổ có năm trăm vị, người nào cũng thông thái và giỏi pháp lý. Vậy tại sao ngài chẳng truyền y bát cho người khác, mà lại truyền cho Lục Tổ Huệ Năng ?”
Ngài Nam Tuyền đáp: “Sở dĩ truyền cho Huệ Năng, vì ngài không biết Phật pháp, nhưng biết đạo.” Nghĩa này là thế nào ?
Đáp: Đức Phật trong Kinh Kim Cang nói: ”Chẳng có pháp gọi là Phật pháp.”, “Pháp, phi pháp, phi phi pháp.”, “ Ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật.”, “Vô pháp khả thuyết, gọi là thuyết pháp”… Không có pháp thì làm sao biết Phật pháp? Vì ngộ được vốn là chẳng có pháp, nhưng chẳng phải phủ định tất cả pháp, pháp nào cũng y như cũ; cái tách vẫn là tách, quả cam vẫn là cam, chứ không có ý của cá nhân xen vào.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:coffee:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Ngài Nam Tuyền đáp: “Sở dĩ truyền cho Huệ Năng, vì ngài không biết Phật pháp, nhưng biết đạo.” Nghĩa này là thế nào ?
* Biết "Phật Pháp" chưa thể gọi là ngộ Tánh ( Còn ngoài cửa Đạo.)* Tỏ rỏ con đường đi (Biết-Đạo) ,gọi là Ngộ Tánh ( Vào cửa...)
...........
![]()
Hỏi: Nhân quả xuất phát từ tâm, nếu vô tâm mà phạm thì vẫn phải chịu nhân quả ư?
Đáp: Nhất thiết duy tâm tạo, còn tâm còn nhân quả, hễ tâm tạo nhân thì tâm phải chịu quả.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:whistling:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Vậy tham Tổ sư thiền có thể đưa đến nhất tâm bất loạn không?
Đáp: Nhất tâm bất loạn không phải mục đích của tham thiền. Tham thiền là muốn kiến tánh thành Phật, đạt đến giải thoát, còn nhất tâm bất loạn chưa thể đạt đến giải thoát, chỉ là vọng tưởng không nổi lên thôi. Dẫu cho dẹp hết tất cả vọng tưởng, cũng chỉ là vô thỉ vô minh, còn nằm trong vô minh.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
sick032
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Tác dụng đọc 50 thứ ma ngũ ấm để là gì?
Đáp: Để nhắc nhở, để ý mình có lọt vào những cảnh giới đó không? Nếu thấy mình có chứng đắc thì rất nguy hiểm, chớ tưởng là tốt. Phật dạy A Nan luôn nhắc nhở người đời sau: “Tu hành không được để lọt vào 50 thứ ma ngũ ấm”.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:hypnotized:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
NĂM MƯƠI THỨ ẤM MA TRONG KINH LĂNG NGHIÊM
Hiện tại chúng ta đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, nhưng sợ rằng có đến năm trăm loại Ấm Ma sẽ xuất hiện cả đây! Cho nên các vị đừng mở cửa để hoan nghinh chúng làm loạn! Tuy nói là ma, song nhìn bề trái của nó thì chúng đến để giúp đỡ sự tu Ðạo của mình, xem chí nguyện của mình kiên cố hay chẳng kiên cố. Nếu kiên cố thì dù ngàn con ma tới mình cũng không thay đổi lập trường, vạn con ma tới mình cũng không thối lui, cái gì mình cũng không sợ cả! Nếu mình không có sở cầu, thì tức là: "Ðáo vô cầu xứ, tiện vô ưu." (Khi lòng không mong cầu, tâm sẽ hết âu lo.)
"Vô sở cầu" tức là không có điều gì sợ hãi. Sợ cái gì? Cũng giống như người sợ quỷ, nghĩ rằng quỷ hết sức ghê gớm, xấu xí. Người nào cũng nghĩ rằng người chết thì biến thành quỷ, nên họ sợ. Nhưng không ai sợ thần. Ông thần Kim Giáp là kẻ hết sức lợi hại mà chẳng ai sợ ông ta!
Khổng Tử từng nói rằng: "Kính quỷ thần nhi viễn chi." (Kính quỷ thần nhưng lánh xa họ.) Song, mình đừng sợ quỷ cũng đừng sợ thần. Mình cung kính họ nhưng không cần phải thân cận với họ.
Ma là thứ đến thử thách người tu Ðạo nên các vị đừng có lòng khủng khiếp, lo sợ. Nếu mình sợ sệt, thì dù không muốn kêu ma lại, nó cũng sẽ tới. Nếu mình không sợ, thì nó muốn lại cũng không được. Ðó là mật quyết vô cùng trọng yếu: Ðừng sợ hãi! Khi mình không khiếp nhược, không lo sợ, thì tự nhiên mình sẽ chánh. "Chánh" thì có thể hàng phục mọi thứ, vì lẽ "tà bất thắng chánh." Ma sợ nhất bốn chữ: Chánh Ðại Quang Minh. Nếu mình mà "chánh đại quang minh" thì ma sẽ nép giữ quy củ, chúng sẽ hướng về mình mà đảnh lễ.
Bây giờ hãy nghiên cứu cảnh giới Năm Mươi Thứ Ấm Ma. Năm mươi thứ đó tức là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ðây bất quá là nói sơ lược cốt tủy mà thôi. Kể tường tận thì cảnh giới của chúng thật vô số, không thể kể hết được, nên Phật chỉ nói có năm mươi thứ là để giúp người đời hiểu và quán sát dễ dàng. Khi sáng tỏ được đạo lý của Năm Mươi Thứ Ấm Ma thì mình sẽ không bị cảnh giới đó làm dao động, đó là điều hết sức quan trọng.
Nếu muốn đừng bị cảnh giới làm dao động thì đầu tiên mình phải trì giới. Giới là căn bản của tất cả các Ðịnh; Ðịnh là căn bản của Trí Huệ; Huệ là căn bản để thành Phật. Nếu muốn thành Phật thì nhất định phải tu Giới, Ðịnh, Huệ. Tu mà không tương hợp với Giới, Ðịnh, Huệ tức là mình tìm cầu pháp ở bên ngoài tâm, tức là đã "hướng ngoại truy cầu"! Khi có Giới lực thì mình sẽ đắc Ðịnh lực; có định lực thì mình sẽ có Huệ lực, vì chúng là tương sinh. Giới sinh Ðịnh, Ðịnh phát Huệ, Huệ thành Phật; thiếu một thì chẳng thành được.
Do đó, hiện tại mình phải dùng thái độ khách quan mà nghiên cứu, đừng có thái độ chủ quan. Khi có thái độ chủ quan thì rất dễ có sự thiên lệch. Mình cần phải dùng Trạch Pháp Nhãn (con mắt biết nhận định chân lý) mà quán sát, dùng Trí Diệu Quán Sát mà nghiên cứu, nhưng đừng chấp trước ở điều mình quán sát. Trí Diệu Quán Sát cũng giống như cái gương vậy, chẳng khác gì mấy với Trí Ðại Viên Kính. Trí Ðại Viên Kính thì chẳng dao động mà có thể hiện ra tướng thật của mọi sự; còn Trí Diệu Quán Sát thì có năng lực quán sát mọi vật khiến mình biết được mọi vật một cách rõ ràng.
Phải dùng thái độ khách quan, không thiên lệch, thì mới nhận thức được cảnh giới một cách rõ ràng. Các vị mà nhận thức thấu đáo được cảnh giới thì sẽ không bị nó làm cho mê loạn!
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Vấn Ðáp
Hỏi: Ma là gỉ? Có bao nhiêu loại?
Ðáp: Ma là trở ngại sự tu đạo. Sự biến hóa của vọng tâm, hay những hiện tượng ngoại giới. Có 4 loại ma:
Phiền não ma: Phiền não ma gồm có tham sân si mạn nghi tà kiến, v.v... là những tâm thái, che lấp chân tâm, trở ngại sự phát triển của trí huệ.
Thiên ma: Là một loại chúng sinh đắm trước vào sự khoái lạc của bản ngã, thích được tự tại, tự do phóng dật. Thiên ma thì cư trú ở trên trời Tha hóa tự tại; chúng rất sợ người tu thành đạo do đó tìm cách phá hoại người tu, làm trở ngại đường giác ngộ.
Tử ma: Hay là sự chết. Chết cũng làm trở ngại công phu tu hành. Chết làm gián đoạn công phu tu hành miên mật của hành giả.
Ấm ma: Là cảnh giới sinh khởi do hành giả quán chiếu, phá vở năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) trong quá trình khai mở Phật tánh. Những cảnh giới này gọi là ma vì nó có thể làm hành giả mê muội, khiến họ rơi lạc vào nẻo tà, hoặc giả rơi vào tay của thiên ma. Ấm ma gồm có 50 thứ (mỗi ấm có mười loại).
Hỏi: Xin thầy giải thích thêm về bản chất của Ấm ma hay 50 ấm ma.
Ðáp: Sau đây xin trích dẫn lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa về 50 ấm ma (giảng vào tháng 1, 1983 ) như sau: Ấm ma không phải chỉ có 50 thứ, nó có thể có 500, 5000 hay 5 vạn, hay 50 vạn loại. Mỗi loại lại phân chia mười thứ. Nếu phân chiết thì chúng có thể lên đến trăm vạn loại. Tóm tắt thì thế nào là ấm ma? Thật ra, căn bản của chúng chẳng là gì cả, chúng chỉ là một thứ âm khí. Âm khí này từ đâu tới? Từ nơi âm niệm ( tư tưởng ý nghĩ âm hiểm âm độc ) của ta mà ra. Âm niệm tức là tâm niệm tham lam, sân hận, ngu si. Từ đó chúng sản sinh ra sắc thọ tưởng hành thức. Trong mỗi ấm ấy lại sinh khởi ra không biết bao nhiêu là âm tướng ( hay hiện tượng âm hiểm ). Âm tướng này xuất hiện là bởi vì công phu của bạn đạt đến một trình độ nào đó. Nếu công phu của bạn chưa có trình độ thì dù muốn có ấm ma, bạn cũng không thể nào gặp đặng. Hễ công phu có trình độ thì ma hiện. Khi chúng hiện bạn đừng hốt hoảng, cũng đừng sợ bị ma nhập. Khi âm tướng xuất hiện, bạn phải giữ thái độ an nhiên, giống như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Kiến như bất kiến
Văn như bất văn
Ðó cũng chính là nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng lọt tai, nếm nhưng chẳng biết mùi vị. Nếu bạn có thể không nhập vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì ấm ma chẳng có cách gì hại bạn được. Nếu bạn chẳng có tham, sân, si thì bạn có thể hàng phục bọn ấm ma. Và nếu bạn chẳng có lòng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng mong cầu, chẳng tham lam chẳng tranh giành gì cả thì không có ma nào phá hoại bạn được. Khi mình nghiên cứu ngũ ấm ma, các bạn chớ sợ chúng. Mình không cần thiết phải sợ. Thứ âm khí của ma này thì như thế nào? Có thể ví dụ như làn hơi do nước đun sôi bốc ra. Khi đun nước nếu hơi bốc lên tức nước đang sôi. Khi bạn tu hành ( có trình độ rồi ) thì ma hiện ra. Chúng là các thứ âm niệm, âm khí huyễn hóa xuất hiện nơi tự tánh của bạn y hệt như khi nước sôi thì hơi bốc ra. Khi chúng huyễn hóa xuất hiện, bạn chớ bị chúng làm động tâm. Nếu được vậy thì chẳng có gì rắc rối. Khi nước sôi, thì hơi bốc lên, chẳng có gì kỳ lạ. Sau khi hơi bốc ra, nước sẽ nguội để mình uống.
Khi người tu xuất hiện ra ma khí như vậy thì cũng giống như vàng được thanh lọc tôi luyện. Khi cấu bẩn trừ hết thì chỉ còn lại vàng ròng. Tu đạo thì chẳng khác gì tôi luyện vàng ròng vậy. Rằng: Vàng thiệt không sợ lửa.
Bạn phải luyện cho ra vàng ròng, luyện cho thành thân kim can bất hoại. Muốn có thân kim cang bất hoại, bạn phải dụng công tu hành trong mọi thời mọi lúc, niệm niệm liên tục. Khi tu, bất luận bạn đạt tới trình độ nào, bạn chớ sinh lòng hoan hỷ hay sợ hãi. Ðây là điều tối quan yếu, tối căn bản để người tu giải quyết các ma chướng.
Bồ Ðề Hải
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Khi con ngồi tham thiền, đủ thứ cảnh giới bao vây lấy con, vậy phải làm sao?
Đáp: Đó đều là vọng tưởng, do vọng tưởng mới hiện ra đủ thứ cảnh vật. Người tham thiền là dùng cái không biết để tu, còn cảnh giới khủng khiếp, cảnh giới vui, cho đến Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký mình thành Phật v.v… đều là vọng, không biết tới. Đường lối thực hành của mình là không biết, tại sao lại biết đến những thứ đó ! Ấy là do tập khí phiền não từ lâu đời, nay cứ giữ lấy nghi tình, bất cứ hiện cảnh giới gì đều mặc kệ nó, hiện cứ hiện, tham cứ tham, chỉ nhìn vào câu thoại đầu tham tới mãi, vậy là được rồi.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:tongue:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Theo giới trẻ thời nay, phần đông chịu sự ảnh hưởng của văn minh về học thuyết duy vật và duy lý của phương Tây, tất cả đều muốn biết một cách cặn kẻ của vấn đề. Theo sách Phật giáo Nguyên thủy cho rằng: Sau khi nhập diệt Vô dư Niết bàn thì không còn sự hiện hữu của Đức Phật Thích Ca hay bất cứ một vị Phật quá khứ nào khác, đó mới thật sự không còn bị sanh tử luân hồi. Vì theo Phân tâm học của Phương Tây, hễ còn có sự tồn tại trên bất cứ cõi nào, tức còn có tâm trí muốn tồn tại, đó là nguồn gốc của sự sanh tử luân hồi.
Theo Kinh điển của Phật, một khi đã chứng đắc quả A-la-hán hay quả Phật là đi ra khỏi sanh tử. Trong giáo lý Đại thừa, mà Đại thừa là có từ sau khi Đức Phật nhập diệt, xuất phát từ những vị Tổ sư, hoặc căn cứ vào những lời Phật tuyên thuyết, nhưng những bộ kinh Đại thừa thì không được chấp nhận trong Phật giáo Nguyên thủy, cho rằng “Sau khi Phật nhập Niết bàn vẫn còn hiện hữu, đó là do tâm cảm ứng, tức vạn pháp duy tâm, do sức tâm tạo ra cảnh giới thiên đàng địa ngục v.v…”Từ đó con có một sự qui kết như sau:
Theo con, những người Âu Mỹ thường đặt câu hỏi với con: Tu đạo Phật là tu cái gì? Đắc quả vị Phật là đắc cái gì? Con trả lời: “Tu đạo Phật là tu sự triệt tiêu, đắc quả Phật là đi đến một sự triệt tiêu.” Triệt tiêu ở đây có nghĩa là ra khỏi sanh tử, triệt tiêu ý chí muốn tồn tại muốn sống, ấy mới có thể ra khỏi sanh tử luân hồi. Vậy có đúng không?
Đáp: Hễ có hai chữ “cho rằng”đều là sai lầm. Phật tánh vô thỉ vô chung, chẳng có “cho rằng” là cái gì, vì không có sự sanh khởi. Nếu có “cho rằng,” ấy là nhận thức của bộ óc, nhưng bộ óc này là pháp sanh diệt, sau khi chết sẽ thành đất thành tro. Còn Phật tánh chẳng sanh diệt, nên người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Có “cho rằng”tức có sanh khởi, trái với giáo lý nhà Phật. Lại nữa, nhà Phật chẳng có kiến lập chơn lý, vì Phật tánh đã là chơn lý rồi, nếu kiến lập thêm một chơn lý tức thành hai, như trên đầu mọc thêm đầu, phải mời bác sĩ phẩu thuật cắt bỏ.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:nail_biting:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Trong Kinh Viên Giác nói:”Nếu dùng tâm phàm phu này đo lường cảnh giới của Như lai, chẳng khác gì lấy lửa đom đóm đốt núi Tu di”là thế nào?
Đáp: Cũng trong Kinh Viên Giác nói:”Nếu chưa ra khỏi luân hồi mà luận bàn viên giác, thì viên giác ấy cũng là luân hồi.” Nay dùng lời nói thế gian thì nói đi nói lại cũng là pháp thế gian, chẳng thể ra ngoài thế gian được. Cho nên, dùng ngôn ngữ chẳng thể nhập tri kiến Phật .
Nói đến tri kiến Phật, nhiều người lầm tưởng có cái kiến giải, có cái sở tri của Phật. Nếu có kiến giải, có sở tri thì chẳng phải tri kiến Phật, chẳng lập tri kiến nào cả, trống rỗng tánh không mới là tri kiến Phật. Hễ có nổi lên một tri kiến nhỏ như hạt bụi cũng chẳng phải tri kiến Phật, mà ấy là vọng.
trích Duy Lực Ngữ Lục)
:batting_eyelashes:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
Hỏi: Có người lúc lâm chung, những người xung quanh thấy có ánh sáng xẹt ra, vậy người đó đã được Phật rước, đúng không?
Đáp: Không đúng. Nay dù thấy Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký sẽ thành Phật cũng còn không đúng, huống là thấy ánh sáng ! Tất cả đều là vọng, đều do vọng tâm biến hiện. Trong Bá Trượng Quảng Lục, ngài nói: Khi người lâm chung, cảnh giới mà mình ham thích sẽ hiện tiền, ví như ham thích nhà lầu xe hơi thì cảnh đó sẽ hiện lên, hễ đi vào đó khi trở ra đã thành con chó con heo. Vì đó là do mình đã tạo nghiệp rồi, nên phải trả quả.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:icon_evil:
(Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)
CÁM ƠN NGƯỜI CẤT CÔNG POST BÀI ,AI MÀ THỰC HÀNH HẾT ĐƯỢC THÌ LÀ CHỨNG ĐẠO RỒI .
Người post đã có thực tiễn trong các bài của mình chưa??
rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an
Đáp: Đó đều là vọng tưởng, do vọng tưởng mới hiện ra đủ thứ cảnh vật. Người tham thiền là dùng cái không biết( Biết mà không Chấp-Trụ ) để tu, còn cảnh giới khủng khiếp, cảnh giới vui, cho đến Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký mình thành Phật v.v… đều là vọng, không biết tới( Không Chấp tới). Đường lối thực hành của mình là không biết( Biết mà không Chấp-Trụ ), tại sao lại biết(Chấp) đến những thứ đó ! Ấy là do tập khí phiền não từ lâu đời, nay cứ giữ lấy nghi tình, bất cứ hiện cảnh giới gì đều mặc kệ nó, hiện cứ hiện, tham cứ tham, chỉ nhìn vào câu thoại đầu tham tới mãi, vậy là được rồi.
*Thấy-Biết mà "không Chấp" , chớ nào phải "Không Biết"
* Như "Không Biết" . Thì khác gì "Sỏi đá". "Biết" mà "Không trụ" . Mới gọi là "Tỉnh Giác".*Đây là "Chữ Không" của Thiền Tông.
There are currently 2 users browsing this thread. (0 members and 2 guests)
Bookmarks