Trang 3 trong 6 Đầu tiênĐầu tiên 123456 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 41 tới 60 trên 119

Ðề tài: Sấm Giảng Thi Văn - Phật Giáo Hòa Hảo

  1. #41

    Mặc định

    Dầu không siêu cũng đặng về Thần,
    Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc.
    Chừng lập Hội biết ai còn mất,
    Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.
    Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,
    330 Đền Linh-Khứu sơn-trung chịu mạng.
    Nền đạo-đức Ta bày quá cạn,
    Mà dương-gian còn gạn danh từ.
    Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,
    Khóc là khóc thương người ngu muội.
    Thấy Điên Khùng làm như sắt nguội,
    Chẳng tranh đương nó lại khinh-khi.
    Ngó về Tây niệm chữ từ-bi,
    Cười trần-thế mê-si thái quá.
    Tranh với luận đặng giành cơm cá,
    340 Khuyến-dụ người đặng kiếm bạc tiền.
    Thấy chúng-sanh ghét ngỏ ganh hiền,
    Theo chế-nhạo những người tu tỉnh.
    Tu không tu cũng không mời thỉnh,
    Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.
    Thương lê-dân còn mảng say mê,
    Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.
    Thấy Ta lại nói cay nói đắng,
    Đắng với cay Ta cũng chẳng màng.
    Chừng trần-gian kiến thấy phụng-hoàng,
    350 Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.
    Thấy đạo-lý chớ nào thấy tánh,
    Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.
    Ai biết tri việc phải cứ làm,
    Sau mới biết ai Phàm ai Thánh.
    Đức Lục-Tổ ít ai dám sánh,
    Người dốt mà nói pháp quá rành.
    Lựa làm chi cao chữ học hành,
    Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo.
    Việc cổ tích cần chi phải thạo,
    360 Chuyện qua rồi kể lại làm gì.
    Nếu ai mà biết chữ tu trì,
    Tâm bình tịnh được thì phát huệ.
    Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,
    Khuyên tăng-đồ cùng các tín-đồ.
    Nghe cạn lời chớ có mờ-hồ,
    Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.
    Trần với thế nó hay kiêu-ngạo,
    Các nhà sư hãy rán sửa mình.
    Nếu xuất gia ngũ-giái rán gìn,
    370 Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.
    Cả ngàn năm nhơn tâm xao-xuyến,
    Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.
    Bởi chữ tu liền với chữ hành,
    Hành bất chánh người đời mới nói.
    Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,
    Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.
    Phật nào ham tượng cốt phết vàng,
    Mà tăng tạo hao tiền bá-tánh.
    Việc giả dối từ đây nên lánh,
    380 Bổn-đạo ôi ! hãy rán sửa mình.
    Cuộc dạy đời Ta lắm công-trình,
    Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.
    Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,
    Mãi lo làm húng-hiếp người hiền.
    Mà làm cho Ngọc-Đế thảm-phiền,
    Muốn trừng-trị trần-gian thảm-thiết.
    Đức Phật-Tổ tâm Ngài nhứt quyết,
    Tâu Ngọc-Hoàng để Phật dạy trần.
    Nên ra Kinh, Cơ-Giảng nhiều lần,
    390 Mà dương-thế chẳng cần xét đến.
    Xác trần-tục như cây cạnh khến,
    Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.
    Đẽo với bào riết nó cũng tròn,
    Đến chừng đó trông vào rất tốt.
    Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,
    Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì.
    Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,
    Chẳng có sợ mang điều tội phước.

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  2. #42

    Mặc định

    Ghét những kẻ tu hành bốc-xước,
    400 Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.
    Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,
    Lui khỏi cửa ra tay cấu-xé.
    Thấy quyền-quí nó hay dựa mé,
    Đặng bợ-bưng những kẻ hung-sùng.
    Ta thương đời nói những chuyện cùng,
    Chẳng có vị có dung kẻ quấy.
    Cuộc sám-hối vô chùa thường thấy,
    Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.
    Thấy dương-gian lường gạt Thánh Thần,
    410 Mà chua xót cho đời Nguơn-Hạ.
    Chữ tự hối nào ai có lạ,
    Là ăn-năn cải sửa tâm lành.
    Phật chẳng qua dụng chữ tín-thành,
    Chớ nào dụng Hương, Đăng, Trà, Quả.
    Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,
    Bay về Tây nói những chuyện gì ?
    Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,
    Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.
    Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,
    420 Mà không không nào có biếm đời.
    Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,
    Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.
    Coi tâm kệ làm theo mới trúng,
    Để lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ !
    Định tâm-thần như mặt nước hồ,
    Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.
    Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
    Ghi vào lòng sáu chữ Di-Đà.
    Thì hiền-lương quên mất điều tà,
    430 Đặng hạnh-phúc nhờ lòng cố-gắng.
    Việc đạo-đức bất cần thối thắng,
    Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi.
    Thấy Thiên-cơ khó nỗi yên ngồi,
    Thương lê-thứ tới hồi khổ-não.
    Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
    Như vịt con dìu-dắt nhờ gà.
    Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
    Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.
    Để gặp Phật ngồi mà than khóc,
    440 Gỡ làm sao hết rối mà về.
    Mắt nhìn xem yêu quái bốn bề,
    Bởi ác đức nên không ai cứu.
    Mang thủy ách hồi năm Đinh-Sửu,
    Đến năm nay tái lại một lần.
    Khổ ách nầy đặng thức-tỉnh trần,
    Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.
    Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,
    Bị văn-minh cám dỗ loài người.
    Kể từ rày cười một khóc mười,
    450 Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.
    Đạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,
    Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.
    Để ngày sau đến việc thảm-sầu,
    Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.
    Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,
    Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.
    Tu mà ham cho được giàu sang,
    Với quyền tước là tu dối thế.
    Nhớ thuở trước vua Lương-Võ-Đế,
    460 Tạo chùa-chiền khắp nước tu hành.
    Đến chừng sau ngạ tử Đài-thành,
    Phật bất cứu vì tâm còn ác.
    Tu biết cách như đươn biết đát,
    Đươn đát rành được dựa Xe-Loan.
    Ai biết nghe thì sớm liệu toan,
    Để đến việc như người thất nghiệp.
    Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,
    Rán mau chơn mới kịp Đạo-mầu.
    Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,
    470 Thì sẽ được Tòa-Chương dựa kế.
    Chúng-sanh thể như gà thất thế,
    Phải nằm chờ tới nước bắt ra.
    Thời-kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,
    Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.
    Nên Ta mới ra tay cứu-tế,
    Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.
    Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,
    Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.
    Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,
    480 Ở ngoài đường nó biết tên mình.
    Tin cùng không thì cũng mặc tình,
    Chớ Ta lắm công-trình dạy-dỗ.
    Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,
    Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.
    Mà cũng không rúng động đặng Ngài,
    Nên cố oán phá đời mãi mãi.
    Trong bổn-đạo cùng là sư vãi,
    Rán bền lòng cho được hiền từ.
    Hết khổ lao thì đến vui cười,
    490 Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.
    Bọn gái mới ra đường tha-thướt,
    Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.
    Khác tánh-tình người cổ nước ta,
    Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.
    Trai với gái rán coi sử sách,
    Đứng trung thần với kẻ tiết-trinh.
    Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,
    Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.
    Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,
    500 Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.
    Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,
    Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.
    Đức Thượng-Đế ngự đền Ngọc-Khuyết,
    Nhìn dương-gian cũng luống thở dài.
    Thấy chúng- sanh trau-trỉa mặt mày,
    Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.
    Kẻ đói khó người sang hay lánh,
    Bước lại gần chê lủ tanh-hôi [1].
    Cõi ta-bà Ta thấy hỡi ôi !
    510 Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.
    Người tàn-tật đui-cùi đói-rách,
    Ít có ai để mắt nhìn vào.
    Chuộng những người dù võng sắc màu,
    Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.
    Thị kẻ khó như rơm như rác,
    Ta quá rầu đài-các văn-minh.
    Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh,
    Theo Tông-Tổ của mình thuở trước?
    Đầu với tóc áo quần láng-mướt,
    520 Chữ lanh khôn của quỉ của ma.
    Chớ nó không có giống người ta,
    Ma với quỉ sanh người hung ác.
    Lo tập luyện những câu đờn hát,
    Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu-khờ.
    Để cái tâm yên-lặng như tờ,
    Coi Ta nói câu nào bất chánh ?
    Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,
    Nếu thiệt người thì biết thương người.
    Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,
    530 Nào có lấy lời chi chỉ bảo.
    Ta thương xót lo tần lo tảo,
    Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.
    Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,
    Rất đau xót cho nòi cho giống.
    Biết chừng nào được qui nhứt thống,
    Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.
    Nhắc ra thì dạ ngọc đớn-đau,
    Không nhắc đến biết đâu dân sửa.
    Cơm được chín ta nhờ có lửa,
    540 Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.
    Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,
    Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết.
    Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,
    Đợi cho người hết giận ta khuyên.

    Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,
    Thì đâu có mang câu thù-oán.

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  3. #43

    Mặc định

    Việc hung-ác hễ vừa thấp-thoáng,
    Chữ từ-bi ta diệt nó liền.
    Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,
    550 Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.
    Chữ bạn tác dầu cho đến chết,
    Cũng keo-sơn gắn chặt mới là.
    Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,
    Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.
    Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,
    Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.
    Vì đời nay chúng nó dụng tiền,
    Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.
    Theo học Đạo mặc ai mai-mỉa,
    560 Ta cũng đừng gây-gổ với người.
    Được mấy điều thì đáng vàng mười,
    Thiệt hiền-đức có ai mắng chưởi.
    Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,
    Ngài nói rằng các việc tại mầy.
    Thuận với hòa hay ghét với rầy,
    Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.
    Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,
    Lấy tâm-thần làm chủ mới mầu.
    Cũng chẳng nên theo tánh võ-hầu,
    570 Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.
    Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,
    Dầu việc chi liệu lượng mà làm.
    Điên Khùng nầy chẳng có nói xàm,
    Nói những chuyện từ-bi bác-ái.
    Nếu bổn-đạo còn ai làm sái,
    Coi kệ nầy mình sửa lấy mình.
    Ta không tranh mà cũng không kình,
    Cho bá-tánh gièm-pha thỏa chí.
    Ai làm phước in ra mà thí,
    580 Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy.
    Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,
    Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.
    Tới với Ta chớ đem đồ cúng,
    Chỉ đem theo hai chữ thành-lòng.
    Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,
    Mong sanh-chúng từ-lòng hối-ngộ.
    Kẻ xa-xuôi có lòng ái mộ,
    Xem Kệ nầy tu tỉnh tại nhà.
    Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
    590 Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.
    Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,
    Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.
    Con Phật thì chẳng có khôn lanh,
    Đời văn-vật khôn ma khôn quỉ.
    Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,
    Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.
    Trong tâm thì chứa chữ gian-tà,
    Chớ chẳng chứa tấm lòng bác-ái.
    Học chữ nghĩa cho thông cho thái,
    600 Đặng xuê-xang đài-các xe-tàu.
    Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,
    Trong tâm-ý mưu-mô đủ thế.
    Ta còn mắc phiêu-lưu dương-thế,
    Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.
    Mặc tình ai xem kệ ngâm-nga,
    Hay sửa đổi tùy lòng hưu-hỷ.
    Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,
    Hỡi dương trần nên sớm quày đầu.
    Đặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,
    610 Với báu quí đài-lầu tươi-tốt.
    Xác Ta vốn là người quê dốt,
    Nên mở mang chưa được mấy rành.
    Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,
    Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.
    Dầu cực-khổ thân nầy chẳng nại,
    Chẳng cần ai bái lạy khẩn-cầu.
    Bỏ dị-đoan mới thấy Đạo-mầu,
    Bớt giả-dối gặp Người Thượng-Cổ.
    Gốc thuở trước của Tông của Tổ,
    620 Đâu có bày dối-mị như vầy.
    Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,
    Dân rán kiếm mà truy thì biết.
    Xưa để lại nhiều câu thảm-thiết,
    Mà nào ai có biết để lòng.
    Chuyện Thiên-Cơ nói rất não-nồng,
    Câu hữu lý bá tòng khó sánh.
    Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,
    Vì lời xưa có dặn rạch-ròi.
    Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,
    630 Thì lao-lý tấm thân vô ích.
    Phải nhẫn-nhục chờ Người Cổ Tích,
    Phật với Trời phân định cho Ta.
    Người xưa tuy ít chữ nôm-na,
    Chớ chơn-chất người ta ngay thẳng.
    Dạy bổn-đạo lấy câu trung đẳng,
    Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.
    Đấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,
    Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.
    Ta ra sức viết câu huyền-bí,
    640 Chúng dân ôi ! Rán kiếm rán tầm.
    Giống thú kia là loại sanh cầm,
    Mà còn biết kiếm tầm đạo-đức.
    Thú-vật biết tu hành náo-nức,
    Còn người sao chẳng rứt hồng-trần ?
    Việc tu hành phải vẹn nghĩa ân,
    Kinh với Sấm chúng dân thường thấy.
    Chữ Bát-Chánh rõ-ràng trong giấy,
    Là chơn truyền của Đức Thích-Ca.
    Người tu hành cần phải tìm ra,
    650 Cho dân biết mục đầu Chánh-Kiến.
    Trí linh-mẫn nhìn xem các chuyện,
    Phải đừng cho lầm-lạc nẻo tà.
    Dầu việc người hay việc của ta,
    Nên phán-đoán cho tường cho tận.
    Tội với phước xét coi nhiều bận,
    Mới khỏi lầm tà-kiến đem vào.
    Chánh Tư-Duy mục ấy thanh-cao,
    Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.
    Trên cùng dưới dầu thầy hay tớ,
    660 Cũng tưởng điều trung-chánh mới mầu.
    Việc vui say mèo-mả đâu đâu,
    Hãy dẹp gác nhớ câu Lục-Tự.
    Câu Chánh-Nghiệp cũng là quá bự,
    Dầu nghề chi làm việc ngay đường.
    Ta đừng nên theo kẻ bất lương,
    Học ngón xảo để lừa đồng loại.
    Chánh Tinh-Tấn dầu thành hay bại,
    Cứ một đường tín-ngưỡng của mình.
    Dầu cho ai phá rối đức tin,
    670 Ta cũng cứ một đàng đi tới.
    Mục Chánh-Mạng chúng sanh ơi hỡi,
    Cho hồn-linh cai-quản châu-thân.
    Lấy chơn-nhơn dẹp tánh phàm-trần,
    Mới có thể mong về Cực-Lạc.
    Câu Chánh-Ngữ lòng son ghi tạc,
    Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.
    Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,
    Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.
    Việc tráo-chác ấy là nguồn cội,
    680 Lời xảo ngôn do đó mà ra.
    Kinh-nghiệm rồi Ta mới diễn ca,
    Câu Chánh-Niệm thiết-tha nhiều nỗi.
    Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,
    Phải làm tròn các việc vẹn toàn.
    Dân chớ nên làm bướng làm càn,
    Trong lúc ấy niệm cho lấy có.
    Mục Chánh-Định thiệt là rất khó,
    Giữ tâm lòng bất động như như.
    Cho hồn-linh yên-lặng an cư,
    690 Thì mới được huờn-nguyên phản-bổn.
    Tà với chánh còn đương trà-trộn,
    Người muốn tu phải sớm lọc-lừa.
    Tứ-Diệu-Đề ai có mến ưa,
    Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  4. #44

    Mặc định

    Chữ Tập-Đề nay đà mở cửa,
    Để đem vào khuôn-khổ người hiền.
    Rán cực lòng một bước đầu tiên,
    Sau mới được làm nên Phật-Thánh.
    Về Thượng-Giái cõi Tiên mới bảnh,
    700 Đến Diệt-Đề trừ vật-dục xưa.
    Cõi hồng-trần các việc mến ưa,
    Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.
    Muốn tâm-tánh ngày kia sáng tỏ,
    Thì Khổ-Đề phải chịu nhọc-nhành.
    Lòng dục tu thì phải thiệt-hành,
    Chớ đừng có ham điều sung-sướng.
    Đức Phật-Tổ nào đâu hẹp lượng,
    Chịu nhọc-nhằn mới rõ Đạo-Đề.
    Thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê,
    710 Ôi chừng đó mới là mầu-nhiệm.
    Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,
    Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.
    Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,
    Thì muôn việc đều an bá tuế.
    Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,
    Là người hiền khó kiếm trong đời.
    Lập thân danh tuần trải nơi nơi,
    Chờ thời-đại mới là khôn khéo.
    Chữ Nhẫn-Giái trì tâm trong trẻo,
    720 Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.
    Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,
    Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.
    Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,
    Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.
    Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,
    Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.
    Nhịn tất cả những người tuổi tác,
    Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.
    Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,
    730 Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.
    Chữ Nhẫn-Đức kể ra luôn thể,
    Thì trong đời vạn sự bình an.
    Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,
    Khắp bá-tánh được câu hòa-nhã.
    Câu Đạo-đức bay mùi thơm lạ,
    Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.
    Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,
    Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.
    Chúng nó xuống khuyên-răn nhiều chỗ,
    740 Dùng phép mầu lòe mắt chúng-sanh.
    Ai ham linh theo nó tập-tành,
    Sa cạm-bẫy khó mong sống sót.
    Ta chẳng phải dùng lời chuốt-ngót,
    Mà làm cho dân-chúng say mê.
    Nẻo chánh tà biện luận nhiều bề,
    Cho bá-tánh tìm nơi cội-gốc.
    Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,
    Đừng để lầm thợ khéo sơn da.
    Thì sau nầy đến lúc phong-ba,
    750 Dông gió lớn cột kèo khỏi gãy.
    Thấy sanh-chúng nhiều người khờ dại,
    Chẳng biết gìn phong-hóa lễ-nghi.
    Nên ta đem đạo đức duy-trì,
    Gìn tục cổ để người chẳng rõ.
    Còn chậm-chạp Đạo-mầu chưa tỏ,
    Như rừng hoang mới dọn một đường.
    Tớ với Thầy nào quản thân lươn,
    Muốn cứu thế sá chi bùn trịn.
    Thương quá sức nên Ta bịn-rịn,
    760 Quyết độ đời cho đến chung thân.
    Nếu thế-gian còn chốn mê tân,
    Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.
    Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,
    Mà chẳng tu là bởi không ưa.
    Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
    Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.
    Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
    Đem Đạo-mầu như hạn cho mưa.
    Đặng tố-trần tâm ý Người Xưa,
    770 Chữ thậm thâm trong kinh Phật-Giáo.
    Nền chơn-lý chúng chê rằng láo,
    Mà nào Ta có lợi-dụng ai.
    Trong bá-gia nhiều ít lòng chay,
    Để giữ trọn trong nền Phật-Pháp.
    Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,
    Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.
    Nhớ từ-bi hai chữ ngâm-nga,
    Dầu làm lụng cũng là trì chí.
    Chờ Thiên-Địa châu-nhi phục-thỉ,
    780 Như đời xưa có gã Tử-Phòng.
    Xem thời cơ người đã rõ thông,
    Dùng tôi thiểu mà an bá-tánh.
    Đời vật-chất văn-minh tranh-cạnh,
    Chữ lợi quyền giựt-giết lẫn nhau.
    Động lòng hiền chư Phật đớn-đau,
    Cho kinh sấm dạy răn trần-thế.
    Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,
    Nghèo bạc vàng đạo-đức cũng nghèo.
    Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,
    790 Nên phải bị kẻ hung khinh-bỉ.
    Vì bác-ái nên thân Cuồng-Sĩ,
    Phải chịu điều khổ hạnh sâu-xa.
    Mong cho đời gặp lúc khải-ca,
    Trong bốn biển thái-bình mới toại.
    Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà-hải,
    Những ước-ao thế-giới hòa-bình.
    Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,
    Cho sanh-chúng sửa mình trong sạch.
    Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,
    800 Là những câu trong sách Minh-Tâm.
    Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,
    Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lý.
    Có mấy kẻ ăn-năn xét kỷ ? [2]
    Mãi ỷ tài chê bướng chê càn.
    Thì ngày sau đừng có trách than,
    Những tội lỗi của mình tạo lấy.
    Bị háo-thắng việc người không thấy,
    Rồi mảng lo gièm-siểm nhiều lời.
    Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,
    810 Đâu gần-gũi mà tường diệu lý.
    Trong Lục-Tỉnh ai là người trí,
    Mau thức thời tìm Đạo nhiệm-sâu.
    Khuyên dân đừng chia áo rẽ bâu,
    Phải hợp tác gieo trồng giống quí.
    Coi rồi phải thân mình tự trị,
    Chẳng độ xong Phật khó dắt-dìu.
    Thả thuyền Từ bến Giác nâng-niu,
    Kẻ hiểu Đạo mau mau bước xuống.
    Việc trải qua như mây gió cuốn,
    820 Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.
    Trời sáng ra kế lại thấy trưa,
    Năm cũ đó rồi qua năm mới.
    Mười hai tháng mà còn mau tới,
    Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.
    Chữ phù-vân phú-quí nay mai,
    Luân với chuyển dời qua đổi lại.
    Cõi Ta-Bà mấy ai tồn-tại,
    Sống dư trăm như tuổi lão Bành.
    Đời Hạ-Nguơn hay chết tuổi xanh,
    830 Như thuở trước Nhan-Hồi còn trẻ.
    Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,
    Buổi bần hàn đặng có tu thân.
    Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,
    Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.
    Xử những kẻ hung-hăng tồi-tệ,
    Thưởng những người trung-nghĩa vẹn toàn.
    Ra Kệ nầy hai chữ bảo-an,
    Cho trần-thế được tâm thanh-tịnh.
    Ngọc báu quí ẩn trong Nam-đỉnh,
    840 Muốn tìm kim đáy biển gắng công.
    Thấy dân tình luống những ước-mong,
    Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.
    Ai có nói Ta là người quấy,
    Ta cũng cam bụng chịu tiếng lời.
    Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,
    846 Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát.
    NAM-MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT

    (Hiệu chính:
    [1] Ghi theo ấn bản 1966: “ Bước lại gần chê lủ tanh hôi”, ( lủ: lam lủ). Có ấn bản ghi: “…lũ tanh hôi”.
    [2] Ghi theo ấn bản 1966: “Có mấy kẻ ăn-năn xét kỷ”, xét kỷ: xét mình. Có ấn bản ghi:
    “Có mấy kẻ ăn-năn xét kỹ”, kỹ: kỹ lưỡng )

    còn tiếp
    Nam Mô ADi Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  5. #45

    Mặc định

    QUYỂN NĂM

    KHUYẾN THIỆN
    Lời Khuyến Thiện của ông “VÔ DANH CƯ SĨ”

    (Ðây là quyển thứ năm do Ðức Thầy đã viết năm 1941 tại Chợ-Quán, gồm 756 câu và bốn bài thi 20 câu).

    Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,
    Theo đòi nghiên-bút luận bàn Tục, Tiên.
    Ta là cư-sĩ canh điền,
    Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.
    Xa nơi tranh-đấu lợi-danh,
    Giữ lòng thanh-tịnh tánh lành trau-tria.
    Gắng công trì niệm sớm khuya,
    Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.
    Chí toan gieo giống Bồ-Đề,
    010 Kiếm người lương thiện dắt về Tây-Phang.
    Dạy khuyên những kẻ ngỗ ngang,
    Biết câu Lục-tự gìn đàng Tứ-ân.
    Ở trần xử trọn nghĩa-nhân,
    Quyết làm tôi Phật gởi thân Liên-Đài.
    Cầu cho mối Đạo hoằng-khai,
    Cầu cho trăm họ Bồng-Lai được gần.
    Sớm về cõi Phật an thân,
    Kẻo kiếp phong-trần dày gió dạn sương.
    Phật-đài phưởng-phất mùi hương,
    020 Cúi đầu đảnh lễ cậy nương đức mầu.
    Từ-bi oai-lực nhiệm sâu,
    Độ con thoát chốn ưu-sầu trần-ai.
    Nam-mô Thích-Ca Như-Lai,
    Ta-Bà Giáo-Chủ xin Ngài chứng-minh.
    Dưới đây lược tả sách kinh,
    Cho trong nam nữ hữu tình thì coi.
    Lời lành của Phật truyền roi,
    028 Đọc qua suy nghiệm xét soi chánh tà.


    THI

    Tiếng kệ từ-bi quá diệu-trầm,
    Diệt lòng tham vọng diệt thinh-âm.
    Trần-gian say-đắm theo màu-sắc,
    Tịnh-độ giác-thuyền trị dục-tâm.
    Phải rõ nghiệp-duyên trần cấu tạo,
    Nghe rành chánh-pháp thoát tà-dâm.
    Phù-sanh nhược mộng đời lao khổ,
    Tỉnh trí tu thân khỏi lạc lầm.

    Hào-quang chư Phật rọi mười phương,
    Đạo pháp xem qua chớ gọi thường.
    Chuyên-chú nghĩ suy từ nét dấu,
    Cố công gìn giữ tánh thuần-lương.

    KỆ

    Lòng quảng ái xót thương nhân chủng,
    030 Buổi lố-lăng Phật-iáo suy đồi.
    Kẻ tu hành ai nỡ yên ngồi,
    Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.
    Mình đã gặp con thuyền Bát-Nhã,
    Có lý nào ích-kỷ tu thân ?
    Phật-Tổ xưa còn ở nơi trần,
    Ngài gắng sức ra công hoằng-hóa.
    Nền Đại-Đạo lưu thông khắp cả,
    Bực tiên hiền đều trọng Phật-gia.
    Rèn dân bằng giáo-thuyết bình-hòa,
    040 Giống bác-ái gieo sâu vô tận.
    Sau nhằm buổi phong-trào tân-tấn,
    Đua chen theo vật-chất văn-minh.
    Nên ít người khảo xét kệ-kinh,
    Được dắt chúng hữu-tình thoát khổ.
    Thêm còn bị lắm phen giông-tố,
    Lời tà-sư ngoại-đạo gieo vào.
    Cho nhơn-sanh trong dạ núng-nao,
    Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh mẽ.
    Dùng thế-lực dùng nhiều mánh-khóe,
    050 Cám-dỗ người đặng có khiến sai.
    Chúng nằm không hưởng của hoạnh tài,
    Để khốn-khổ mặc ai trối kệ.
    Mắt thấy rõ những điều tồi-tệ,
    Tai thường nghe lắm giọng ru người.
    Thêm thời nầy thế-kỷ hai mươi,
    Cố xô sệp thần (thánh) quyền cho hết.
    Người nhẹ dạ nghe qua mê-mết,
    Rằng: nên dùng sức mạnh cạnh-tranh.
    Được lợi-quyền lại được vang danh,
    060 Bài-xích kẻ tu hành tác phước.
    Làn sóng ấy nhiều người đón rước,
    Dục dân tâm sôi-nổi tràn-trề.
    Cổ tục nhà phỉ-báng khinh-chê,
    Cho tôn-giáo là mùi thuốc phiện.
    Ai nếm vào ắt là phải nghiện,
    Chẳng còn lo trang võ đấu chinh.
    Lấy sắc-thân dẹp nỗi bất-bình,
    Bỏ đức-tính của câu nhơn-quả.
    Dầu ai có bền gan sắt-đá,
    070 Cũng động lòng trước cảnh ngửa-nghiêng.
    Đạo diệu-mầu gặp lúc truân-chuyên,
    Phận môn đệ phải lo vun quén.
    Tằm súc nhỏ còn làm nên kén, [1]
    Người không lo có thẹn hay chăng ?
    Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng,
    Với tín-nữ thiện-nam Phật-Giáo.
    Nên cố-gắng trau thân gìn Đạo,
    Hiệp cùng nhau truyền-bá kinh lành.
    Làm cho đời hiểu rõ thinh-danh,
    080 Công-đức Phật từ-bi vô lượng.
    Đồng dẹp bớt âm-thinh sắc-tướng,
    Lo chấn-hưng Phật-Pháp mới là.
    Nói cho đời hiểu Phật Thích-Ca,

    Còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  6. #46

    Mặc định

    Lòng tự giác xả thân tầm Đạo.
    Ta cũng chẳng hoàn-toàn thông-thạo,
    Nhưng phân cùng bổn-đạo xa gần.
    Có một điều già trẻ ân-cần,
    Là phải biết nguyên-nhân Phật-Giáo.
    Hồi thế-kỷ khoảng trong thứ sáu,
    090 Trước kỷ-nguyên tây-lịch thời xưa.
    Pháp Giáo chưa biệt-lập tam thừa,
    Thuở Trung-Quốc nhà Châu Chiêu-Đế.
    Bên Ấn-Độ thành Ca-Tỳ-La-Vệ,
    Có đức vua Tịnh-Phạn nhơn từ.
    Khắp thần dân lạc nghiệp an cư,
    Trên chúa thẳng tôi ngay phò tá.
    Đức Hoàng-Hậu Ma-Da phong-nhã,
    Sắc đẹp dường ngọc thốt hoa cười.
    Một hôm kia vẻ mặt vui tươi,
    100 Đến trước bệ tâu cùng thánh thượng.
    Rằng : Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
    Của hoàng-gia cũng được vinh-quang.
    Kể từ nay thiếp muốn an nhàn,
    Dưỡng tâm-trí lần xa thế trược.
    Chẳng phiền kẻ hầu sau đón trước,
    Chỉ trừ người ý hiệp tâm đầu.
    Xin một điều ở chốn long lâu,
    Tập đức tánh khoan-dung đại độ.
    Tránh tất cả những điều thô-lỗ,
    110 Chẳng ưa gần kẻ bạo ngang-tàng.
    Thiếp cúi đầu ngưỡng vọng Thiên-nhan,
    Phê cho thiếp những điều xin ấy.
    Vua nghe xong vội-vàng đứng dậy,
    Bèn chuẩn y tỏ ý vừa lòng.
    Bà tâu thêm ở trước đền rồng,
    Xin Thánh-thượng bao-dung kẻ khó.
    Lòng yêu dân ví như con đỏ,
    Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.
    Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,
    120 Lấy đức rộng bủa trong bá-tánh.
    Vua hứa chịu giúp người đói lạnh,
    Bà lui về cung điện nghỉ-ngơi.
    Đêm trăng thanh gió mát thảnh-thơi,
    Tiết hòa-thuận khắp nơi hoa nở.
    Đức Hoàng-hậu trong lòng hớn-hở,
    Giấc chiêm-bao Bà thấy lạ-lùng.
    Bạch tượng từ ở chốn không trung,
    Bỗng sa xuống mình Bà hối-hả.
    Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới lạ,
    130 Khắp phòng huê thơm nức mùi hương.
    Bà rảo chơn bèn bước ra vườn,
    Truyền thị-vệ thỉnh vua lai đáo.
    Vua y lời đến nơi hoa thảo,
    Lại gần Bà sao rất quái-kỳ.
    Tay chơn bèn run-rẩy một khi,
    Muốn quì xuống mắt dường tăm-tối.
    Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
    Rằng ta mừng vua hữu thiện căn.
    Sắp có con thế-giới chẳng bằng,
    140 Sau người ấy lập nên Đạo cả.
    Vua nghe xong cúi đầu bái tạ,
    Liền phán cùng Hoàng-hậu Ma-Da.
    Có việc chi vội-vã dời ta,
    Khá nói lại đầu đuôi tường tất.
    Bà thuật rõ chiêm bao trong giấc,
    Xin vua vời ít kẻ bàn giùm.
    Các thầy bàn được lịnh vào cung,
    Nghe xong-xả tâu rằng điềm quí.
    Ngày thắm-thoát đông qua hạ chí,
    150 Bà trổ sanh Thái tử đẹp tươi.
    Mặt trang-nghiêm khí-phách hơn người,
    Vua cùng khắp thần dân mừng rỡ.
    Họ Thích-Ca từ đây cũng ngỡ,
    Sẽ có người nối nghiệp hoàng-gia.
    Liền đặt tên là Sĩ-Đạt-Ta,
    Cả triều chính treo hoa yến ẩm.
    Có nhà sư cách thành mấy dặm,
    Thường ở ăn trong sạch hiền-từ.
    Lòng thẳng ngay chẳng có vị tư,
    160 Đời thanh tịnh gìn theo Đạo-lý.
    Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ,
    Hiểu thiên-cơ thấu mối diệu-huyền.
    Ông là người Bà-la-môn tiên,
    A-Tư-Đà tiên hiền tên lão.
    Thời buổi ấy vua ưa người Đạo,
    Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng.
    Xin vua cho ông bước vào trong,
    Được yết-kiến tử-hoàng luôn thể.
    Ông xem xong bỗng liền sa lệ,
    170 Vẻ mặt buồn chẳng thốt ra lời.
    Thấy lạ-lùng vua bước đến nơi,
    Liền phán hỏi bảo ông phân rõ.
    Trước cung-điện ông liền bày tỏ,
    Rằng tử-hoàng chừng được thành nhơn.
    Lìa đền-đài khổ-cực chẳng sờn,
    Tìm Đạo-lý dắt-dìu sanh-chúng.
    Ngài sẽ được thế-gian ca tụng,
    Chắc phần Ngài quả Phật vẹn tròn.
    Buồn vì tôi tuổi lớn sức mòn,
    180 Chẳng sống đặng nghe lời Phật thuyết.
    Cả hồng-trần đau-thương thống-thiết,
    Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân-hồi.
    Vô phước nên tủi bấy phận tôi,
    Chớ chẳng có điều chi lo ngại.
    Đức Hoàng-hậu đến ngày thứ bảy,
    Dứt nợ trần nên vội qui tiên.
    Có bà dì thay thế mẹ hiền,
    Giùm săn-sóc trông-nom Thái-tử.
    Khi lớn lên cho người dạy chữ,
    190 Lúc vào trường chẳng học mà thông.
    Buổi trưởng thành vua vẫn hằng mong,
    Cho Thái-tử đừng lìa cung-điện.
    Hội triều-đình các quan lựa tuyển,
    Nàng Du-Gia được chọn kết hôn.
    Vua nghĩ rằng muốn tâm yên-ổn,
    Chọn cung-phi mỹ-nữ làm trò.
    Cất đền-đài lộng-lẫy đẹp to,
    Ngày ca múa đêm bày lơi-lả.
    Lòng Thái-tử cũng không xiêu-ngả,
    200 Ra khỏi đền du ngoạn một khi.
    Buổi đầu tiên gặp những chuyện gì,
    Gặp cụ lão tay nương gậy chống.
    Ngài xem qua lòng bèn cảm-động,
    Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.
    Xét cõi trần trong dạ héo xào,
    Chi xiết nỗi núng-nao cõi tạm.
    Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm,
    Được trông nhìn kẻ chết đang khiêng.
    Về đền-đài cảm xúc buồn riêng,
    210 Hằng để trí tầm phương giải-thoát.
    Lần thứ tư vừa đi dạo mát,
    Bỗng gặp người tốt đẹp trang-nghiêm.
    Nào dè đâu Trời đã ứng điềm,
    Giả tăng-sĩ gợi lòng Thái-tử.
    Ngài hiểu rõ ấy là phận-sự,
    Phải xuất gia tầm Đạo mau mau.
    Liền quày xe trở lại lai trào,
    Xin Vương-phụ lánh xa mùi thế.
    Vua buồn thảm dùng lời khóc kể,
    220 Rằng: Cha già biết cậy nhờ ai.
    Khuyên con nên ở chốn điện-đài,
    Lo nối nghiệp sau tu chẳng muộn.
    Lòng Thái-tử quyết theo ý muốn,
    Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.
    Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,
    Thân chẳng sá xông-pha bờ bụi.
    Ngài thuở ấy nên mười chín tuổi,
    Tâm đại-hùng cương-quyết tu-trì.
    Trải bao phen lao-khổ xiết chi,
    230 Sau Ngài đến rạch Ni-Liên-Thuyền.
    Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham-thiền,


    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  7. #47

    Mặc định

    Ngồi khổ-hạnh sáu năm bên ấy.
    Đạo gần đắc Ma-Vương theo khuấy,
    Dùng thần-thông nghị-lực dẹp tan.
    Ấy mới vừa đắc Đạo hoàn-toàn,
    Và lần bước phô-trương độ chúng.
    Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,
    Các chúng-sanh đều có như Ta.
    Bị vô-minh vọng-tưởng vạy-tà,
    240 Nên quay lộn Ta-bà cõi khổ.
    Lòng thương chúng thuyết-phương Tịnh-độ,
    Đặng dắt-dìu tất cả chúng-sanh.
    Nếu như ai cố chí làm lành,
    Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật-Quốc.
    Cả vũ-trụ khắp cùng vạn-vật,
    Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc-sanh.
    Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành,
    Được cứu-cánh về nơi an-dưỡng.
    Chỉ một kiếp Tây-phương hồi hướng,
    250 Thoát mê-đồ dứt cuộc luân-hồi.
    Xét cõi trần sống khổ giạt-trôi,
    Vô lượng thứ ở trong thế-giới.
    Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại,
    Ta-bà khổ, Ta-bà lắm khổ.
    Có bao người xét cho tột chỗ,
    Tịnh-độ vui, Tịnh-độ nhàn vui.
    Cảnh thanh-minh sen báu nặc mùi,
    Nào ai rõ cái vui triệt đáo.
    Vì phần Ta rất yêu-mến Đạo,
    260 Chẳng nệ chi trí siển tài sơ.
    Lấy lời xưa kết lại ít tờ,
    Cho thiện-tín rỗi nhàn xem-xét.
    Dứt mê tâm dứt điều hờn ghét,
    Rán cần chuyên niệm Phật làm lành.
    Thường trau-giồi chí-hướng cao-thanh,
    Cho khỏi thẹn con lành Phật-Giáo.
    Đức Thích-Ca từ xưa dạy bảo:
    Khổ Ta-bà nhiếp lại tám phần.
    Bởi chúng-sanh mang lấy xác thân,
    270 Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.
    Vào bụng mẹ chung quanh bao-bọc,
    Có khác nào ở chốn ngục tù.
    Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu,
    Lúc mẹ đói dường treo lỏng-bỏng.
    Ta kể sơ những điều bi-thống,
    Mẹ no cơm chật-chội khó-khăn.
    Khi ra đời đau-đớn vô ngằn,
    Cất tiếng khóc nếm mùi dương-thế.
    Đoạn Lão khổ thứ nhì xin kể,
    280 Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân.
    Hết tráng-cường đến lúc mòn thân,
    Răng lần rụng lưng cong gối mỏi.
    Nằm đi đứng đỡ nưng chống chỏi,
    Thử nghĩ coi lao nhọc cùng chăng ?
    Đoạn thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
    Đeo hành phạt xác thân ô-uế.
    Bởi thời-thế chuyển xây biến-thể,
    Thêm uống ăn chẳng được điều-hòa.
    Là nguyên-nhân căn bịnh phát ra,
    290 Thân trằn-trọc hôn mê nhức-nhối.
    Cơn bịnh hoạn càng không tránh nổi,
    Còn mang thêm tật nọ tật kia.
    Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
    Đoạn Tử khổ thứ tư phân giải.
    Trên dương-thế hữu hình tắc hoại,
    Có sanh ra khổ-hải đâu chừa.
    Trải bao phen dãi gió dầm mưa,
    Ngày kiệt sức huyễn thân tan-nát.
    Gần hấp-hối tâm-thần xao-xác,
    300 Trí vẩn-vơ kinh-sợ vô cùng.
    Rồi mòn lần đến lúc lâm-chung,
    Giã cõi tạm theo đường tội phước.
    Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
    Mà cũng không thoát luật tuần-huờn.
    Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn,
    Chẳng trốn lánh tử thần cho khỏi.
    Đoạn thứ năm nghĩ-suy tìm tỏi,
    Cầu Chẳng Thành những việc thích-ham.
    Người trên đời ai cũng lòng tham,
    310 Muốn phước, thọ, phẩm, hàm, tiền của.
    Nào vợ đẹp, hầu xinh, là-lụa,
    Không được thì bực-tức ưu-phiền.
    Cả tâm thần điêu-đứng đảo-điên,
    Vậy có phải khổ hay là chẳng ?
    Đoạn thứ sáu Biệt Ly cay đắng,
    Người mình thương bỗng lại chia-lìa.
    Khi khóc-than nước mắt đầm-đìa,
    Lúc trông nhớ ruột tằm chua xót.
    Ở thế-gian mấy ai thoát lọt,
    320 Nợ gia-đình đeo đắm căn-duyên.
    Cơn nguy nghèo thân-thể truân-chuyên,
    Kẻ lưu-lạc người chờ trông mãi.
    Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân-ái,
    Đến xong đời để lại sầu-ưu.
    Cái khổ nầy dầu lắm trí mưu,
    Cũng chung chịu như người tăm-tối.
    Đoạn thứ bảy khổ Oan-Tắng-Hội,
    Hễ thương nhau tất có ghét nhau.
    Thường tranh-đua tiếng thấp lời cao,
    330 Chẳng nhẫn-nhịn thành ra cừu oán.
    Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng,
    Cứ gặp nhau mắt tựa kim châm.
    Làm cho người đau-đớn âm-thầm,
    Khổ như thế diễn ra mãi mãi.
    Đoạn thứ tám Ưu-Sầu lo ngại,
    Cuộc tang-thương dâu bể cảnh trần.
    Nghèo thì lo một nỗi nợ-nần,
    Lo đau-đói liệu cơn nhà rách.
    Buồn duyên-số phận mình nhơ sạch,
    340 Rầu gia-đình chúng bạn khinh cười.
    Giàu thì lo chen lấn với người,
    Miễn cho được đầy rương đầy tủ.
    Của dương-thế góp tom bảo-thủ,
    Sợ gian-phi trộm cướp rình-mò.
    Lo tước-quyền cho được thơm-tho,
    Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.
    Ôi ! cả sang hèn chẳng ai thong-thả,
    Sao nhơn sanh cứ mãi đắm say.
    Chẳng tu thân đặng dựa Phật-Đài,
    350 Cho thong-thả hưởng mùi sen báu.
    Thần-Thức nhập Thai-Sen tinh hảo,
    Nên khỏi màng lo nỗi khổ-sanh.
    Thân thì Thân Công-Đức hiền lành,
    Bất di dịch khỏi vì khổ lão.
    Thể Thanh-Tịnh thường không huyên-náo,
    Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
    Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
    Ta thoát cuộc lao-đao vì nó.
    Đường sanh mạng Phật, ta đồng thọ,
    360 Tánh an nhiên bất diệt trường tồn.
    Tử thần kia đâu dám dắt hồn,
    Thoát luân-chuyển khỏi đeo khổ tử.
    Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
    Không nhọc-nhằn lo việc sanh-nhai.
    Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật-Đài,
    Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.
    Cả Hải-Chúng thảy đều vững-chắc,
    Toàn dân lành đâu có đắn-đo.
    Dứt ái-ân quyến-thuộc chuyện-trò,
    370 Thoát sống khổ thương yêu ly biệt.
    Chữ Hòa-Thuận kể sao cho xiết,
    Tâm đồng nhau thượng-thiện vui-vầy.
    Cảnh như như chẳng có đổi thay,
    Không màng biết phân chia nhơn-ngã.
    Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
    Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
    Thân tâm thường-trụ hết rạt-rào,
    Chất thô-trược tiêu tan mất cả.
    Cõi Tịnh-độ lắm điều thanh-nhã,

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  8. #48

    Mặc định

    380 Khổ, buồn, rầu, lo, sợ chẳng còn.
    Chốn Ta-bà tim lụn dầu mòn,
    Thân tứ-đại của người cũng thế.
    Mau thức-tỉnh tu-thân kẻo trễ,
    Đến tội rồi mới hối muộn-màng.
    Chi cho bằng ta sớm lo toan,
    Gìn giới-luật nghe Kinh trọng Phật.
    Đến lâm-chung quả lành đâu mất,
    Cõi Tây-Phương chư Phật đợi chờ.
    Việc tu thân thiện-tín hẫng-hờ,
    390 Chừng họa đến e cho khó tránh.
    Môn Tịnh-độ là phương cứu-cánh,
    Rán phụng-hành kẻo phụ Phật xưa.
    Lòng từ-bi chẳng quản nắng mưa,
    Xông thuyền giác rước đưa sanh-chúng.
    Trong một nước nhân tài hữu dụng,
    Kẻ tu hành đa phước thì nên.
    Quyết trau thân tánh hạnh cho bền,
    Niềm ơn nghĩa toan đền dứt nợ.
    Ao sen báu Tây-phương đua nở,
    400 Chờ chúng-sanh niệm Phật chí tâm.
    Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,
    Được tâm phát Bồ-Đề vững chắc.
    Giữ đừng cho Ma-Vương dẫn dắt,
    Thường nhớ câu Đại-Lực, Đại-Hùng.
    Thắng Thất-Tình giữ vẹn Đạo-Trung,
    Trừ Lục-Dục chớ cho ô nhiễm.
    Thập-tam Ma diệt bằng trí-kiếm,
    Rứt xong rồi vô sự thảnh-thơi.
    Biển hồng-trần lao-lý diệu vơi,
    410 Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ-Trược.
    Thân hôi tanh muỗi, ruồi đón rước,
    Thêm nhọt-u, ghẻ lác, phung cùi.
    Đâu lúc nào toàn vẹn yên vui,
    Là Kiếp Trược, Ta xin kể trước.
    Dòm việc quấy ngắm điều bạo-ngược,
    Mắt trông vào những chỗ đê-hèn.
    Nào được xem cảnh báu đài sen,
    Nghĩa Kiến Trược giải ra như vậy.
    Trí vẩn-vơ tưởng đó nhớ đây,
    420 Thiết mưu-kế toan bề thắng-thối.
    Ghi thù oán chưởng điều đáp đối,
    Nên ma Phiền-Não Trược đắm say.
    Chuyển luân trong nhân vật các loài,
    Căn mờ-ám làm điều dại-dột.
    Chúng-Sanh Trược, Ta đà kể nốt,
    Còn thứ năm là Mạng Trược trung.
    Số giàu-sang, họa-phước, bần-cùng,
    Giàu hoa-nguyệt thung-dung cẩu-thả.
    Ưa đẹp mắt mến điều mới lạ,
    430 Sang oai-quyền, hối-lộ gần xa.
    Nghèo a-dua, bợ-đỡ nịnh tà,
    Khó trộm-cướp cũng là nhơ xấu.
    Nguyện cùng Phật dứt duyên trần-cấu,
    Phải trừ thêm Thập-Ác huyễn thân.
    Khuyên nữ nam suy-nghiệm ân-cần,
    Ác nơi khẩu nhứt là Lưỡng-Thiệt.
    Với người nầy dùng lời tha-thiết,
    Đến kẻ kia đâm-thọc cho gây.
    Khá chừa đi hương-đảng bớt rầy,
    440 Dùng sự thiệt giải-bày tâm trí.
    Người choảng nhau tại mình gia vị,
    Mà cũng không hưởng được lợi-danh.
    Sau rõ ra chúng lại ghét-ganh,
    Chiêu cảm quả bất lành thêm nữa.
    Ác thứ nhì ỷ-Ngôn chất-chứa,
    Đợi cho người lầm-lỗi xéo vày.
    Của tiền nhiều tự phụ rằng hay,
    Chủ ỷ thế nhiếc xài kẻ dưới.
    Lắc-léo chi có ba tấc lưỡi,
    450 Quan ỷ khôn mạt-sát dân ngu.
    Nghèo ỷ lanh láo-xược lu-bù,
    Ôi ! thấy thế lòng đau tợ cắt.
    Khuyên bá-tánh giữ-gìn cho chặt,
    Đừng để cho quỉ dắt đường cong.
    Dùng từ-ngôn nói tận đáy lòng,
    Dầu trên dưới cũng không mấy khác.
    Chúng vô phước đời nầy dốt-nát,
    Người khôn-ngoan chỉ-dẫn mới là.
    Lời trang-nghiêm êm-ái thốt ra,
    460 Đừng bao-biếm mới là nhơn-thiện.
    Tới Ác-Khẩu thứ ba bày-biện,
    Tiếng tục-tằn thô-lỗ hung-hăng.
    Nào chưởi cha, mắng mẹ lăng-xăng,
    Chẳng kể đến luân-thường thảo hiếu.
    Hăm đánh giết những người hèn yếu,
    Hiếp xóm-chòm cô bác chẳng kiêng.
    Trong gia-đình chưởi rủa liên-miên,
    Hết Dương-thế kêu sang Thần-Thánh.
    Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
    470 Cõi Long-cung mời thỉnh tối ngày.
    Đời ám-u tội trạng thảm thay,
    Khuyên bá-tánh bá-gia rán bỏ.
    Gương tổ-phụ còn roi lại đó,
    Sao không theo nề-nếp gia-phong.
    Chư Thánh-Thần đâu có mất lòng,
    Mà kêu réo Đông,Tây, Nam, Bắc ?
    Mấy câu trên toàn là ròng rặc,
    Những đàn-bà khe-khắt cháu con.
    Kể từ nay phải giữ cho tròn,
    480 Không chừa dứt ắt mang tai-ách.
    Lựa lời tiếng dịu-dàng trong sạch,
    Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.
    Tích thiện thì thường có phước dư,
    Bằng tích ác họa-ương đeo đắm.
    Ác Vọng-Ngữ thứ tư cũng cấm,
    Nói thêm thừa huyễn-hoặc đủ điều.
    Ghét người thời kiếm chuyện dệt-thêu,
    Thương viện lẽ thấp cao bào chữa.
    Đời bất công mấy ai xem sửa,
    490 Trên điêu-ngoa dưới chẳng phục-tòng.
    Khuyên nhơn sanh lấy lẽ chí công,
    Mà ăn ở nói năng chơn-chất.
    Phật từ-bi độ trong nhơn vật,
    Là luật kinh dạy rất tinh-tường.
    Nếu chẳng nghe hồn vướng tai-ương,
    Chừng ấy mới kêu mời khó rước.
    Người dương-thế chẳng ưa bốc-xước,
    Phật Thần nào gần kẻ xảo-ngôn.
    Đã tu hành đừng có bôn-chôn,
    500 Tưởng hay giỏi khoe-khoang tài cán.
    Người hiểu rành mới càng thêm chán,
    Chi bằng ta bỏ lối trớ-trêu.
    Nói với ai cũng phải lựa điều,
    Đừng tráo-chác cho người khinh dể.
    Ác Tà-Dâm thứ năm càng tệ,
    Chúa hôn-mê chiếm đoạt thê thần.
    Làm đảo-huyền tất cả quốc-dân,
    Tôi bất chánh hoàng-cung dâm loạn.
    Tội lỗi ấy diễn nhiều thảm trạng,
    510 Từ xưa nay Trời đất đâu dung.
    Giàu của nhiều dâm hiếp bần cùng,
    Quan lấn thế dâm-ô dân khó.
    Trai liều-lĩnh điều nầy nên bỏ,
    Đừng phá trinh hại tiết nữ nhơn.
    Gái lẳng-lơ tiếng huyễn lời đờn,
    Hoa có chủ đèo-bòng tình mới.
    Cất tiếng gọi nữ nam ơi hỡi,
    Bỏ những điều điếm nhục tông môn.
    Đứng nam-nhi học lấy điều khôn,
    520 Lòng trung-hiếu gìn theo đạo-lý.
    Hàng phụ-nữ gương xưa nối chí,
    Những mẹ hiền dâu thảo roi truyền.
    Niệm Phật mà gây lấy thiện duyên,
    Cho đẹp mặt Tổ-tiên nòi giống.
    Thờ Phật-Đạo tỉnh cơn ác mộng,
    Thoát mê-đồ thường phóng quang-minh.
    Rán hiểu rành tiếng kệ lời kinh,

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    Last edited by rambonhut; 20-04-2012 at 07:04 AM.
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  9. #49

    Mặc định tim hieu ban

    ban la mon sinh phai b s k h vay ban o dau vay
    gia dinh vo hinh

  10. #50

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi longkhanh Xem Bài Gởi
    ban la mon sinh phai b s k h vay ban o dau vay
    Mình ở đồng tháp kế bên an giang.

    Mình thực hành theo giáo lý PGHH

    bạn thực hành theo đạo nào. Đọc những Sấm Giảng này bạn có ý kiến gì không. thân
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  11. #51

    Mặc định

    Ác thứ sáu ấy là Đạo-Tặc.
    Lấy của người sắm ăn sắm mặc,
    530 Chẳng kể công nước mắt mồ-hôi.
    Phá lương dân dạ luống bồi-hồi,
    Ngày làm-lụng đêm lo gìn-giữ.
    Trốn pháp-luật tập-tành đủ thứ,
    Nào đào tường, khoét vách khuân đồ.
    Tội chập-chồng đâu biết ở mô,
    Trốn người khỏi trốn Trời sao khỏi.
    Nay đuốc huệ Từ-Bi đã rọi,
    Vào thâm-tâm những kẻ gian phi.
    Hãy tu thân chừa thói vô nghì,
    540 Của phi nghĩa làm chi xong chuyện.
    Luật nhơn-quả thật là cao viễn,
    Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.
    Vậy ta nên làm việc thẳng ngay,
    Cứ bền chí có ngày thong-thả.
    Ác thứ bảy Sát-Nhơn gây vạ,
    Tánh hung-hăng đâm chém chặt bầm.
    Chất-chứa điều hung dữ trong tâm,
    Chờ đắc thế ra tay hạ sát.
    Viết đến đây động lòng rào-rạt,
    550 Gẫm nhiều người bội-bạc thâm ân.
    Nào kể chi là đạo Quân-Thần,
    Tôi giết chúa, con đành sát phụ.
    Lúc nguy-cơ tớ mong hại chủ,
    Trò giết thầy tội ấy đáng không.
    Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng,
    Niềm huynh-đệ cùng nhau xâu-xé.
    Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ,
    Giành của tiền cốt-nhục giết nhau.
    Tranh lợi danh giết lẫn đồng-bào,
    560 Tình nhơn-loại phân chia yểm-bách.
    Giết sanh vật đầy lòng kiêu-cách,
    Tưởng rằng mình như thế là ngoan.
    Khuyên bá-gia bá-tánh việt-đàn,
    Chớ sát hại mạng người như thế.
    Bớt giết vật đặng mà cúng tế,
    Gẫm Thánh-Thần đâu có tư riêng.
    Rủi ốm đau bởi tại căn tiền,
    Hoặc hiện kiếp làm điều bạo-ác.
    Phải ăn-năn phước-điền tạo-tác,
    570 Lo thuốc thang khẩn-vái Phật Trời.
    Nguyện sửa lòng ắt Phật giúp đời,
    Xuống phước rộng từ-bi hỉ-xả.
    Đấng Thần-Minh công bình trực dạ,
    Đâu ăn lo đổi họa làm may.
    Mở tâm linh nghĩ đến đoạn nầy,
    Điều họa phước ấy cơ báo ứng.
    Chẳng biết thân còn toan chứa đựng,
    Quả bất lành chưa trả vay thêm.
    Cầu cho đời sóng lặng gió êm,
    580 Đặng bá-tánh an nhàn tu niệm.
    Ác thứ tám là lòng Tham Hiểm,
    Muốn bao gồm của thế một mình.
    Tham nhà cao, cửa rộng, thân vinh,
    Tham vườn ruộng cò bay thẳng kiếng.
    Thấy của người thèm khô nước miếng,
    Tính làm sao lường gạt lấy đi.
    Sẵn túi tham bất cứ chuyện gì,
    Dầu xấu tốt cũng là dồn chứa.
    Nhớ lời Phật khi xưa dạy sửa,
    590 Của thế trần như mật dính dao.
    Trẻ tham ăn kê miệng liếm vào,
    Chừng đứt lưỡi mới là hối-hận.
    Tham của tạm làm điều tàn-nhẫn,
    Nhắm mắt rồi đâu có mang theo.
    Tham tiền tài thường vướng nạn eo,
    Tham sắc đẹp nhà tan cửa nát.
    Lúc tận số nằm trơ một xác,
    Gẫm kim-tiền bội-bạc bất tài.
    Không làm cho ta được sống dai,
    600 Lại chẳng bước tiễn đưa một bước.
    Thà nghèo thanh hơn giàu mà trược,
    Lo vun-trồng cội phước về sau.
    Muốn trừ tham phải liệu cách nào,
    Phải bố-thí diệt lòng ích-kỷ.
    Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ,
    Vật ở trần như bọt nước làn mây.
    Thân ta còn rày đó mai đây,
    Của ấy cũng khi tan khi hiệp.
    Ác thứ chín Hận-Sân luận tiếp,
    610 Lửa trong tâm chẳng đốt mà lừng.
    Nổi lôi đình đâu có định chừng,
    Cho ta biết mà toan giữ trước.
    Tánh sân-nộ thường làm bạo-ngược,
    Nên loài người ở cõi thế-gian.
    Giận hờn nhau thù-oán dẫy tràn,
    Mới có cuộc tranh tài đấu lực.
    Hơn tự-đắc, khoe-khoang dõng sức,
    Phải bị người hềm-khích ghét-ganh.
    Thua hổ-ngươi làm chuyện bất lành,
    620 Gây nghiệp dữ oan oan tương báo.
    Trong cơn giận kể gì nhơn đạo,
    Tỷ như con cọp dữ trên rừng.
    Gặp thịt toan cấu xé tưng bừng,
    Phân từ mảnh mới là thỏa dạ.
    Diệt được nó tâm trần thong-thả,
    Ta thường nên tập tánh khoan-dung.
    Thiệt-hành đi đừng có ngại-ngùng,
    Tha-thứ kẻ lỗi lầm ngu-xuẩn.
    Và nhẫn-nhịn đừng ham tranh-luận,
    630 Khỏi mất lòng tất cả mọi người.
    Tánh thuần lương vẻ mặt vui tươi,
    Vậy mới đáng tín-đồ Phật-Giáo.
    Nay ta đã quy-y cầu Đạo,
    Gây-gổ là trái thuyết từ-bi.
    Ác thứ mười đoạn chót Mê-Si,
    Nguyên tăm-tối từ hồi vô thỉ.
    Màn vô-minh che mờ căn trí,
    Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.
    Lo huyễn thân vật-chất kém hơn,
    640 Chẳng tìm biết tinh-thần đạo-đức.
    Dệt lưới nghi đeo điều phiền-phức,
    Bịn-rịn đời cực-khổ tang-thương.
    Khi nói làm ít chịu suy lường,
    Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác.
    Diệt mê-si phải nương thuyền giác,
    Muôn việc làm chính-trực khôn-ngoan.
    Đừng bạ đâu tin bướng nghe càn,
    Làm ngu-muội đọa thân uổng kiếp.
    Ác trừ xong hiện ra thiện nghiệp,
    650 Lóng nguồn chơn Phật tiếp-dẫn cho.
    Trồng cây lành vị-quả thơm-tho,
    Tuy không thấy mà sau chẳng mất.
    Dầu ai có cười ta khờ-khật,
    Cũng đừng phiền xao-lãng chơn tâm.
    Mong tiếng kêu thấu đến Tòng-lâm,
    Cùng thiện-tín bá-gia hưởng ứng.
    Muốn Phật-Giáo từ đây bền vững,
    Đừng riêng lo lợi-dưỡng một mình.
    Nếu xuất-gia thì phải hy-sinh,
    660 Cả vật-chất tinh-thần lo Đạo.
    Chớ giả-dối mà mang sắc áo,
    Mượn bồ-đề chuỗi hột lòe người.
    Làm cho dân khinh-dể ngạo cười,
    Tội-lỗi ấy luật nào dung thứ.
    Tu còn ham chay to đám bự,
    Đặng thế-gian dưng cúng bạc tiền.
    Dối rằng : lo tu-bổ chùa chiền,
    Mà làm của xài riêng cho thỏa.
    Bảo làm sao dân không sa-ngã,
    670 Nghe lời rù Tông nọ phái kia.
    Cả tăng-đồ trong nước chia-lìa,
    Riêng pháp-bảo, riêng chùa, riêng Phật.
    Trong bá-tánh sầu-thành chất-ngất,
    Mãi nghi nan chẳng biết đàng nào.
    Lòng mến yêu chẳng nệ công-lao,


    còn tiếp
    Nam Mô A di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  12. #52

    Mặc định

    Mượn bút mực đôi lời trần thuyết.
    Tùy thiện-tín hiểu Ta giả thiệt,
    Làm hay không chẳng dám ép nài.
    Nguyện mười phương chư Phật đáo lai,
    680 Đồng tiếp-dẫn chúng-sanh giải-thoát.

    KỆ:

    Đêm thanh hiên nguyệt dựa kề,
    Nhìn xem thế-sự não-nề tâm-can.
    Từ Ta nương chốn Phật-đàng,
    Dứt tâm trần-cấu chẳng màng vinh-huê.
    Trần-hoàn thiện-tín còn mê,
    Thêm lời giục-thúc gọi về đàng tu.
    Dốc lòng vạch ngút mây-mù,
    Đặng dìu bá-tánh đường tu chen vào.
    Lời Thầy cạn tỏ âm-hao,
    690 Để truyền hậu-thế vàng thau lọc-lừa.
    Tu cầu thuận gió hòa mưa,
    An-hòa nhơn-vật phước thừa trời ban.
    Tu cầu thoát chốn gian-nan,
    Cầu trong chư quốc chư bang giao-hòa
    Tu cầu yên nước lợi nhà,
    Cửu-huyền Thất-tổ Diêm-La thoát hình.
    Tu cầu Phật hóa tánh tình,
    Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu-dao.
    Tu cầu cửa Phật đặng vào
    700 Gót sen thong-thả xiết bao thanh-nhàn.
    Tu cầu bịnh tật tiêu-tan,
    Từ-bi hỉ-xả Phật ban phép lành.
    Tu cầu thoát khỏi tử sanh,
    Nương theo Phật-Quốc lời lành hằng nghe.
    Cõi trần đừng đắm ngựa xe,
    Đeo tuồng mộng-huyễn lập-lòe sắc hương.
    Tu cầu trăm họ hiền lương,
    Đồng thinh niệm Phật tai-ương chẳng còn.
    Tu cầu gia-đạo vuông tròn,
    710 Chồng hòa vợ thuận cháu con thảo hiền.
    Tu cầu thoát khỏi xích-xiềng,
    Dựa kề chơn Phật xa miền trần-lao.
    Tu cầu chóng hết binh đao,
    Gặp đời bình trị xiết bao vui-vầy
    Mắt nhìn chư Phật đông dầy,
    Thành vàng điện ngọc trò Thầy đăng tiên.
    Ai mà muốn đặng phước-duyên,
    Nghe lời khuyến-thiện lòng liền phát tâm.
    Tu cho rõ mối huyền-thâm,
    720 Qui đầu Phật-Pháp khỏi lâm tai-nàn.
    Phước đức quí hơn bạc vàng,
    Những người bạc-ác giàu sang ích gì.
    Chi bằng ăn ở nhu-mì,
    Nghe lời Phật Thánh kính vì người trên.
    Hiếu-trung lòng chớ vội quên,
    Sống lo trọn Đạo, thác lên Tiên-Đài.
    Nam-mô miệng niệm hằng ngày,
    Lánh lời dua-mị học rày kệ kinh.
    Trau tâm luyện tánh cho minh,
    730 Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.
    Lóng tai nghe rõ tiếng đờn,
    Không dây không phím oán hờn cũng không.

    Đờn tây rồi lại đờn đông,
    Trách trong bá-tánh gặp sông quên nguồn.
    Phàm-trần như chỉ rối cuồn,
    Mà còn say-đắm theo tuồng lẳng-lơ.
    Lời lành mắt lấp tai ngơ,
    Đua theo vật-chất hẫng-hờ đàng tiên.
    Hố sâu tình-dục lại ghiền,
    740 Ghiền cho đến lúc chúng khiêng quan-tài.
    Nhắm mắt cũng nắm hai tay,
    Đâu đem tiền của đem rày hầu non.
    Chỉ có tội phước hỡi còn,
    Đến nơi thẩm-phán cửa son Diêm-Đài.
    Phước nhiều tiên-cảnh lên rày,
    Tội nhiều sa-đọa nhiều ngày thảm-thê.
    Chừng ấy mới biết chỉn ghê,
    Ăn-năn chẳng kịp khó bề tính-toan.
    Ngày nay sớm đến Phật-đàng,
    750 Tu cầu chư Phật cứu an linh-hồn.
    Tội tiêu phước hưởng trường-tồn,
    Không còn mắc nẻo dại-khôn luân-hồi.
    Thấy đời khó nỗi yên ngồi,
    Thêm lời Thầy nhắc một hồi thấp cao.
    Nữ nam muốn rõ âm-hao,
    756 Rán trau đức-hạnh ngày sau sẽ tường.


    Ngôn-từ đạo hạnh ý Thầy khuyên,
    Hạnh đức ân-cần rán tập chuyên.
    Thất-tổ Cửu-huyền nơi chín suối,
    Mỉa-mai xa lánh sáu đường duyên.



    thượng thậm thâm dĩ ý truyền,
    Danh ngôn chép để rạch đàng Tiên.
    gia Tịnh-Độ tâm viên-mãn,
    xuất văn-từ dốc dạy khuyên.

    NAM-MÔ BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT
    (tam niệm)
    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT.
    (Hiệu chính:
    [1] “Tằm súc nhỏ còn làm nên kén” (Tằm là loại súc vật nhỏ…). Có ấn bản ghi:
    “Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,” )
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  13. #53

    Mặc định

    Những bài sáng-tác năm Kỷ-Mão
    (1939)

    LỘ CHÚT CƠ HUYỀN

    Trần-thế lợi danh giấc mộng tràng.
    Đời cùng Tiên Phật hạ phàm gian.
    Hỡi ai tâm trí mau tầm Đạo,
    Tầm Đấng hiền từ cứu thế-gian.

    Khắp trong bá-tánh kề cảnh khổ,
    Đạo-đức hiền lành kiến Tiên-bang.
    Thiên-địa u-minh dĩ đạo tràng,
    Thập bát chư hầu lụy há khan.

    Đạo-lý tầm sâu sâu chẳng cạn,
    Đời cùng ly-loạn khắp chư bang.
    Thương hải tang điền ắt chẳng yên,
    Thiên Địa diệt gian dĩ thiện riêng.

    Cơ thâm họa diệc từ đây có,
    Bộ máy thiên-cơ ắt đảo huyền.
    Tuất-Hợi nhị niên giai tiền định,
    Huờn lai Thượng-cổ mới bình yên.

    Điên nầy vốn thiệt ở núi vàng,
    Thương đời nói rõ việc lầm than.
    Khuyên trong lê-thứ mau mau tỉnh,
    Yên trí nghĩ suy biết đá vàng.

    Ý gì Tiên-Trưởng muốn khuyên đời,
    Mà đời lầm-lạc lắm đời ôi!
    Đạo-đức nhuốc-nhơ mà sao đặng,
    Tỉnh giấc mau mau mới kịp thời.

    Bi-động từ tâm gọi mấy lời,
    Chúng-sanh Nam Bắc lụy tuôn rơi.
    Kim-Sơn xem thấy lòng tha-thiết,
    Mà còn nhiều lắm, chúng-sanh ôi!

    Nam-Việt cúi lòn dài dặm-dặc,
    Nhưng ấy chẳng qua tại lẽ trời.
    Đạo-hạnh huyền-cơ khuyên đó kiếm,
    Chẳng vậy sau nầy khó thảnh-thơi.

    Cổ ngữ hằng ghi thậm khổ đa,
    Tận diệt nhơn-gian trực tiên khoa.
    Lão giả hậu qui nhơn ấu giả,
    Ly-kỳ thiên định dĩ thiên-la.

    Tây-Phương trở gót quá xa đàng,
    Thương xót Nam-kỳ lại An-giang.
    Đoái thấy xóm làng thêm bắt chán,
    Yêu đời mê-muội luống bầm gan.

    Thiên-Trước toà sen có chỗ ngồi,
    Xuống trần chẳng dụng chốn cao ngôi.
    Khắp trong Sáu-Tỉnh toàn giả dối,
    Xá phướng tăng-sư tạo việc tồi.

    Thiên-cơ thế-giới đà biến chuyển,
    Từ rày trần-hạ lợi danh trôi.
    Tu hành giả dối khuyên khá đổi,
    Cúng kiếng trai đàn cũng nên thôi.

    Hòa-Hảo, tháng 6 năm Kỷ-Mão.


    MẶC TÌNH AI
    (Nhơn việc người ngoại Đạo chỉ-trích Đức Thầy)

    Bá gia mặn lạt mặc tình ai,
    Đạo-lý tầm đâu chẳng thấy rày.
    Chỉ thấy hình trơ thân xác trọi,
    Ai người tâm đạo nghĩ càng hay;
    Ai người thích đạo thấy chàng ray.

    Thầm thầm tối tối gẫm ai hay,
    Mặc sức dương-trần chữ đắng cay.
    Có báu thì ta dành của báu,
    Ai tầm cho giỏi mới được hay.

    Lo lo liệu liệu chịu tiếng trần,
    Có một hội nầy rán lập thân.
    Chớ để trễ chầy rèn chẳng kịp,
    Khuyên ai khuya sớm rán chuyên cần.

    Hòa-Hảo, tháng 6 năm Kỷ-Mão.
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  14. #54

    Mặc định

    "HỐ HÒ KHOAN" (2)
    Huỳnh long lộ vĩ ; Bạch-sĩ tiên sanh,
    Nam-quốc công khanh ; Ra đời cứu tế;
    Hò xang xự xế; Mắc kế Trương-Lương,
    Tự giác thôn-hương; Qua dương cơ-khí.
    Lập chí hiền nhơn; Nên mới có cơn,
    Thất-Sơn tiếng nổ; Qui cổ diệt kim.
    Cửu cửu y nhiên; Tình riêng tham báu,
    Đổ máu tuôn rơi; Khùng mới nói chơi,
    hư bang hàng phục.
    Anh hố hò khoan; Tình lang xự xế,
    Bỏ phế hương thôn; Ác đức vô môn.
    Rồng-Mây hội yến; Ra đời bất chiến,
    Nổi tiếng từ-bi; Lời lẽ rán ghi.
    Thành công êm thấm; có lắm người yêu.

    Hòa-Hảo, lối tháng 8 năm Kỷ-Mão.
    (2) Phần nhiều bài của Đức Thầy không có đề tựa. Muốn cho tiện việc sắp-đặt trong quyển sách nầy, chúng tôi tùy theo ý nghĩa của mỗi bài mà đề một cái tựa. Những bài nào có tựa mà chúng tôi chắc rằng do Đức Thầy đặt thì chúng tôi đề vào dấu móc (đôi “”).

    NHỨC ĐẦU
    Nhức đầu rang óc bởi vì đâu,
    Nhức mỏi lòng trông dạ hết sầu.
    Nhứt dạ chờ ngày Trời trả phúc,
    Nhức gân, nhức cốt cả trời Âu.

    Nhức đầu bị tiếng nổ đâu đâu,
    Nhứt quyết làm cho chúng thoát sầu.
    Nhứt thống dân sanh gầy hạnh-phúc,
    Nhứt tràng lê-thứ khỏi lo âu.

    H.H. năm Kỷ-Mão.


    KHUYÊN BỎ DỊ-ĐOAN

    Thiện-tín tới đây chớ ngã lòng,
    Xác trần mê mệt nỗi long-đong.
    Cậu, cô, chú, bác đừng coi bói,
    Theo lối dị đoan mất bạc đồng.
    Bạc đồng chẳng dụng, dụng chơn không,
    Quyết chí nâng-niu giống Lạc-Hồng.
    Tìm tõi Đạo mầu trong Phật-Pháp,
    Cho đời hiễu rõ lý chơn không.

    H.H. năm Kỷ-Mão.
    (Đức Thầy viết bài nầy vì lúc đó có nhiều người đến nhờ Ngài đoán giùm vận mạng hoặc việc gia đình).
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  15. #55

    Mặc định

    NGHĨ VIỆC HUYỀN CA

    Ngồi buồn nghĩ cạn việc huyền ca,
    Muốn rứt cho xong bể ái-hà.
    Phá bức tường mây nhìn vạn vật,
    Ngặt vì trướng lụa lấp đèn pha.
    Lôi-thôi quá chậm trong đường thẳng,
    Trễ-nải khó qua nẻo cọp-xà.
    Một bước leo bờ mà khỏi khổ,
    Nam nhân chi chí hỡi đâu là.

    Đâu là ái-quốc với yêu đời,
    Phổ cứu cho rồi mới thảnh-thơi.
    Trời Nam sốt ruột chờ con đỏ,
    Đất Bắc lòng lang nổi thậm lời.
    Cố tưởng người trần, trần chẳng đoái,
    Tình sâu dân sự, sự xa vời.
    Rồng tiên mở mặt nhìn thi phú,
    Hiệp mặt tớ thầy sẽ nghỉ-ngơi.

    Thâm hiểu lòng ta nỗi cuộc đời,
    Một bầu nhiệt huyết chẳng xa lơi.
    Mến yêu quốc-thủy tình đồng chủng,
    Phải tính sao xong nỗi cuộc đời.

    H.H. năm Kỷ-Mão.



    THIÊN LÝ ca
    (Mấy bài dưới đây do ông Cả Châu ở Tân-Long (Châu-đốc) đem trình với Đức Thầy nói rằng của "ông đò" cho ông):

    PHAN lòng chữ dạ chớ hoài lo,
    NGỌC ẩn non Côn tợ lửa lò.
    CHÂU lạc đường dê nương bước ngựa,
    Núi truông qua đặng rán lần dò.
    Vườn hoa ngó khỉ giọng chiu-chít,
    Cảnh nguyệt coi gà tiếng ó-o.
    Tường-tận đã nghe xê cống liếu,
    Hương thôn bỏ xế xự xang hò.

    (Đọc ngược lại bốn câu chót - tứ nguyệt nghịch độc)
    Hò xang xự xế bỏ thôn hương,
    Liếu cống xê nghe đã tận tường.
    O-ó tiếng gà coi nguyệt cảnh,
    Chít-chiu giọng khỉ ngó hoa vườn.

    Quỉ ma hay phá rối người tu,
    Đạo-đức chư nhu rán chí hành.
    Chớ bỏ lời thề nơi Phật cảnh,
    Chớ quên tiếng nguyện chốn non xanh.
    Đêm thanh vắng tiếng đờn khoan-nhặt,
    Nghe cho tường giọng bắc hòa nam.
    Thích-Ca còn phế tước-hàm,
    Đài cao cửa rộng mà ham tu hành.
    Hiền đệ Châu muốn nghe lời ngọc,
    Lão tỏ bày hình vóc nhiệm-sâu.
    (Câu nầy của Đức Thầy thêm. Đoạn sau đây có khúc của ông đò, có khúc của Đức Thầy viết xen kẽ).

    Thiên ý không riêng mối đạo mầu,
    Rằng truyền yếu-lý nhiệm cao sâu.
    Chuyển miền Nam-Địa càng thâm-diệu,
    Lọc lẽ tà tâm sự đứng đầu.


    Nguồn bạch thủy trong veo thấy dạng,
    Lẽ nhiệm mầu chưa hản trò ôi!
    Đêm ngày buồn-bã vô hồi,
    Kìa trên Tiên-cảnh vị-ngôi sẵn dành.
    Đạo rải khắp năm canh tỏa bút,
    Dạy tận-tường chẳng chút nào sai.
    Cổ nhơn tích để phân bày,
    Đường chơn nẻo chánh âu ai rán tầm.
    Thuyền bát-nhã chí tâm trực thẳng,
    Thả ra khơi cứu dẫn khách trần.
    Phù-sanh lắm cuộc lao thân,
    Ngày đêm ta-thán muôn phần đớn-đau.
    Trông đợi người tài cao đức trọng,
    Hầu rõ thông thiên-võng lẽ nao.
    Chí tâm tường lãm thấp cao,
    Dạy cho rõ biết Thiên-Tào nơi đâu.
    Ngồi nghĩ cạn thêm sầu cho thế,
    Bởi ít ai cải chế đường tà.
    Sợ e nhiễm trược đọa sa,
    Sợ cho lắm kẻ chan hòa lụy tuôn.
    Sợ nhiều kẻ dạ buồn đổi chí,
    Quên những câu chánh kỷ hóa nhơn.
    Mảng lo tìm kiếm tước quờn,
    Thất kỳ vọng tưởng lánh chơn đường lành.
    Trong buổi khổ mau mau tránh khổ,
    Rán tầm vào đến chỗ an cư.
    Học câu hỉ-xả đại từ,
    Nêu gương nghĩa sĩ dạ tư chớ gần.
    Câu bát-chánh rán mài chạm dạ,
    Tứ mục-điều người khá hành y.
    Muôn thu thiên định nhứt kỳ,
    Hạ-nguơn sắc-lịnh khai kỳ Long-hoa.
    Rán vẹt phá sương mù trước mắt,
    Chớ để cho quỉ dắt linh hồn.
    Lão đây vưng lịnh Phật-tôn,
    Lãnh cân thưởng phạt chư môn dữ lành.
    Khá chí tâm học hành kinh sám,
    Thoát nơi miền hắc-ám phong-ba.
    Trở chơn cho kịp Long-Hoa,
    Long-Hoa có mặt ấy là hiền nhơn.
    Đền nợ thế nghĩa-ơn trọn vẹn,
    Lấy tinh-thần hiệp vén ngút-mây.
    Chớ nên bắt-bẻ Phật-Thầy,
    Ngày sau phải chịu đọa đày chớ than.
    Cuối năm Thìn sẽ lo vận chuyển,
    Xứ "Hà tiên" linh hiển cơ-quan.
    Nhơn sanh sẽ hiệp một đàng.
    Hết Thìn rồi lập Nhơn-Hoàng hội ra.
    Khuyên sanh-chúng gần xa phân cạn,
    Dựng Nhơn-Hoàng cho rạng Á-Đông.
    Chúng-sanh phải tưởng giống-dòng,
    Hiệp tâm hiệp trí cột đồng nhà Nam.
    Phật chỉ dạy qui tam lập hội,
    Dựng cho rồi một cội thành ba.
    Chớ mong yến thử ẩm hà,
    Mười ngàn năm lẻ cửa nhà đâu con.
    Ta nhắc lại héo von cho trẻ,
    Cứ đâu lưng đừng rẽ đừng chia.
    Cả kêu lớn nhỏ quày vìa,
    Trên hòa dưới thuận chớ lìa chớ phân.
    Long-Hoa hội ân-cần lo lập,
    Lập cho rồi tam-thập-lục nhơn.
    Lôi-Âm giục khởi tiếng đờn,
    Thất-Sơn dấy loạn là cơn hiểm-nghèo.
    Nơi phía trước cheo leo tiếng khóc,
    Đứng sau lưng hình-vóc dảy chưn.
    Nước kia lửa nọ tưng bừng,
    Thảm cho thế sự lẫy-lừng nạn tai.
    Thời cũng tại không ai tu niệm,
    Cứ lẳng-lơ ngạo biếm khoe-khoang.
    Đến nay là buổi tai nàn,
    Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân.
    Đến Thân-Dậu Thánh-Thần náo động,
    Thảm cho trần nhà trống ruộng hoang.
    Tiếng than lụy ngọc nhỏ tràn,
    Nạn tai dồn-dập xóm làng còn chi.
    Khuyên sanh-chúng rán ghi mối Đạo,
    Lòng hằng lo ngay thảo nghe con.
    Tương dưa giữ phận cho tròn,
    Cuối niên Thân-Dậu mất còn sẽ phân.
    Trong một giáp ân-cần suy tính,
    Muốn làm hiền rán nhịn đừng than.
    Đến nay gần buổi khoa tràng,
    Minh-quân xuất thế khắp tràng thảnh-thơi.
    Đến Thân-Dậu cơ trời thấy lộ,
    Hết đao binh qui cổ diệt kim.
    Gia vô bế hộ im-lìm,
    Lập thành mối Đạo rõ điềm xưa kia.
    Thì dân-chúng danh bia hậu thế,
    Phật, Thánh, Tiên kềm chế lập thành.
    Diệt tà lập chánh đành-rành,
    Ba màu nắm chặt Nam-thành xử phân.
    Trong tam giáo ân-cần mở Đạo,
    Trường ngoại bang phục đáo như xưa.
    Phật Tiên vận chuyển lọc-lừa,
    Chúng-sanh rán nhớ muối dưa hội nầy.
    Trên cùng dưới sum vầy một buổi,
    Dựng mười hai may rủi mới hay.
    Làm cho rõ mặt râu mày,
    Thương-nguơn hồi phục là ngày an cư.
    Cuối Thân Dậu y như Thượng-cổ,
    Thời nhơn sanh hết khổ đến may.
    Đế-Vương xuất thế là ngày,
    Dậu, Thân bình-trị trong ngoài âu ca.
    Phân chỉ rành gần xa để dạ,
    Chớ đảo-điên phải đọa phải sa.
    Nghĩ suy cho thấu mới là,
    Một bầy Hồng-Lạc nay đà thảnh-thơi.
    Khuyên sanh-chúng nhớ lời ta tỏ,
    Trước cùng sau chỉ rõ mối đàng.
    Nhơn-sanh giữ phận chớ than,
    Minh-Vương xuất thế mới an dân lành.

    Gội ơn Trời độ khỏi sai lầm,
    Xin giúp chí bền, chí dục tâm.
    Hộ mạng thần Quan-Âm trợ lực,
    Nguyện thân ý nhiệm xứng công thần.

    Từ-bi Trời Phật độ quần sanh,
    Cứu khỏi tai ương vạn sự lành.
    Đệ-tử gội nhuần ân đức cả,
    Chung thân quyết chí dốc làm lành.

    Đoạn dưới đây là hoàn toàn của Đức Thầy (chép theo bổn chánh).
    Buồn vơi mượn bút tay đề,
    Đã rời trần-thế dựa kề Tiên-bang.
    Tay chèo miệng nói lang-mang,
    Chúng-sanh cách trở nghèo nàn hỡi ai.
    Lục châu ta dạo bằng nay,
    Thấy trong lê-thứ quá dài gian-nan.
    Động tình tá quốc an bang,
    Nước nhà vững đặt Nam-đàng hiển-vinh.
    Bây giờ ta mượn kệ kinh,
    Khuyên ai mau kíp sửa mình cho an.
    Bữa xưa giảng-kệ một nang,
    Bởi vì ta mắc dời thoàn cảnh xa.
    Ngày nay ta cũng nôm-na,
    Gẫm trong lê-thứ hằng-hà lụy rơi.
    Chừng nào mới đặng thảnh-thơi,
    Qua năm Tuất-Hợi Phật Trời định phân.
    Chim Ô đà dựa cầu Ngân,
    Người xưa trở gót cho gần người nay.
    Người nay rồi vẹn thảo ngay,
    Thì là thấy tạn mặt mày người xưa.
    Nguyện cầu gắng chí sớm trưa,
    Cầu cho bá-tánh sớm ưa tu hành.
    Đầu đuôi ta tỏ ngọn ngành,
    Mau mau trau-trỉa chữ lành cho xong.
    Đến chừng lập hội mới mong,
    Trở vể chúa cũ mới hòng xuê-xang.
    Người hiền như thể cỏ lan,
    Người hung chết rất chật đàng thảm thay.
    Cả kêu kìa hỡi là ai,
    Quan trường rời dứt mặt mày chùi lau.
    Lui chơn ra khỏi cho mau,
    Tìm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan.
    Theo ta đến chốn Tiên-bang,
    Đặng coi các nước hội hàng Năm-Non.
    Đạo Phật vốn ngàn xưa rạng tỏ,
    Nay lu-lờ bị mõ cùng chuông,
    Thấy chúng-sanh đắp Phật bán buôn,
    Mà tội lỗi ngàn muôn lao-lý.
    Cho đó hiểu nhiều câu huyền-bí,
    Rán nghĩ suy bền chí mới mầu.
    Dẹp lợi-danh dẹp hết mộng sầu,
    Đặng trở lợi với cha cùng chúa.
    Nếu chẳng lo cũng như lá úa,
    Lá úa vàng nó rụng người ôi!
    Ngàn năm mới có một đời,
    Tới chừng lập hội Phật-Trời xử phân.
    Ai muốn gần bệ ngọc các lân,
    Thì phải rán lập thân nuôi chí.
    Ta cho đó ít câu hữu lý,
    Diệt tâm trần lập chí hiền-nhơn.
    Đục trong đà tỏ nguồn cơn,
    Lời ta khuyên đó như đờn Bá-Nha.
    Mặc ai biếm nhẻ gần xa,
    Lòng ta ta biết ai mà mặc ai.
    Đây khuyên đó đắng cay rán chịu,
    Mặc người trên bận-bịu chẳng phê.
    Muốn cho thân vượt khỏi lề,
    Cắm sào trì chí một bề lo tu.
    Kim ngọc nan tri tường đông hải,
    Phật tà phàm tục tất nan tri.
    Ẩn xác phàm phu gìn Thích-đạo,
    Mặc tình thế sự chúng khinh-khi.
    Mấy kẻ tu mi tròn nhơn đạo,
    Hiền nhơn thức tỉnh kiến huyền-vi.
    Ngay thẳng hiếu trung trang hiền thảo,
    Kim thời bá-tánh gọi ngu-si.
    Nợ thế đền xong mong giai lão,
    Hiền thần hiếu nghĩa đáng nên ghi.
    Lâm sầu mộng ở trong trần thế,
    Việc tu hành như ế chợ đông.
    Mãng lo danh lợi não-nồng,
    Chữ tu để dạ chớ hòng lợt phai.
    Mặc tình ai gièm-pha tai tiếng,
    Sửa tâm lành như miếng hoa thơm.
    Đến chừng hoa nở nhụy đơm,
    Thì là trần-thế mới hờm bẻ hoa.
    Câu đạo-lý thiệt tường thiệt tận,
    Khuyên dương-trần bớt giận đừng gây.
    Kìa kìa súng nổ trời Tây,
    Đến năm Thân Dậu tai đầy sấm vang.
    Hung-đồ với lũ dọc ngang,
    Đến sau rơi máu khắp tràng mới tu.
    Thấy đạo-lý còn lu chưa tỏ,
    Dân ganh hiền ghét ngõ làm chi?
    Buồn đời xuống bút làm thi,
    Thương dân chịu chữ cố lỳ dạy dân.
    Nào nào dân có biết ân,
    Mạnh rồi tưởng Phật vái Thần làm chi.
    Lời châu ngọc khuyên ai để dạ,
    Nay gặp người quái lạ tỏ phân.
    Hãy mau khuya sớm chuyên cần,
    Đặng xem chư-quốc non Tần giành chia.
    Nay nhằm lúc đêm khuya lặng-lẽ,
    Nhắn ít lời cho kẻ đàng xa.
    Phật-nhi tâm tánh thật-thà,
    Ông còn phân biệt chánh tà nữa thôi?
    Dương-trần thường bạc như vôi,
    Gặp cơn bát loạn mới hồi tâm hung.
    Lúc áo-não cội thung lo-liệu,
    Gắng bền lòng bận-bịu vì ai.
    Thất-sơn lộ vẻ đài lầu,
    Chừng ni mới thấy nhiệm mầu của ta.
    Khuyên bổn-đạo gần xa nuôi chí,
    Lẽ nhiệm-mầu huyền-bí nơi đây.
    Bây giờ nương bóng cờ tây,
    Mượn phần xác thịt tỏ bày thiệt hơn.
    Thương sanh-chúng đòi cơn dạ ngọc,
    Ta quyết gìn chủng-tộc giang-sơn.
    Ta khùng mà chẳng có cơn,
    Cũng không có tánh giận hờn bá gia.
    Cười rồi khóc thiết-tha liệu-điệu,
    Vợ xa chồng bận-bịu thê lương.
    Chẳng cần trà, quả, nồng hương,
    Miễn cho bá-tánh biết đường chơn tu.
    Nghe kệ sám như ru giấc mộng,
    Lo chê cười hầu họng reo vang.
    Ỷ mình nhiều của giàu sang,
    Phụ khinh tông-tổ chẳng màng người xưa.
    Mặc ý ai ghét ưa ưa ghét,
    Lấy tâm thần xem xét thể nao?
    Sấm vang thì lộ bảng vàng,
    Chư nhu thế-giới khắp tràng tới thi.
    Chữ thi gần chữ sầu-bi,
    Bị ham của báu ly-kỳ máu rơi.
    Chừng đó mới trời ơi đất hỡi,
    Mang khổ hình vì bởi chẳng tu.
    Ham vui quyền quí dại ngu,
    Chữ sang danh vọng như mù đi đêm.
    Ta nào có nói thêm cho chúng,
    Quá yêu đời viết túng ít câu.
    Ít câu mà ý nhiệm sâu,
    Nghĩ suy cho cạn mới hầu khôn-ngoan.
    Đây sắp đến lầm than khắp chốn,
    Việc tu hành đâu tốn tiền chi.
    Nầy nầy lời lẽ rán ghi,
    Sau đây sẽ thấy việc gì trên mây.
    Ta mắc lánh tà-tây đa sự,
    Làm Điên-Khùng cũng tự lẽ ni.
    Ai là đáng bực tu-mi,
    Thương đời ta mới làm thi khuyên đời.
    Còn ẩn-nhẫn đợi thời đưa đến,
    Nên phải làm kẻ mến người khinh,
    Người hiền tâm trí thông-minh.
    Người hung cứ mãi chống kình với ta.
    Theo học cổ nôm-na ít tiếng,
    Làm nhiều điều xao-xuyến nhơn tâm.
    Chữ nhu ta học âm-thầm,
    Ai là người trí rán tầm cho ra.
    Để đến lúc phong-ba biến-chuyển,
    Cảnh hồng-trần tợ biển mênh-mông.
    Mới là sợ chết ước-mong,
    Mà không ai cứu bởi lòng ác-gian.
    Tiếng đờn hò liếu cống-xang,
    Đêm khuya khuyên-nhủ khắp tràng chúng-sanh.
    Chốn Phật-cảnh vắng tanh kẻ tới,
    Ta ra đời nên mới đổi thay.
    Bởi vì lời lẽ thẳng ngay,
    Cho nên chúng nó ghét bài phú thi.
    Thấy tăng-chúng sầu bi dạ mỗ,
    Kệ khuyên trần nước đổ lá môn.
    Khắp cùng làng xóm hương thôn,
    Vì khôn quá thế nên tồn lại ngu.
    Dạy đạo-đức người tu rạng lý,
    Mong cho người hữu chí làm theo.
    Không làm thì ắt mang eo,
    Làm xong vượt khổ qua đèo chông-gai [1].

    H.H. tháng 7 năm Kỷ-Mão. (Hiệu chính: [1] Có ấn bản ghi:
    “ Làm xong vượt khỏi qua đèo chông-gai”.)

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  16. #56

    Mặc định

    LUẬN VIỆC TU HÀNH

    Tu hành dương-thế cậy đồng tiền,
    Phật-Giáo vì tiền phải ngửa-nghiêng.
    Bát-nhã chẳng đưa người tội ác,
    Thuyền-từ nào rước lại Tây-Thiên.
    Trần-gian đầy-dẫy người làm dối,
    Đạo cả nào trông đến cảnh thiền.
    Đoái thấy người đời lòng bắt chán,
    Dương-trần lầm lạc đáng ưu-phiền.

    Muốn đặng về Thần với Thánh-Tiên,
    Kỹ xem cõi thế thấy kia liền.
    Cư trần bất nhiễm là người Thánh,
    Lẫn tục đừng mê chứng bực hiền.
    Phú quí tạo đời thêm mệt xác,
    Tham danh phế đạo chí đâu yên.
    Sao bằng cửa Phật vui thanh-tịnh,
    Lánh cõi trần mê giải nghiệp duyên.

    Tiếc vì không đức, tiếc chi tiền,
    Phật Thánh xưa kia sách vẫn biên.
    Bác-ái xả thân tầm đạo chánh,
    Độ người lao khổ dạ không phiền.
    Mình vàng Thái-Tử ngôi còn bỏ,
    Vóc ngọc Đông-cung tước phế liền.
    Xem đó hỡi người mau lập chí,
    Tu hành khá nhớ giữ cho nguyên.

    Muốn đặng thành Thần với Phật Tiên,
    Rán tu ân đức chớ tu tiền.
    Lợi danh chớp nháng như luồng gió,
    Thấy đó rồi đâu bỗng mất liền.
    Sớm thức tỉnh tâm tầm đạo chánh,
    Sau nầy về Phật với ngôi Tiên.
    Lập thân giúp thế nên công-quả,
    Muôn kiếp danh hiền sách vẫn biên.

    H.H. năm Kỷ-Mão

    LỤY TAM CHÂU

    Tam châu hữu ngạn lụy nhỏ sa,
    Thập bát chư bang động can qua.
    Dương-gian mãnh thú trừ tàn-ác,
    Lê-thứ hậu lai khổ thiết-tha.
    Tần bang hậu hận tiên diêu-động,
    Nam-quốc lương dân kiến linh-xa.
    Phồn hoa đô hội lưu giang huyết,
    Dư đảng dọc ngang cấp ma-ha.

    H.H. tháng 8 năm Kỷ-Mão.


    VÉN MÀN BÍ MẬT

    Giục thúc đạo đồng kiến thúy quyên,
    Chư bang điềm tĩnh sĩ danh hiền.
    Sa-vi đông-hải tri thiều nhạc,
    Nam-đỉnh ngọc đài lộ kỷ tiên.
    Đởm lực hà quê trung trực thử,
    Hùng ca báo quốc nghĩa đào thiên.
    Sơn ly Phật-cảnh hồi Nam-việt,
    Diện khổ sanh kỳ vị trưởng miên.

    BỬU-ngọc trường quan ẩn tích kỳ,
    SƠN-đài lộ vẻ liễu huyền-vi.
    KỲ thâm tá giả thi thành thủy,
    HƯƠNG-vị âm thầm mộc túy vi.
    NĂM năm lục ngoạt cơ hàn thử,
    NON lịch đài mây rạng tu mi.
    BẢY niên hòa địa nhơn hiền thủ,
    NÚI ngự hoàng san tự Đỉnh-chi.

    Hòa bình thế-giái kiến Tiên-bang,
    Ngô giả tùng nhung khí đởm gian.
    Hồ thiên tiểu ẩn quân tu ký,
    Lương thứ dương-trần đạo dĩ an.

    Đào nguyên di khả tứ hồ-văn,
    Khảo đảo tâm trung mãi vạn năng.
    Thì lai đãi ảnh chơn thiên xuất,
    Vận thới thô trình trực bỉnh thăng.
    Hòa-Hảo, lối tháng 9 năm Kỷ-Mão.

    THẦY BA ĐẠO ở Hòa-Hảo hỏi thuốc

    Nghe tiếng ơn trên dốc cứu đời,
    Dám xin khép nép ngỏ đôi lời.
    Nhơn dân sắp đến vương bịnh khổ,
    Tiên dược phương nào được thảnh-thơi.

    ĐỨC THẦY đáp họa
    Mượn xác ra cơ dốc dẫn đời,
    Bày tỏ cùng ai ngỏ mấy lời.
    Lục châu xao-xiếng nhơn dân khổ,
    Phật-Giáo khẩn cầu đặng thảnh-thơi.

    THẦY BA ĐẠO hỏi

    Thảnh-thơi dầu đặng phước tại trời,
    Đau ốm qua rồi trẻ ăn chơi.
    Cho thuốc chỉ đường nhờ phương-phép,
    Ngàn năm ơn đức nguyện y lời.

    ĐỨC THẦY đáp họa


    Thành tâm khẩn Phật với lạy Trời,
    Muốn khỏi hội nầy trẻ ăn chơi.
    Lục tự trì tâm là phương-phép,
    Nhắn nhủ cùng ai có mấy lời.

    THẦY BA ĐẠO hỏi


    Y lời dám hỏi lén một câu,
    Tiên-Phật rộng xa rất nhiệm mầu.
    Đạo đời bốn chữ đâu là gốc,
    Tà chánh xin nhờ tiếng ngọc-châu.

    ĐỨC THẦY đáp

    Trả lời ý-kiến đó một câu,
    Ẩn xác phàm phu chửa nhiệm-mầu.
    Đạo đời mấy chữ đây là gốc,
    Tà chánh tâm trì rõ ngọc châu.
    Muốn đó gần đây giải mộng sầu,
    Bốn chữ xuống phàm chớ ở đâu.
    Khuyến-khích cùng ai mau tỉnh ngộ,
    Lai vãng gần ta rõ Đạo mầu.
    Văn-sĩ nhắn-nhen có mấy lời,
    Đó muốn tỏ tình có mấy hơi.
    Ra ngõ lên xe chừng một lát (1),
    Sáng ngày tiếp kiến chuyện trò chơi.
    H.H. năm Kỷ-Mão.

    (1) Đức Thầy mời thầy ba Đạo sang chơi vì thầy ấy ở nhà và 3 bài thi gởi Đức Thầy do một em học trò đem đến.

    BÁT NHẪN

    Nhẫn năng xử thế thị nhơn hiền,
    Nhẫn giái kỳ tâm thận thủ tiên.
    Nhẫn giả hương lân hòa ý hỉ,
    Nhẫn hòa phu phụ thuận tình duyên.
    Nhẫn tâm nhựt nhựt thường an lạc,
    Nhẫn tánh niên niên đắc bảo truyền.
    Nhẫn đức bình an tiêu vạn sự,
    Nhẫn thành phú quới vĩnh miên miên.

    H.H. năm Kỷ-Mão.
    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  17. #57

    Mặc định

    Cho Ông HƯƠNG-CHỦ BÓ ở Hòa-Hảo

    Tâm hành từ thiện vị an nhiên,
    Phổ hóa hiền nhơn kiến Phật tiền.
    Huỳnh long lộ vĩ năng kỳ diệu,
    Xuất thế điều đình chửa hiệu Tiên.
    Danh-Sơn khai bút dìu sanh-chúng,
    Trung-Trực phò nguy đãi lịnh thiên.
    Tạo xác phù vân khai nhứt điểm,
    Qui hồi tự lập diệt tiền khiên.
    Kỷ-Mão hạ san mượn xác trần,
    Cảm tình đồng loại lão khuyên dân.
    Thậm-thâm đây đó niềm liên ái,
    Hợp-tác cùng nhau nối bút thần.

    Vi lộ thiên oai bảo giác dân,
    Ngọc nam ẩn-sĩ dị-thường nhân.
    Sơn giang thủ lĩnh thừa tiên định,
    Tứ hải hòa giai tất hữu phân.

    Muốn thấy người xưa phải vẹn mày,
    Nam-nhân hữu chí kiến Bồng-lai.
    Nhìn xem hiệu lão trong thơ ấy,
    Tứ cú nho gia đã cạn bày.
    H.H. lối tháng 9 năm Kỷ-Mão.

    SAY

    Say mùi tục lụy vẫn lao-đao,
    Say nỗi kẻ ngu rất hỗn-hào.
    Say thấm đạo lành ban vạn vật,
    Say đời chưa rõ chuyện vàng thau.
    Say ngọc bồ-đề đức hạnh cao,
    Say dân ngu muội tưởng điên nào.
    Say chừng nó biết ta Tiên-trưởng,
    Say chén quỳnh-tương chốn núi cao.

    Say thời vận bĩ vẫn còn xa,
    Say chuyện trần gian lắm cáo-xà.
    Say lấy gậy thiền toan dẹp hết,
    Say chờ Thiên-lịnh phán cho ta.
    Say đạo huyền-vi nước tịnh-dương,
    Say câu Bồ-Tát rưới cho thường.
    Say mê Tiên-cảnh ôi thanh-nhã,
    Say việc trần-gian lắm họa-ương.
    Say-sưa chuyện cổ nhắc chừng đời,
    Say nói với trần việc tả-tơi.
    Say biểu trì tâm đừng vội-vã,
    Say buồn lũ chó sủa mùi dơi.

    Say của Thần-Tiên rứt cuộc đời,
    Say câu diệu lý hỡi người ơi!
    Say như Lưu-Khánh ai thèm chịu,
    Say thể Trần-Đoàn mới thảnh thơi.

    Say mãi say hoài say vẫn say,
    Say cho bá-tánh tập xong bài.
    Say như Nhơn-Quí thì mang họa,
    Say của lão Khùng ách nạn bay.

    Say cho tiêu hết giống con buôn,
    Say của Thánh-Nhơn xuất lập tuồng.
    Say tạo một nền qui vạn vật,
    Say dìu trăm họ vượt mây truông (1).
    Hòa-Hảo, lối tháng 9 năm Kỷ-Mão.
    (1) Ông Nguyễn Thanh-Tân có họa tám bài thơ trên đây, nhưng xin miễn in vào tập nầy.

    Thơ của "Ông BÁN CHIẾU"

    Đại-Thánh là Phật Thích-Ca,
    Người còn khinh-báng huống ta phàm trần.
    Vàng thiệt lại nói vàng râm,
    Lúc nầy vận thới đá mài cũng an.
    Cơn buồn phải gượng làm càn,
    Cuộc đời rổn-rổn Phật mà phải kiêng.
    Trên đời ai tốt bằng sen,
    Quan yêu dân chuộng rã bèn sạch trơn.
    Bề ngoài coi thể cây sơn,
    Xét trong mối mọt ăn mà chẳng hay.
    Hiện tiền xem lại tốt thay,
    Mặt hậu ngó kỹ lạnh tanh không ngờ,
    Mau mau ta hãy bắt bờ,
    Đặng cho bá-tánh leo bờ nầy qua.
    Có xạ nào phải bán xa,
    Giấu trong chỗ kín cũng thơm đầy nhà.
    Nam-mô sáu chữ Di-Đà,
    Từ-bi tế-độ vậy mà chúng-sanh.
    Xưa nay sáu chữ lạnh-tanh,
    Kim-Sơn Phật ấy giáng sanh đành-rành.
    Ngưỡng cầu Thượng-Đẳng Đại Thần,
    Phải ra trị nước bảo toàn lê dân.
    Ở nhà tụng niệm đều xinh,
    Lục châu bát loạn nỡ nào ngó ngang.

    Bán lộ giang-hồ kính tặng Kim-Sơn Phật (1) Năm Kỷ-Mão.
    (1) LỜI SOẠN GIẢ : Bài thơ nầy không phải của Đức Thầy, mà chính là của một Dị nhơn (đang đi bán chiếu?) viết và trao cho một người tín-đồ Hòa-Hảo tại Kiến-An (Chợ mới, thuộc tỉnh Long Xuyên) đem đến cho Đức Thầy. Theo lời người tín-đồ nầy nói lại thì trong lúc giữa đường, ông bán chiếu không có đem sẵn viết mực theo; thế mà chẳng biết tại sao không đầy một phút, ông viết được một bức thơ tuồng chữ sắc-xảo, giống hình chữ nôm, mà không một nho sĩ nào đọc được. Liền đó, Đức Thầy đọc cho anh em có mặt trong lúc ấy nghe.

    HÃY CHỜ THIÊN ĐỊNH

    BỬU châu công luyện chốn non thần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

    Từ-bi hai chữ sắc nâu sồng,
    Gắng chí dạy đời chẳng tiếc công.
    Vận bĩ xa chờ câu thạnh-thới,
    Buồn ai châm-chích chữ cay nồng.
    Hòa Hảo, năm Kỷ-Mão.

    Hỏi HỘI LONG-HOA

    Long-Hoa hội ấy còn xa,
    Rán mà tu niệm đặng nhờ thân sau.
    Phải chi hội ấy hầu gần,
    Thi Ông hà tất xuống trần làm chi ? (1).
    H. H., cuối năm Kỷ-Mão.
    (1) Có một bà già 80 tuổi xin Đức Thầy cho biết coi bà có thể sống để coi hội Long-Hoa chăng? Đức Thầy bèn đáp lại bằng mấy câu trên đây.


    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  18. #58

    Mặc định

    KHUYÊN BỚT CHO VAY

    Một cuộc phù vân có mấy hơi,
    Cầu xin bá-tánh nhậm đôi lời.
    Cho vay mắt-mỏ từ nay bớt,
    Có hỏi nới tay để giúp đời.
    Nạn khổ đâu đâu đều túng rối,
    Tai ương chốn chốn khắp cùng nơi.
    Tiền ma gạo quỉ đừng nên trữ,
    Sau cũng tiêu theo luật của trời.
    H. H., năm Kỷ-Mão.

    Ông NGUYỄN-KỲ-TRÂN tức chín Diệm xướng (1)

    Ngàn dậm nghe ông có phép tiên,
    Cúi xin lời hỏi chớ ưu phiền.
    Thanh manh đôi mắt đường không thấy,
    Cầu có ơn dư cứu kẻ hiền.

    Kẻ hiền dầu đặng sáng như xưa,
    Ơn ấy bằng non dạ có thừa.
    Lượng rộng xin ông đừng có chấp,
    Ngàn vàng dám đổi một lời ừa.

    ĐỨC THẦY đáp

    Chí đại còn xa chửa phép tiên,
    Bịnh tình cụ lão quá ưu phiền.
    Nhà tôi cũng có bà không thấy,
    Thương thảm trời xanh phụ kẻ hiền.

    Kẻ hiền lòng dạ tưởng người xưa,
    Tứ khổ cổ kim vẫn có thừa.
    Tríu-mến tâm thành đâu có chấp,
    Vọng cầu hạnh phước đặng như xưa.

    Di-Đà lục tự ấy phương-châm,
    Ghi dạ xin ông hoặc đứng nằm.
    Khẩn vái trì tâm người thượng-cổ,
    May Trời phò hộ phước cho thầm.

    Khuyên đó lòng son chớ vội buồn,
    Hữu thành Phật độ ắt qua truông.
    Nhờ ơn Tiên, Thánh trăm muôn một,
    Tôi cũng giùm cho đặng thấy tuồng.
    Hòa-Hảo, cuối năm Kỷ-Mão.

    (1) Ông Nguyễn-kỳ-Trân là người làng Định-Yên, thuộc tỉnh Long-Xuyên, hai mắt không thấy nên đến nhờ Đức Thầy chữa giùm.

    Tặng Ông GIÁO XOÀI
    (tức Soài, tức Mạnh-xuân-Quả, lúc ấy dạy học tại làng Phú-An, thuộc tỉnh Châu-Đốc)

    Giáo tập hôm nay thấy mặt thầy,
    Vóc hình mập-mạp học khoa tây.
    Sớm chiều luyện tập dìu em trẻ,
    Ạ, ẹ, a, b đủ một bầy.

    Một bầy em trẻ muốn theo tây,
    Văn pháp, văn nam cũng đủ đầy.
    Thương thảm tấm tình hay nóng-nảy,
    Bởi vì chẳng rảnh đặng vui say.
    Hòa-Hảo, cuối năm Kỷ-Mão.

    Tặng Ông GIÁO ĐÀNG
    (Lúc ấy ông nầy đang dạy học tại làng Phú-Lâm, tỉnh Châu-Đốc)
    Tâm tánh ngày nay muốn việc lành,
    Tu hiền miệng lưỡi muốn lanh lanh.
    Tranh đua xác thịt vừa nghe chớ,
    Cố chí ngày kia sẽ đạt thành.

    Đạt thành mới hiểu Đạo cao thanh,
    Trần-thế lánh xa phải học rành.
    Lục căn trừ tuyệt tầm hai chữ,
    Nhân ngã, sân si hãy dẹp đành.
    H.H., cuối năm Kỷ-Mão.

    THI XUÂN
    Rước xuân năm mới tiếng đì-đùng,
    Cờ phất trẻ mừng chúc cội thung.
    Áo quần lòe-loẹt đi cùng xóm,
    Bánh trái dẫy-đầy nỗi cúc cung.

    Chúc mừng năm mới, mới buổi qua,
    Bỏ bớt dị-đoan chẳng cúng gà.
    Tre nêu phơ-phất không còn thấy,
    Ra mắt tiêu mòn bữa thứ ba.

    Kỷ-mão năm nay đã hết rồi,
    Tâm thần hoài tưởng chuyện xa-xôi.
    Đạo mầu Nam địa càng thâm-diệu,
    Dẫn dắt nhơn-sanh cũng chửa rồi.

    Bước qua năm mới, mới mừng à,
    Khuyến-khích dân tầm đạo Thích-Ca.
    Tự giác, giác tha ta phải nói,
    Hỡi người dương-thế bớt xa-hoa.

    Xa-hoa năm mới, mới khổ à,
    Dân chớ chần-chờ chớ bỏ qua.
    Dạo-lý xem tường âu mới hãn,
    Rán tìm cặn-kẽ nỗi ma-ha.

    Năm Thìn bước tới thiệt là rồng,
    Nanh gút vẫy-vùng nỗi long-đong.
    Chiến-tranh thảm-khốc toàn lê-thứ,
    Lo nỗi đói đau giống Lạc-Hồng.

    Canh-Thìn bước tới hỡi dân ơi!
    Thế-giới đao binh ruột rã-rời.
    Khốn nguy đa sự chào xuân mới,
    Dân-chúng hoàn cầu khó thảnh-thơi.

    Phi phi bỗng xuất mặt Huỳnh-Long,
    Dụng lối Bá-Nha réo Lạc-Hồng.
    Chạnh cám cha còn con chẳng biết,
    Phải nhờ đạo-đức mới tường thông.

    Phần ta thương chúng luống âu sầu,
    Dân sự nào tường nẻo cao sâu.
    Bôn Bắc tẩu Nam cam khổ rối,
    Nhưng vì bổn-phận phải toan âu.

    Con người Nguơn-hạ mấy nhiêu hơi.
    Đạo-đức nhiệm mầu chẳng có chơi.
    Lê-la chậm bước đàng bụi gió,
    Phải sớm lánh xa khỏi cuộc đời.

    Mãnh hổ đâu đua chí tang-bồng,
    Rạng mày nở mặt với non sông.
    Quân-tử thánh-nhơn ghi Nhược-thủy,
    Cơn buồn chấp bút chuyển huyền thông.
    Hòa-Hảo, ngày 28 tháng chạp Kỷ-Mão
    (Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ).


    Còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  19. #59

    Mặc định

    CÁM CẢNH DÂN NGHÈO

    Tết tết cùng năm tháng hết mà,
    Thằng bần công nợ chạy bôn-ba.
    Hẹn mai hẹn mốt chờ khai hạ,
    Con đòi áo tốt rối chàng ta.

    Năm nay ăn tết thật là nghèo,
    Sanh-chúng u-buồn nỗi nạn eo.
    Đồng khô lúa ngập coi xơ-xác,
    Cảnh đói buông lung nỗi giạt bèo.

    Nhắn-nhủ khắp nơi hỏi một bài,
    Ba ngày xuân nhựt bởi nơi ai?
    Rượu-trà, cờ-bạc, ôi phung-phí,
    Chẳng biết lệ xưa của ai bày?

    Tết rồi tết nữa, tết liền tay,
    Năm cuối mỗi năm cũng tết hoài.
    Làm cho dân-sự vui nha-nhớp,
    Chơi giỡn ba ngày rước xuân lai.

    Lòng ta cảm thấy nỗi u-buồn,
    Suy xét việc đời lụy muốn tuôn.
    Chào xuân chẳng thấy xuân mừng nói,
    Mê-mệt tâm can trí bắt cuồng.
    Hòa-Hảo, ngày 28 tháng chạp Kỷ-Mão.

    HAI MƯƠI CHÍN THÁNG CHẠP

    Bước tới hùng ca bước tới hoài,
    Đạo đời hủy báng mặc tình ai.
    Cố chí nhiệm-mầu truyền diệu-pháp,
    Bởi vì cốt-nhục cũng hoài thai.

    Diệu-vợi xa-xăm nỗi khổ hoài,
    Cuộc đời lao-khổ thấy chiều mai.
    Chợt ngó xuân sang xuân biết khóc,
    Đến thời Thiên định lối bi ai.

    Giục-thúc nhơn-sanh kiếm Đạo mầu,
    Sao còn hoài tưởng chuyện đâu đâu?
    Sự sống người đời, ôi! thấy khổ,
    Miệt-mài Đạo-đức vẻ huyền sâu.

    Hùng ca chuyển pháp kiếm tôi hiền,
    Thiên-địa tuần huờn chẳng vị riêng.
    Gian nịnh phản thần, ôi! nhơ-nhuốc,
    Gìn lòng trung hiếu sách ghi biên.

    Ghi biên những kẻ quá lương hiền,
    Một mực trung thành với Phật-Tiên.
    Cố tưởng ước-mơ về Tiên cảnh,
    Hiếu hạnh gìn lòng chí ư thiên.

    Ư thiên Trời Phật chẳng dụng tiền,
    Tìm kiếm con lành giải nghiệp-duyên.
    Mê-muội ác-hung về địa-ngục,
    Hiền lành nhắm mắt thấy non Tiên.

    Non Tiên ra sức tháo dây xiềng,
    Dân-chúng an nhàn dạ mới yên.
    Cám cảnh thương đời, ôi! mê-muội,
    Mong-ước ngày kia giải mộng phiền.

    Mộng phiền muốn khỏi phải làm sao?
    Hung dữ, ác nhơn chớ bước vào.
    Gìn tâm nhu-nhược chờ vận đến,
    Vậy mới rời xa cảnh máu đào.

    Máu đào khắp nước khổ vô cùng,
    Nam-Việt dân tình mãi thung-dung.
    Chẳng lo tu tỉnh cầu Phật-Thánh,
    Ðể nước đến chơn mới nhảy đùng.

    Nhảy đùng ắt phải lọt ngoài sâu,
    Chẳng gặp xuồng ghe chững mới rầu.
    Làm sao lo liệu tu cho kịp,
    Bập-bẹ nam-mô cũng nhọc cầu.

    Nhọc cầu bịnh tật nổi nào đâu,
    Lao-khổ nhơn-sanh cảnh nước Tàu.
    Trẻ nhỏ rã-rời xa bố mẹ,
    Sao còn tranh-đoạt mảng mồi câu.

    Mồi câu danh-lợi chúng dân rầu,
    Kim chỉ phải gìn chuyện cạn sâu.
    Vinh-hoa phú-quí chòm mây bạc,
    Nho-nhã thi-văn nẻo nhiệm-mầu.

    Nhiệm-mầu hạnh-đức quá thanh-thao,
    Thần, Thánh, Phật, Tiên xuống kêu gào.
    Dương-gian mau tỉnh trong tràng mộng,
    Tầm kiếm nơi nào đạo siêu cao.

    Hòa thôn Hảo cảnh xứ chi ta,
    Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà.
    Tạo xác Huỳnh danh thanh sắc trẻ,
    Chờ thời Thiên định thiết hùng ca.

    KIM ngọc nào tri Phật, Quỉ, tà.
    SƠN đài ra sức dẹp loài ma.
    THƯỢNG thọ chúc cầu an bốn biển,
    ĐẲNG đẳng dưới trên sớm thuận-hòa.

    Mong ước ngày kia đặng khải hoàn,
    Địa cầu sanh-chúng được nhàn an.
    Bốn biển một nhà Cha: Phật,Thánh,
    Thì là dân sự hết tàn ngang.

    Năm tàn tháng cuối cảnh buồn teo,
    Đón rước bạn xuân lễ quá nghèo.
    Thượng cổ gần hồi nên sửa lối,
    Theo nhà Phật-Giáo phải như keo.

    Dân-chúng chớ nên đốt giấy tiền,
    Bời vì Diêm-chúa chẳng tình riêng.
    Phán-quan tả hữu không dùng hối,
    Nên phải dạy dân bỏ giấy tiền.

    Vàng bạc bởi tay khách trú làm,
    Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.
    Giấy quần giấy áo không nên đốt,
    Nghĩ chuyện dối ma chẳng đáng làm.
    Hòa-Hảo, ngày 29 tháng chạp Kỷ-Mão.
    (Chép theo bản chánh do Ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

    ĐÊM BA MƯƠI

    Đêm nay mới cũ hiệp hai đàng,
    Xuân nhựt lễ nầy tại thế-gian.
    Mèo rồng cao thấp chơi cùng giỡn,
    Đông hạ xuân sang khắp địa hoàng.

    Bóng trăng vắng mặt, tối tối hoài,
    Hai giờ hiệp mặt, hai giờ hai.
    Một đêm mới cũ cùng nhau gặp,
    Tức cảnh thi văn nhả một bài.

    Một bài từ cũ mới ngày mai,
    Tiếng pháo xa xa vẫn đốt hoài.
    Dân ta nghèo túng về Đạo-đức,
    Chơi giỡn đua-bơi mãi tối ngày.

    Một lúc lâu lâu một tiếng đùng,
    Đúng giờ cũng rước ông bà chung.
    Từ-bi hai chữ ta ngồi tưởng,
    Không có xu mua đốt miệng hùn.
    Hòa-Hảo, đêm 30-12 Kỷ-Mão.

    còn tiếp
    Nam Mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

  20. #60

    Mặc định

    NĂM CANH-THÌN
    (1940)



    CỜ TAM SẮC

    Tam sắc cờ bay phất-phới mà,
    Ngồi nhìn nhớ kỹ héo lòng ta.
    Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,
    Gặp cảnh vong bang úa ruột-rà.

    Lúc Đức Thầy ở nhà thương Chợ-Quán, Ngài có gởi về Hòa-Hảo bài dưới đây và dặn bôi bỏ bài trên. Anh em bổn-đạo lúc đó cũng chưa hiểu vì sao Đức Thầy bảo sửa. Bỗng một bữa nọ, Cai-Tổng Pho đến nhà Đức Ông đem vấn-đề thi-văn của Đức Thầy ra nói chuyện, có ý muốn làm khó dễ Đức Ông về bài thi "Cờ tam sắc" nói trên. Liền đó, Đức Ông bảo ông Hương-quản Diệp (ngẫu nhiên có mặt trong lúc đó) đọc bài dưới đây. Nghe xong, Cai-Tổng Pho vỗ tay nói : "Vậy mà người ta nói lại khác chớ !"

    Tam sắc cờ bay phất-phới mà,
    Ngồi nhìn khoăn-khoái cõi lòng ta.
    Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,
    Nay hiệp Tây Đông thể ruột-rà!

    Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940).
    (Chép theo bản chánh do Ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

    ĐẦU NĂM

    Đầu năm tục lệ gọi ngày mùng,
    Tiếng pháo đốt hoài cũng thấy chung.
    Xóm trên xóm dưới cùng nhau đốt,
    Khúc giữa phần ta mãi nghe hùn.

    Nghe hùn lỗ nhĩ cũng lùng-tung,
    Ngày một tiếp xuân mới vô cùng.
    Mèo lui rồng tới bay vơ-vẩn,
    Thế-giới chiến-tranh nổ khắp bùng.

    Mồng một năm nay rõ thiệt Thìn,
    Hẹn cùng non nước vẫn đinh-ninh.
    Cố chí tấm lòng gìn đạo-đức,
    Mặc tình bá tánh chẳng thèm tin.

    Nam-hải Quan-Âm lấy tịnh bình,
    Cầm nhành dương-liễu rảy tà tinh.
    Quyết lòng độ tận trong sanh-chúng,
    Ai ghét ai ưa cũng mặc tình.

    Xuân sang ảm-đạm ánh dương mờ,
    Thệ quyết một lòng chẳng bỏ ngơ.
    Có sông có núi cùng cây cỏ,
    Độ tận chúng-sanh khỏi dại khờ.

    Lòng ta gặp cảnh rối tơ vò,
    Gan ruột phổi phèo một bộng to.
    Lo hoài lo mãi không sao xiết,
    Tiên cảnh chúa tôi vẫn hẹn-hò.

    Hò hẹn Phật-Tiên hiệp một ngày,
    Một ngày thế-giới khỏi bi-ai.
    Trung-Ương tam cõi đều hòa mặt,
    Ta mới thảnh-thơi trở gót hài.

    Gót hài muốn trở phải làm sao?
    Đạo-đức thâm sâu hãy bước vào.
    Sớm chiều lo liệu rèn tâm trí,
    Niệm tưởng Phật Trời thỏa ước-ao.
    Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940).
    (Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

    ĐỐT PHÁO XUÂN

    Lẹt-đẹt rồi đây lẹt-đẹt bùng,
    Đùng-đùng lẹt-đẹt nổ lùng-tung.
    Lùng-tung lúng-túng dân ta túng,
    Ngao-ngán cho xuân lão bắt khùng.

    Đoái thấy xa xa một cái đèn,
    Ngoài đường trời tối thiệt len-nhen.
    Tiết xuân buồn-bã vì ngập lúa,
    Nên phải ăn chơi cách quá hèn.

    Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940).
    (Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

    TỐI MỒNG MỘT
    Nhuần gội ơn trên rải Đạo mầu,
    Thương đời chỉ-vẽ nẻo cao sâu.
    Khai rừng kinh kệ câu huyền-bí,
    Để cứu nhơn-sanh khỏi thảm-sầu.

    Hương đăng nghi-ngút lễ vọng cầu, (1)
    Cám lòng bá-tánh nguyện từ câu.
    Chí quyết một lời ta độ tận,
    Dắt chúng lánh xa cảnh mộng sầu.
    (1) Đêm ấy ông Hương Kiểm Chương và anh em ở Hưng-Nhơn (Châu- Đốc) đến dưng bông lễ Phật.

    Giữ nguyện đinh-ninh tiếng tạc thù,
    Làm lành đâu phải tốn tiền xu.
    Mà sau lại được về Tiên cảnh,
    Thêm thoát ngục mê chốn Diêm-phù.

    Diêm-phù chơn Chúa chọn người tu,
    Hành phạt ác-hung chốn cửa tù.
    Tiếp nghinh những kẻ lòng nhơn-đức,
    Hỡi bớ dương-trần hãy rán tu.

    Rán tu vẹt phá đạo lu-bù,
    Thấy chúng đời nầy lạc chữ tu.
    Sớm tỉnh kệ kinh tìm hiểu lý,
    Một ngày hội hiệp hết mờ lu.

    Mờ lu được sáng rắn hóa cù,
    Hiệp mặt phân trần nỗi ám-u.
    Tớ Thầy tôi chúa cùng nhau gặp,
    Khắp hết thế-gian thoát chốn tù.

    Chốn tù vốn thiệt cõi ta-bà,
    Tiên cảnh được về mới lánh xa.
    Chúng-sanh chìm đắm trong vòng khổ.
    Khuyến dạy bởi vưng sắc Ngọc-tòa.

    Ngọc-tòa Phật-Tổ nấy sai ta,
    Xuống cứu thế-gian nẻo vạy tà.
    Hiệp sức tớ Thầy truyền diệu-pháp,
    Cho đời thấu tỏ Đạo ma-ha.

    Ma-ha thoàn nhỏ dọn rồi đa,
    Bước xuống đi qua bến giác mà.
    Sao hỡi còn chờ ta réo mãi?
    Dân tình xem giảng cứ ngâm-nga.

    Ngâm-nga việc khổ tới bên a,
    Bổn phận tu hiền phải lánh xa.
    Biết Đạo tùy thời mau tránh khổ,
    Chớ đừng thi-thố những tài ba.

    Tài ba khoe sức uổng thây mà!
    Nhựt dạ yêu đời dụng khuyến ca.
    Tỉnh thức nhơn dân đang mờ ám,
    Nên làm thi phú đặng ngâm-nga.

    Ngâm-nga hiểu nghĩa đáng kim ngà,
    Huyền-bí nhiều lời chỉ thiệt xa.
    Bổn-đạo rán tìm cho cặn-kẽ,
    Lòng hiền Phật độ khỏi tinh-ma.

    Hòa-Hảo, đêm mồng 1 tháng giêng Canh-Thìn.
    (Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

    còn tiếp
    Nam mô A Di Đà Phật
    BỬU châu công luyện chốn non Tần,
    SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
    KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
    HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Việc tương lai của phật di lặc
    By Cầu Trí Bát Nhã in forum Đạo Phật
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 28-07-2013, 02:18 AM
  2. Kinh Vô Lượng Thọ Phật !
    By kinhdich in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 04:26 PM
  3. Tây Phương Cực Lạc Du Ký (Tế Công - Thái sinh)
    By lyquochoang in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 07-12-2011, 05:22 PM
  4. ĐẠO PHẬT NGUYÊN THỦY Ở VIỆT NAM
    By Thichhuyenthuat in forum PHẬT GIÁO nguyên thủy
    Trả lời: 12
    Bài mới gởi: 12-09-2011, 09:49 PM
  5. Pháp Ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không
    By bachliencu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 05-04-2011, 09:12 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •