kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Mẹ con lạc nhau hơn 30 năm, tìm được.

  1. #1

    Mặc định Mẹ con lạc nhau hơn 30 năm, tìm được.

    Đây là một câu chuyên có thật bên Mỹ hồi năm ngoái, nay xin chia sẻ lại.

    - Cô bé gái ngày nào năm nay cũng bước qua tuổi 40. Bà mẹ trẻ thời xưa này cũng trên 60 tuổi. Cho tới tuần trước đó, cả hai đều chưa biết người kia đã qua Mỹ. Nhưng, vượt qua mọi mặc cảm và ngỡ ngàng, lau đi những giọt nước mắt đã tuôn ra quá nhiều sau hơn 30 năm bặt tin ở Sài Gòn, giờ đây, hai mẹ con cùng ôm chầm lấy nhau trong nụ cười và ánh mắt yêu thương của tình mẫu tử.


    Hai mẹ con gặp lại giữa Little Saigon, hơn 30 năm sau
    khi bị thất lạc ở Việt Nam.


    Nhìn họ, tôi thấy lòng rưng rưng. Bước chân vào nghiệp làm báo, tôi đã không ngờ có lúc mình lại trở thành cầu nối và chứng nhân cho cuộc trùng phùng kỳ lạ này.
    Người mẹ, bà Cát Thị Thọ, ở Little Saigon, và người con gái, chị Nguyễn Thị Thu Hằng, ở San Jose, đều nói với tôi rằng họ ngỡ “cứ như giấc chiêm bao.”
    Ðược sự đồng ý của những người trong cuộc, xin gửi đến độc giả hành trình đi đến cuộc tao phùng, để cùng ngẫm nghĩ và chia sẻ, để cùng thấy rằng cuộc sống luôn chứa đựng những điều bất ngờ đến kỳ diệu.

    Từ một bản tin nhỏ
    Ngày 8 tháng 2, 2010, trên báo Người Việt có bản tin ngắn “Ðàn ông Việt cầm dao rượt mẹ, bị bắt.” Ðó chỉ là một bản tin ngắn tôi viết, không đề cập đến tên tuổi của người “đàn ông Việt cầm dao,” hay của người mẹ bị rượt, mà chỉ thuật lại những điều tai nghe mắt thấy trong lúc cảnh sát còn đang bao vây ngôi nhà ở gần Little Saigon. Ngày hôm đó, cảnh sát còn từ chối không tiết lộ danh tánh hai người liên quan.



    Bức hình và bài báo trên đã khiến người “con rể”
    nghĩ đây là mẹ vợ mình
    .

    Hai ngày sau, theo tin từ cảnh sát Wesminster, Người Việt tiếp tục cung cấp thêm chi tiết về tên họ của người đàn ông bị tâm thần trong bản tin trên. Theo tin từ phía cảnh sát, người thanh niên cầm dao tên Paul Ðức Vũ, bị bệnh tâm thần. Bản tin này không đưa tên bà mẹ.
    Tuy nhiên, tới trưa Mùng Ba Tết, ngày 16 tháng 2, bà mẹ tự tìm đến tòa soạn Người Việt với mục đích cải chính cho con trai mình. Bà tên Cát Thị Thọ. Bà gặp phóng viên Hà Giang, và chị viết về cuộc nói chuyện với bà Thọ trong bài mang tựa đề “Tiếp câu chuyện ‘người thanh niên cầm dao rượt mẹ’”. Trong bài bà nói cậu con trai bị bệnh tâm thần phân liệt nhưng không gây hại cho ai.
    Như trăm ngàn sự kiện tương tự khác, câu chuyện có lẽ cũng chỉ dừng lại ở đó và chìm vào quên lãng ngay chốc lát bởi còn nhiều thứ để người ta phải suy nghĩ và quan tâm hơn trong cuộc sống thường nhật của mình.
    Thế nhưng, đúng 10 ngày sau khi bà Cát Thị Thọ xuất hiện trên mặt báo, một câu chuyện lạ lùng khác lại diễn ra.

    Cú điện thoại “tìm mẹ vợ”

    Mười ngày sau bài viết của chị Hà Giang, tức là hơn nửa tháng sau bản tin đầu tiên tôi viết, một cú điện thoại gọi vào tòa soạn vào chiều thứ Sáu, 26 tháng 2.
    Làm một phóng viên, tôi đã tiếp nhiều cuộc điện thoại của những người không quen gọi đến. Nhưng không có cú điện nào giống như cú điện thoại đó.
    Từ đầu dây bên kia, giọng một người đàn ông lạ hoắc đầy vẻ phấn khích, cho biết, ông ta tình cờ đọc báo Người Việt Online. Và ông nói:
    “Nếu tôi không sai thì người phụ nữ tên Cát Thị Thọ trong bài ‘Tiếp câu chuyện người thanh niên cầm dao rượt mẹ’ hình như là mẹ vợ của tôi.”
    Tôi ngạc nhiên với chữ “hình như” - và hỏi:
    “Hình như là mẹ vợ của anh?” tôi ngồi thẳng lại để nghe tiếp cuộc điện thoại.
    Người đàn ông nói, vợ ông và “mẹ của cổ” đã thất lạc nhau mấy chục năm. Hôm nay, “tự dưng tôi muốn tìm hiểu xem bà ngoại của con mình là lai Tàu hay Tây mà có cái họ lạ quá, nên tôi lên Internet gõ tên mẹ vợ thì nó dẫn link đến bài báo này. Không chỉ giống ở cái tên rất đặc biệt, mà nhìn hình, tôi thấy bà Cát Thị Thọ cũng rất giống vợ tôi. Con trai tôi cũng có cái mũi giống bà Thọ nữa.”
    Ông ta nói vậy và nhờ nhà báo có cách nào tìm giùm địa chỉ hay số điện thoại của “bà mẹ vợ” hay không.
    Tôi xin ông số điện thoại để gọi lại khi có tin tức. Ông xưng tên là T.N. và cho số điện thoại. Tôi hỏi tên vợ ông là gì, thì ông T.N. nói, “Tạm thời tôi không thể cho chị biết được. Chị chỉ cần hỏi là có phải bà Thọ có một đứa con gái thất lạc ở Sài Gòn không là được rồi. Tôi chỉ sợ có thể bà ta không nhận con mình.”
    Tôi gác máy khi lòng còn nhiều nghi hoặc. Sau khi báo cho chủ bút biết, tôi chạy xe sang nhà bà Thọ. Tôi chưa từng gặp bà ngoài đời. Hôm tôi đến làm tin người thanh niên cầm dao rượt mẹ, ngôi nhà bị cảnh sát bao quanh, tôi chỉ gặp cảnh sát và hàng xóm.
    Tới nhà bà Thọ, không có ai ở nhà. Tôi ghi lại mảnh giấy nhắn bà gọi điện thoại cho tôi ngay khi có thể vì “báo Người Việt có chuyện nhờ cô giúp đỡ.”

    Linh cảm “nó là con tôi”
    Tới chiều hôm sau, bà Thọ gọi cho tôi. Sau khi đã mào đầu “nếu có gì không đúng, mong cô bỏ qua,” tôi hỏi ngay câu ông T.N. nhờ: “Có phải trước đây cô có một người con gái ở Sài Gòn không?”
    Tôi nghe như giọng bà sửng sốt. Bà nhắc lại từng chữ một, “Tôi có một người con gái ở Sài Gòn?”
    Tôi thuật lại cho bà Thọ nghe cuộc điện thoại với ông T.N., người nhận là con rể của bà. Tôi chưa dứt lời, bà Thọ đã thốt lên, “Vậy là nó còn sống ư? Tôi đã đi tìm tung tích nó mấy chục năm nay...”
    “Vậy đúng là cô có người con gái bị thất lạc?”
    Tôi hỏi lại.
    “Tôi không biết có phải chính xác là nó không. Nhưng tôi linh cảm là nó, là con tôi. Nhưng có thể nó chẳng nhìn tôi đâu. Bao nhiêu năm rồi...” Giọng bà hơi chùng xuống. Cả người tôi như nổi gai.
    “Chuyện đời nhiều sự ngang trái lắm, cô ơi. Tôi vẫn luôn mang mặc cảm lương tâm, sự ăn năn của một người mẹ đã không làm tròn bổn phận với con mình. Cho nên giờ đây có biết tung tích nó chưa chắc tôi đã dám nhìn nó đâu.”
    Việc bà nói ngay mình là một người mẹ “có tội với con” cho tôi, một người xa lạ, nghe, khiến tôi càng cảm thấy lúng túng. Tôi hỏi tên con gái bà.
    “Nó tên Nguyễn Thị Thu Hằng. Ðó là tên tôi đặt cho nó. Bây giờ nó còn giữ không thì tôi không biết.” Bà trả lời tôi bằng giọng xúc động.
    “Con cô năm nay bao nhiêu tuổi?” - “Nó tuổi Dậu.” - “Vậy là chỉ sanh năm 1969?” - “Tôi không nhớ là 68 hay 69, nhưng tôi biết nó tuổi Dậu.”
    Bà cho tôi số điện thoại nhà lẫn cell phone.
    Tôi gọi lại cho ông T.N.
    “Có phải vợ anh tên là Nguyễn Thị Thu Hằng, tuổi Dậu không?”
    “Sao chị biết?”
    Ông T.N. hỏi lại một cách ngạc nhiên.
    “Người mà ông nhờ tôi tìm nói cho tôi biết.”
    Ông ta nói như reo, “Vậy là đúng là bà ta rồi phải không?”
    Tôi thuật lại cho ông ta nghe những điều bà Thọ nói.
    “Tôi có thể nói chuyện với vợ ông không?”
    Tôi đề nghị.
    Sau một thoáng lúng túng, người đàn ông cho biết ông ta và cô Hằng đã chia tay từ 6 năm về trước.
    “Ông và chị Hằng đã chia tay, vậy lý do gì bây giờ ông lại tìm mẹ vợ ông?”
    Tôi sửng sốt.
    “Thực ra tôi đã muốn tìm mẹ vợ lâu rồi nhưng vợ nói ‘không.’ Còn vừa rồi thì tôi chỉ muốn biết bà ngoại của con mình là ai thôi,” ông ta giải thích.
    Tôi hỏi thêm và được biết vợ chồng họ sang Mỹ từ năm 1997, do “ba vợ” bảo lãnh và “ba vợ” đã mất năm 2003. Ông T.N. cũng cho tôi biết tên tuổi “ba vợ” ông.
    Tôi xin số điện thoại cô Hằng. Ông bảo để suy nghĩ rồi gọi lại. Tôi cảm thấy câu chuyện bắt đầu có những điều không bình thường.
    Tôi gọi ngược lại cho bà Thọ, hỏi bà có biết tên tuổi người mà ông T.N. gọi là “ba vợ” của mình không.
    Vừa nghe tên, bà Thọ kêu lên, ‘Ðó là bố con Hằng. Vậy là đúng rồi. Không thể sai đi đâu. Bây giờ ông ấy đang ở đâu?”
    Nghe tôi nói người đó đã mất, bà kêu lên, “Trời ơi, tôi đã linh tính như vậy. Ông ấy chết ở Mỹ hả cô? Thế còn Hằng bây giờ như thế nào? Nó đang ở đâu?” Bà hỏi dồn dập.
    Tôi nói cho bà nghe những gì tôi biết và hứa sẽ gọi lại khi liên lạc được với con gái của bà.
    Tôi lại bấm số phone của người tên T.N. một lần nữa để thuyết phục ông cho tôi số điện thoại của cô Hằng.
    Ông ta đồng ý, cho tôi số điện thoại cô Hằng, với số vùng ở San Jose. Nhưng ông lại nói, “Chị có thể gọi cho cô ta. Tôi nói trước, chị phải khéo lắm mới có thể thuyết phục được cô ta nhận lại mẹ của mình. Tôi hy vọng là chị làm được.”
    Tôi nhăn mặt, “Tại sao mẹ con thất lạc mấy chục năm giờ có tin lại không nhìn là sao?”
    “Ừ, có nhiều chuyện.
    Chị cứ gọi đi.” Người đàn ông trả lời.
    Chiều Thứ Bảy, tòa soạn báo Người Việt rất vắng. Tôi bước ra ngoài hít thở không khí trong một tâm trạng hoang mang.
    Quay vào, tôi gọi số cô Hằng ở San Jose. Tín hiệu từ đầu dây bên kia cho tôi biết: điện thoại tắt máy.
    Tôi để lại lời nhắn. Sau đó, tôi vào gặp tổng thư ký, kể lại câu chuyện.
    Tổng thư ký gọi cho chủ bút. Hai sếp cùng quyết định: bằng mọi cách tôi phải liên lạc với cô Hằng, chậm nhất là đến hết ngày Chủ Nhật. Nếu không, Thứ Hai tôi sẽ phải lên San Jose, và ngồi canh ở nhà chị![/SIZE]
    Last edited by chi2730; 02-04-2012 at 08:30 PM.
    Cầu sanh Tây Phương!.

  2. #2

    Mặc định

    Mẹ mặc cảm, con ấm ức
    Khi người mẹ vì nghịch cảnh phải bỏ con, và người con phải sống trong cảnh thiếu mẹ suốt hơn 30 năm thì không thể một sớm một chiều họ có thể chạy đến với nhau ngay lập tức. Có những nỗi niềm, có những giải bày cần được cảm thông và chia sẻ trước lúc tao phùng.
    Trường hợp chị Nguyễn Thị Thu Hằng và bà Cát Thị Thọ cũng thế. Ðằng đẵng hơn 30 năm biệt tin nhau, sự tìm kiếm nhau cũng không còn là nỗi thúc bách, cho nên, khi phát hiện ra nhau qua trung gian người rể cũ và một bài báo, cả hai đều “chưa sẵn sàng cho ngày hội ngộ.” Họ cần có thời gian.

    Chuyện người mẹ: “Ðời không như cô tưởng”
    Vào ngày Thứ Bảy, hôm sau khi nhận được cú điện thoại đầu tiên từ người con rể cũ, tôi đã gọi và để lại lời nhắn trong điện thoại cô Hằng.
    Trong lúc chờ liên lạc, tôi nhớ lời tổng thư ký nói, “Mẹ con người ta bặt tin nhau mấy chục năm, giờ có manh mối mà mình chần chừ bắt họ chờ thì coi chừng họ vỡ tim.”
    Tôi nghĩ mình nên bắt đầu câu chuyện với người mẹ, bà Thọ. Tôi gọi cho bà khi ngày Thứ Bảy đã bắt đầu tắt nắng.
    Hơn nửa tiếng trò chuyện, tôi dần dần hiểu ra phần nào cảnh ngộ chia ly và những điều khó hiểu.
    Sau khi sinh ra người con gái mang tên Nguyễn Thị Thu Hằng được ít tháng thì chồng bà Thọ, tức là bố cô Hằng, khi ấy là một quân nhân người nhái, bị mất tích. Bà Thọ bồng con về nhà mẹ ruột chờ chồng, trong khi “lúc nhỏ, Hằng rất khó nuôi, cứ khóc suốt.”
    Khoảng hai năm sau, do hoàn cảnh, bà Thọ lập gia đình với người đàn ông khác.
    “Tôi nói thật, chuyện đời không như cô tưởng đâu. Người chồng sau rất thương tôi nhưng lại ghen với cả dĩ vãng của tôi, nên bao nhiêu giận dữ ổng trút hết lên người con nhỏ.”
    Không muốn chứng kiến cảnh “cha ghẻ, con vợ,” bà Thọ mang con về gửi lại bên nhà chồng cũ. “Tôi đành phải cắn răng đưa con Hằng về bên nội nó. Lúc đó tôi đau lòng lắm, nhưng tôi chẳng thà để nó về với dòng giống ruột thịt của người ta, cháu người ta thương, người ta sẽ nuôi nó nên người. Ðằng này nếu tôi ôm nó, nó cũng không sung sướng gì. Thành ra tôi rất là khổ.” Bà Thọ kể trong tiếng sụt sùi.
    Bà Thọ không nhớ rõ năm đưa con về nội. Trong các cuộc nói chuyện, tôi nhận thấy bà Thọ ít nhớ một cách chính xác các cột mốc thời gian. Lúc trước, khi nói về chị Hằng, bà cũng chỉ nhớ chị sinh vào năm con gà, chứ không nhớ năm Tây.
    Bà kể tiếp, “Sau này, tôi còn qua lại nhiều lần thăm viếng nó mà. Tôi có đem nó về chơi với thằng Giang, em cùng mẹ khác cha với nó nữa. Chắc ấn tượng đó Hằng còn nhớ.”
    Theo lời bà Thọ, bà vẫn tiếp tục giữ liên lạc với gia đình bên nội của con gái mình, cho đến khi “ba con Hằng trở về” sau nhiều năm mất tích. Ông chồng bà Thọ tái xuất hiện, nhưng bà đã có chồng mới, ông chấp nhận chuyện đó, và Hằng vẫn ở với bên nội.
    Sau năm 1975, “khoảng năm 76 gì đó, có một đôi lần ông ấy đến rủ tôi đi vượt biên, nhưng tôi không đi, vì đã có thêm con với người chồng sau. Tôi mất tin ba con Hằng từ đó.”
    “Rồi khi tôi đến tìm thăm thì nhà bà nội con Hằng cũng đã dọn đi chỗ khác, tôi kiếm không ra luôn,” bà kể.
    Tôi nghe tiếng bà như tự nói, “Ðúng là sự đời họa phước bất lường. Tôi không ngờ chuyện thằng Duy (“người đàn ông cầm dao rượt mẹ”) xảy ra, tôi lại được tin đứa con gái mất tích mất chục năm.”
    Vẫn bằng giọng xúc động, bà Thọ giãi bày, “Cuộc đời tôi có nhiều cảnh ngộ ngang trái. Nuốt nước mắt mà chia tay con. Giờ này nghe nó còn sống thì tôi mừng lắm rồi, không mơ ước gì thêm. Còn nó nhìn tôi hay không nhìn, điều đó không quan trọng đối với tôi đâu, tại mình thiếu bổn phận trách nhiệm với nó mà. Mẹ con có gặp nhau không là do cái duyên, chứ với tôi như vậy là mừng lắm rồi. Tôi thật sự ngạc nhiên đó. Một cái gì đó hết sức ngỡ ngàng mà tôi không dám tin là thật đó, cô à.”
    Nghe bà nói vậy, tôi chỉ biết an ủi, “Ðứa con nào rồi cũng muốn đi tìm cội nguồn của mình thôi. Con nghĩ qua cơn xúc động, chị Hằng sẽ gọi điện gặp cô.”
    Ðiều tôi cảm nhận được sau cuộc trò chuyện với bà mẹ Cát Thị Thọ đó là một bức tường vô hình đã được dựng lên trong tình cảm của bà, bởi mặc cảm tội lỗi của một người mẹ bỏ rơi con mình.

    Nỗi niềm người con: “Mẹ tôi không hề đi tìm tôi”
    Hơn nửa ngày Chủ Nhật tiếp theo của tôi trôi qua với lô lốc những công việc cần làm ở tòa soạn. Quá nửa giờ chiều, tôi gọi cho chị Hằng.
    Tim tôi như đánh thót khi nghe tiếng người trả lời từ đầu dây bên kia. Tôi mở đầu cuộc nói chuyện một cách ngập ngừng bởi giọng chị có vẻ gì như hơi dè chừng, lạnh lùng, lại có vẻ gì như chờ đợi, háo hức.
    Chị “cám ơn” khi tôi đề nghị sẽ bắt đầu bằng cách kể lại những gì tôi biết. Kể tường tận hoàn cảnh hiện tại của mẹ chị, nhắc lại cả giọng nói bất ngờ đến thảng thốt của mẹ chị khi nghe tin chị đang ở San Jose.
    Tôi kể đến đó, chị lên tiếng hỏi, “Vậy bây giờ, chồng của 'she' còn không?”
    Khi nghe nói bà đã ly dị từ năm 1983, lúc còn ở Việt Nam, tôi nghe như tiếng chị thở nhẹ, “Ồ, vậy là 'she' qua đây với 3 đứa con thôi à.”
    Tôi lại tiếp tục kể vì sao mẹ chị gửi chị lại nhà bà nội.
    Tôi kể mẹ chị đã đi tìm chị như thế nào.
    Sau tất cả những điều tôi kể, chị buông một tiếng thở dài, “Tôi vốn không có tìm mẹ. Bởi vì từ xưa đến giờ mẹ biết tôi ở đâu nhưng tôi không hề thấy tông tích mẹ tìm tôi. Vẫn một địa chỉ cũ. Cho nên 'she' nói có tìm tôi là không đúng.”
    Tiếng nói chị nhẹ nhàng nhưng tôi nghe như mình ngạt thở.
    Tôi định mở lời, chị lại nói tiếp, giọng rất rành mạch, như đã sẵn sàng cho một lần trút bỏ tất cả những gì chất chứa lâu nay.
    “Chị biết mà, một đứa con không được sống gần cha mẹ thì lúc nào cũng nhớ cha mẹ mình, đúng không? Lúc nào nó cũng mong cha mẹ tìm mình đúng không? Nhưng thực sự là 'she' không có tìm. Ði đâu, tôi cũng để lại địa chỉ nơi ngôi nhà mà 'she' biết, nhưng không có ai tìm tôi hết.”
    Giọng chị bắt đầu nghèn nghẹn.
    “Không ai quan tâm tôi hết. Từ nhỏ tới lớn, tôi sống rất mặc cảm với xã hội, nhất là xã hội Việt Nam. Ai cũng có cha có mẹ, mình cũng có cha nhưng cha không ngó tới. Có mẹ, mẹ cũng bỏ đi biệt luôn. Mẹ chỉ đi thăm tôi một lần rồi đi biệt luôn. Ngày nào tôi cũng trông mẹ. Nhưng mà...”
    Tiếng chị nức nở phía đầu dây bên kia. Tôi thấy mắt mình bắt đầu nhòe nhoẹt.
    “Nhưng mà không có gặp nữa. Tôi đã cho đó là số phận. Không trách cha, không trách mẹ, và cũng đã tự mình phấn đấu vươn lên để ngẩng mặt nhìn đời, để không ai chê cười mình là đứa con không cha không mẹ không ra gì.”
    Người con gái nhắn, “Chị cứ nói cho 'she' biết là con của 'she' sống rất đàng hoàng, sống không hổ thẹn với đời và cũng không trách oán gì 'she' hết. Nhưng để mà gặp lại thì chưa có chuẩn bị. Vì nếu mà gặp lại mà do mẹ tìm mình thì tôi sẵn sàng. Còn nếu vì chồng cũ của tôi tìm thì tôi không gặp, bởi tôi không có tin người này nữa.”
    Ngay lúc giọng chị trở nên hơi hốt hoảng bảo tôi đừng cho số điện thoại của mẹ chị cho người đàn ông tên T.N., tôi đã cảm nhận ngay được ẩn sau những lời oán trách đó, người con gái này thương mẹ mình đến mức độ nào.
    Tôi chia sẻ những cảm xúc của một người mẹ, một đứa con với Hằng.
    Chị khóc. Tôi khóc.
    Chị khóc cho những nỗi niềm, những ẩn ức của mình suốt mấy mươi năm qua, tưởng rằng đã được chôn vùi, giờ đây bỗng trỗi dậy.
    Tôi khóc cho niềm cảm thông và chia sẻ với những nỗi đau rất đời mà người con gái cũng chừng tuổi tôi phải gánh chịu.
    Chị nói tôi nghe cảm giác của một đứa bé nhớ mẹ nằm khóc hằng đêm.
    Chị nói tôi nghe chị thèm một tiếng kêu mẹ đến mức gặp mẹ của đứa bạn nào cũng muốn gọi bằng mẹ, dù rằng “họ có phải mẹ mình đâu.”
    Chị nói tôi nghe chị thèm cảm giác được nhõng nhẽo, được mẹ an ủi, vỗ về, ôm ấp, yêu thương. “Nhưng mà tất cả đều không có chị à.”
    Tôi lặng im ngồi nghe chị trải lòng, mặc cho nước mắt cứ tuôn.

    Một tấm hình quý báu.
    Tiếng chị theo dòng hồi ức cứ đều đều vang lên, giúp tôi hình dung một đứa bé sớm hiểu được cảnh ngộ của mình, lầm lũi lớn lên, mang nặng trong tâm tư mặc cảm của đứa con bị cha mẹ chối từ. Nhưng đứa con đó đã không vào đời bằng lòng thù hận, ganh ghét, nó gom góp những kỷ niệm đẹp đẽ nhất về người mẹ mà chắt chiu, gìn giữ.
    “Tôi quí từng kỷ niệm với mẹ. Có được một tấm hình mẹ bồng lúc nhỏ, tôi cất giữ như báu vật để rồi sau đó không biết mình cất nó ở đâu. Lạc mất tấm hình như mất một kho tàng. Sau này lớn lên gặp người quen biết nào cũng hỏi ‘có hình của mẹ con không?’ Lúc qua Mỹ gặp người anh họ cũng hỏi, ‘anh có hình mẹ em không?’ Ảnh cho tấm hình nhỏ xíu.”
    “Mừng còn hơn được vàng nữa,” chị nói.
    Mang về, chị dùng computer tự làm thành một tấm hình có đủ cha đủ mẹ. “Ai nói tôi không thương mẹ thương ba?”
    Chị lại kể tiếp tôi nghe chị đã sống lây lất trong 6 năm qua vừa làm một “single mom” nuôi con khi không có bất cứ sự trợ cấp nào của chồng, vừa phải gánh thêm khoản nợ mấy chục ngàn do chồng cũ để lại ra sao.
    “Nhưng bây giờ đã qua hết rồi. Tôi lúc nào cũng cầu mong cho mẹ mình được hạnh phúc, chỉ vậy thôi. Không muốn gì hơn nữa. Chị cứ nói là chị đã không gặp tôi. Tôi không muốn gặp ai hết. Cứ để cuộc sống yên như vậy, đừng đảo lộn nó nữa. Tôi vốn không chịu nổi nữa...”
    Chờ cho cơn xúc động hơi lắng xuống, tôi nói chị nghe những cảm nhận của tôi trong lần nói chuyện với mẹ chị, “Mặc cảm tội lỗi của một người mẹ bỏ rơi con luôn đè nặng trong lòng bà.”
    Giọng chị dịu lại, “Tôi đâu ích kỷ và hẹp hòi như vậy. Nhưng sau những gì đã xảy ra, tôi chưa chuẩn bị tư tưởng.”
    Trong cuộc nói chuyện, chị Hằng cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu nói, “Mẹ tôi không hề đi tìm tôi.”
    Tất cả vấn đề dường như nằm ngay trong câu nói đó.
    Ðược mẹ ôm trong vòng tay, được gọi “mẹ” là điều bình thường đến hiển nhiên đối với hầu hết những ai có mặt trong cuộc đời này. Thế nhưng, với người con gái ấy, đó lại là một nỗi khát khao đến cháy lòng suốt hơn 30 năm qua.
    Ðưa tay lau nước mắt, tôi bộc bạch với chị điều tôi nghĩ, “Mỗi người đều có những lý do cho mỗi hành động của mình. Chị có những trăn trở, những thắc mắc không tìm thấy câu trả lời. Mẹ chị có những tâm sự, những nỗi niềm chưa thể giãi bày. Vậy tại sao không một lần đối diện để mà đi đến tận cùng những uẩn khúc?”
    “Tôi cần một tình thương thật sự. Tôi cần một tình thương mà tôi phải cảm nhận được. Tại sao tôi nói chuyện với chị, tôi lại có được những 'feelings.' Vậy tại sao mẹ mình lại không cho mình những feelings như vậy?” Chị hỏi tôi.
    Tôi lại chia sẻ với chị, người con gái lần đầu tiên tôi nói chuyện, chỉ hơn tôi vài tuổi, những điều thuộc về cảm giác không thể diễn tả bằng lời, không thể nói thay người khác, mà chỉ có chính người trong cuộc, bằng trực giác và cảm giác của mình mới cảm nhận được đầy đủ và trọn vẹn.
    Cuộc nói chuyện giữa tôi và chị Hằng đã bớt nặng nề hơn. Chị cho tôi email để tôi gửi cho chị link những bài báo có nhắc đến mẹ chị, và cũng để chúng tôi có thể giữ liên lạc với nhau.
    Giọng chị chùng xuống, “Mình rất buồn là khi nghe giờ đây bà ấy sống một mình. Mình cứ ngỡ bà có một mái gia đình sống hạnh phúc với chồng với con, chứ không phải sống như thế. Trong ấn tượng của mình, mẹ luôn là người đẹp nhất. Mình cũng cầu mong cho bà được hạnh phúc.”
    Tôi nhận ra: Chị đã hết gọi mẹ là “she.”
    Còn thiếu 6 phút nữa là đúng 3 tiếng đồng hồ cho cuộc trò chuyện giữa tôi và chị. Chúng tôi đi đến một thỏa thuận: tôi sẽ nói chuyện trực tiếp với người mẹ để quyết định xem có cần không một cuộc hội ngộ.
    “Mình tin bạn, tin vào giọng nói của bạn. Hãy tưởng tượng bạn là mình đi há. Nếu bạn có 'feelings' như thế nào trong những lần nói chuyện sắp tới với mẹ mình, thì mình cũng sẽ có 'feelings' như vậy.”
    Chị đặt vào tôi niềm tin đó. Niềm tin vào cảm giác của một người phụ nữ, một người con và một người mẹ.
    Chúng tôi kết thúc bằng tiếng cười trong trẻo khi vạch đỏ báo hết pin đã xuất hiện trên điện thoại của tôi.
    Ngoài đường, bóng tối cũng đã buông.
    Cầu sanh Tây Phương!.

  3. #3

    Mặc định

    Hội ngộ.
    Dẫu vẫn còn những dỗi hờn của một đứa con luôn khắc khoải trong lòng mơ ước được mẹ tìm đến, nhưng trong lần nói chuyện này, tôi nhận ra được chị Hằng đã thay đổi rất nhiều. Chị hỏi thăm về mẹ nhiều hơn, bộc lộ những suy nghĩ về mẹ trìu mến hơn. “Nói vậy thôi chứ mình thương mẹ mình lắm. Lúc nào mình cũng nhớ bà, và bao giờ trong lòng mình bà cũng là người đẹp nhất,” chị nhìn nhận.
    - Cuộc chia ly đã 30 năm. Nỗi ray rứt, và lòng mặc cảm, cũng đã 30 năm. Giây phút tao phùng không phải là điều dễ cảm nhận. Nhưng họ, người mẹ và người con gái, cuối cùng cũng đã gặp nhau.
    Cuộc tao phùng như thể giúp “gỡ bỏ một bản án 30 năm” trên vai người mẹ. Và đây, họ đã gặp lại nhau, như thế này...
    Họ thực sự là mẹ con!
    Ngày Thứ Hai tiếp theo, với tôi, là một ngày khá nặng nề.
    Nặng bề bởi áp lực tâm lý.
    Một bên tôi làm nhiệm vụ của một đứa con “bị chối bỏ,” đi tìm xem cảm xúc thật của người mẹ đối với mình ra sao. Một bên tôi mang trách nhiệm mà chủ bút và tổng thư ký đã giao. Tôi không thể làm họ thất vọng.

    Tôi gọi điện thoại xin được đến nhà nói chuyện với người mẹ, là bà Cát Thị Thọ. Sự đối thoại trực tiếp sẽ cho tôi những cảm nhận cần thiết.
    Trong lần nói chuyện này, bà mẹ vừa kể vừa trả lời một số những thắc mắc của tôi chung quanh chuyện bà đã đi tìm Hằng (con gái bà) như thế nào, bằng cách nào.
    Tôi kể bà nghe những điều con gái bà đã tâm sự với tôi. Bà lắng nghe chăm chú, như nuốt từng lời, rồi khi xuýt xoa, “Tội nghiệp nó quá!” rồi khi như nói với mình, “Ông trời vẫn còn ưu đãi tôi, nên đã cho tôi một đứa con như vậy.”
    Trong lúc nói chuyện, có những suy nghĩ, những câu nói bà Thọ thốt ra khiến tôi phải kêu lên, “Trời, sao cách cô nói chuyện giống y chang chị Hằng vậy!”
    Tôi hỏi cảm xúc của bà như thế nào khi nhận được tin của người con gái sau hơn 30 năm bặt tin.
    “Hồi hộp trong cái an tâm vì biết con mình còn sống. Vui trong lòng, cảm thấy nhẹ nhàng rất nhiều, dù là tôi không gặp nó,” bà nhìn thẳng vào mắt tôi, trả lời.
    “Tại sao cô không nghĩ là sẽ gặp con mình?” Tôi hỏi một cách dè dặt. Bà đáp không giấu diếm, “Không dám gặp chứ không phải là không gặp. Mặc cảm của người mẹ thiếu bổn phận với con làm tôi không dám gặp nó. Tôi tiếp tục, “Nếu bây giờ chị Hằng đến gặp cô thì sao?”
    Bà nhìn tôi không chớp mắt, thấp giọng, “Tôi cũng không biết nói sao nữa, không biết mình như thế nào nữa. Mừng thì mừng rồi đó. Nhưng sẽ ngỡ ngàng. Tình máu mủ không bỏ được nhưng mình còn mang nhiều mặc cảm, nhiều dấu hỏi nên vẫn còn vẫn còn e ngại.”
    Tôi hiểu, mặc cảm của “người mẹ thiếu bổn phận” khiến bà luôn chùng bước, thế nhưng khi tôi nói, “Chị Hằng cứ luôn hỏi ‘Tại sao mẹ không đi tìm?’, trong khi cô lại bảo là có tới. Tức là ai cũng có những gút mắc trong lòng vậy tại sao không gặp nhau để mà giải tỏa hết?”
    Bà Thọ lập tức đáp ngay không chút đắn đo, “Ðược, vậy thì tôi sẽ gặp để nói cho nó hiểu.”
    Trước khi chấm dứt cuộc nói chuyện gần một tiếng rưỡi, tôi xin bà cho tôi chụp hình để gửi cho người con gái. Bà mẹ đồng ý.
    Tôi ra về mang trong lòng cảm giác vừa vui lại vừa có gì đó thật buồn. Vui vì nghĩ họ sẽ gặp nhau, một ngày nào đó, tôi chưa biết, tôi không cố tình thúc đẩy chuyện đó. Buồn vì một cái gì đó hơi mông lung, hơi thuộc về cảm tính. Bà mẹ không vồn vã, vồ vập hỏi tin tức con mình, trừ khi tôi kể thì bà hỏi. Một cái gì đó cứ ngăn lại không cho bà cái quyền chủ động hỏi thăm.
    Thêm nữa, bà Thọ lại dường như chẳng nhớ chính xác một số cột mốc thời gian, như bà không thể nhớ ngày tháng sanh đẻ của con mình. Bà chỉ nhớ, “Tôi nhớ tôi sanh nó vào mùa Thu, và vì mong nó xinh đẹp nên tôi đặt nó là Thu Hằng.” Sau một thoáng ngồi nhớ lại, bà Thọ cho biết thêm, “Sanh nó xong rồi thì mới ăn Trung Thu.”
    Về đến tòa soạn, tôi email gửi hình cho người con gái. Trong email, tôi hẹn tối sẽ gọi điện cho chị. Tôi đã gọi, cả hai lần, điện thoại chị đều tắt máy.
    Tôi hơi hoang mang, biết đâu sau khi bình tĩnh, chị lại rơi vào trạng thái “cảnh giác,” như chị đã nói, “Tôi không tin ai hết. Tất cả đều là kẻ nói dối.” Nếu quả thực như vậy thì...
    Nhớ câu nói nức nở của chị Hằng lần trước, “Ðến ngày sanh tháng đẻ của mình, tôi cũng không biết chính xác. Khai sanh tôi không có tên cha tên mẹ đi làm, mà là do bà nội đi khai. Bà nhớ ngày nào thì khai ngày đó...” tôi gọi điện cho má tôi. Tôi hỏi, “Má có nhớ ngày sinh tháng đẻ của tụi con không?” Má trả lời, “Sao lại không?” Tôi ngồi thừ một lúc.
    Tôi gọi cho mẹ một người bạn và cũng hỏi câu ấy. Khi nghe bà trả lời, “Không nhớ đâu!” Tôi như reo lên, “Thiệt hả? Mà sao bác không nhớ vậy?” Mẹ của người bạn giải thích lý do.
    Tôi thở phào. Cuộc đời vốn đa dạng. Không thể lấy suy nghĩ của mình mà gán ghép và phán đoán người khác.
    Tôi tiếp tục chờ đợi sự hồi âm từ người con gái.
    Và, tôi chực muốn khóc khi nhìn thấy email của chị vào trưa Thứ Ba. Chị hẹn tối đi làm về sẽ gọi nói chuyện với tôi.
    “Có thể cho mình xin số phone của mẹ không?”
    Cuộc nói chuyện qua điện thoại lần thứ hai giữa tôi và chị Hằng cũng kéo dài khá lâu. Tôi lại kể cho chị nghe những điều tôi cảm nhận được sau khi ở nhà mẹ chị về, những câu nói, những suy nghĩ của mẹ chị, cả những lúc bà cứ gọi tôi là “Hằng.”
    Ðứa con, từ đầu dây bên kia, dường như cũng háo hức và hồi hộp lắng nghe, để sau đó lại thở dài và buông tiếng, “Vậy là bạn đến tìm mẹ mình chứ mẹ không hề gọi hỏi thăm mình trước, đúng không? Mình đã biết rồi, đây chỉ là một sự tình cờ. Mẹ không bao giờ tìm mình hết.”
    Nghe chị nói, tôi muốn kêu trời.
    Tôi cứ để cho chị tiếp tục giãi bày hết những tâm tư, những điều chất chứa bấy lâu trong lòng chị. Những điều dồn nén trong mấy mươi năm qua, đâu dễ gì trút ra hết được trong một ngày, một buổi.
    Dẫu vẫn còn những dỗi hờn của một đứa con luôn khắc khoải trong lòng mơ ước được mẹ tìm đến, nhưng trong lần nói chuyện này, tôi nhận ra được chị Hằng đã thay đổi rất nhiều. Chị hỏi thăm về mẹ nhiều hơn, bộc lộ những suy nghĩ về mẹ trìu mến hơn.
    “Nói vậy thôi chứ mình thương mẹ mình lắm. Lúc nào mình cũng nhớ bà, và bao giờ trong lòng mình bà cũng là người đẹp nhất,” chị nhìn nhận.
    Chị nói chị đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần những bài báo có nhắc đến mẹ chị và Duy, đứa em cùng mẹ khác cha, cũng như cứ ngắm nghía mãi những tấm hình tôi chụp mẹ chị.
    Chị cho tôi biết, “Một ngày nào đó, mình sẽ xuống thăm mẹ mình nhưng chưa phải là tuần này” bởi “khó khăn lắm mình mới lấy được hẹn cho con mình đi khám mắt ngày Thứ Bảy.”
    Nghe chị Hằng nói vậy, tôi chỉ cười, nhưng trong lòng đã tin chắc: tôi sẽ gặp mặt chị trong một ngày rất gần.
    Trước khi tôi tắt máy, chị hỏi nhỏ, “Có thể cho mình xin số điện thoại của mẹ được không?”
    Tôi thở phào.

    Cuộc hội ngộ sau hơn 30 năm
    Khi tôi báo lại cho chủ bút và tổng thư ký tòa soạn nghe diễn tiến câu chuyện, họ cứ hỏi, “Có chắc là hai mẹ con rồi chứ?”
    Sao lại không chắc chứ! Tôi tin họ có những điều mà người ta vẫn gọi là “thần giao cách cảm.”
    Ngay khi tôi vừa đặt chiếc phone nói chuyện với người con gái xuống, cầm chén cơm chưa kịp và vào miệng thì chuông điện thoại lại inh ỏi: người mẹ gọi. Ðây là lần đầu tiên bà Thọ chủ động gọi cho tôi.
    Giọng nói vẫn cho thấy bà đang ở một tâm trạng không như bình thường, vừa vui mừng, vừa âu lo thấp thỏm. Tôi cười hỏi, “Sao cô? Có chuyện gì mới không cô?” Giọng bà trả lời nghe rất tội nghiệp, “Vẫn chưa có động tịnh gì. Vẫn chưa nghe Hằng gọi.”
    Tôi hí hửng khoe, “Cô ơi, con phải cúp máy đây, bởi chị Hằng có thể sẽ gọi cho cô ngay bây giờ.”
    Tôi nhận ra sự cuống quít nơi người mẹ. Tôi cười một mình và nghe như mắt mình cay cay.
    Sáng Thứ Tư, chị Hằng gọi cho tôi. Chị lặp đi lặp lại hoài câu, “Mình cám ơn bạn, cho tất cả.”
    Nghe vậy, tôi biết: mẹ con họ đã nói chuyện với nhau!
    Ngay sau đó, bà Thọ cũng gọi cho tôi. Giọng bà rộn rã, “Trời ơi, cảm giác của tôi bây giờ như thể một bản án suốt mấy mươi năm qua luôn đeo trên người nay được gỡ xuống. Ngỡ ngàng không biết phải nói như thế nào nữa. Tôi thực sự không thể nào tưởng tượng được khi từ đầu dây bên kia tiếng nói, ‘Con, Hằng đây.’”
    Cảm nhận niềm hạnh phúc vô bờ từ mẹ con họ, tôi cũng nghe lòng mình thênh thang, nhẹ nhõm.

    Tôi được biết, sau đó, họ đã gọi điện nói chuyện liên tục với nhau ngay khi có thể. Người em gái cùng mẹ khác cha với chị Hằng, tên Thanh, cũng đang ở Mỹ, nghe bà Thọ báo tin, đã gọi điện nói chuyện với chị Hằng. Mọi rào cản dường như đều bị xóa bỏ.
    Hai ngày sau, tôi đã không hề bất ngờ khi nghe tin: mẹ con họ sẽ gặp nhau vào sáng Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2010, tại nhà người mẹ ở Little Saigon.
    Như đã nói, khi bước chân vào nghề báo, tôi đã không ngờ có lúc mình lại là cầu nối và chứng nhân cho những phút giây hội ngộ kỳ lạ như thế này.
    Tôi không thể diễn tả cảm xúc của mình khi nhìn cảnh người mẹ mang ra chiếc áo khoác tự tay mặc và cài nút cho đứa con gái, đứa con mà khi bà rời xa nó, nó chưa đến tuổi lên 10. Tôi nhìn gương mặt người con gái vừa thẹn thùng vừa lấp lánh niềm hạnh phúc mà cảm thấy một điều gì đó thật ấm áp cũng đang lan tỏa trong người mình.
    Tôi nhìn đứa con trai của chị, cháu ngoại của bà với nụ cười thường trực trên môi. Tôi nhìn người con trai “bị tâm thần phân liệt” ngỡ ngàng nhìn người đang tự giới thiệu “chị là Hằng, là chị của em nè.”
    Tôi nghe chị Hằng kể cho mẹ nghe, “Tối qua, Giang đã gọi nói điện nói chuyện với con hơn 2 tiếng đồng hồ.” Giang là đứa em cùng mẹ khác cha mà chị Hằng đã biết từ bé, hiện đang về Việt Nam nghỉ phép. Hằng nói hai chị em họ đã nói chuyện với nhau rất vui, cùng nhắc lại những ký ức xa xưa, như thể đã không hề có khoảng cách chia ly hơn 30 năm.
    Thứ Bảy, ngày 6 tháng 3 vừa qua, ngày mẹ con họ gặp nhau, không phải là một ngày nắng đẹp, nhưng tôi biết: Giông bão đã qua rồi.
    Từ một đứa vốn luôn mang mặc cảm lẻ loi, cô độc, nay, chị đã có mẹ, có 3 người em, có một gia đình.

    Bà mẹ không chỉ gặp lại người con gái sau bao năm biền biệt, mà nay còn có thêm thằng cháu đã 16 tuổi, sẵn sàng gọi “bà ngoại” không chút ngại ngần.
    Chỉ vỏn vẹn một tuần, thế giới dường như thay đổi. Những mối thâm tình tưởng chừng đã hoàn toàn đứt đoạn từ phía bên kia đại dương, nay lại được hàn gắn ngay trên mảnh đất tạm dung này, sau hơn 30 năm.
    Những ẩn ức, những nỗi niềm, những nhớ nhung, những hờn giận, tất cả đã trôi qua.
    The end.
    Cầu sanh Tây Phương!.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Tự truyện đầu tiên của một nhà ngoại cảm Việt Nam 2011
    By maiduyen22 in forum Ngoại cảm - Khả năng đặc biệt
    Trả lời: 23
    Bài mới gởi: 13-10-2012, 07:36 PM
  2. Ý nghĩa của 64 quẻ và 384 hào
    By Bin571 in forum Dịch Học
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 08-07-2012, 04:04 PM
  3. Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân
    By trango in forum Sách Tôn Giáo
    Trả lời: 11
    Bài mới gởi: 14-03-2012, 01:31 AM
  4. BỨC ẢNH PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP
    By duyenduyen in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 23-12-2011, 12:44 AM
  5. Trả lời: 48
    Bài mới gởi: 29-04-2011, 12:15 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •