Trang 51 trong 63 Đầu tiênĐầu tiên ... 414546474849505152535455565761 ... Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1,001 tới 1,020 trên 1244

Ðề tài: Thiền định và thiền quán

  1. #1001

    Mặc định

    [QUOTE=Nha_Thien77;598679]Màn cứ nâng lên hạ xuống hoài cũng vui nhỉ. Đúng là xe lên xe xuống mà khách lữ hành cứ xuống xuống lên lên, thay áo thay xống quần quật. Tu hành đúng là cái kiếp nặng đá đeo, thà nằm lăn khoèo ra mà ngủ, nghe chim hót, lá rơi, nước chảy róc rách trong đầu còn phẻ hơn. Hy hy hy, tự tánh với tự tướng cứ rối như canh hẹ, toàn thấy là tự vướng ko hà.


    Dạ đúng như vậy thầy Nha Thien nằm nghe bụng đói sôi ùnh ục, "tự tánh với tư tướng rối như canh hẹ" nghĩ ko ra muốn thành tự tử luôn

  2. #1002

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi tattat Xem Bài Gởi
    Dạ đúng như vậy thầy Nha Thien nằm nghe bụng đói sôi ùnh ục, "tự tánh với tư tướng rối như canh hẹ" nghĩ ko ra muốn thành tự tử luôn
    Uha, đừng gọi tớ là thầy mà tớ bị chùm mền gõ u đầu đi cấp kíu hỏng kịp, tớ mà thầy gì, là thầy bán dùi mua ve chai giấy lộn thì hên xui còn được bữa cháo trắng.

    hụ hụ hụ violent105
    một tiếng chim kêu lời kinh vọng
    núi trôi sông chảy mộng đoàn viên

  3. #1003

    Mặc định

    Hoasen ngancanh
    TẠI SAO KHÔNG lấy nick là gì?lại lấy nick hoasen ngancanh ,hoa sen tượng trưng cho TÂM PHẬT không có loại hoa nào lại có tính chất như TÂM phật.Ruột thẳng rỗng lặng suốt thông .
    Những chuyện của hoa sen và đệ tử của MINH ĐÀI là câu chuyện không hề dính mắc đến MINH ĐÀI ,lúc hai bên xảy ra chuyện cũng là lúc MINH ĐÀI bế quan .Và chuyện đã qua sao hôm nay HOA SEN lập lại ,MINH ĐÀI luôn bảo vệ cho hoa sen ,càng lúc HS tạo nên tình hình xấu .
    Không biết nếu bài này mà các đệ tử của MINH ĐÀI phát hiện thì MINH ĐÀI không biết phải xử ra sao?HÀI....Z...sao làm khó cho MINH ĐÀI vậy.
    MINH ĐÀI bó tay với hoa sen rồi
    Last edited by minh đài; 01-03-2012 at 08:18 PM.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  4. #1004

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nha_Thien77 Xem Bài Gởi
    Uha, đừng gọi tớ là thầy mà tớ bị chùm mền gõ u đầu đi cấp kíu hỏng kịp, tớ mà thầy gì, là thầy bán dùi mua ve chai giấy lộn thì hên xui còn được bữa cháo trắng.

    hụ hụ hụ violent105
    Dạ ở đây kô bít họ là ai, kính cẩn khỏi phải áy náy sau này, tui cũng d8ang hành ngề xe ôm mấy chục năm nay đây

  5. #1005

    Mặc định thiền định và thiền quán

    THIỀN HỌC ĐẠI CƯƠNG
    ________________________________________
    Thích Thông Thiền

    Dẫn nhập

    Thiền học là một môn học về Thiền Phật giáo bao gồm Thiền quán hạnh và Thiền trực chỉ, bên cạnh đó, có những loại thiền không phải của đạo Phật. Chúng ta cần phải giản trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.
    Nội dung
    A. Thiền không phải của đạo Phật
    1- Thiền chuyển luân xa
    2- Thiền xuất hồn
    3- Thiền thai tức
    4- Thiền luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần
    5- Thiền Yoga hay Du già
    Năm loại thiền kể trên thuộc thiền ngoại đạo, không phải thiền của đạo Phật.
    B. Thiền của đạo Phật
    DHYANA (Sanskrit), JHANA (Pali), CHANA (Trung Quốc), gọi tắt CHAN = ZEN = TỊNH (CHỈ = ĐỊNH) LỰ (QUÁN = HUỆ), MEDITATION (Anh). Trạng thái định huệ đồng đều, tâm chuyên chú vào một đối tượng nào đó, vắng lặng tư duy.
    Thiền của đạo Phật trọng tâm phát huy trí tuệ, phá si mê chấp ngã chấp pháp, để giải thoát sanh tử luân hồi đau khổ. Tạm chia ra: THIỀN QUÁN HẠNH và THIỀN TRỰC CHỈ.
    I. THIỀN QUÁN HẠNH:
    1.THIỀN QUÁN HẠNH của Hiển giáo:
    Bao gồm: Thiền nguyên thủy, Thiền Đại thừa phát triển
    1.1. Thiền nguyên thủy: Thiền nguyên thủy được truyền bá ở các nước: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia... Thiền nguyên thủy có rất nhiều pháp, ở đây chỉ nêu lên những pháp thường dùng.
    1.1.1- Tứ niệm xứ
    1.1.2- Minh sát tuệ
    1.2. Thiền Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Phát triển: Thiền Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Phát triển được truyền bá ở Trung Hoa. Đại sư Trí Khải dạy tu thiền theo Lục diệu pháp môn gốc từ Phật giáo Nguyên thủy, nhờ ứng dụng khéo thành pháp tu của Đại thừa.
    - An ban thiền (Lục diệu pháp môn)
    - Ngũ môn thiền
    - Niệm Phật thiền
    - Thật tướng thiền (Tam quán)
    Ngoài ra, các pháp môn:
    - Hoa Nghiêm Pháp giới quán của tông Hiền Thủ
    - Bát bất Trung đạo của giáo phái Tam Luận.
    - Nắm lớp quán Duy thức của giáo phái Pháp Tướng .
    - Nhất tâm bất loạn của tông Tịnh Độ. Tất cả khi đến cứu cánh đều được Định Huệ, nếu không phải thiền thì thuộc pháp gì?
    2. THIỀN QUÁN HẠNH của Mật tông:
    Nếu y theo các bộ Đà-la-ni của Phật mà tu để dần dần đoạn trừ nghiệp chướng phiền não, được đại trí huệ, chứng thành tam thân của Phật, đó là Quán hạnh thuộc Mật tông.
    II. THIỀN TRỰC CHỈ = THIỀN TÔNG
    1. TRỰC CHỈ bên Hiển giáo:
    NGỘ TÂM THÀNH PHẬT THIỀN
    1. Siêu Giáo Đốn Ngộ
    2. Đạt-Ma và Huệ Khả
    3. Tăng Xán đến Hoằng Nhẫn
    4. Thầy trò Huệ Năng
    SIÊU PHẬT TỔ SƯ THIỀN
    1. Hành Tư và Hoài Nhượng
    2. Hy Thiên và Đạo Phật
    3. Bách Trượng và Đạo Ngộ, Dược Sơn
    4. Vân Nham, Long Đàm và Hoàng Bá, Qui Sơn
    VIỆT TỔ PHÂN ĐĂNG THIỀN
    1. Sự sâu kín của Qui Ngưỡng
    2. Sự đẩu triệt của Lâm Tế
    3. Sự hồi hỗ của Tào Động
    4. Vân Môn và Pháp Nhãn
    THIỀN CỦA BỐN THỜI ĐẠI TỐNG - NGUYÊN - MINH - THANH
    1. Niệm Tụng Công án
    2. Nghi Tham thoại đầu
    3. Thiền Tịnh hợp tu
    4. Sự hòa hội của Tông và Giáo
    5. Không Mặc Quán Chiếu
    2. TRỰC CHỈ bên Mật tông:
    Trường hợp Quán Thế Âm Bồ-tát. Theo lời tự thuật của Ngài trong kinh Đại Bi thì khi Ngài mới trụ nơi Sơ địa, được đức Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai thương nghĩ đến Ngài, truyền cho chú Đại Bi. Vừa nghe qua chú này liền chứng qua khỏi địa thứ 8. Trong một nháy mắt ngài đã siêu xuất qua 2 vô số kiếp.
    C- Kết luận
    Như vậy, thiền học là một môn học, một pháp tu thực tế phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại. Quy chiếu lại, chỗ chủ đích ban đầu gặp nhau của Thiền Nguyên thủy (Như Lai thiền) và Thiền tông (Tổ sư thiền) là giải thoát sanh già bệnh chết. Kế đến là gặp nhau nơi Giới định huệ, rồi gặp nhau trên lộ trình tu tập: Thiền tông tu bằng cách xoay sáu căn trở về tự tánh, còn quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp của Thiền Nguyên thủy đều là soi lại mình, như thế hai bên gặp nhau ở chỗ "Phản quan tự kỷ".Tâm chúng ta khởi vọng tưởng phiền não, chúng ta khéo quán thì vọng tưởng lặng, hết phiền não, tâm an định. Tu tới đâu có kết quả lợi ích tới đó, rất cụ thể, không xa vời. Đó là những vấn đề chủ yếu của việc tu thiền./.

  6. #1006

    Mặc định thiền định và thiền quán

    Học Viện Phật giáo

    THIỀN ĐẠI THỪA

    THIỀN QUÁN HẠNH CỦA HIỂN GIÁO
    (Y GIÁO TU TÂM THIỀN)
    AN-BAN THIỀN
    Thích Thông Thiền

    An-ban thiền được thành lập trên nền tảng là kinh An-ban Thủ Ý và kinh Ấm Trì Nhập. Ngài An Thế Cao dịch có kinh An-ban Thủ Ý, Ấm Trì Nhập chuyên nói về thiền định; thành phương pháp tu tập thiền định đầu tiên của thời Hán, Ngụy và Tấn. Kinh này nói về tu thiền sổ tức, ngoài ra cũng bao gồm các pháp thiền khác, nhưng quan trọng nhất là điều hòa hơi thở.
    Sau khi ngài An Thế Cao truyền kinh này, ngài tự tu và cũng dạy cho người khác tu. Ngài An Thế Cao đã do tu thiền định mà hiện các thứ thần thông, trí huệ cũng lớn, khiến cho mọi người đối với ngài ngưỡng mộ tin tưởng và sùng kính, kinh này trở thành pháp căn bản tu thiền của thời đó. Vào thời Tam Quốc, ngài Khương Tăng Hội, từng làm chú giải và tu tập An-ban thiền; thời Đông Tấn ngài Chi Đạo Lâm được các vị trí thức suy tôn trọng vọng cũng để ý đến thiền, có chú giải An-ban Thủ Ý, Đạo An cũng từ nơi ngài Trúc Pháp Tế và ngài Chi Đàm thọ nhận pháp thiền Ấm Trì Nhập, chú giải các kinh Bát-nhã, Đạo Hành, Mật Tích, An-ban. Nhưng ở thời của Đạo An, kinh Di-lặc Thượng Sanh cũng đã truyền vào Trung Quốc, ngài khuyến khích đệ tử là Pháp Ngộ thệ nguyện sanh về Đâu-suất, đây là do Thiền mà hồi hướng về Tịnh Độ. Người bạn của ngài Đạo An, là ẩn sĩ Vương gia tu tiên luyện khí; do đó người đời sau cho rằng thiền của Phật giáo xuất phát từ đạo Tiên; thật sự thì thiền điều tức của Đạo An thời đó, tuy gần giống với pháp tu Tiên, nhưng nguyên là của Phật giáo truyền đến.
    Trước ngài Đạo An còn có ngài Bạch Tăng Quang ở núi Thạch Thành tập định, mỗi lần trải qua bảy ngày mới xả định. Về sau, trải qua bảy ngày chưa xả định, đệ tử xem kỹ mới biết ngài nhập định mà tịch. Lại như ngài Trúc Đàm Du ở núi Thạch Thành, nhập thiền định trong thất đá. Ngài Tăng Hiển nhập thiền mấy ngày cũng không có vẻ gì đói khát, ở trong định lại còn thấy Phật A-di-đà, lúc mạng chung niệm Phật sanh về Tây Phương. Phong trào thiền này đều nhận các kinh An-ban Thủ Ý và Ấm Trì Nhập làm điểm xuất phát, do đó gọi là An-ban Thiền.
    I. AN THẾ CAO với sự phiên dịch thiền kinh :
    Vào thời Hoàn Đế đời Đông Hán, có An Thanh tự Thế Cao là thái tử của nước An Tức. Thuở bé Ngài đã từng được khen là hiếu hạnh, bẩm tánh thông mẫn, chuyên tâm hiếu học. Các sách vở nước ngoài từ thiên văn cho đến sách thuốc, Ngài thảy đều thông suốt. Sau khi vua cha băng hà, Ngài nhường ngôi lại cho người chú, xuất gia tu đạo. Niên hiệu Kiến Hoà thứ hai (148), Ngài đến Lạc Dương dịch Kinh An Ban Thủ Ý, được giới tu thiền chú trọng, có thể xem đây là bước mở đầu cho thiền học Trung Quốc. An Thế Cao vốn là người tinh thông kinh luận Tiểu thừa, cũng hành trì thiền kinh, đạt đến chỗ vi diệu của nó.
    Theo Cao Tăng Truyện q.1 ghi: An Thế Cao hiểu rộng kinh tạng, nhất là tinh thông A-tỳ-đàm học, hành trì thiền kinh, đạt đến chỗ vi diệu. Sau đó du phương hoằng hoá, đi khắp các nước, vào thời Hoàn Đế đời Đông Hán mới đến Trung Quốc……., Ngài dịch kinh An Ban Thủ Ý, Kinh Ấm Trì Nhập, lớn nhỏ gồm hai mươi môn và một trăm sáu mươi phẩm. Ban đầu các vị Tam tạng nước ngoài giúp Ngài soạn thuật “kinh yếu” làm hai mươi bảy chương, vài dịch giả giỏi giúp phân tích biên tập thành bảy chương dịch ra Hán văn tức Đạo Địa Kinh.
    Từ thời Hán Hoàn Đế, niên hiệu Kiến Hoà thứ hai (148) đến thời Hán Linh Đế niên hiệu Kiến Ninh (168-171), khoảng hơn hai mươi năm, Ngài dịch trên ba mươi bộ kinh luận. Hiện còn Phật Thuyết Đại An ban Thủ Ý Kinh 2q, Thiền Hành Pháp Tưởng Kinh 1q, Đạo Địa Kinh 1q. Trong ba kinh ấy, Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh được giới tu thiền đặc biệt xem trọng. Khương Tăng Hội, Đạo An đều đem kinh này ra chú giải và sớ thích.
    Phần đông chúng ta đều cho rằng đạo Phật có mặt ở Việt Nam là do du nhập từ Trung Quốc, nên thiền học Việt Nam cũng cùng chung số phận như thế. Mọi người đều không ngờ rằng trước khi Tổ Đạt Ma mang Thiền tông sang Trung Quốc (thế kỷ VI) thì ở Việt Nam (thế kỷ III) đã có thiền học gần ba thế kỷ rồi, thiền học đó lại được truyền ngược lại từ Việt Nam sang Trung Quốc. Và người phát huy nền thiền học đó cũng như hoằng truyền đạo Phật tại Việt Nam chính là thiền sư Khương Tăng Hội.
    II. KHƯƠNG TĂNG HỘI
    1. Thế nào là đạo Phật được truyền thẳng từ Ấn Độ sang Việt Nam và thiền sư Khương Tăng Hội là người hoằng truyền đạo Phật tại Việt Nam?
    Đạo Phật vào Việt Nam bằng đường biển đã xảy ra từ thế kỷ I trước Thiên Chúa giáng sinh. Trong thế kỷ tiếp theo, tức thế kỷ I sau Thiên Chúa giáng sinh, đạo Phật đã tiếp tục đi vào Việt Nam bằng đường hàng hải do các nhà buôn đem tới. Thường thường khi đi buôn, các thương gia Ấn Độ đem theo những bảo tháp nhỏ đựng xá lợi Phật tượng trưng cho đức Phật và đã thực hành nghi thức đọc kinh, lễ bái trước những bảo tháp này. Vì thế trong thời gian họ lưu lại Giao Chỉ (Việt Nam), đã khiến cho người Việt biết tới Đạo Phật.
    Từ Giao Chỉ có nghĩa là vùng giao lưu của hai nền văn hoá. Văn hoá Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa. Có những nước nằm dưới ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, trong đó có nước ta. Sau này, khi nước ta bị nhà Hán xâm chiếm, dân ta mới bắt đầu thu thập những yếu tố văn hoá Trung Hoa. Nước ta trước đó có tên là Nam Việt. Rồi từ Nam Việt đổi thành Giao Chỉ, sau đó đổi thành Giao Châu khi bị nội thuộc nhà Hán. Và chính trong thời đại nhà Hán, đạo Phật từ Ấn Độ được truyền sang Việt Nam, truyền trực tiếp chứ không phải truyền sang ngõ Trung Quốc.
    Thế kỷ III, Khương Tăng Hội được sinh ra ở Giao Châu lớn lên đi tu, học tiếng Phạn, học Phật tại Giao Châu, rồi thiết lập đạo tràng, huấn luyện đồ chúng và phiên dịch kinh điển cũng tại Giao Châu. Trung tâm hành đạo của Ngài có thể đã dược thiết lập ở chùa Diên Ứng (chùa Dâu hay chùa Pháp Vân) ở thủ phủ Luy Lâu, tức phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Tăng sĩ người Giao Châu cư trú đông đảo tại đây và tu tập hành đạo dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tăng Hội. Tại trung tâm này cũng có hai vị cư sĩ từ kinh đô Lạc Dương tỵ nạn chạy về, đó là Trần Tuệ và Bì Nghiệp. Cả hai đều là đệ tử tại gia của thiền sư An Thế Cao ở Lạc Dương.
    2. Thế nào là thiền học đại thừa được phát huy ở Việt Nam vào thế kỷ III?
    Thiền học là một từ rất bao quát, chỉ chung cho Thiền nguyên thỉ, Thiền đại thừa và Thiền tông. Ở đây muốn xác định rõ nên mới ghi là Thiền học đại thừa. Ở trên chúng tôi có giới thiệu về An Thế Cao với việc phiên dịch thiền kinh. Những kinh được Thế Cao dịch tại Lạc Dương đã được mang tới và lưu hành tại Giao Châu trong thời gian Khương Tăng Hội hành đạo tại đây. Trong đó gồm một số kinh thiền như kinh An Ban Thủ Ý và kinh Ấm Trì Nhập có tính cách nguyên thỉ. Chính Khương Tăng Hội đã giới thiệu kinh An Ban Thủ Ý theo tinh thần đại thừa và là người phát huy thiền học đại thừa đầu tiên ở Giao Châu (Việt Nam).
    Truyền thống của thiền sư Khương Tăng Hội thành lập đã trở nên một thiền phái vững mạnh, tồn tại mãi đến đời Lý và sau đó đến nhà Trần mới hoà nhập cùng các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường v.v… vào thiền phái Trúc Lâm. Sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi rằng người đại diện cho thiền phái Tăng Hội ở thế kỷ XII là thiền sư Lôi Hà Trạch.
    Ta biết Tăng Hội đã dịch Tiểu Phẩm Bát Nhã (tức Đạo Hành hay Bát Thiên Tụng Bát Nhã), kinh căn bản và xuất hiện sớm nhất của đại thừa. Trong kinh này các quan niệm về Không và Chân như của đại thừa đã được diễn tả một cách đầy đủ và chu đáo. Thiền học tại Việt Nam do đó đã khởi nguyên bằng thiền đại thừa, không phải là thiền nguyên thỉ như ở trung tâm Lạc Dương. Mở đầu bài tựa kinh An Ban Thủ Ý, ngài viết: “An Ban tức là đại thừa của chư Phật nhằm cứu vớt chúng sanh đang trôi nổi”. Chính vì ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý Không và Chân như của đại thừa mà Tăng Hội đã diễn tả về tâm như sau trong bài tựa Kinh An Ban Thủ Ý, “Tâm không hình sắc, không có âm thanh, không có trước sau; tâm thâm sâu vi tế không tóc tơ hình tướng, cho nên Phạm Thiên, Đế Thích và các tiên thánh khác cũng không thể thấy được; kẻ phàm tục không thể thấy được sự hoá sinh từ hình thức này sang hình thức khác của các chủng tử khi thì hiện rõ khi thì ẩn khuất trong tâm. Đó gọi là Ấm vậy”. Trong bài tựa của Kinh Pháp Cảnh, Tăng Hội cũng nói về Tâm như sau: “Tâm là kho tàng căn bản của các pháp” , như vậy Tăng Hội không những đã chịu ảnh hưởng của Bát Nhã mà còn chịu ảnh hưởng của Duy Thức nữa.
    Chính ngài cũng soạn Lục Độ Tập Kinh, một tác phẩm sưu khảo biên tập, trong đó có nhiều đoạn lược dịch từ nhiều kinh điển và có những đoạn hoàn toàn do Ngài viết, ví như đoạn nói về thiền. Ngài nói về 4 trình tự của thiền (tứ thiền) như phương pháp để chính tâm nhất ý, tập trung điều thiện duy trì trong tâm, ý thức những niệm dơ bẩn để mà khử diệt. Chính giáo lý lục độ là căn bản của giáo lý đại thừa.
    Ta biết rằng thiền đại thừa khác với thiền nguyên thỉ ở chỗ thiền đại thừa xem diệu tâm chân như là bản thể của giác ngộ. Khương Tăng Hội đã thực sự khơi mở cho thiền học đại thừa tại Giao Chỉ (Việt Nam) bằng cách nói tới tâm như là nguồn gốc và bản thể chân thật của vạn pháp.
    3. Thế nào là thiền học đại thừa được truyền ngược lại từ Việt Nam sang Trung Quốc?
    Trong Cao Tăng Truyện ghi rằng khi thiền sư Tăng Hội đến Kiến Nghiệp, tức kinh đô của nước Ngô thì chưa có một vị Tăng sĩ nào tới đó. Ngài đã xuất gia, học Phật, học tiếng Phạn và dịch kinh đều ở tại Giao Châu, rồi sau đó đi sang nước Đông Ngô truyền đạo. Đạo Phật ở Trung Hoa, nhất là ở miền Giang Tả, sở dĩ được thành lập một cách có hệ thống đó là nhờ có thiền sư Tăng Hội từ Giao Châu đi qua. Chúng ta nên nhớ sách Lục Diệu Pháp Môn do Đại sư Trí Khải trứ tác là vào đời Tuỳ (581-618), trong khi tư tưởng thiền học này (Lục Diệu Pháp Môn) đã được thiền sư Tăng Hội trình bày tại Giao Châu (Việt Nam) trước đó vào đời Tam Quốc (220-280), nghĩa là đi trước Trung Quốc gần 300 năm.
    4. Khương Tăng Hội giảng giải thiền học đại thừa ra sao? (Sự chuyển tiếp từ nguyên thủy sang Đại thừa)
    Sa môn Khương Tăng Hội, tổ tiên người nước Khương Cư (nay là một dãy từ Bắc chí Trung của Tân Cương), nhiều đời ở Thiên Trúc. Cha Ngài nhân việc đi buôn nên dời sang Giao Chỉ. Năm Ngài 10 tuổi, song thân đều mất, liền đi xuất gía, hiểu rõ Tam Tạng, học rộng biết nhiều, thêm giỏi văn học. Đời Đông Ngô, niên hiệu Xích Ô thứ 10 (247) Ngài đến Kiến Nghiệp, dựng lập am tranh, bài trí tôn tượng để hành đạo. Do Ngài nguyện được xá-lợi để dâng lên Tôn Quyền nên Tôn Quyền xây dựng chùa tháp cho Ngài. Vì trước đã chưa có chùa Phật nên gọi là Kiến Sơ Tự. Bởi Phật pháp ở miền Giang Tả (phía Tây của sông Dương Tử) rất hưng thịnh nên Ngài ở chùa Kiến Sơ để dịch kinh. Ta không thể nào biết được hết những tác phẩm dịch thuật và sáng tác của Khương Tăng Hội. Trong bản mục lục kinh điển của Đạo An có một số dịch phẩm không mang tên dịch giả, nhưng trong những bản mục lục đời sau đó thì người ta lại gán những dịch phẩm kia cho An Thế Cao. Có thể trong số đó có những dịch phẩm của Tăng Hội. Những tác phẩm mà ta biết được có liên hệ đến Tăng Hội như sau:
    - Lục Độ Tập Kinh, Tăng Hội biên tập.
    - Pháp Cảnh Kinh, An Huyền dịch, Tăng Hội chú sớ và đề tựa.
    - Đạo Thọ Kinh, Chi Khiêm dịch, Tăng Hội chú sớ và đề tựa.
    - Nê Hoàn Phạm Bối , Tăng Hội biên tập (không còn)
    - Lục Độ Yếu Mục, Tăng Hội biên tập (không còn)
    - Ngô Phẩm (Đạo Hành Bát Nhã), Tăng Hội dịch (không còn)
    - An Ban Thủ Ý Kinh, An Thế Cao dịch, Tăng Hội và Trần Tuệ chú sớ, Tăng Hội đề tựa.
    Những lời giảng giải về thiền giáo trong phần chú giải kinh An Ban Thủ Ý, được giới tu thiền đương thời xem là khuôn mẫu. Ở đây, xin chép lại một đoạn trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý của Khương Tăng Hội rút từ “Xuất Tam Tạng Ký Tập” quyển 6 để thấy rõ Khương Tăng Hội xem trọng phương pháp và lợi ích của việc tu thiền.
    An-ban là đại thừa của chư Phật nhằm cứu vớt chúng sanh trôi nổi. Nó có sáu việc: Sổ, tuỳ, chỉ, quán, hoàn, tịnh để trị sáu tình. Tình có trong có ngoài. Bên trong gồm: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm. Bên ngoài gồm: sắc, tiếng, hương, vị, xúc, tà niệm. … Trong khoảng búng tay, có 960 lần chuyển niệm. Một ngày một đêm tâm có thể trải qua 13 ức niệm ... Cho nên phải thực tập lắng lòng buộc ý vào hơi thở và đếm từ 1 đến 10 (SỔ TỨC). Trong thời gian 10 hơi thở ấy mà đếm chẳng lầm lộn là ý bắt đầu được định. Định nhỏ thì 3 ngày, định lớn thì 7 ngày. Trong thời gian ấy tâm vắng lặng không có niệm nào khác, lặng yên như chết gọi là Sơ thiền.
    Thiền nghĩa là loại trừ. Loại trừ cái tâm có 13 ức uế niệm để đạt tới 8 pháp: Sổ, định, chuyển, niệm, trước, tuỳ, xúc và trừ (đếm, tập trung, đổi, nhớ, gắn vào, theo, chạm và loại trừ). Tám pháp này đại khái chia làm hai phần: Tâm ý sở dĩ định được là nhờ theo dõi hơi thở (TUỲ TỨC), mà muốn theo dõi được hơi thở được dễ dàng thì nên đếm hơi thở . Trừ hết bụi nhơ thì tâm ý dần dần trong sạch, đó gọi là Nhị thiền.
    Lại bỏ phép theo dõi hơi thở đi, chú tâm nơi chóp mũi, đó gọi là CHỈ. Được hạnh chỉ rồi, các thứ cấu uế của ba độc, bốn đường (sanh, lão, bệnh, tử), năm ấm, sáu mờ (tức lục trần) đều bị tiêu diệt. Lúc bấy giờ, tâm sáng rực rỡ, hơn cả hạt châu minh nguyệt. Những niệm dâm tà làm nhơ tâm như gương dưới bùn, cáu bẩn bám dơ nên soi trời chiếu đất đều chẳng thấy. Đạt đến địa vị Thánh thì thông suốt, chiếu soi muôn cõi, dù lớn như đất trời cũng không hề thấy lớn. Sở dĩ như vậy là do cáu bẩn. Các thứ cáu bẩn làm nhơ tâm còn hơn bụi phủ che gương. Nếu có thầy hay chùi mài gột rửa bụi che khiến mỏng dần, gột đến mức không còn bụi; lúc đó đưa gương lên để soi, không tơ hào nào là không hiện rõ trên mặt kính. Cáu bẩn hết thì ánh sáng hiện ra, đó là chuyện tất nhiên. Trái lại, tình tràn đầy, ý tán loạn, thì trong số muôn niệm khởi lên mà ta không nhận biết được một niệm, giống như ở chợ mà nghe lao xao một lần bao nhiêu tiếng ồn ào rồi trở về ngồi yên mà cố nhớ lại thì không thể nhớ được một lời nào. Ấy cũng bởi tâm nhơ đục che lấp tánh thông sáng. Nếu từ chỗ vắng, tâm tư lặng lẽ không còn ham muốn tà vạy. Khi ấy nghiêng tai lắng nghe, muôn câu không mất, nửa lời nhớ rõ là do tâm lặng ý trong. Phép quán niệm hơi thở để dừng tâm trụ ở chóp mũi. Đó là Tam thiền.
    Xoay trở lại quán chiếu thân mình (QUÁN), từ đầu đến chân, xem kỹ tới lui các chất dơ trong người và thấy được rõ ràng các lỗ chân lông dày đặc trong toàn thân và các chất lỏng rỉ ra từ các lỗ chân lông ấy. Nhờ quán như thế, biết rõ từ trời đât con người, thịnh cũng như suy, và ta sẽ thấy tính cách không còn không mất của chúng. Lúc ấy niềm tin nơi Tam bảo trở nên vững chải, các thứ mê mờ đều trở nên trong sáng. Đó là Tứ thiền.
    Nhiếp tâm trở về chánh niệm, các thứ ngăn che đều tiêu diệt, đó gọi là HOÀN.
    Những thứ ham muốn nhơ bẩn thảy đều vắng bặt thì tâm không còn vọng tưởng, gọi đó là TỊNH.
    Hành giả đạt được phép An-ban, tâm họ liền sáng. Đem cái sáng ấy mà quán chiếu thì không có chỗ tối tăm nào mà không soi tới. Việc vô số kiếp đã qua và sắp tới, người vật đổi thay, hiện tại các cõi trong đó có đức Thế tôn giáo hoá, đệ tử tụng tập, dù xa tới đâu cũng thấy. Tất cả tiếng đều nghe. Người ấy đạt đến cái tự do lớn, không còn bị trói buộc bởi ý niệm còn mất. Thấy được cái vô cùng lớn như núi Tu-di trong cái vô cùng nhỏ như lỗ chân lông, chế ngự được trời đất, làm chủ được thọ mạng. Thần lực bây giờ trở nên dũng mãnh, có thể đánh bại cả thiên binh, chuyển động được thế giới tam thiên, xê dịch được muôn ngàn cõi nước, được tám thứ chẳng thể nghĩ bàn, trời chẳng thể lường, thần thông đức tướng vô hạn. Đó là nhờ sáu hạnh (Sổ tức, Tuỳ tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh).
    Thuở xưa Đức Thế Tôn muốn nói kinh này, vũ trụ chấn động, cõi trời người đổi sắc. Suốt trong ba ngày Phật trú trong An-ban, không ai tiếp xúc với Ngài. Khi ấy Đức Thế tôn hoá làm hai thân, một là Báo thân, một là Ứng thân để diễn bày chân nghĩa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    - Trung Quốc Thiền Tông Đại Toàn.
    - Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (Nguyễn Lang).
    - Phật Quang Đại Từ Điển

  7. #1007

    Mặc định thiền định và thiền quán

    Học viện Phật giáo

    NGỘ TÂM THÀNH PHẬT THIỀN
    悟 心 成 佛 禪
    Thích Thông Thiền
    Ngộ Tâm Thành Phật Thiền là loại Thiền chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo điển. Thiền này chủ trương chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật cho nên cũng có thể gọi là Kiến tánh thành Phật Thiền, hoặc Tức tâm là Phật Thiền.
    Quá trình lịch sử phát triển của Thiền, sơ khởi cũng là y kinh giáo mà tu, đến ngài Đạt-ma sang Đông độ, mới thành Thiền tông độc lập. Rồi đời sau mới chia ra làm tông làm giáo, thành Tông Môn Thiền của Đạt-ma.
    Từ Ngộ Tâm Thành Phật Thiền về sau, đều là Tông Môn Thiền, thấy rõ trong các bộ sách như: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, Truyền Pháp Chánh Tông Ký, Tông Thống Biên Niên, Chỉ Nguyệt Lục... Thiền Bồ-đề-đạt-ma này riêng có một hệ thống truyền thừa bắt đầu từ bảy đức Phật thời quá khứ, truyền đến Phật Thích-ca Mâu-ni cầm cành hoa đưa lên ở hội Linh Sơn, ngài Ca-diếp mỉm cười được Phật truyền tâm ấn làm Sơ Tổ. Ngài Ca-diếp truyền xuống cho ngài A-nan làm Nhị Tổ, cho đến Tổ thứ hai mươi tám là Đạt-ma làm Sơ Tổ ở Đông độ, đến Huệ Năng làm Lục Tổ.
    Phật Phật Tổ Tổ truyền thừa, mỗi vị đều có một bài kệ truyền pháp. Nhơn vì trọng khẩu truyền của Đạt-ma như thế mà chẳng y theo giáo điển cho nên gọi là Đạt-ma Tông Môn Thiền.
    I. SIÊU GIÁO ĐỐN NGỘ
    Tông Môn độc lập của Đốn Ngộ Thiền, tuy lấy Đạt-ma làm nguyên nhân chính, nhưng cũng do thời đó có rất nhiều tăng thượng duyên trợ thành. Đây là nói Trung Quốc đương thời đã có đầy đủ phong khí siêu giáo đốn ngộ. Căn cứ theo Cao Tăng Truyện đã ghi: Từ thời ngài La-thập và Phật-đà-bạt-đà-la đã có vấn đáp. Nhưng Thiền tông thì có truyền thuyết quan hệ đến vấn đáp giữa Phật-đà-bạt-đà-la và ngài Đạo Sanh.
    Như Bạt-đà hỏi Đạo Sanh:
    - Giảng niết-bàn như thế nào?
    Đạo Sanh đáp:
    - Lấy chẳng sanh chẳng diệt giảng.
    Bạt-đà nói:
    - Đây là kiến giải của thường nhân ở phương này!
    Đạo Sanh nói:
    - Còn kiến giải của thiền sư, thế nào là niết-bàn?
    Bạt-đà tay cầm cây như ý đưa lên, lại ném xuống đất. Đạo Sanh chẳng ngộ, Bạt-đà bèn phủi y mà đi. Đồ đệ của Đạo Sanh tìm đến hỏi Sư:
    - Thầy của chúng tôi giảng niết-bàn chẳng đúng sao?
    Bạt-đà đáp:
    - Thầy của các ông nói chỉ là ở trên cái quả của Phật. Nếu trong cái nhơn của niết-bàn, thì một vi trần không cho nên các vi trần không; các vi trần không cho nên một vi trần không, trong một vi trần không, không có các vi trần; trong các vi trần không, không có một vi trần.
    Về sau, pháp sư Huệ Viễn cũng nói: Cho đến chỗ cùng tột lấy bất biến làm tánh, thành Phật lấy thể ngộ làm tông, đây là nói thể ngộ đến chỗ cùng tột pháp tánh bất biến tức là thành Phật. Niết-bàn Vô Sanh Luận của ngài Tăng Triệu ghi: Chẳng thể dùng hình tướng danh tự mà đắc, chẳng thể dùng hữu tâm mà biết, cũng nói cứu cánh chỉ thú qui về siêu việt và dứt bặt ngôn giáo. Pháp sư Đạo Sanh đã từng có cái thuyết đốn ngộ thành Phật, ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng đương thời.
    Ngài Bảo Chí lúc đầu tu tập thiền quán, về sau có nhiều thần dị. Vua Lương Võ Đế rất tôn sùng ngài, ngài tự do ra vào trong cung. Một hôm, Võ Đế hỏi ngài:
    - Trẫm tuy tin Phật pháp, nhưng phiền não làm thế nào để đoạn?
    Bảo Chí đáp:
    - Mười hai (dùng thuốc 12 nhân duyên để trị hoặc nghiệp).
    Lại hỏi:
    - Làm thế nào để tĩnh tâm tu tập?
    Đáp:
    - An lạc cấm (dừng vọng tưởng thì được an lạc).
    Thiền tông đời sau, cho rằng những lời đáp ấy cùng với việc đưa cành hoa ở hội Linh Sơn cho đến việc đánh hét của một phái Thiền được truyền từ Tổ Đạt-ma xuống thông nhau. Ngài Bảo Chí đã trước tác Đại Thừa Tán, Thập Nhị Thời Tụng, Thập Tứ Khoa Tụng, gồm ba mươi sáu bài tụng. Như các câu Trọn ngày cầm hoa chọn lửa, chẳng biết thân là đạo tràng, và Đại đạo thường ở trước mắt... đều hiển bày ý Ngộ Tâm Thành Phật Thiền.
    Lịch sử gọi ngài Chí Công là Quán Âm ứng hóa, từng hiện tượng Quán Âm mười hai mặt, khiến cho ngài Tăng Do chẳng thể vẽ được, trong truyền thuyết Quán Âm là người ứng hoá. Vào đời Đường còn có ngài Tứ Châu Tăng-già, Thiền tông cũng có ghi chép đến sự vấn đáp của ngài.
    Đồng thời với ngài Bảo Chí, còn có một vị tên là Phó Hấp, thường được gọi là Phó Đại Sĩ, căn cứ theo Truyền Đăng Lục đã ghi, ngài ở đất Nghĩa Ô, hiện nay thuộc Chiết Giang, ngài tự nói đã đắc Thủ-lăng-nghiêm tam-muội, thường theo bảy Đức Phật, Thích-ca ở phía trước, Duy-ma ở phía sau. Lương Võ Đế từng thỉnh ngài về kinh đô giảng Kinh Kinh Cang, ngài lên tòa cầm cái phủ xích vỗ xuống bàn, rồi bước xuống tòa, khi đó thính chúng không ai hiểu được sự kỳ diệu của ngài. Chí Công nói với Võ Đế: Đại Sĩ này giảng kinh đã xong! Từ hành động thuyết pháp này của ngài mà xem, ngài tuy chẳng thuộc truyền thống của Đạt-ma, nhưng cùng một tác phong và thái độ của Tông Môn Thiền sau này. Như ngài có bài tụng:
    Dạ dạ bão Phật miên
    Triêu triêu hoàn cộng khởi
    Dục thức Phật xứ khứ
    Chỉ giá ngữ thanh thị.
    Dịch:
    Mỗi đêm ôm Phật ngủ
    Mỗi sáng cùng Phật thức
    Muốn biết chỗ Phật đi
    Chỉ là lời nói này.
    Loại văn tụng như thế, hãy còn rất nhiều, như nói:
    Không thủ bả sừ đầu
    Bộ hành kỵ thủy ngưu
    Nhơn tòng kiều thượng quá
    Kiều lưu thủy bất lưu!
    Dịch:
    Tay không cầm cái bừa
    Đi bộ mà cỡi trâu
    Người đi qua trên cầu
    Cầu chảy nước chẳng chảy!
    Những người theo sự hiểu biết thông thường giảng các lời này thì đều giảng chẳng thông, nhưng ở trong bài tụng của ngài có hàm chứa thâm ý vô hạn! Ngài tuyên bày cảnh giời tự chứng, chẳng thể ngôn ngữ suy nghĩ hư vọng phân biệt có thể hiểu nổi.
    Lại ngài có bài Tâm Vương Minh nói:
    Quán tâm không vương
    Huyền diệu nan trắc!
    (…)
    Thủy trung diêm vị
    Sắc lý giao thanh,
    Quyết định thị hữu
    Bất kiến kỳ hình!
    Lục môn xuất nhập
    Tùy vật ứng tình,
    Tự tại vô ngại
    Sở tác giai thành.
    Liễu bổn thức tâm
    Thức tâm tức Phật
    (…)
    Trừ thử tâm vương
    Cánh vô biệt Phật!
    Dịch:
    Quán tâm vua không
    Huyền diệu khó lường!
    (…)
    Vị mặn trong nước
    Trong sắc có màu,
    Quyết định là có
    Chẳng thấy hình kia.
    Sáu cửa ra vào
    Tùy vật ứng tình,
    Tự tại không ngại
    Việc làm đều thành.
    Rõ gốc, biết tâm
    Biết tâm là Phật,
    (…)
    Trừ tâm vương này
    Lại không Phật khác!
    Văn của bài minh này lại hiển nhiên nhiên là Ngộ Tâm Thành Phật Thiền. Tương truyền ngài là ứng hóa thân của bồ-tát Di-lặc. Còn có Di-lặc ứng hóa ở Trung Quốc, tức là hòa thượng Bố Đại, ở Phụng Hóa sau đời Lý Đường. Ngài cũng có rất nhiều thơ và kệ. Có bài kệ nói:
    Chỉ cá tâm tâm tâm thị Phật
    Thập phương thế giới tối linh vật
    Tung Hoành diệu dụng khả lân sanh
    Nhứt thiết bất như tâm chân thật.
    Dịch:
    Chỉ cái tâm này, tâm là Phật
    Là vật linh nhất trong mười phương
    Dọc ngang diệu dụng thật đáng thương
    Tất cả chẳng bằng tâm chân thật.
    Bài tụng này cũng cùng một ý với bài Tâm Vương Minh của Phó Đại sĩ.
    Ở trước khi giảng về Thật Tướng Thiền, đã giảng qua thiền sư Huệ Tư ở núi Nam Nhạc, thiền sư Huệ Tư cũng sống đồng thời với Bảo Chí (Chí Công). Khi ngài ẩn tu ở trong núi, Chí Công nói với ngài: “Sao chẳng xuống núi giáo hóa chúng sanh?” Huệ Tư đáp: “Ba đời chư Phật bị tôi nuốt một cái hết, còn có chúng sanh nào để giáo hóa ư?” Những lời nói này cũng thuộc loại thiền ngữ của tông môn.
    Lại có thỉ tổ tông Hoa Nghiêm là ngài Pháp Thuận (tức Đỗ Thuận), trong Thiền Lục ghi: Pháp Thuận trước tác Pháp Giới Quán, lời văn giản dị, ý nghĩa đầy đủ, thiên hạ đều chuộng tác phẩm của ngài.
    Lại nói ngài đã từng trước tác bài Pháp Thân Tụng, nói rằng:
    Thanh Châu ngưu ngật thảo
    Ích Châu mã phúc trướng
    Thiên hạ mích y nhơn
    Cứu trư tả chuyên thượng.
    Dịch:
    Trâu Thanh Châu ăn cỏ
    Ngựa Ích Châu no bụng
    Thiên hạ tìm thầy thuốc
    Châm cứu trên đùi heo.
    Theo truyền thuyết ngài Đỗ Thuận là hóa thân của Văn-thù. Nói về hóa thân của Văn-thù, còn có Hàn Sơn và Thập Đắc, cùng ẩn cư trong núi Thiên Thai. Thơ của các ngài rất nổi tiếng, lời cạn mà ý sâu, cho nên ở trên thi đàn, ngài là bậc thầy của Bạch Lạc Thiên. Ngoài Hàn Sơn ra, về sau còn có trưởng giả Lý Thông Huyền trứ tác Hoa Nghiêm Hiệp Luận, từ các pháp tánh không mà thuyết minh Hoa Nghiêm, theo truyền thuyết nói: “Đỗ Thuận và Hàn Sơn đều là hóa thân của ngài Văn-thù”.
    Những việc này ở trên, đều là tăng thượng duyên mở đầu cho Tông Môn Thiền của Tổ Đạt-ma hưng khởi. Hoặc y theo giáo nghĩa của kinh luận đề xuất huyền chỉ ách yếu đơn giản, hoặc đưa ra phong cách riêng chẳng y theo nghĩa của kinh luật luận cho đến phi ngôn ngữ văn tự có thể đến được, cho nên gọi chung đây là Siêu Giáo Đốn Ngộ Thiền.
    II. THIỀN PHÁP ĐẠT-MA
    Về Tổ Đạt-ma trong Cao Tăng Truyện và Truyền Đăng Lục ghi chép chẳng đồng. Trong Cao Tăng Truyện ghi: “Khi Đạt-ma đến Trung Quốc vào thời Lưu Tống, hơi sau ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch bốn quyển kinh Lăng-già. Ngài đến Bắc Ngụy, ở Tung Sơn chuyên dùng thiền pháp để dạy người, nhơn đây thầm khởi lên sự hủy báng của những nhà hoằng truyền kinh luật”.
    Chỉ có hai sa môn trẻ tuổi là Đạo Dục và Huệ Khả, ý chí sắc bén cao xa tinh tấn cầu học, hầu hạ 4, 5 năm, Đạt-ma cảm thương sự tinh thành của các ngài, chỉ dạy hai môn lý nhập và hạnh nhập. Môn lý nhập, tức là nói chơn tánh không có tự tha, không có phàm thánh sai khác, ngồi xoay mặt vào vách để quán tâm, vững chắc không dời, chẳng theo giáo lý nào khác, cùng đạo thầm phù hợp, lặng lẽ vô vi, ấy gọi là lý nhập. Môn hạnh nhập có bốn thứ:
    1. Báo oán hạnh nghĩa là khi tu đạo gặp lúc khốn khổ, nên nghĩ đây là nghiệp báo, là nghiệp nhơn đời trước ta đã tạo, hiện tại phải nên an tâm nhận chịu, chẳng sanh tâm oán ghét.
    2. Tùy duyên hạnh nghĩa là gặp cảnh thuận cũng không tham trước, duyên hết trở về không, đâu có gì đáng vui? Nhơn đây mà được mất tùy duyên, tâm không có tăng giảm.
    3. Vô sở cầu hạnh nghĩa là đối với tất cả thế gian đều không có mong cầu, bởi vì ba cõi đều là khổ.
    4. Xứng pháp hạnh nghĩa là xứng với pháp tánh mà tu hành.
    Bốn thứ hạnh nhập này bao gồm hết muôn hạnh, cũng không chướng ngại với lý nhập. Đây căn cứ theo Cao Tăng Truyện mà nói, và Tổ Đạt-ma truyền trao cho ngài Huệ Khả bốn quyển kinh Lăng-già dùng để ấn tâm vậy.
    Nhưng Truyền Đăng Lục thì nói ngài đến Trung Quốc vào niên hiệu Phổ Thông đời nhà Lương, lúc đầu ngài đến Quảng Châu, quan thứ sử dâng biểu tâu với Võ Đế, Võ Đế nghinh đón ngài đến Kim Lăng. Võ Đế hỏi:
    - Trẫm từ khi làm vua cho đến nay, tạo chùa chép kinh, độ tăng chẳng thể tính kể, có công đức gì chăng?
    Đạt-ma đáp:
    - Đều không có công đức.
    Đế hỏi:
    - Vì sao không có công đức?
    Đáp:
    - Đây chỉ là nhơn hữu lậu của quả nhỏ ở cõi trời người, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.
    Lại hỏi:
    - Thế nào là công đức chân thật?
    Đáp:
    - Trí thanh tịnh tròn sáng nhiệm mầu, thể tự vắng lặng, công đức như thế chẳng thể dùng phước thế gian để cầu.
    Đế liền hỏi:
    - Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?
    Đáp:
    - Rỗng rang không thánh.
    Hỏi:
    - Đối diện với trẫm là ai?
    Đáp:
    - Không biết!
    Võ Đế hỏi đã cao, mà Đạt-ma đáp chẳng thể khế hợp, vì cơ duyên chẳng hợp, nên Đạt-ma lén qua sông đi lên phương bắc.
    Chí Công nói với Võ Đế:
    - Đạt-ma là hóa thân của bồ-tát Quan Âm.
    Đế định sai người đi tìm về, Chí Công nói:
    - Dù có sai người trong cả nước đi tìm, ngài cũng chẳng trở về!
    Đạt-ma lên phía bắc đến chùa Thiếu Lâm ở Tung sơn, ngài xoay mặt vào vách, trọn ngày ngồi lặng yên. Khi đó, có Thần Quang là một chàng trung niên học rộng nghe nhiều, nghe danh Đạt-ma nên đến chùa Thiếu Lâm để gần gũi. Thần Quang đến Thiếu Lâm, thấy Đạt-ma sớm chiều ngồi ngay thẳng, mặt xoay vào vách, lặng yên không nói năng. Thần Quang suy nghĩ thế này: “Người xưa cầu pháp đập xương lấy tủy, trích máu cho người đói, trải tóc xuống bùn, gieo mình cho cọp ăn, ta nay là người gì?”. Như thế trong một đêm tuyết rơi lả tả, ngài đứng thẳng ở bên cạnh Đạt-ma, tuyết lên đến quá đầu gối. Khi ấy, Đạt-ma xót thương, mới hỏi:
    - Ông đứng lâu ở trong tuyết, muốn cầu việc gì?
    Thần Quang buồn đau khóc lóc thưa:
    - Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam-lồ, rộng độ các chúng sanh!
    Đạt-ma bảo:
    - Vô thượng diệu đạo của chư Phật, nhiều kiếp tinh tấn, việc khó làm mà hay làm, việc khó nhẫn mà hay nhẫn, dùng tiểu đức, tiểu trí, tâm khinh khi, tâm kiêu mạn mà muốn mong được chân thừa ư?
    Thần Quang nghe xong, liền lén cầm dao chặt đứt cánh tay dâng lên Đạt-ma. Đạt-ma biết ngài là pháp khí, nên đổi tên lại là Huệ Khả.
    Huệ Khả thưa:
    - Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
    Đáp:
    - Pháp ấn của chư Phật chẳng phải từ người khác mà được.
    Huệ Khả thưa:
    - Tâm con chưa an, xin thầy an cho.
    Đạt-ma bảo:
    - Đem tâm đến ta an cho!
    Huệ Khả tìm tâm chẳng thể được, bèn thưa:
    - Con tìm tâm chẳng thể được!
    Đạt-ma bảo:
    - Ta đã an tâm cho ngươi rồi!
    Sở dĩ Thần Quang được đổi tên là Huệ Khả, là do trí huệ đốn ngộ của ngài mà được Tổ ấn khả vậy.
    Về sau Đạt-ma muốn trở về Ấn Độ, ngài tập họp các môn nhơn lại và bảo:
    - Thời giờ đã đến, các ông mỗi người sao chẳng tự nói chỗ sở đắc của mình?
    Khi đó, có vị tên là Đạo Phó bước ra thưa:
    - Như chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, mà là đạo dụng.
    Đạt-ma nói:
    - Ông chỉ được phần da của ta.
    Một sư cô tên là Tổng Trì thưa:
    - Nay chỗ hiểu của con, như ngài A-nan thấy cõi Phật A-súc, chỉ thấy một lần, chẳng còn thấy nữa.
    Đạt-ma nói:
    - Cô được phần thịt của ta.
    Đạo Dục thưa:
    - Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải có, theo chỗ thấy của con, không một pháp có thể nắm bắt.
    Đạt-ma nói:
    - Ông được phần xương của ta.
    Cuối cùng Huệ Khả lễ bái Đạt-ma, rồi đứng khoanh tay.
    Đạt-ma nói:
    - Ông được phần tủy của ta.
    Nhơn đây tổ đem y, bát và bốn quyển kinh Lăng-già truyền trao lại cho ngài Huệ Khả, nói kệ:
    Ngô bổn lai tư độ
    Truyền pháp độ mê tình
    Nhứt hoa khai ngũ diệp
    Kết quả tự nhiên thành.
    Dịch:

    Ta vốn đến đất này
    Truyền pháp độ kẻ mê
    Một hoa trổ năm cánh
    Kết quả tự nhiên thành.
    Ngài còn nói: Bên trong thì truyền pháp ẩn, để khế chứng tâm, bên ngoài thì trao ca-sa để định tông chỉ… Hai trăm năm sau, y dừng lại chẳng truyền.
    Từ đây về sau, ở Trung Quốc có Tông Môn Thiền chẳng lập văn tự.
    Sau khi Đạt-ma thị tịch, làm lễ an táng ở núi Hùng Nhĩ. Ba năm sau, Tống Vân nhà Ngụy phụng sự đi đến Tây Vực, trên đường trở về gặp Đạt-ma ở núi Thông Lãnh, thấy trên tay Đạt-ma cầm một chiếc giày. Tống Vân hỏi ngài đi đâu, ngài bảo đi về Tây Thiên (Ấn Độ). Tống Vân trở về đến nước Ngụy, đem việc này trình thưa với Hoàng Đế, Đế liền sai người đi mở tháp của Đạt-ma ra xem, mở cửa tháp ra chỉ thấy để lại một chiếc giày, mọi người đều lấy làm kinh ngạc. Câu chuyện Một chiếc giày đi về Ấn Độ này là một công án muôn đời.
    Từ ở trên đã thấy, Cao Tăng Truyện và Truyền Đăng Lục ghi chép việc của Đạt-ma chẳng đồng, đây hoặc là nhơn vì tuổi thọ của Đạt-ma rất cao, ở Trung Quốc rất lâu, Cao Tăng Truyện chỉ ghi chép giai đoạn đầu khi Đạt-ma mới đến Trung Quốc, hoặc là một số người biết rõ việc của ngài; Truyền Đăng Lục ghi chép một đoạn sau, hoặc là do chính miệng của ngài Huệ Khả kể lại.
    Đạt-ma là Tổ khai sáng Thiền tông đầu tiên, Huệ Khả là Tổ thứ hai. Căn cứ theo Cao Tăng Truyện nói, ngài Huệ Khả hầu hạ phụng sự Tổ Đạt-ma có hơn sáu năm. Sau khi nhận y bát, vào niên hiệu Thiên Bình năm thứ hai (536) của nhà Bắc Tề, ngài đến Nghiệp Đô hoằng dương thiền pháp; nhơn đây là một nhóm pháp sư kẹt vào văn tự, tật đố ngài, chướng ngại ngài, bài xích ngài, thậm chí phái người thích khách giết hại ngài. Căn cứ vào thuyết cánh tay của ngài bị chặt đứt, hoặc nói là bị bọn thiên chấp văn tự chặt. Truyền Đăng Lục nói, ngài về sau đến ở trước cửa chùa Khuông Cứu thuộc huyện Quản Thành nói đạo Vô Thượng, rất nhiều người vây quanh ngài để nghe. Khi ấy, có pháp sư Biện Hòa giảng kinh Niết-bàn ở trong chùa, do vì đồ chúng của Biện Hòa theo Huệ Khả để tham thiền, khởi lên hủy báng. Một vị quan tri huyện tên là Địch Trọng Khản, nghe lời gièm pha của Biện Hòa, cho rằng ngài làm việc phi pháp, bắt ngài gia hình, Huệ Khả gặp nạn. Khi ấy ngài đã được một trăm lẻ bảy tuổi.
    Trong Cao Tăng Truyện nói, có một vị cư sĩ tên Hướng, thích ở ẩn nơi rừng vắng, đạm bạc tự tu hành, có lần gửi đến Huệ Khả một bức thư ý nói: Người trừ phiền não để cầu niết-bàn, dụ như bỏ hình mà tìm bóng; lìa chúng sanh mà cầu quả Phật, dụ như im tiếng mà tìm âm vang.
    Huệ Khả đáp lại bằng bài kệ:
    Thuyết thử chân pháp giai như thật
    Dữ chân u lý cánh bất thù
    Bổn mê ma ni vị ngõa lịch
    Hoát nhiên tự giác thị chơn châu.
    Dịch:
    Nói chân pháp này đều như thật
    Cùng lý sâu mầu có khác gì
    Vốn mê ma ni là ngói gạch.
    Bỗng nhiên giác ngộ biết chơn châu.
    Lại có ông họ Hóa, Liêu Công, thiền sư Hòa, thiền sư Na, Huệ Mãn… đều từng trực tiếp hoặc gián tiếp nhận sự truyền trao của Huệ Khả, nhưng không phải đệ tử chân chánh nối pháp, cho nên nói: “cuối cùng không có người nối dõi”.
    Nhưng nếu căn cứ theo thuyết của Truyền Đăng Lục thì lại chẳng đồng. Truyền Đăng Lục ghi: Sau khi Huệ Khả đắc pháp, đến ở Bắc Tề vào năm Thiên Bình thứ hai (536), có một ông cư sĩ (hoặc chính là cư sĩ Hướng, trong Cao Tăng Truyện đã nói) tuổi hơn bốn mươi, một hôm đến gặp Huệ Khả, thưa rằng:
    - Đệ tử thân bị mắc bệnh phong cùi, thỉnh Hòa thượng sám tội dùm!
    Huệ Khả vận dụng tác phong của Đạt-ma đáp lại với ông ta:
    - Đem tội đến đây, ta sám cho!
    Vị cư sĩ ấy lặng yên đến nửa ngày mới thưa:
    - Con tìm tội chẳng thể được!
    Huệ Khả nói:
    - Ta đã sám tội cho ngươi rồi đó! Hãy nương theo Phật Pháp Tăng mà trụ.
    Cư sĩ thưa:
    - Nay thấy hòa thượng, con đã biết là Tăng rồi, nhưng con chưa biết thế nào là Phật và Pháp?
    Huệ Khả bảo:
    - Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Pháp và Phật không hai, Tăng bảo cũng như thế!
    Khi ấy, vị cư sĩ vô danh này nghe Huệ Khả nói xong, có chỗ lãnh hội, nói:
    - Ngày nay mới biết tội tánh chẳng phải ở trong chẳng phải ở ngoài, chẳng phải ở chặng giữa. Tâm kia cũng vậy, Phật và Pháp không hai.
    Thực tại này cũng là chỉ thú ngộ tâm thành Phật của Đạt-ma. Do đó, Huệ Khả nghe xong, cũng rất cao hứng cho ông ta xuất gia, mà còn khen ngợi thế này: “Ông là vật báu của ta vậy, nên gọi là Tăng Xán! Hai năm sau, Huệ Khả truyền pháp lại cho Tăng Xán, bài kệ truyền pháp như sau:
    Bổn lai duyên hữu địa
    Nhơn địa chủng hoa sanh
    Bổn lai vô hữu chủng
    Hoa diệc bất tằng sanh.
    Dịch:

    Xưa nay nhơn có đất
    Nhơn đất giống hoa sanh
    Xưa nay không có giống
    Hoa cũng chẳng từng sanh.
    Nếu theo lý giải bình thường để giảng, thì đây cũng chẳng ra ngoài đạo lý duyên khởi tánh không, nhưng đây chẳng phải là một thứ lý giải, mà là một thứ khế ngộ! Huệ Khả sau khi truyền pháp, dặn dò Tăng Xán ở ẩn trong núi sâu, và nói rằng chẳng bao lâu ta sẽ có pháp mạn, tự thân phải bị hại để trả cái nợ trước.
    Do Huệ Khả bị hại, có thể biết Huệ Khả hiển nhiên là người chẳng y kinh giáo mà nỗ lực hoằng truyền thiền pháp biệt truyền. Chính nhơn vì ngài hoằng truyền thiền chẳng y kinh giáo, do đó, các nhà giảng kinh từ luật ở nhiều nơi sanh tật đố và gây chướng nạn cho ngài. Về sau Tông và Giáo đối lập với nhau, cũng có thể nói là chịu ảnh hưởng của ngài.
    III. TỪ TĂNG XÁN ĐẾN HOẰNG NHẪN
    1. Tam Tổ với Tín Tâm Minh:
    Căn cứ theo thuyết của Truyền Đăng Lục ghi: Sau khi Huệ Khả đắc pháp, đến ở Bắc Tề vào năm Thiên Bình thứ hai (536), có một ông cư sĩ (hoặc chính là cư sĩ Hướng, trong Cao Tăng Truyện đã nói) tuổi hơn bốn mươi, một hôm đến gặp Huệ Khả, thưa rằng:
    - Đệ tử thân bị mắc bệnh phong, thỉnh Hòa thượng sám tội dùm!
    Huệ Khả vận dụng tác phong của Đạt-ma đáp lại với ông ta:
    - Đem tội đến đây, ta sám cho!
    Vị cư sĩ ấy lặng yên đến nửa ngày mới thưa:
    - Con tìm tội chẳng thể được!
    Huệ Khả nói:
    - Ta đã sám tội cho ngươi rồi đó! Hãy nương theo Phật Pháp Tăng mà trụ.
    Cư sĩ thưa:
    - Nay thấy hòa thượng, con đã biết là Tăng rồi, nhưng con chưa biết thế nào là Phật và Pháp?
    Huệ Khả bảo:
    - Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Pháp và Phật không hai, Tăng bảo cũng như thế!
    Khi ấy, vị cư sĩ vô danh này nghe Huệ Khả nói xong, có chỗ lãnh hội, nói:
    - Ngày nay mới biết tội tánh chẳng phải ở trong chẳng phải ở ngoài, chẳng phải ở chặng giữa. Tâm kia cũng vậy, Phật và Pháp không hai.
    Thực tại này cũng là chỉ thú ngộ tâm thành Phật của Đạt-ma. Do đó, Huệ Khả nghe xong, cũng rất cao hứng cho ông ta xuất gia, mà còn khen ngợi thế này: “Ông là vật báu của ta vậy, nên gọi là Tăng Xán! Hai năm sau, Huệ Khả truyền pháp lại cho Tăng Xán, bài kệ truyền pháp như sau:
    Bổn lai duyên hữu địa
    Nhơn địa chủng hoa sanh
    Bổn lai vô hữu chủng
    Hoa diệc bất tằng sanh.
    Dịch:
    Xưa nay nhơn có đất
    Nhơn đất giống hoa sanh
    Xưa nay không có giống
    Hoa cũng chẳng từng sanh.
    Tăng Xán để lại văn hiến trọng yếu của tông môn, đó là bài Tín Tâm Minh, Thiên “Tín Tâm Minh”, mỗi câu bốn chữ, bắt đầu là lời văn nhắc nhở:
    Chí đạo vô nan
    Duy hiềm giản trạch
    Đản mạc tắng ái
    Đỗng nhiên minh bạch!
    Hào ly hữu sai
    Thiên địa huyền cách
    Dục đắc hiện tiền
    Mạc tồn thuận nghịch!
    (…)
    Lục trần bất ố
    Hoàn đồng chánh giác.
    Dịch:
    Chí đạo chẳng khó
    Cốt đừng lựa chọn
    Chỉ không yêu ghét
    Rỗng suốt minh bạch
    Sai lạc đường tơ
    Trời đất xa cách
    Muốn được hiện tiền
    Chớ có thuận nghịch!
    (…)
    Sáu trần chẳng ghét
    Đồng về chánh giác.
    Cuối cùng có câu:
    Tín tâm bất nhị
    Bất nhị tín tâm
    Ngôn ngữ đạo đoạn
    Phi cổ lai kim.
    Dịch:
    Tín tâm không hai
    Không hai tín tâm
    Đường ngôn ngữ dứt
    Chẳng xưa và nay.
    Toàn văn gồm 146 câu, 584 chữ, làm theo thể thơ tứ ngôn. Nội dung ca tụng cảnh giới Tín tâm bất nhị, Bất nhị tín tâm, nhấn mạnh chỗ xa lìa tất cả vọng niệm đối lập sai biệt, phải trái được mất, chính là chỗ bình đẳng tự tại. Tác giả đề xướng tư tưởng Hoa Nghiêm Nhất tức nhất thiết, tương hỗ dung thông. Thiên này cùng với Tâm Vương Minh của Phó Đại sĩ, Tâm Minh của Pháp Dung, Tổ tông Ngưu Đầu, đại ý gần giống nhau. Đây cũng là trình bày đầy đủ rõ ràng thiền ý của ngộ tâm.
    Thiên sách này có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành tư tưởng Thiền tông vào thời kỳ đầu. Sách chú thích về thiên này có:
    -Tín Tâm Minh Niêm Cổ của Thanh Liễu.
    -Tín Tâm Minh Nghĩa Giải của Minh Bản.
    2. Tư tưởng thiền học của Tứ tổ:
    Từ Tăng Xán đến Hoằng Nhẫn, khoảng giữa còn có Tứ Tổ Đạo Tín. Tăng Xán sau khi đắc pháp nơi Nhị Tổ, bèn ở ẩn trong núi Hoàn Công. Đến đời Tùy niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 12 (592), có một chú sa-di tên là Đạo Tín (mười bốn tuổi) đến cầu ngài ban bố cho pháp môn giải thoát, ngài hỏi chú sa-di:
    - Ai trói buộc ngươi?
    Sa-di thưa:
    - Không có ai trói buộc!
    Ngay lúc ấy ngài như lay tỉnh ông sa-di kia, nên nói:
    - Vì sao lại cầu giải thoát?
    Đạo Tín nghe lời ấy rồi, liền ngay nơi lời nói đại ngộ. Theo hầu Tam Tổ, hầu hạ cực nhọc chín năm, mới được truyền y bát. Bài kệ truyền pháp như sau:
    Hoa chủng tuy nhơn địa
    Tùng địa chủng hoa sanh
    Nhược vô nhơn hạ chủng
    Hoa địa tận vô sanh.
    Dịch:
    Giống hoa tuy nhơn đất
    Từ đất giống hoa sanh
    Nếu không người gieo giống
    Hoa, đất trọn không sanh.
    Tăng Xán đem y bát truyền trao lại cho Đạo Tín, rồi ngài đi đến núi La Phù ở ẩn. Về sau ngài vẫn trở lại núi Hoàn Công mà thị tịch, tức nay gọi là núi Tam Tổ vậy. Đạo Tín từng trải qua sáu mươi năm hông không dính chiếu, có thể thấy sự tinh tấn của ngài. Ngài ở núi Phá Đầu.
    Đời nhà Đường niên hiệu Trinh Quán (627-649), vua Thái Tông bởi ngưỡng mộ đức phong của Tổ Đạo Tín, do đó ba phen thỉnh ngài về kinh. Ngài bèn lấy cớ bệnh cáo từ, trọn chẳng chịu đi. Lần thứ tư, Thái Tông bèn sai sứ giả mang chiếu đến nói: “Nếu ngài chẳng chịu đi, thì sẽ lấy thủ cấp đem về!”. Sứ giả đến núi đem chiếu này đọc lại cho ngài nghe, nghe xong ngài không chút sợ hãi đưa đầu cho sứ giả chặt. Ngài làm như thế, trái lại khiến sứ giả kinh hoảng lui về. Thái Tông nghe phong cách cao thượng này của ngài, chẳng những cho ngài ở trong núi, mà còn thêm hâm mộ.
    Niên hiệu Vĩnh Huy (650-655) đời Cao Tông, Đạo Tín thị tịch ở trong núi Phá Đầu. Tuy nhập tháp đã lâu, nhưng nhiều năm sau tháp tự mở cửa ra, dung mạo của ngài nghiêm trang như lúc còn sống. Tứ Tổ, Ngũ Tổ đều để lại nhục thân. Nhục thân của Ngũ Tổ, niên hiệu ở Dân Quốc năm thứ 12 (1923), đại sư Thái Hư đã từng một phen đi chiêm bái, đến năm thứ 15 (1926) vào mùa đông mới bị thiêu hủy. Nghe nói nhục thân của Tứ Tổ vẫn còn.
    Tư tưởng thiền học của Tứ tổ có thể đúc kết trong đoạn sau đây: “Luận về trăm ngàn pháp môn đều trở về tự tánh, hà sa diệu đức gồm tại nguồn tâm. Tất cả giới môn, định môn, huệ môn, thần thông biến hóa thảy tự đầy đủ, chẳng lìa bản tâm.”
    3. Thiền pháp của phái Ngưu Đầu:
    Vào thời của Tứ Tổ Đạo Tín lại xuất hiện một hệ phái Ngưu Đầu Pháp Dung, trong bài Quốc Châu Hạc Lâm Tự Cố Kính Sơn Đại Sư Bi Minh của Lý Hoa cho rằng Pháp Dung được “Trí huệ tự nhiên do đại sư Đạo Tín ấn chứng”; trong bài Ngưu Đầu Sơn Đệ Nhất Tổ Dung Đại Sư Tân Tháp Ký của Lưu Vũ Tích xác nhận tông Ngưu Đầu của Pháp Dung đối lập với tông Đông Sơn của Hoằng Nhẫn. Trong quyển Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ cho rằng ngài Pháp Dung lập ra một tông phái ở núi Ngưu Đầu, tông này chẳng liên quan gì đến hai tông Nam Bắc trên. Theo sự ghi chép của các văn hào và đại sư Thiền Tông đời Đường, có thể thấy thiền học của tông Ngưu Đầu chiếm một địa vị quan trọng thời bấy giờ. Điểm đặc sắc của tông Ngưu Đầu: Một là dung hợp tư tưởng của Đạo gia vào trong thiền học; hai là giàu sắc thái địa phương ảnh hưởng đến các đệ tử của Huệ Năng sau này như Mã Tổ. Pháp sư Ấn Thuận xác nhận ngài Pháp Dung là hậu duệ của Đạt-ma, là có rất nhiều nguyên nhân.
    Tuyệt Quán Luận của sư chính là lập không hư làm gốc đạo, lấy chỗ quên đi vọng tình dẹp đi bản ngã làm chỗ tu hành, vô tâm dụng công làm phương tiện. Thiền Ngưu Đầu nói rõ các pháp như giấc mộng, tâm dừng không khởi, xưa nay vô sự là ngộ, quên tình là tu. Loại ý cảnh này là xuất phát từ Trang Tử và giàu sắc thái Phật giáo Nam phương. Sau khi Pháp Dung lãnh ngộ thiền pháp, liền ở ẩn trong thất đá phía bắc chùa U Thê tại núi Ngưu Đầu, tương truyền có trăm chim ngậm hoa đến dâng cúng. Trong niên hiệu Trinh Quán đời Đường Thái Tông, Tứ Tổ Đạo Tín đi đến núi Ngưu Đầu để giáo hóa. Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 2 có ghi lại sự việc này như sau:
    Tứ Tổ một hôm đến núi Ngưu Đầu khám nghiệm thiền sư Pháp Dung, khi Tứ Tổ đến núi Ngưu Đầu, thấy có rất nhiều cọp, sói. Chim chóc ở đây vây quanh thiền sư Pháp Dung, sư cố ý đưa tay làm ra vẻ sợ hãi. Thiền sư Pháp Dung thấy thế liền nói:
    - Ngài vẫn còn cái đó nữa sao!
    Đợi một lát, thiền sư Pháp Dung dẫn Tứ Tổ đi vào trong thất, Tứ Tổ bèn viết một chữ “Phật” lên trên tảng đá của thiền sư Pháp Dung thường ngồi. Thiền sư Pháp Dung đi ra định ngồi lên tảng đá, thấy chữ “Phật” ở trên chỗ ngồi, khi đó đột nhiên rụt lùi sợ hãi (đây là sợ hãi thật), Tứ Tổ liền nói:
    - Đại đức cũng còn cái đó nữa sao?
    Do một câu nói này, thiền sư Pháp Dung liền buông hết những sự tu học hằng ngày của mình, nhận được pháp yếu của Tứ Tổ, riêng mở một chi nhánh ở núi Ngưu Đầu, một mạch truyền trao đến sáu đời, có hơn tám mươi người.
    4. Hoằng Nhẫn với Thiền pháp Đông Sơn:
    Trong núi có một ông già trồng tùng, muốn theo Đạo Tín xuất gia, ngài nói: “Ông hiện giờ đã già, xuất gia cũng không có lợi ích, nếu quyết định muốn xuất gia, ta có thể đợi ông tái sinh trở lại”.
    Sau nhiều năm, có một hôm ngài đi đến huyện Huỳnh Mai, trên đường gặp một đứa bé, ngài hỏi đứa bé:
    - Họ (tánh) gì?
    Đứa bé đáp:
    - Họ (tánh) thì có mà chẳng phải họ (tánh) thường!
    Ngài lại hỏi:
    - Họ (tánh) gì?
    Đứa bé đáp:
    - Là họ (tánh) Phật!
    Lại hỏi:
    - Ngươi không có họ (tánh) à?
    Đứa bé đáp:
    - Vì tánh không!
    Khi ấy, ngài liền biết đứa bé này là ông già trước kia tái sanh trở lại, ngài cho theo xuất gia.
    Nguyên lai ông già kia nhơn sự kích phát của ngài, lúc sắp chết đi đến bên một bờ sông, gặp một người con gái đang giặt quần áo xin “nghỉ nhờ”. Cô gái này lại chẳng biết dụng ý của ngài, đáp rằng: “Phải hỏi cha mẹ tôi!”
    Ông già nói: “Cô đáp lại một lời thì có thể được”. Cô gái hồ đồ nhận lời, khi ấy ông già liền đầu thai vào cô gái này. Cô gái bụng đã mang thai, bị cha mẹ phát giác, cho rằng làm ô nhục gia phong, liền đuổi cô ra khỏi nhà. Về sau cô gái này đến ở bên đường để xin ăn, và sinh ra được đứa bé. Đây là đứa bé mà Đạo Tín hiện giờ đã gặp. Nhơn vì nó không có cha, do đó nó nói là không có họ gì. Đạo Tín đã biết lai lịch của đứa bé này, khi ấy ngài hỏi mẹ nó và xin cho nó xuất gia. Mẹ nó nhơn vì cảm thấy việc đi xin ăn bất tiện, do đó sẵn sàng cho nó xuất gia.
    Đạo Tín xin được đứa bé, đợi cho đến lúc trưởng thành, đem y bát truyền lại cho nó và nói bài kệ truyền pháp như sau:
    Hoa chủng hữu sanh tánh
    Nhơn địa hoa sanh sanh
    Đại duyên dữ tánh hiệp
    Đương sanh sanh bất sanh.
    Dịch:
    Giống hoa có tánh sống
    Nhơn đất hoa nẩy mầm
    Duyên lớn cùng tính hiệp
    Chính sanh, sanh chẳng sanh.
    Đứa bé đó chính là Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn được thầy truyền thừa làm Ngũ Tổ. Về sau, ngài ở Đông Sơn huyện Huỳnh Mai tức là núi Ngũ Tổ, thành lập thiền phong Đông Sơn, người thường đến nghe pháp có đến mấy trăm. Nhơn vì khi đó phần nhiều ngưỡng mộ ngài là chánh thống truyền thừa của Đạt-ma nên họ đến cầu pháp.
    Ngũ Tổ có sáng tác quyển “TỐI THƯỢNG THỪA LUẬN” chỉ dạy người ngộ chơn tâm, sống với chơn tâm. Đây chính là nội dung của thiền pháp Đông sơn. Ngài dạy: Thí như thế gian tám hướng mây mù đều dậy, khắp nơi đều tối tăm. Mặt trời đâu có tan hoại, tại sao không có ánh sáng? Anh sáng nguyên không hoại, vì bị mây mù che. Tâm thanh tịnh của tất cả chúng sanh cũng như thế. Chỉ vì bị mây đen vin theo vọng niệm phiền não và các kiến chấp che đậy. Nếu hay giữ tâm vắng lặng, vọng niệm không sanh thì pháp Niết-bàn tự nhiên hiển hiện. Cho nên biết, tâm mình xưa nay thanh tịnh.
    IV.THẦY TRÒ HUỆ NĂNG
    1. Lịch sử:
    Sau Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, ngài Thần Tú hoằng truyền Thiền ở phương Bắc rất được Cao Tông, Trung Tông và Võ Hậu sùng kính phụng thờ. Ngài Huệ Năng thì hoằng truyền Thiền ở Tào Khê thuộc Quảng Đông, cho nên đối với ngài Thần Tú Bắc tông mà gọi là Nam tông. Về sau chỗ gọi là Tông môn, thật ra đến thời ngài Huệ Năng tông môn mới được nổi bật. Nhơn vì trước Lục Tổ chỉ có một số ít người truyền thừa nhau, từ Sơ Tổ Đạt-ma cho đến Tứ Tổ, mới chỉ là một chi Ngưu Đầu, đến Ngũ Tổ bèn chia làm hai tông Nam Đốn, Bắc Tiệm. Từ Nam Tông của Lục Tổ về sau mới truyền bá rộng rãi.
    Lục Tổ Huệ Năng đoạn trước, khi giảng về Ngũ Tổ đã có đề cập đến ngài. Khi Ngũ Tổ muốn trao y bát, bảo ngài Huệ Năng đến nửa đêm vào trượng thất, vì ngài nói kinh Kim Cang đến câu Nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Lục Tổ đại ngộ và nói: Đâu ngờ tự tánh xưa nay thanh tịnh! Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt! Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động! Đâu ngờ tự tánh hay sanh ra muôn pháp! Ngũ Tổ biết ngài đã triệt ngộ mới trao y bát. Và ngay đêm ấy Ngũ Tổ đưa ngài đến bến Cửu Giang, trên thuyền ngài Huệ Năng lại có lời đối đáp Khi mê thì thầy độ, khi ngộ thì con tự độ. Ngũ Tổ trở về, trải qua ba ngày mới bảo với đại chúng: Y bát đã đi về phương nam. Chúng biết được liền qua sông hướng về phía Lãnh Nam đuổi bắt.
    Khi ấy, trong chúng có vị tăng tên là Huệ Minh, là xuất thân từ một tướng quân, thân thể mạnh khỏe hơn mọi người, chạy đi trước tìm được Lục Tổ. Lục Tổ để y bát ở trên tảng đá, ẩn thân vào bụi cây. Huệ Minh dùng hết sức lực bình sinh của mình, giở y lên chẳng động, bèn lớn tiếng kêu: Hành giả! Hành giả! Tôi vì pháp mà đến, chẳng vì y mà đến. Huệ Năng bước ra, Huệ Minh làm lễ thưa: Xin hành giả vì tôi nói pháp. Huệ Năng bảo: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì cũng bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Huệ Minh ngay nơi lời nói bèn đại ngộ. Lại hỏi: Ngoài mật ngữ, mật ngôn ở trên, còn có mật ngôn nào khác chăng? Huệ Năng nói: Tôi đã nói thì chẳng phải mật, mật là ở nơi ông. Huệ Minh khi ấy liền lễ Lục Tổ làm thầy, về sau đổi tên là Đạo Minh, để tránh pháp danh của thầy. Huệ Minh trở về trên đường, bảo với đại chúng rằng: Tôi đã chạy trước tìm kiếm nhưng không thấy bóng dáng ông ta, vả lại đường rất khó đi. Mọi người cùng nhau trở về.
    Lục Tổ đến Quảng Đông, môn nhơn của Ngũ Tổ vẫn còn rất nhiều người đi tìm kiếm, cho nên phải nhiều năm ẩn trốn, thường ở chung với bọn người thợ săn. Bọn thợ săn bảo ngài giữ giềng lưới, ngài luôn luôn thả sinh vật ra, vả lại lấy rau luộc bên thịt trong nồi, của bọn thợ săn để ăn. Về sau đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, đang lúc pháp sư Ấn Tông giảng kinh Niết-bàn, khi đó nhơn gió thổi phan động, có một vị tăng nói là phan động, một vị khác gọi là gió động, tranh luận nhau không ngã lẽ. Lục Tổ nghe, đối trước họ mà nói: Chẳng phải gió động, chẳng phải phan động, mà là tâm của các nhơn giả động. Hai vị tăng ấy nghe xong đều kinh ngạc! Pháp sư Ấn Tông cũng rõ biết, thỉnh ngài lên tòa, hỏi: Hành giả quyết định chẳng phải là người thường, từ lâu đã nghe y bát ở Huỳnh Mai đã đi về phương Nam, có phải là hành giả chăng? Huệ Năng cũng không dấu diếm mà đáp lại. Khi ấy, Ấn Tông thỉnh các vị cao tăng đại đức ở các nơi đến, để thế phát và truyền giới cho Lục Tổ. Lại hỏi:
    - Tổ Huỳnh Mai phó chúc và truyền dạy như thế nào?
    Huệ Năng đáp:
    - Không có truyền trao, chỉ luận về kiến tánh mà không luận về thiền định và giải thoát.
    Đây là nói chỉ lấy thấy tánh thành Phật làm trọng yếu hơn hết.
    Lục Tổ từ đây về sau khai mở giảng đường nói pháp ở Tào Khê, mở đầu là dạy mọi người niệm “Nam-mô Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa”, chỉ thẳng tức tâm là Phật, là tông chỉ Ngộ Tâm Thành Phật. Đời nhà Đường vua Trung Tông ngưỡng mộ đạo phong của ngài, sai quan nội cung phụng tên là Tiết Giản đi đón rước Tổ về kinh, Lục Tổ không chịu đi. Ông ta thưa thỉnh pháp yếu:
    - Thiền đức ở kinh thành đều nói: Muốn được hội đạo, quyết phải tọa thiền, ý của sư như thế nào?
    Tổ bảo:
    - Đạo do tâm ngộ, há ở ngồi ư? Nhơn giả muốn sáng tỏ tâm yếu, chỉ cần tất cả thiện ác đều chớ suy nghĩ, tự nhiên được vào tâm thể thanh tịnh, lặng lẽ thường tịnh, diệu dụng như số cát sông Hằng!
    Một hôm, Tổ bảo với đại chúng:
    - Thiền tông của Đạt-ma, từ đây trùm khắp sa giới.
    Khi ấy, ở trong chúng, ngài nói bài kệ phó pháp:
    Tâm địa hàm chư chủng
    Phổ vũ tất giai manh
    Đốn ngộ hoa tình dĩ
    Bồ-đề quả tự thành.
    Dịch:
    Đất tâm chứa các giống
    Mưa khắp ắt nảy mầm
    Hoa tình vừa đốn ngộ
    Quả Bồ-đề tự thành.
    Đây là nói tông chỉ đốn ngộ tự tâm tức là thành Bồ-đề. Y dừng lại không truyền, lưu lại ở Tào Khê để cúng dường. Khi ấy, người đắc pháp có cả thảy ba mươi ba người. Những vị này, ở trong Pháp Bảo Đàn Kinh đều có vấn đáp. Trong đó người đặc biệt xuất sắc nhất, có hai vị là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng, mà thiền sư Thanh Nguyên làm thủ tọa. Nhơn vì ngài Hành Tư là người khai thỉ thiền phong thời kỳ kế sau, nên để lại chờ đến phần sau sẽ nói.
    Ngoài ra còn có thiền sư Pháp Hải, tương truyền Lục Tổ Đàn Kinh là do ngài ghi chép truyền bá đời sau. Pháp Hải lúc đầu đến yết kiến Lục Tổ hỏi:
    - Thế nào là tức tâm tức Phật?
    Tổ bảo:
    - Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật, thành tất cả tướng tức tâm, ly tất cả tướng tức Phật.
    Pháp Hải ngay nơi lời nói liền đại ngộ, trong Đàn kinh có ghi chép tám câu kệ tụng.
    Còn có một vị rất kỳ đặc là Vĩnh Gia Huyền Giác, trước ngài tinh chuyên tu tập tam chỉ tam quán của tông Thiên Thai, về sau cùng với thiền sư Huyền Sách đi từ Ôn Châu đến Tào Khê yết kiến Lục Tổ. Huyền Giác chống tích trượng đứng.
    Tổ bảo:
    - Phàm làm sa môn, phải đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, đại đức từ phương nào đến, lại sanh đại ngã mạn như thế?
    Huyền Giác nói:
    - Sanh tử là việc lớn, vô thường mau lắm!
    Tổ bảo:
    - Sao chẳng thể nhận cái vô sanh, liễu cái chẳng mau?
    Đáp:
    - Thể tức vô sanh, liễu vốn chẳng mau.
    Khi ấy Lục Tổ liền ấn khả nói:
    - Đúng thế! Đúng thế!
    Bởi vì thiền sư Vĩnh Gia trước đã ngộ nhập tâm địa, chẳng qua là muốn tâm tâm ấn khả nhau, cho nên đến cầu Lục Tổ ấn chứng mà thôi. Sau khi Lục Tổ ấn khả, ngài Vĩnh Gia mới đầy đủ oai nghi lễ bái. Trong chốc lát, ngài cáo từ muốn đi.
    Tổ bảo:
    - Trở về quá nhanh? Đáp:
    - Vốn không có đi lại, há có nhanh ư?
    Tổ bảo:
    - Cái gì biết vốn không có đi lại.
    Đáp:
    - Nhơn giả tự sanh phân biệt.
    Tổ bảo:
    - Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
    Đáp:
    - Vô sanh há có ý ư?
    Tổ bảo:
    - Không ý, cái gì biết phân biệt?
    Đáp:
    - Phân biệt cũng chẳng phải ý.
    Tổ khen:
    - Lành thay! Lành thay! Hãy ở lại đây nghỉ một đêm.
    Cho nên người đời sau gọi ngài Vĩnh Gia là Nhất Túc Giác. Ngài Vĩnh Gia sau khi yết kiến Lục Tổ, có trước tác một thiên Chứng Đạo Ca. Mở đầu là:
    Anh thấy chăng? Tuyệt học vô vi, ấy đạo nhơn,
    Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chơn,
    Tánh thật vô minh tức Phật tánh,
    Thân không ảo hóa tức pháp thân!
    Pháp thân giác rồi không một vật,
    Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật…
    cho đến:
    Voi lớn đâu thèm đi dấu thỏ,
    Ngộ lớn xá gì chi tiết nhỏ,
    Đừng dòm trong ống kiếm trời xanh,
    Chưa tỏ, vì anh ta mở rõ.
    Bởi vì sự ngộ thiền của Nam Tông đã cao, chẳng khỏi làm cho người kinh ngạc nghi báng, cho nên tóm kết nêu bày ra sự quyết đoán.
    Ngài Thần Hội khi đến yết kiến Lục Tổ, còn là một chú sa-di. Ban đầu khi yết kiến Tổ, Tổ cùng với người hỏi đáp, nhơn vì ngài rất lanh lợi, cho nên từng bị Lục Tổ đánh. Trước khi thị tịch, một hôm Tổ hỏi đại chúng:
    - Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ông biết chăng?
    Ngài Thần Hội ở trong chúng bước ra thưa:
    - Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.
    Tổ bảo:
    - Ta đã nói với ông là không tên không họ mà ông lại gọi là bản nguyên, Phật tánh. Về sau, ông ra hoằng pháp cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải!
    Sau khi Tổ nhập diệt, ngài Thần Hội ở phương bắc rộng hoằng tông đốn giáo của Lục Tổ, ngài có trứ tác tập Hiển Tông Luận, truyền pháp cho cả thảy là mấy mươi người. Ngài truyền cho ngài Vô Danh ở núi Ngũ Đài, truyền xuống Quốc Sư Trừng Quán làm Tổ đời thứ ba, tức là Tổ thứ tư của tông Hoa Nghiêm. Đến Tổ đời thứ năm là thiền sư Đạo Viên, lại truyền xuống ngài Khuê Phong Tông Mật, tức là Tổ thứ năm của Tổ Hoa Nghiêm. Những vị này có thể được đưa vào truyền thống Ngộ Tâm Thành Phật Thiền.
    2. Tư tưởng thiền học của Lục tổ Huệ Năng:
    Những lời dạy của Lục tổ được môn nhân Pháp Hải ghi chép lại thành kinh Pháp Bảo Đàn. Kinh này nói về pháp Ma-ha Bát-nhã và phát triển thành Đốn giáo Nhất siêu trực nhập. Đem lý luận Vô niệm, Vô tướng và Vô trụ trong Kinh Kim Cang kết hợp lại, rồi đề xướng Vô niệm là tông, Vô tướng là thể, và Vô trụ là bản, làm phương pháp thực tu của Thiền tông. Lại có cách giải thích mới về thiền định: Ngoài lìa các tướng là thiền, trong không loạn là định, tức là chỉ cần đạt đến vô niệm thì chính đó là thiền định.
    Tóm lại Thiền tông sau Lục tổ Huệ Năng phát triển rất nhiều tư tưởng đặc sắc, như: Tự tính cụ túc, Kiến tính thành Phật, Tự tâm đốn ngộ, Trực chỉ nhân tâm, và đều phản ánh ở trong Đàn Kinh. Có thể nói Đàn Kinh đặt nền tảng cho sự phát triển của Thiền tông Nam Tông.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    - Trung Quốc Thiền tông đại toàn.
    - Thái Hư Đại sư toàn thư
    - Tổ sư thiền do Đổng Quần soạn

  8. #1008

    Mặc định

    Huynh vuive post bài trên là rất kịp thời, vì hiện nay tôi thấy đang có vài người vì ham cầu chứng nhanh chóng nên đang theo một số Pháp môn về Thiền thai tức, Thiền tinh hóa khí - khí hóa thần,... đều là chỗ chưa có được kiểm chứng.

    Các bạn đồng tu cần phải cảnh giác, sai một hào ly có thể viễn ly bằng khoảng cách của một ngàn Vũ trụ đấy ạ.
    một tiếng chim kêu lời kinh vọng
    núi trôi sông chảy mộng đoàn viên

  9. #1009

    Mặc định thiền định và thiền quán

    Học Viện Phật giáo

    THIỀN TRỰC CHỈ=THIỀN TÔNG
    SIÊU PHẬT TỔ SƯ THIỀN
    (NHƯ LAI THANH TỊNH THIỀN)
    超佛祖師禪
    Thời kỳ thứ hai giả lập tên là Siêu Phật Tổ Sư Thiền. Xưa nay thiền của các thời kỳ vốn là huyết mạch thông suốt nhau mà chẳng thể chia cắt, chẳng qua là mỗi loại thiền có một đặc điểm riêng, giả lập tên gọi cốt chỉ dùng làm phù hiệu để phân biệt mà thôi. Tên gọi này đã được người đời sau dùng để chỉ Thiền tông.
    Thiền vào thời kỳ này, tại sao gọi là Siêu Phật Tổ Sư Thiền? Bởi vì như ngài Đan Hà từng nói: “Một chữ Phật ta chẳng thích nghe.” Ngài Triệu Châu cũng nói: “Niệm Phật một tiếng, phải súc miệng ba ngày.” Lại như ngài Nam Tuyền thường nói: “Tổ nói tức tâm tức Phật, còn tôi thì chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.” Đây đều là dùng siêu Phật (không chịu đặt mình vào khuôn mẫu của Phật) để nói. Thời đó, người đề ra câu hỏi, đều là hỏi: Đại ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang (Tổ sư tây lai ý), có thể thấy đã đem Phật đặt qua một bên và chỉ dùng ý của Tổ sư làm trung tâm, lại có thể thấy từ Lục Tổ trở xuống, Tông phong rất là hưng thạnh. Thiền của Tổ sư truyền đã được sự tôn sùng của một số người tham học thời đó. Ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang lại càng là mục tiêu trước nhất người học cần phải minh bạch nên mới trở thành thiền pháp Siêu Phật (không chịu đặt mình vào trong khuôn mẫu của Phật) lấy Tổ sư làm trung tâm.
    Lấy đây so sánh với quá trình phát triển của Mật tông, thì lấy Mật pháp của Kim Cang giới làm trung tâm, cũng chính là cấp Du-dà Mật thứ ba trong bốn cấp mà Tây Tạng đã phân chia. Kim Cang Trí cùng với Bất Không truyền Mật pháp Kim Cang giới ở Trung Quốc, đã chẳng đồng với Thai Tạng giới dùng Phật làm trung tâm, Kim Cang giới có khi dùng Đông Phương Bất Động Phật làm trung tâm. Vả lại, đối với Phật và Bồ-tát, vị nào mà đổi tên thành Kim Cang thì lý đều biến thành trí, chỉ lấy Kim Cang làm trung tâm, Phật thừa thành là Kim Cang thừa. Tông Môn Thiền vào thời kỳ này, cũng dùng thiền pháp của Tổ sư làm trung tâm, Như Lai Thiền thành là Tổ Sư Thiền. Đây là đem sự phát triển Mật pháp ở Ấn Độ để so sánh với sự phát triển thiền pháp ở Trung Quốc.
    Vì sao gọi là Như Lai thanh tịnh thiền? Bởi vì đây là pháp thiền chỉ thẳng tự tâm (Như Lai thanh tịnh là tên gọi khác của tự tâm), đốn ngộ tự tâm, không trải qua thứ lớp tu hành như loại thiền truyền thống nương theo kinh giáo.
    I. NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA TỔ SƯ THIỀN
    Thiền tông mặc dù manh nha từ Ấn Độ nhưng lại phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc, chẳng hạn như kể từ Lục Tổ về sau, cành lá của cây thiền trở nên rậm rạp. Nhất là đến thời Lục Tổ, Thiền tông chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Trung Quốc cho nên ngài có những pháp thoại khác xa trong văn kinh. Thiền tông Nam tông do Lục Tổ kiến lập, thật là hiện bày một mặt khác của văn hóa Trung Quốc, không giống với Ấn Độ và kể từ đây danh từ Tổ sư thiền được dùng để chỉ cho Thiền tông.
    Tổ sư thiền do gì ít chú trọng đến nghi thức cúng kiếng của đạo tràng, lại siêng làm lụng, chẳng thọ vật cúng dường nên vẫn có thể sinh hoạt khi gặp sự cố như pháp nạn Hội Xương. Sở dĩ ở trong thế tục vẫn có thể tu hành cho nên một tông phái Thiền này trội hơn cả và điểm then chốt cũng là ở sự tham gia lao động của Lục Tổ.
    Lục Tổ Huệ Năng là vầng dương sáng chói trên bầu trời lịch sử Thiền tông, địa vị của ngài vượt qua các Tổ sư Thiền tông trước đó. Sư hơn 40 mươi năm thuyết pháp hành hóa, thành Phật để lại nhục thân, ngồi thị tịch, chùa Nam Hoa trở thành thánh địa Phật giáo phương Nam, Tào Khê trở thành danh từ đại biểu cho Thiền tông, rất giàu sắc thái truyền kỳ. “Một hoa nở năm cánh” do Lục Tổ khai mở, năm tông là Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Lâm Tế, Quy Ngưỡng cho đến đời Tống tông Lâm Tế đại thạnh, và phân làm hai phái Hoàng Long và Dương Kỳ; thế lực của nó ảnh hưởng đến các tông phái khác trong Phật giáo, cơ hồ thống nhiếp giáo về thiền nên hậu thế có lời nhận định “Thiền tông là nét đặc sắc trong Phật giáo Trung Quốc”.
    Chủ yếu của Tổ sư thiền là khơi dậy trí vô sư sẵn có nơi mọi người. Nhận ra được trí này là kiến tánh, đạt được viên mãn trí này là giác ngộ giải thoát. Bởi chủ trương đốn ngộ tự tâm, kiến tánh khởi tu nên đã gợi niềm khởi hứng lớn lao cho ai tha thiết tu hành, mở ra khung trời thênh thang cho những tâm hồn thao thức, những ý chí ngất trời.
    II. ẢNH HƯỞNG CỦA HUỆ NĂNG ĐẾN PHONG CÁCH CÁC ĐỆ TỬ TĂNG TỤC ĐỜI ĐƯỜNG:
    1. Thanh Nguyên Hành Tư:
    Sư quê ở Kiết Châu, Sư lúc đầu gặp Lục Tổ hỏi:
    - Phải làm việc gì mới chẳng rơi vào giai cấp?
    Tổ bảo:
    - Ông từng làm việc gì?
    Đáp:
    - Thánh đế cũng chẳng làm.
    Tổ bảo:
    - Rơi vào giai cấp nào?
    Đáp:
    - Thánh đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp?
    Lục Tổ nhận ngài là bậc pháp khí, cho làm thủ tọa. Về sau sư trở về núi Thanh Nguyên thuộc Giang Tây, ở ẩn trong chùa Tịnh Cư.
    Khi Lục Tổ sắp tịch diệt, sa-di Hy Thiên hỏi:
    - Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, Hy Thiên con chưa biết phải nương tựa vào người nào?
    Tổ bảo:
    - Tầm Tư đi!
    Sa-di Hy Thiên cho rằng Tổ bảo mình Tầm Tư, sau khi Tổ tịch diệt, sư thường ngồi một mình lặng lẽ tư duy, lặng lẽ như quên thân. Có vị thượng tọa hỏi:
    - Thầy của ông đã tịch diệt, ông ngồi đây để làm gì?
    Hy Thiên thưa:
    - Tôi vâng theo lời di chúc của thầy tôi, cho nên tôi Tầm Tư như thế!
    Thượng tọa bảo:
    - Ông có sư huynh tên là Hành Tư, hiện nay ở Kiết Châu, nhơn duyên của ông ở đó, thầy nói rất đúng, má sao ông mê muội vậy.
    Hy Thiên vâng theo lời chỉ dạy của thượng tọa, bèn đi đến Kiết Châu gần gũi ngài Hành Tư. Hành Tư gặp Hy Thiên hỏi:
    - Ngươi từ phương nào đến?
    Đáp:
    - Con từ Tào Khê đến!
    Hỏi:
    - Ở Tào Khê có đem được vật gì đến chăng?
    Đáp:
    - Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.
    Hành Tư đáp bảo:
    - Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?
    Đáp:
    - Nếu không đến Tào Khê, đâu biết chẳng mất!
    Hy Thiên ở nơi ngài Hành Tư, hầu hạ mười lăm năm.
    Một hôm Hy Thiên hỏi:
    - Hòa thượng ngày xưa ở Tào Khê, Lục Tổ có biết hòa thượng chăng?
    Tư đáp:
    - Nay ngươi biết ta chăng?
    Hy Thiên thưa:
    - Biết thì đâu thể biết được!
    Ngài Hành Tư vì Sư ấn khả:
    - Loài có sừng tuy nhiều, một con lân là đủ!
    Lại một hôm, Hành Tư cầm cây phất tử đưa lên, để truyền dạy pháp ý. Hỏi Hy Thiên:
    - Tào Khê có cái này chăng?
    Đáp:
    - Chẳng những Tào Khê mà Tây Thiên cũng không có.
    Tư hỏi:
    - Ông đã từng đến Tây Thiên chăng?
    Đáp:
    - Nếu đến tức có.
    Loại một hỏi một đáp này, đều là chỗ chẳng xúc phạm chẳng thể nói mà mượn để hiển bày cái chẳng thể nói, đã làm cứ điềm cho tông Tào Động sau này.
    Lại một hôm, Hành Tư sai Hy Thiên đem thư sang thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng, dặn rằng:
    - Ngươi đem thư về nhanh, ta có chiếc búa cho ngươi ở núi.
    Hy Thiên đến Nam Nhạc chẳng trình thư, mà chỉ hỏi:
    - Khi chẳng mộ chư thánh, chẳng trọng tánh linh của mình thì thế nào?
    Thiền sư Hoài Nhượng đáp:
    - Người hỏi quá cao, sao không hỏi trở xuống?
    Hy Thiên thưa:
    - Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân, chớ chẳng theo chư thánh mà cầu giải thoát.
    Hoài Nhượng cũng không hỏi lại. Hy Thiên cũng chưa trao thư, trở về gặp Hành Tư, Hành Tư hỏi:
    - Ngươi đi không lâu, đem thư đến nơi chăng?
    Đáp:
    - Tin cũng chẳng thông, thư cũng chẳng đưa.
    Tư hỏi:
    - Là thế nào?
    Hy Thiên thuật lại lời nói như ở trước, lại thưa:
    - Khi đi hòa thượng hứa cho con chiếc búa, bây giờ con xin nhận lấy!
    Thiền sư Hành Tư liền duỗi một chân, Hy Thiên bèn làm lễ từ giã đến Nam Nhạc.
    2.Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng :
    Sư quê ở Kim Châu, năm mười lăm tuổi, sư đến chùa Ngọc Tuyền ở Kiết Châu nương luật sư Hoằng Cảnh để xuất gia sau khi thọ giới cụ túc, bạn đồng học là Thản Nhiên cùng đi đến chỗ hòa thượng Huệ An. Theo lời chỉ dạy của Huệ An, sư bèn đi đến Tào Khê. Lục Tổ hỏi:
    - Từ đâu đến?
    Đáp:
    - Tung Sơn đến.
    Tổ hỏi:
    - Vật gì đến?
    Đáp:
    - Nói là một vật tức chẳng trúng.
    Tổ bảo:
    - Có thể tu chứng chăng?
    Đáp:
    - Tu chứng thì chẳng không, nhiễm ô thì chẳng được.
    Tổ bảo:
    - Chỉ cái chẳng nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế! Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây Thiên, có lời sấm rằng: “Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện nhất mã câu (một con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ, ứng tại tâm ngươi không cần nói sớm”.
    Hoài Nhượng khế ngộ, hầu hạ Tổ mười lăm năm, mới về chùa Bát-nhã ở núi Nam Nhạc xiển dương Thiền tông.
    Niên hiệu Khai Nguyên (713), có một sa môn tên là Đạo Nhất, đến chùa này thường thường ngồi thiền một mình, chẳng xem kinh cũng chẳng cầu pháp nơi người. Hoài Nhượng biết sư chẳng phải là người tầm thường, nhơn đó đi đến hỏi:
    - Đại đức ngồi thiền để làm gì?
    Sư đáp:
    - Để làm Phật.
    Sư chẳng muốn nghe pháp, Hoài Nhượng cũng chẳng nói nhiều. Khi ấy, Hoài Nhượng cầm một miếng ngói ở trên tay, ngồi trước mặt sư mài, lúc đầu Đạo Nhất lại chẳng để ý đến, vẫn ngồi một mình, Hoài Nhượng cũng kiên nhẫn ngồi mài. Một giây lâu, Đạo Nhất mới hỏi:
    - Thầy mài ngói để làm gì?
    Sư đáp:
    - Mài để làm gương.
    Đạo Nhất hỏi:
    - Mài ngói đâu có thể thành gương được?
    Hoài Nhượng nói:
    - Mài ngói đã chẳng thành gương thì ngồi thiền đâu thể thành Phật được?
    Đạo Nhất khi đó biết rõ chỉ có thân ngồi thì không đúng mà cần phải dụng tâm. Nhơn đó hỏi pháp yếu, Hoài Nhượng cho sư nghe bài kệ:
    Tâm địa hàm chư chủng
    Ngộ trạch tất giai manh
    Tam-muội hoa vô tướng
    Hà hoại phục hà thành?
    Dịch:
    Đất tâm chứa các giống
    Gặp nước liền nảy mầm
    Hoa Tam-muội không tướng
    Nào hoại lại nào thành?
    Đạo Nhất nhờ sư khai ngộ tâm địa, ngay nơi lời nói đốn ngộ, theo hầu sư hơn mười năm, mới rời Nam Nhạc.
    Đệ tử của Nam Nhạc gồm sáu người, đều được ấn khả: “Một người được chân mày ta, giỏi về oai nghi. Một người được mắt ta, giỏi về ngó liếc. Một người được tai ta, giỏi nghe lý. Một người được mũi ta, giỏi về biết mùi. Một người được lưỡi ta, giỏi về đàm luận. Một người được tâm ta, giỏi về xưa nay”. Người được tâm tức là Đạo Nhất.
    Mã Tổ Đạo Nhất, rời Nam Nhạc đi Giang Tây khai đường thuyết pháp, Nam Nhạc sai một vị tăng đi đến chỗ sư, đợi khi sư thượng đường hỏi:
    - Làm cái gì?
    Đạo Nhất đáp:
    - Từ loạn Hồ sau 30 năm, chưa từng thiếu tương muối.
    Đây là nói một phen ngộ là ngộ triệt để, diệu dụng vô cùng, tất cả đều có sẵn.
    Đồng thời với ngài Hành Tư và Hoài Nhượng còn có thiền sư Duy Chánh ở Hồng Châu, Thiền sư Huệ Trung …
    Hy Thiên tức là Thạch Đầu Thiên, là đệ tử truyền thừa của thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư, Đạo Nhất tức là Mã Tổ, là đệ tử truyền thừa của thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng.
    3. Thạch Đầu Hy Thiên:
    Sư từ nhỏ ở trong hội của Lục Tổ, làm sa-di, do nhân duyên đắc pháp từ thiền sư Hành Tư, đã giảng qua ở trước. Về sau ở núi Nam Nhạc có một tảng đá lớn hình dáng giống như một cái đài, sư lên tảng đá lớn ấy kết am để ở. Cho nên gọi sư là thiền sư Thạch Đầu.
    Một hôm, có người hỏi sư:
    - Ý chỉ Tào Khê người nào được?
    Sư đáp:
    - Người hội Phật pháp được.
    Lại hỏi:
    - Thầy lại được chăng?
    Sư đáp:
    - Chẳng được.
    Hỏi:
    - Vì sao chẳng được?
    Sư đáp:
    - Ta chẳng hội Phật pháp.
    Lại có người hỏi:
    - Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
    Sư đáp:
    - Hỏi cây cột đi!
    Người hỏi thưa:
    - Học nhơn chẳng hội.
    Sư bảo:
    - Ta cũng chẳng hội.
    Lại có người hỏi:
    - Thế nào là Thiền?
    Sư đáp:
    - Cục gạch!
    Lại hỏi:
    - Thế nào là đạo?
    Sư đáp:
    - Khúc gỗ!
    Những lời đối đáp này, đều là Thiền ngữ chẳng thể nắm bắt của sư.
    Từ xưa đến nay tương truyền, Thạch Đầu Hy Thiên có trước tác một thiên Tham Đồng Khế, lấy Tâm Phật ở Thiên Trúc, Đông Tây thầm trao nhau làm lời mở đầu, kết luận Kính bạch người tu thiền, thời giờ luống trôi qua. Gồm có mấy mươi câu, là văn hiến trọng yếu của tông Tào Động.
    Ngài Hy Thiên dạy đại chúng: Các ông nên biết! Tự tâm linh diệu, thể lìa đoạn thường, tánh chẳng phải cấu tịnh, lặng lẽ viên mãn, phàm thánh đều đồng, ứng dụng không có giới hạn, lìa tâm ý thức. Tam giới, lục đạo chỉ do tâm là hiện như trăng đáy nước, như bóng trong gương, há có sinh diệt ư? Các ông nên biết đó, không có chỗ nào chẳng đủ?
    Đây là ý chính mà thiền sư Hy Thiên thuyết pháp.
    4. Mã Tổ Đạo Nhất;
    Thiền sư Đạo Nhất người quê ở huyện Thập phương thuộc đất Tứ Xuyên, nhơn vì sư tục gia họ Mã. Do đó, đều gọi sư là Mã Tổ. Sau khi đắc pháp ở Nam Nhạc, sư cũng từng về chùa La Hán ở huyện Thập Phương, nhưng về sau sư thường ở Giang Tây khai pháp tại núi Cung Công.
    Một hôm sư dạy chúng: Này các ông! Mỗi người phải tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâm Phật. Tổ Đạt-ma đến phương này truyền, khiến cho các ông khai ngộ.
    Lại nói kệ rằng:
    Tâm địa tùy thời thuyết
    Bồ-đề diệc chỉ ninh
    Sự lý câu vô ngại.
    Đương sanh tức bất sanh.
    Dịch:
    Đất tâm tùy thời nói
    Bồ-đề cũng thế thôi
    Sự lý đều không ngại
    Chính sanh là chẳng sanh.
    Bài này cũng có thể nói là bài kệ phó pháp của Mã Tổ.
    Có người hỏi sư:
    - Hòa thượng vì sao mà nói tức tâm tức Phật?
    Sư đáp:
    - Vì dỗ con nít khóc!
    Lại hỏi:
    - Con nít nín rồi thì thế nào?
    Sư đáp:
    - Phi tâm, phi Phật.
    Lại hỏi:
    - Người trừ được hai thứ này rồi, phải dạy họ thế nào?
    Sư đáp:
    - Nói với y là phi vật
    Lại hỏi:
    - Khi chợt gặp người đó thì phải làm sao?
    Sư đáp:
    - Hãy dạy y thể hội đại đạo.
    Lại có người hỏi:
    - Thế nào là ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang?
    Sư cầm cây gậy đánh và nói:
    - Ta nếu không đánh ông, thì người đời sau sẽ cười ta.
    Mã Tổ ở Giang Tây rộng hoằng truyền Thiền tông. Do đó, Lục Tổ đã dự báo: Dưới chân Hoài Nhượng sẽ xuất hiện một con ngựa, đạp chết người trong thiên hạ. Thời đó, những người đắc pháp nơi Mã Tổ, có cả thảy một trăm ba mươi chín người, mà Bách Trượng Hoài Hải là thượng thủ bậc nhất.
    Một hôm, có một vị tăng hỏi Mã Tổ:
    - Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh thầy chỉ thẳng thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
    Mã Tổ nói:
    - Hôm nay ta đau đầu, hãy đến hỏi Tây Đường Trí Tạng.
    Vị tăng ấy đến hỏi Trí Tạng, Trí Tạng bảo:
    - Hôm nay không rảnh, ông đi hỏi sư huynh Hải.
    Vị tăng hỏi Hoài Hải, Hải bảo:
    - Đến chỗ này ta cũng chẳng hội.
    Mã Tổ nghe liền nói:
    - Đầu Tạng bạch, đầu Hải hắc.
    Đồ đệ ở trong hội của Mã Tổ đã nhiều, đồ đệ của Hy Thiên cũng chẳng ít, do đó nói: “Sự thạnh hành của thiền pháp, bắt đầu ở Hy Thiên và Đạo Nhất”.
    Đồng thời vói Hy Thiên và Đạo Nhất còn có thiền sư Đam Nguyên Chơn Ứng, sư là thị giả của Quốc sư Huệ Trung ở Nam Dương, một hôm Quốc sư gọi Chơn Ứng ba lần, Chơn Ứng cũng “dạ” ba lần, Quốc sư Huệ Trung nói:
    - Cứ ngỡ ta cô phụ ngươi, nào dè ngươi cô phụ ta.
    Ngoài ra còn các vị như: quốc sư Kính Sơn Đạo Khâm, thiền sư Thiên Thai Vân Cư Trí.
    5. Các quan lại:
    a. Bạch Cư Dị (772-846):
    Tên tự Lạc Thiên, về già lấy hiệu Túy ngâm tiên sinh và Hương Sơn cư sĩ. Người đất Hạ Bì (nay là huyện Vị Nam, Thiểm Tây). Đại thi nhân thời Trung Đường. Ông đỗ tiến sĩ năm 800, lần lượt nhậm các chức : Hàn lâm học sĩ, Tả thập di, Tả tán thiện đại phu, Tư mã Giang châu, Thứ sử Hàng châu, Tô châu, Hình bộ Thượng thư. Thơ ông điêu luyện, bay bổng, nghệ thuật cao. Những vần thơ ông đầy tính thông tục mà cũng sâu sắc triết lý Thiền. ông từng đến hỏi đạo nơi thiền sư Đạo Lâm.
    b. Bùi Hưu :
    Cư sĩ đời Đường, tự là Công Mỹ, người đất Tế Nguyên (nay thuộc Hà Nam), Trung Quốc. Ông thi đỗ Tiến sĩ, đậu bậc Hiền lương phương chính dị, lần lượt qua các dinh phủ được làm Giám sát Ngự sử. Ông tinh thông kinh Phật,. Từng bàn luận kinh Hoa Nghiêm với thiền sư Tông Mật suốt cả đêm. Ông cũng là người ghi chép Truyền Tâm Pháp Yếu, Uyển Lăng lục của Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận.
    c. Liễu Tông Nguyên (773-819) :
    Tên tự Tử Hậu. Người đất Hà Đông (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây). Thi nhân kiêm nhà tản văn đời Đường.
    Tản văn của ông đạt được thành tựu về nhiều phương diện, nổi tiếng ngang Hàn Dũ, được kể vào một trong Đường Tống Bát đại văn gia. Ông từng viết bài hậu tự cho kinh Pháp Bảo Đàn.
    d. Vương Duy (701-761) :
    Tự là Ma Cật, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Nổi tiếng về thơ lại còn sành âm nhạc, giỏi về thư pháp và hội họa. Đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư hữu thừa. Ông là nhà thơ sơn thủy nổi tiếng, Tô Thức đã nói: Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ.
    Thơ ông lại nhuốm tư tưởng Phật giáo nên ông được gọi là Thi Phật
    Ngài ẩn núi Thái Bạch,
    Đỉnh cao vượt khói mây.
    Kinh tụng muôn khe chảy,
    Mưa hoa một núi đầy.
    Dấu vết Vô tâm ẩn,
    Bởi gọi Lập giáo truyền.
    Chim đến gieo lời pháp,
    Khách về tâm an nhiên…
    Vương Duy làm bài bi minh ghi chép về công đức của Thiền sư Lục Tổ Huệ Năng như sau:
    Đạo đức trùm khắp tiếng tăm vang dội, những kẻ quê mùa cả đời không biết Phật, các nước biên địa xa xăm đều mong mỏi thấy dung mạo của thiền sư. Kẻ đứng ngoài cửa, kẻ ngồi bên giường đều quên thân mình trước lời dạy của cao tăng.
    Toàn Đường Văn, quyển 327.
    Vương Hữu Thừa Tập, quyển 215.
    Chúng ta có thể dùng bài kệ của thiền sư Quảng Nghiêm để tóm lại bài học này và thấy được phong cách siêu Phật Tổ sư thiền đã có mặt ở Việt Nam vào đời Lý:
    離 寂 方 言 寂 滅 去
    生 無 生 後 說 無 生
    男 兒 自 有 衝 天 志
    休 向 如 來 行 處 行
    “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ
    Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh
    Nam nhi tự hữu xung thiên chí
    Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”.
    Dịch nghĩa:
    Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt
    Được vô sinh sau nói vô sinh
    Trượng phu có chí xông trời thẳm
    Chớ dẫm Như Lai chỗ đã hành”.
    Tóm lại, Tổ sư thiền bao hàm tinh thần tự chủ, chuộng sự thật và sáng tạo; nó không những là nhân tố thành công của tôn giáo mà còn giàu ý nghĩa gợi mở về kiếp sống thông thường của con người. Tổ sư thiền (Thiền tông) từng được sự ủng hộ của các bậc Vua chúa, quan văn quan võ cho đến hạng bình dân, trong mỗi tầng lớp có số lượng tín đồ rất lớn và ảnh hưởng rất sâu đến sự phát sinh văn hóa tư tưởng của Trung Quốc từ đời Đường, Tống về sau, cho đến các nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Đời cận đại phái thiền này phát triển và ảnh hưởng tới Âu Mỹ, bởi vì từ Năm tông hai phái về sau đều bắt nguồn từ Tào Khê.
    III. NHỮNG THIỀN SƯ ĐỜI TRUNG ĐƯỜNG:
    Thời đại trung Đường có rất nhiều thiền sư nổi tiếng nhưng ở đây chỉ kể vài vị đại biểu:
    1. Bách Trượng Hoài Hải 百丈懷 海 (720-814):
    Bách Trượng tên là Hoài Hải, họ Vương, người xứ Trường Lạc, Phúc Châu (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Bách Trượng ở Tân Ngô (nay là huyện Phụng Tân, tỉnh Giang Tây). Một hôm sư hỏi Mã Tổ:
    - Bỗng có người đến hỏi Phật pháp thì lúc ấy phải đáp như thế nào?
    Mã Tổ cầm cây phất tử đưa lên, và hỏi:
    - Chỉ có cái này hay còn có cái khác?
    Mã Tổ đem cây phất tử buông xuống chỗ cũ. Hỏi lại Bách Trượng:
    - Về sau ông sẽ dạy người thế nào?
    Bách Trượng cầm cây phất tử đưa lên, Mã Tổ nói:
    - Chỉ cái này hay còn có cái khác?
    Bách Trượng cũng buông cây phất tử xuống chỗ cũ.
    Mã Tổ hét một tiếng lớn, khiến cho Bách Trượng điếc tai ba ngày. Về sau Bách Trượng ở núi Đại Hùng, đem việc này thuật lại cho Hoàng Bá và Qui Sơn nghe, Hoàng Bá nghe xong le lưỡi.
    Bách Trượng nói với Hoàng Bá:
    - Ông về sau nối dòng Mã Tổ!
    Bá thưa:
    - Chẳng đúng, nếu nối dòng Mã Tổ thì về sau mất hết con cháu của con!
    Đây là biểu thị Hoàng Bá đích thân từ Bách Trượng mà thấy được đại cơ đại dụng của Mã Tổ, cho nên chỉ chịu nối dòng Bách Trượng mà chẳng chịu nối Mã Tổ.
    Một hôm, Qui Sơn đứng hầu bên hữu Bách Trượng, Bách Trượng yêu cầu Qui Sơn:
    - Dẹp bỏ cổ họng môi lưỡi nói một câu!
    Qui Sơn thưa:
    - Thỉnh hòa thượng nói!
    Trượng bảo:
    - Ta chẳng từ chối nói cho ông nghe, nhưng về sau mất hết con cháu của ta!
    Đây là căn nguyên mà Bách Trượng về sau mở ra hai tông Lâm Tế và Qui Ngưỡng.
    Bạch Trượng dạy chúng: Linh quang chói sáng vượt khỏi căn trần, thể bày chơn thường không thuộc văn tự, tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
    Nghĩa này không những chơn thật giản dị, mà cũng hoàn toàn khẳng định.
    - Ngoài mỗi lần thuyết pháp xong xuống tòa, đại chúng vừa đi ra, sư liền kêu chúng, chúng quay đầu lại, sư liền hỏi:
    - Là cái gì?
    Về sau truyền câu này là câu Bách Trượng xuống pháp đường.
    Từ Bách Trượng về trước đều y cứ theo luật chùa, trong chùa riêng đặt thiền viện. Đến Mã Tổ liền khai phá núi hoang, riêng dựng lập tòng lâm, nhưng không có qui củ nhất định. Bách Trượng khi mới lập thanh qui, có người hỏi:
    - Vì sao chẳng dùng qui luật của Bồ-tát giới?
    Bách Trượng đáp:
    - Tông của ta chẳng thuộc ở Tiểu thừa và Đại thừa, chẳng phải khác Tiểu thừa, Đại thừa. Phải đem tất cả chiết trung lại lập thành qui chế.
    Thanh qui của Bách Trượng: Theo bài Tự ngôn của bản văn Dương Ức Cổ Thanh Quy, và truyện viết về Bách Trượng trong Tống Cao Tăng Truyện của Tán Ninh, qua đó chỉ có thể dẫn ra một cách khái quát nội dung quan trọng về vấn đề Thanh Quy trong chốn Tùng Lâm mà Bách trượng đã xây nền tảng; đó là :
    (1) Khi vào tăng đường, bất kể trình độ (tu chứng, học tập) thấp cao, tất cả đều tập trung vào một chỗ để tham học. Trong Thiền đường bố trí một cái giường được gọi là “trường liên sàng - giường dài tiếp liền”, mọi người đều sử dụng nó để nằm hay ngồi tọa Thiền.
    (2) Trụ trì gọi là Trưởng lão, ở tại phương trượng.
    (3) Không xây Phật điện, chỉ có Pháp đường để vị trưởng lão nói pháp, hai bên xếp hàng đứng nghe. Trụ trì hay trưởng lão đăng đàn thuyết pháp, hoặc nêu ra những phạm trù trọng yếu của tông môn cho hành giả tham học, những sự kiện như vậy đều được tiến hành ở đây.
    (4) Thường hạnh là trên dưới cùng chung sức thỉnh pháp, cùng lao động tập thể theo quy định, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
    Đây là một sự kiện nảy sinh độc đáo, đúng là cuộc sáng tạo trong xây dựng, và là cơ sở kinh tế duy nhứt trong chốn Thiền lâm vào thời ấy. Có thể cho rằng, bốn điều khoản vừa nêu ra là cốt tủy của Thanh Quy Bách Trượng. Những điểm như vậy, đã đáp ứng được sự phát triển và những đòi hỏi trong tình hình mới của Thiền tông.
    Thiền học mà đại sư nêu giữ, thực sự kết hợp khắng khít với sinh hoạt đời thường, Phật sự phải được nghiệm chứng trong cần lao thường ngày như vậy. Tinh thần lạc quan của Thiền tông tích cực nhắm tới, là sự biểu hiện toàn vẹn ở việc lao động thực tế, điều nầy cùng với quan điểm dẫn đạo được đại sư nêu lên, kết hợp cùng việc rèn luyện chính bản thân của hành giả là không thể tách rời. Thường khi lao động, Sư là người làm trước hết, chúng chẳng cam lòng, lén giấu nông cụ để thỉnh Sư nghỉ ngơi, Sư nói: “Ta vốn vô đức, phải cực cho người sao?” Khi nào tìm kiếm khắp mà không gặp nông cụ, thì khi đó Sư bỏ ăn. Do vậy mới có câu “Một ngày không làm, một ngày không ăn” lẫy lừng khắp thiên hạ..
    2. Thiên Hoàng Đạo Ngộ 天 皇 道 悟: (748-807)
    Thiền sư Đạo Ngộ là người quê ở Đông Dương thuộc đất Vụ Châu, lúc đầu sư đến yết kiến thiền sư Kính Sơn Quốc Nhất, thụ nhận tâm pháp, phục vụ năm năm.
    Niên hiệu Đại Lịch (766) sư đi đến Chung Lăng yết kiến Đạo Nhất, lại được ấn khả chỗ hiểu trước, sư ở lại hai năm. Về sau, sư đến tham vấn Tổ Thạch Đầu Thiên.
    Hỏi:
    - Lìa bỏ định huệ, lấy bát gì để dạy người?
    Thạch Đầu đáp:
    - Ta ở đây không có nô tì thì lìa bỏ cái gì?
    Ngộ thưa:
    - Thế nào rõ được?
    Thạch Đầu bảo:
    - Ngươi nắm bắt được hư không chăng?
    Ngộ thưa:
    - Thế ấy, tức chẳng từ ngày nay đi!
    Thạch Đầu hỏi:
    - Chẳng hay ngươi từ bên kia đến hồi nào?
    Ngộ thưa:
    - Chẳng phải người bên kia!
    Thạch Đầu bảo:
    - Ta đã biết trước chỗ ngươi đến.
    Ngộ nói:
    - Thầy đâu được lấy tang vật vu khống người?
    Thạch Đầu nói:
    - Thân ngươi hiện tại!
    Ngộ thưa:
    - Tuy như thế, rốt cuộc làm sao chỉ dạy người sau?
    Thạch Đầu bảo:
    - Ai là người sau?
    Đạo Ngộ ngay nơi lời nói này liền đốn ngộ, tâm sở đắc của ngài ở chỗ hai vị thầy trước, nay đều sạch hết.
    Về sau Đạo Ngộ ở chùa Thiên Hoàng thuộc đất KiếtChâu, khi sắp thị tịch, một đêm nọ, vị điển tọa ở trong chùa đến thăm bệnh, sư vẫy tay lại hỏi:
    - Hội chăng?
    Điển tọa đáp:
    - Chẳng hội!
    Sư lấy một cái gối trên tòa ném xuống đất, rồi liền thị tịch.
    3. Dược Sơn Duy Nghiễm 藥山惟 儼 (751-834)
    Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm ở Lễ Châu là đệ tử của ngài Thạch Đầu. Một hôm, sư ngồi yên lặng, Thạch Đầu thấy sư, hỏi:
    - Làm gì?
    Sư đáp:
    - Tất cả chẳng làm.
    Hỏi:
    - Tại sao ngồi yên?
    Đáp:
    - Nếu ngồi yên tức làm.
    Hỏi:
    - Ngươi nói chẳng làm, là chẳng làm gì?
    Đáp:
    - Ngàn Thánh cũng chẳng biết!
    Thạch Đầu nói bài kệ khen:
    Tòng lai cộng trụ bất tri danh
    Nhậm vận tương tương chỉ ma hành
    Tự cổ thượng hiền du bất thức
    Tháo thứ phàm lưu khởi cảm minh.
    Dịch:
    Chung ở từ lâu chẳng biết gì
    Lặng lẽ theo nhau chỉ thế đi
    Thượng hiền từ trước còn chẳng biết
    Phàm phu thô lỗ đâu hiểu chi?
    Một lần, viện chủ thỉnh sư thượng đường thuyết pháp, đại chúng vân tập ở trong pháp đường, sư không nói lời nào mà trở về phương trượng, và kéo cửa đóng sầm lại. Viện chủ liền hỏi:
    - Vì sao lại về phương trượng?
    Sư bảo:
    - Kinh có kinh sư, luật có luật sư, luận có luận sư, lại đâu trách được Lão Tăng!
    Một hôm, có vị tăng hỏi:
    - Việc mình chưa rõ, xin Hòa thượng chỉ dạy?
    Sư bảo:
    - Nay tôi nói cho ông nghe một vài câu cũng chẳng khó, ông có thể ngay nơi lời nói này mà có thể thấy được, nhưng nếu lại suy nghĩ thì thành tội lỗi của ta, chi bằng mỗi người hãy ngậm miệng để khỏi làm lụy cho nhau.
    Tăng hỏi:
    - Khi Đạt-ma chưa đến, đất này có ý Tổ sư chăng?
    Sư đáp:
    - Có.
    Hỏi:
    - Đã có ý Tổ sư, thì còn đến đây để làm gì?
    Đáp:
    - Chỉ vì có, cho nên đến.
    Sự vấn đáp của Dược Sơn và các vị tăng đại khái là như thế.
    IV. NHỮNG TỤC GIA ĐỆ TỬ:
    1. Lý Cao 李 翱 (772-841):
    Cư sĩ đời Đường, tự là Tập Chi, người đất Lũng Tây, Thành Kỷ (nay ở phía tây Tần An, Cam Túc), một thuyết cho là người đất Triệu Quận (nay là huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc.
    Từ thuở nhỏ học Nho uyên bác, hiếu cổ. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 14 (798) đỗ Tiến sĩ. Lần lượt nhậm chức Hiệu thư lang, Quốc tử Bác sĩ, Sứ quán tu soạn, Gián nghị đại phu, Trung thư Xá nhân, Tiết độ sứ Đông Đạo ở Sơn Nam, cùng với thầy là Hàn Dũ, văn chương được đương thời khen ngợi. Thái thú Lý Cao thời đó đã ngưỡng mộ thanh danh của Dược Sơn, ông đích thân đi vào núi để hỏi đạo. Khi ấy, Dược Sơn ở dưới gốc cây tùng, tay cầm quyển kinh, chẳng màng đến Thái thú. Lý Cao tánh nóng nảy, nổi giận nói:
    - Thấy mặt chẳng bằng nghe danh.
    Nói xong phất áo muốn đi. Dược Sơn nói:
    - Đâu nên quí lỗ tai mà khinh con mắt.
    Lý Cao thấy Dược Sơn và nghe lời nói của sư, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, hỏi sư:
    - Thế nào là đạo?
    Sư lấy tay chỉ lên một cái và chỉ xuống một cái, rồi hỏi:
    - Hội chăng?
    Lý Cao đáp:
    - Chẳng hội!
    Sư nói:
    - Mây trên trời, nước trong bình.
    Lý Cao vui mừng làm lễ, liền trình kệ:
    Luyện đắc thân hình tợ hạc hình
    Thiên châu tùng hạ lưỡng hàm kinh
    Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết
    Vân tại thanh thiên, thủy tại bình.
    Dịch:
    Luyện được thân hình giống hạc hình
    Dưới tùng ngàn gốc hai hòm kinh
    Ta tìm hỏi đạo không lời khác
    Mây ở trời xanh, nước trong bình.
    Lý Cao lại hỏi:
    - Thế nào là giới định tuệ?
    Sư đáp:
    - Ta ở đây không có đồ tiêu khiển này.
    Lý Cao chẳng lường được huyền chỉ của sư.
    Sư bảo:
    - Thái thú muốn gìn giữ được việc này, cần phải tiến lên ngọn núi chót vót để ngồi, xuống tận đáy biển sâu mà đi…
    Lý Cao nhận lời chỉ dạy của Dược Sơn, ông có trước tác quyển Phục Tánh Thư, báo điềm mở đầu của lý học Tống Nho sau này.
    Người đề xướng đạo học nhà Nho Hàn Dũ, Lý Cao đời Đường là nổi bật nhất, Phục Tánh Thư của Lý Cao đối với học giả nhà Nho ảnh hưởng lớn hơn. Lý Cao cho “tánh vốn trong sáng, vì bị thất tình mê hoặc mà trở thành hôn trược”, nên chủ trương ức chế tình cảm để khôi phục bản tánh.
    Phục Tánh Thư nói: “Con người sở dĩ làm bậc Thánh là do tánh, tánh con người sở dĩ bị mê hoặc là do tình, mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham, bảy thứ đều do tình làm ra, tình đã hôn muội thì tánh chẳng hiển lộ, ấy chẳng phải lỗi của tánh. Thất tình thay phiên tuần hoàn thì tánh chẳng toàn vẹn, như nước có cặn bã thì chẳng trong, lửa có khói đen thì sáng chẳng tỏ, ấy chẳng phải lỗi của nước và lửa không trong sáng, cặn bã chẳng có thì nước trong, khói đen chẳng tỏa thì ánh sáng tỏ, thất tình chẳng làm thì tánh tròn vẹn vậy”. Lại nói: “Tánh với tình chẳng lìa nhau, nếu chẳng có tánh thì tình chẳng thể sanh, vậy tình do tánh mà sanh, tình chẳng tự tình, bởi tánh mà tình, tánh chẳng tự là tánh, do tình mà tánh”.
    2.Bùi Độ 裴度 (765-839):
    Bùi Độ tự Trung Lập 中立, người Văn Hy, Hà Đông (nay thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên, được bổ làm Giám sát ngự sử, sau được thăng làm Ngự sử trung thừa rồi làm đến chức Tể tướng. Năm Nguyên Hoà thứ 12 (817), Ngô Nguyên Tế chiếm giữ Thái Châu (Hoài Tây) nổi loạn chống triều đình. Tháng bảy, ông được phong làm Hoài Tây tuyên uý chiêu thảo sứ đi đánh dẹp. Sau khi dẹp được loạn, ông được phong tước Tấn quốc công, về sau hoạn quan chuyên quyền, ông từ quan về ở Lạc Dương. Khi mất, ông được phong thuỵ là Văn Trung. Trong "Toàn Đường thi" hiện còn mười tám bài thơ của ông.
    Ở bên khe suối
    Suối lấp lánh trước nhà
    Mái tranh kề cây già
    Bụi trần bay chẳng tới
    Chim nước về hót ca (Người dịch: Vũ Minh Tân)
    3. Hàn Dũ: 韓 愈 (768-824):
    Nhà văn học, nhà triết học đời Đường, tự là Thối Chi, người Hà Dương (nay thuộc phía tây huyện Mạnh tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 (819) ông dâng biểu can gián vua Hiến Tông cung nghinh Phật cốt nên bị biếm chức làm Thứ sử ở Triều Châu. Ông từng thỉnh Thiền sư Đại Điên đến Châu Nha đàm đạo hơn mười ngày, và vì cầu mưa cúng tế thần biển mà phải đến Triều Dương, ở lại ngủ tại chùa Linh Sơn. Khi Hàn Dũ phụng mệnh đến nhận chức Thứ sử Viên Châu còn để lại chiếc áo tặng cho Thiền sư Đại Điên. Người đời sau xây cất Lưu Y Đình trong chùa Linh Sơn để kỷ niệm.
    Một hôm, Hàn Dũ hỏi Đại Điên:- Đệ tử ở Quảng Châu nhiều việc, xin thầy cho một câu tóm tắt hết Phật pháp!
    Đại Điên lặng thinh một giây lâu không nói, hỏi Dũ:
    - Hội chăng?
    Dũ thưa:
    - Chẳng hội!
    Thị giả của Đại Điên, gõ giường thiền ba cái.
    Đại Điên hỏi:
    - Làm gì thế?
    Thị giả thưa:
    - Trước dùng định động, sau dùng trí nhổ.
    Khi đó Dũ nói:
    - Môn phong của Thầy cao vót, may mắn đệ tử từ bên thị giả được chỗ vào.
    4. Bàng Uẩn 龐 蘊
    Cư sĩ đời Đường, tự là Đạo Huyền, người đời gọi là Bàng cư sĩ, Bàng ông; người đất Hành Dương, Hành Châu (nay thuộc Hồ Nam), Trung Quốc. Ông xuất thân từ Nho nghiệp; lúc niên thiếu ngộ trần lao, chí cầu chân đế. Ông trước tiên đến tham vấn Thạch Đầu, hỏi:
    - Người chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người nào?
    Thạch Đầu lấy tay bịt miệng ông lại, ông có phần tỉnh ngộ.
    Thạch Đầu một hôm hỏi ông:
    - Gần đây, mỗi ngày ông làm việc gì?
    Ông đáp bằng bài kệ:

    Nhật dụng sự vô biệt
    Duy ngô tự ngẫu hài
    Đầu đầu phi thủ xả
    Xứ xứ vật tương quai.
    Châu tử thùy vi hiệu
    Khâu sơn tuyệt điểm ai
    Thần thông tịnh diệu dụng
    Vận thủy cập ban sài.
    Dịch:
    Hằng ngày không việc khác
    Chỉ mình tôi biết hay
    Vật vật chẳng bỏ lấy
    Chỗ chỗ nào trái bày.
    Quan chức mặc ai gọi
    Núi gò bặt trần ai
    Thần thông cùng diệu dụng
    Gánh nước, bửa củi tài.
    Về sau, tham vấn Mã Tổ vẫn hỏi:
    - Người chẳng cùng vật làm bạn là người nào?
    Tổ bảo:
    - Đợi khi nào ông hớp một hớp hết nước Tây Giang, ta sẽ nói ông nghe.
    Bàng Uẩn ngay lời nói, đại ngộ vô ngại trong bất khả thuyết. Từ đây cơ biện tung hoành, ở chỗ Mã Tổ hai năm. Cả nhà của Bàng Uẩn đều cam chịu nghèo khổ mà vui với đạo. Có bài kệ nói:
    Hữu nam bất hôn
    Hữu nữ bất giá
    Đại gia đoàn loan đầu
    Cộng thuyết vô sanh thoại.
    Dịch:
    Có trai không cưới
    Có gái không gả
    Cả nhà chung hội hợp
    Đồng nói lời vô sanh.
    Một hôm, đang ở trong nhà, Bàng Uẩn than rằng:
    - Khó! Khó! Khó! Mười tạ dầu mè trên cây vuốt.
    Bà Bàng Uẩn nói:
    - Dễ! Dễ! Dễ! Trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư.
    Con gái của Bà Bàng Uẩn là cô Linh Chiếu liền ứng thinh tiếp:
    - Cũng chẳng dễ, cũng chẳng khó, đói đến thì ăn, mệt ngủ khò.
    Có thể thấy, tình huống cả nhà của Bàng Uẩn cùng nói lời vô sanh. Khi sắp nhập diệt, ông nói với con gái của ông rằng:
    - Đúng ngọ ta sẽ đi.
    Ông bảo cô Linh Chiếu ra ngoài xem mặt trời sớm hay muộn. Con gái ra xem vào thưa:
    - Mặt trời đã đúng ngọ, nhưng có nhựt thực. Ông bước ra xem, vừa trở vào trong phòng, thấy con gái ông ngồi trên tòa của ông đi trước.
    Ông cười, nói:
    - Con gái ta lanh lợi quá!
    Qua bảy ngày, có ông Châu Mục họ Vu đến thăm bệnh, Bàng Uẩn gối đầu lên đùi của ông Vu mà tịch. Bà Bàng Uẩn thấy chồng và con gái đều đi, bà đi ra ruộng cho con trai hay. Con trai nghe nói thân phụ và em gái đều đi, chàng liền đứng mà tịch. Bà Bàng Uẩn chống cuốc, nói:
    - Họ đều như thế, riêng ta chẳng như vậy!
    Về sau chẳng biết bà tịch như thế nào.
    Qua các công án kể trên, chúng ta thấy Thiền tông (Tổ sư thiền) thạnh hành từ sau Hy Thiên và Đạo Nhất.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    - Thái Hư Đại sư toàn thư.
    - Tổ sư thiền do Đổng Quần soạn.
    - Thiền Môn Khai Ngộ Thi tam bách thủ của Đỗ Tùng Bách.

  10. #1010

    Mặc định thiền định và thiền quán

    Học Viện Phật giáo

    VIỆT TỔ PHÂN ĐĂNG THIỀN

    TÔNG QUY NGƯỠNG

    Thiền tông thường gọi Việt Tổ Đăng Thiền là Siêu Phật Việt Tổ, nghĩa là chẳng phải siêu Phật, mà còn phải việt Tổ. Phân Đăng là năm tông chia truyền ngọn đèn thiền. Vào thời Tổ Đạt-ma, ngài đã có nói qua câu Một hoa nở năm cánh. Do đó, năm nhà chia truyền ngọn đèn thiền, là do Tổ Đạt-ma đã dự báo.
    Thiền tông đã phát đạt đến thời kỳ này, hoàn toàn là nhờ vào tài năng của các vị đương thời. Vả lại có câu Trí bằng thầy kém thầy nửa đức, trí hơn thầy mới kham đảm đương. Đối với câu hỏi Ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, liền nói sao chẳng hỏi ý của chính mình, khiến cho người tham học, mỗi mỗi siêu thiên siêu địa không bị che lấp. Do đó, có Đức Sơn quở Phật mắng Tổ, Lâm Tế không chịu lễ bái Phật, Tổ, đồng thời cùng xuất hiện.
    Năm nhà bảy phái của Thiền Tông được nói đến ở đây, đều là chỉ cho tình huống phân tông phân phái của Nam Tông từ Lục Tổ Huệ Năng trở về sau. Từ Sơ tổ Đạt-ma truyền qua năm đời đến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, sau Tổ Hoằng Nhẫn lại phân hai phái Bắc Tông Thần Tú và Nam Tông Huệ Năng. Bắc Tông lưu hành ở phương Bắc truyền qua vài đời rồi đoạn dứt. Nam Tông lưu hành ở phương Nam, truyền bá rộng rãi, sửa đổi lại cách thức thầy trò truyền riêng, thường thường một thầy truyền cho vài đệ tử, mỗi người trở thành một nhà. Do đó, càng diễn biến càng phồn thịnh, thiền phong bủa khắp Trung Quốc, mỗi vị chuyên hoằng giáo thuyết của thầy mình, rồi tự lập thành một nhà, bèn có năm nhà là Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Bảy phái là, vào đời thứ sáu của Tông Lâm Tế là Thiền sư Thạch Sương Sở Viên lại phân thành phái là Hoàng Long Huệ Nam và Dương Kỳ Phương Hội, đó là năm nhà bảy phái. Trong số đó, Tông Quy Ngưỡng là dứt truyền sớm nhất, Tông Tào Động chỉ còn yếu ớt, có ba tông Vân Môn, Lâm Tế, Pháp Nhãn đến đời Tống vẫn rất hưng thịnh. Đến cuối đời Thanh đầu Trung Hoa Dân Quốc, Tông Lâm Tế truyền bá khắp thiên hạ, Tông Tào Động chỉ còn ở một chốn. Song sự hưng suy của tông phái, chẳng phải do giáo pháp có mạnh yếu, mà chỉ do có được người tiếp nối hay không mà thôi. Năm nhà bảy phái phân chia, chỉ bởi gia phong không đồng mà có sai biệt, không phải tông chỉ hay giáo nghĩa có khác nhau.
    Tông Quy Ngưỡng là một tông phái thành lập sớm nhất trong Thiền tông, lấy Lục Tổ Huệ Năng làm đại biểu. Do vì người khai sáng tông này là Linh Hựu và đệ tử là Huệ Tịch, trước sau ở Quy Sơn tại Đàm Châu (nay thuộc phía tây huyện Đinh Hương, tỉnh Hồ Nam) Ngưỡng Sơn ở Viên Châu (nay thuộc phía nam huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây), nêu lên tông phong của một nhà, đời sau gọi là tông Quy Ngưỡng.

    I. QUY SƠN LINH HỰU (771-853)
    Thiền sư Linh Hựu là con họ Việt ở Phước Châu, năm 15 tuổi xuất gia với luật sư Pháp Thường ở chùa Kiến Thiện trong quận, thọ giới ở chùa Long Hưng tại Hàng Châu, 23 tuổi đi tìm học đến Giang Tây, tham lễ Thiền sư Hoài Hải ở núi Bách Trượng. Một hôm, Sư đứng hầu đến khuya, Bách Trượng bảo: “Ông vạch trong lò xem có lửa không?” Sư đến vạch tìm xong, nói: “không có lửa.” Bách Trượng đứng lên vạch sâu vào lò có được chút lửa, Ngài đưa lên cho Sư bảo: “Cái này chẳng phải là lửa sao?” Sư nhân đó phát ngộ, lễ tạ trình bày chỗ hiểu. Bách Trượng nói: “Đây là con đường tạm thời thôi. Kinh nói: Muốn biết nghĩa Phật tánh, nên quán thời tiết nhân duyên. Thời tiết đã đến, như mê chợt ngộ, như quên chợt nhớ, mới hiểu vật của mình không từ bên ngoài có được. Cho nên Tổ sư dạy: Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp. Chỉ là không có tâm phàm, thánh hư dối, tâm pháp xưa nay vốn tự đầy đủ. Nay ông đã như thế, nên khéo giữ gìn.”
    II. NGƯỠNG SƠN HUỆ TỊCH (814-890)
    Thiền sư Huệ Tịch ở Ngưỡng Sơn, người ở Hoài Hóa Thiều Châu, họ Diệp. Vào năm 15 tuổi Sư định xuất gia, nhưng cha mẹ không cho phép. Hai năm sau, sư chặt hai ngón tay, đến quỳ trước cha mẹ, phát thệ tìm học chánh pháp, để báo đáp lại ân của cha mẹ sinh thành khó nhọc, cha mẹ mới chấp nhận. Sư liền đến nương với Thiền sư Thông ở chùa Nam Hoa xuất gia, chưa thọ giới cụ túc nhưng Sư đã đi các nơi tham học. Đầu tiên Sư đến yết kiến ngài Đam Nguyên, đã tỏ hiểu được huyền chỉ. Sau đó tham học với Quy Sơn, mới đạt đến chỗ sâu xa.
    III. ĐẶC ĐIỂM CỦA TÔNG QUY NGƯỠNG
    Ở trong năm nhà của Thiền tông, tông Quy Ngưỡng hưng thịnh rất sớm, nhưng suy vong cũng tương đối sớm. Dòng mạch pháp ấy lưu truyền ước khoảng 150 năm.
    1. Sự sâu kín của Quy Ngưỡng
    Tông phong của Tông Quy Ngưỡng, vi tế kỹ lưỡng mật thiết, thầy xướng trò hòa, sự lý đồng hành. Lời nói về thể và dụng bên ngoài giống như chống trái mà trong thầm khế hợp nhau. Trong quyển “Nhân Thiên Nhãn Mục” nói: “Tông Quy ngưỡng là cha từ bi con hiếu thảo, trên ra lệnh dưới vâng theo; ông muốn ăn cơm, ta liền dâng món ngon, ông muốn qua sông, ta liền chèo thuyền; cách núi thấy khói, liền biết có lửa; cách tường thấy sừng, liền biết là trâu.” Cũng là ý vuông tròn thầm khế hợp. Trong quyển “Ngũ Gia Tham Tường Yếu Lược Môn” nói: “Tông Quy Ngưỡng sáng tỏ tác dụng.” Như trích đoạn sau đây, khi toàn chúng đi hái trà, Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn rằng: “Trọn ngày hái trà, chỉ nghe tiếng nói của con mà chẳng thấy hình con, hãy hiện bổn hình để thấy nhau.” Ngưỡng Sơn rung cây trà. Quy Sơn nói: “Con chỉ được dụng của nó, chẳng được thể của nó.” Ngưỡng Sơn nói: “Chưa biết Hòa Thượng như thế nào?” Quy Sơn im lặng giây lâu. Ngưỡng Sơn nói: “Hòa Thượng được thể của nó, chẳng được dụng của nó.” Quy Sơn nói: “Tha con ba mươi gậy.” Ngưỡng Sơn nói: “Hòa Thượng đánh thì con chấp nhận, nếu con đánh thì bảo ai chấp nhận đây?” Quy Sơn nói: “Tha con ba mươi gậy.” Đây tức là chỉ thú “Sáng tỏ tác dụng luận thân sơ làm yếu chỉ”. Lại nữa, như trong “Quy Tâm Lục” nói: “Gia phong của Quy Ngưỡng, cơ dụng viên dung, trong thất nghiệm người, câu nói có khả năng như hàm hổ.” Lại trong “Ngũ Gia Tông Chỉ Toát Yếu” nói: “Tông phong Quy Ngưỡng, cha con một nhà, thầy xướng trò hòa. Nói nín chẳng lộ, tối sáng theo nhau, thể dụng cùng bày, lấy người không lời làm tông, tướng tròn làm sáng tông chỉ.”
    Đại cơ đại dụng của Bách Trượng truyền xuống Hoàng Bá và Lâm Tế nhưng Quy Ngưỡng thì được thâm cơ thâm dụng. Quy Sơn, Ngưỡng Sơn, cha xướng con họa, Tông phong nổi tiếng là sâu kín cũng không do đâu mà sáng tỏ.
    2. Viên tướng (tướng tròn)
    Ngưỡng Sơn lúc đầu còn là Sa-di đến tham vấn Đam Nguyên đã ngộ được đại chỉ của Thiền tông. Một hôm, Đam Nguyên đem chín mươi sáu viên tướng (tướng tròn) của Quốc sư Huệ Trung đã truyền, trao lại cho Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn một phen xem qua bèn đem đốt. Qua mấy hôm, Đam Nguyên dặn Ngưỡng Sơn:
    - Chín mươi sáu viên tướng của Quốc sư Huệ Trung là từ chư Tổ ở trên truyền xuống, ngươi cần phải khéo giữ gìn.
    Ngưỡng Sơn thưa:
    - Con đã đốt quách rồi!
    Đam Nguyên hỏi:
    - Tại sao con lại đốt?
    Ngưỡng Sơn thưa:
    - Dùng được thì đốt, không nên câu chấp! Nếu Hòa Thượng cần, thì con có thể vẽ lại nó.
    Sư vẽ lại đem trình Đam Nguyên. Hôm sau, Đam Nguyên thượng đường thử nghiệm lại Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn làm tư thế trình xong, chắp tay đứng. Đam Nguyên liền lấy hai tay giao nhau nắm lại để khai thị sư. Ngưỡng Sơn liền tiến tới trước ba bước làm tư thế người con gái lễ bái.
    Ngưỡng Sơn lúc còn ở chỗ ngài Đàm Nguyên, có nhận lãnh 97 thứ tướng tròn. Về sau ở chỗ ngài Quy Sơn, do tướng O mà đốn ngộ. Ngưỡng Sơn nói: “Ta ở chỗ Đam Nguyên được thể, ở chỗ Quy Sơn được dụng. Chủ khách đối lập, hoặc vẽ tướng Ngưu ( ) hoặc vẽ tướng Phật ( ) hoặc vẽ tướng nhân ( ) hoặc vẽ tướng vạn ( ), có nghĩa gần có nghĩa rộng, các thứ biểu hiện, mọi người không thể lường”.
    3. Cơ phong
    Một hôm, Ngưỡng Sơn hỏi:
    - Thế nào là chỗ ở của chân Phật?
    Qui Sơn đáp:
    - Dùng cái diệu trí tư duy mà không tư duy, để tư duy trở lại cái tinh anh sáng suốt vô cùng, tư duy hết , trở về bản nguyên, tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, là chơn Phật như như.
    Ngưỡng Sơn ngay nơi lời nói này đại ngộ. Từ đây, Sư hầu hạ Qui Sơn hơn mười lăm năm, về sau, trở thành tông Qui Ngưỡng.
    Một hôm, Ngưỡng Sơn từ trong ruộng về. Qui Sơn hỏi:
    - Từ đâu về?
    Ngưỡng Sơn đáp:
    - Từ trong ruộng về.
    Qui Sơn hỏi:
    - Trong ruộng nhiều người hay ít người?
    Ngưỡng Sơn cắm cái mai rồi đứng. Qui Sơn bảo:
    - Hôm nay ở Nam Sơn có nhiều người cắt cỏ tranh.
    Ngưỡng Sơn nhổ cái mai lên rồi đi.
    Thầy trò Qui Ngưỡng đối với loại cơ phong này, nói chẳng xiết được.
    • Một hôm, Hoàng Bá sai Lâm Tế mang thư đến Qui Sơn, khi đó Ngưỡng Sơn làm tri khách ở chỗ Qui Sơn, tiếp nhận thư rồi, sư nói với Lâm Tế:
    - Đây là thư của Hoàng Bá hay của ông?
    Lâm Tế đưa tay đánh, bị Ngưỡng Sơn nắm tay lại nói:
    - Biết việc này thì được.
    Lâm Tế đến chỗ sư là muốn gặp sư để đánh, nhưng khi gặp Ngưỡng Sơn lại động tay chẳng được. Do đây có thể thấy được, Thiền pháp của Ngưỡng Sơn rất cao.
    Về sau, Qui Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
    - Bách Trượng từ chỗ Mã Đại Sư được đại cơ đại dụng, còn có người nào được nữa chăng?
    Ngưỡng ơn đáp:
    - Hoàng Bá được đại cơ, Lâm Tế được đại dụng.
    Qui Sơn bèn ấn khả.
    • Một hôm, có vị la-hán đến hỏi đạo, Ngưỡng Sơn dùng viên tướng (tướng tròn) để dạy, la-hán làm lễ, bay lên hư không mà đi. Về sau, có một vị la-hán nữa đến, sau một phen vấn đáp, vị ấy nói:
    - Ta đến Đông Độ lễ Văn-thù đến gặp lại là Tiểu Thích-ca.
    Tông này bèn gọi Ngưỡng Sơn là Tiểu Thích-ca.
    • Lại có thiền sư Văn Hỷ đi đến núi Ngũ Đài, giữa đường gặp một ông già, Văn Hỷ hỏi:
    - Ở đây Phật Pháp trụ trì thế nào?
    Ông già đáp:
    - Rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh ở chung.
    Hỏi:
    - Chúng nhiều ít?
    Đáp:
    - Trước ba ba, sau ba ba.
    Hôm sau thức dậy chẳng thấy ông già trong phòng, mà chỉ thấy Văn-thù cỡi sư tử trị trong hư không. Văn Hỷ về sau đến tham vấn Ngưỡng Sơn được ngộ. Ở chỗ Ngưỡng Sơn làm phạn đầu (nấu cơm). Một hôm, sư nấu cơm, hơn bốc lên lại thấy Văn-thù hiện thân, sư lấy đũa bế đánh Văn-thù và nói:
    - Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ, hôm nay làm hoặc loạn ta chẳng được.
    Văn-thù nói kệ:
    Khổ qua liên căn khổ
    Điềm qua triệt đới điềm
    Tu hành tam đại kiếp
    Khước bị Lão Tăng hiềm
    (Dưa đắng gốc vẫn đắng
    Dưa ngọt rễ cũng ngọt
    Tu hành ba đại kiếp
    Còn bị Lão Tăng đánh)
    • Quy Sơn cùng Sư du hành, bỗng chim tha quả hồng chín đánh rơi trước mặt. Qui Sơn vội lượm quả hồng đưa Sư, Sư nhận quả hồng đi lại nước rửa, rửa xong, Sư dâng Qui Sơn. Qui Sơn bảo: Ở chỗ nào con được quả này? Sư thưa: Đây là đạo đức của Hòa Thượng cảm nên. Qui Sơn nói: Con đâu phải không có! Liền bèn bẻ nửa quả hồng cho Sư.
    • Sư đến phiên chăn trâu dưới sườn núi, thấy một vị Tăng lên núi không bao lâu lại xuống. Sư bèn hỏi: Thượng tọa sao không lưu lại trong núi? Tăng nói: Chỉ vì nhân duyên chẳng hợp. Sư hỏi: Có nhân duyên gì thử nói xem? Tăng nói: Hòa Thượng hỏi tôi tên gì, tôi đáp Qui Chân. Hòa Thượng hỏi Qui Chân ở đâu, tôi đáp không được. Sư bảo: Thượng tọa trở lên thưa với Hòa Thượng con nói được, Hòa thượng hỏi nói thế nào, chỉ đáp: Trong mắt, trong tai, trong mũi! Vị Tăng trở lại nói đúng như Sư dạy. Qui Sơn quở: Kẻ nói suông vô ích, đây là lời thiện tri thức của năm trăm người.
    • Sư nằm mộng thấy vào nội viện của đức Di-lặc, trong nhà Tăng các tòa đều có người ngồi, chỉ có tòa thứ hai trống, Sư liền lên tòa ngồi. Có vị Tôn giả bạch chùy (khai kiểng) rằng: Hôm nay tòa thứ hai nói pháp. Sư đứng dậy bạch chùy rằng: Pháp Đại thừa ly tứ cú, tuyệt bách phi, lắng nghe! lắng nghe! Chúng giải tán đi.
    Sư thức giấc đem việc ấy thuật lại Qui Sơn bảo:
    - Con đã vào vị thánh. Sư lễ tạ.
    • Sư vẫn theo Qui Sơn ngót mười lăm năm. Được Qui Sơn mật ấn, Sư lãnh chúng ở núi Vương Mãng. Hóa duyên ở đây không hợp, Sư dời đến Ngưỡng Sơn, học chúng đua nhau đến đấy rất đông.
    • Sư về Qui Sơn thăm, Linh Hựu hỏi:
    - Con đã xưng là thiện tri thức, có biện được những người các nơi đến; biết có chẳng biết có, đã kế thừa thầy hay không kế thừa thầy, là nghĩa học là huyền học, con thử nói xem.
    Sư thưa:
    - Con có chỗ kinh nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến liền dựng phất tử dậy, hỏi y: các nơi lại nói cái này hay chẳng nói. Lại bảo, ý lão túc các nơi thế nào.
    Linh Hựu khen:
    - Đây là nanh vuốt trong Tông môn từ trước!
    Linh Hựu lại hỏi:
    - Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có?
    Sư thưa:
    - Con có chỗ kinh nghiệm, lúc ấy có vị Tăng đi qua trước mặt, Sư gọi: Xà lê!? Vị Tăng xoay đầu lại. Sư thưa: Bạch Hòa thượng cái này là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.
    Linh Hựu bảo:
    - Đây là một giọt sữa sư tử, làm tan sáu đấu sữa lừa.
    Thời của Qui Sơn và Ngưỡng Sơn, người nghe pháp được ngộ tuy nhiều, nhưng tông của các ngài chỉ truyền lại có năm đời là dừng. Qui Sơn Hựu truyền cho Ngưỡng Sơn Tịch, Ngưỡng Sơn truyền cho Nam Tháp Dũng, Dũng truyền cho Tư Phước Bảo, Bảo truyền cho Tư Phước Thúy.
    Tóm lại, tông này môn phong nghiêm cẩn, chỗ tiếp dẫn người học xem như mênh mông vô bờ bến, mà kỳ thực thì sâu xa tế mật, sự lý cùng hành. Trong năm nhà của Thiền tông thì Tông Quy Ngưỡng hưng khởi sớm nhất và suy vong cũng sớm nhất. Sự truyền thừa đời thứ 6 trở đi không thấy chép lại trong sử sách, im bặt tăm hơi, pháp mạch kéo dài khoảng 150 năm (Từ cuối nửa đời Đường đến những năm đầu đời Bắc Tống)

  11. #1011

    Mặc định

    .... Chết mất, Huynh VuiVe Copy rồi dán thế này ...Đọc mỏi mắt lắm. Các Tiền bối có thể nói cho QL biết pháp môn Thiền nào mà triệt được Tham-Sân-Si-Mạn-Nghi-Ác kiến hay chăng ?
    Bởi đi đâu cũng nghe là :...Thiền bao nhiêu năm mà ...Tham-Sân-Si...V.v vẫn còn nguyên .Vậy thì Quý Đạo Hữu Tu Thiền để mong cầu cái gì vậy ? 107 dap dau..



  12. #1012

    Mặc định thiền định và thiền quán

    HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM tại TP.HCM.

    

    Môn: THIỀN HỌC ĐẠI CƯƠNG.(phần tiếp}
    Giảng sư phụ trách: Tỳ khưu TĂNG ĐỊNH.


    Trong Kinh Pháp cú (Dhammapada), Đức Phật có dạy: “Natthi jhānaṃ appaññassa natthi paññā ajjhāyino” nghĩa là: “Thiền định không phát sanh đến người không trí tuệ, trí tuệ cũng chẳng phát sanh đến người không có Thiền”. Lời Phật nói trên đây chỉ cho biết rằng: Nếu ta muốn được giải thoát thì phải nương theo trí tuệ mà tu hành, không trí tuệ thì chẳng suốt thông nhân sanh của ngũ uẩn được, song Trí tuệ mà phát sanh được là nhờ trước phải có tu tập Thiền làm nền tảng.
    Thiền (Jhāna) là phương pháp tu tập để thiêu đốt phiền não, có hai loại là thiền Chỉ (hay thiền Định) và thiền Quán. Thiền Chỉ là phương pháp tập trung tư tưởng trên một trong 40 đề mục, để phát triển Định tâm (Samādhi), chỉ chứng đắc Thần thông (Abhiññā) nhưng chưa giải thoát được. Còn thiền Quán là phương pháp phát triển Tuệ giác (Ñāṇa) trên 04 đề mục (Thân, Thọ, Tâm và Pháp) để thấy rõ Tam Tướng (Trāyalakkhana): Vô thường, Khổ não và Vô ngã của Danh Sắc hay sự Sanh Diệt của Ngũ uẩn. Phương pháp tu thiền Định chỉ đè nén phiền não tạm thời, còn pháp tu thiền Quán thì sát tuyệt phiền não hoàn toàn, thành tựu Đạo Quả chứng ngộ Níp Bàn.
     ÐỀ MỤC CUẢ THIỀN
    • là đối tượng, một sự vật hoặc là một tiến trình hay một trạng thái, nơi (vị trí) mà tâm ta tập trung sự chú ý, quan sát hoặc theo dõi vào đó để có sự ghi nhận* đối tượng hay đề tài.
    (* còn gọi là sự chú Niệm ( Sati ) hoặc biết rõ (Sampajañña).
    • Có 02 loại đề mục: - 40 đề mục Thiền Chỉ (hay Thiền Định - Samādhi).
    - 04 đề mục Thiền Quán (hay Thiền Tứ Niệm Xứ - Satipaṭṭhaṇā).
     THIỀN CHỈ (SAMATHA)
    Đề mục Thiền Chỉ (Samatha kammaṭṭhāṇa) gồm có 40 đề mục được chia ra thành 7 nhóm:

    1. 10 đề mục Hoàn tịnh (Kasiṇa) là: Ðất (Pathavīkasiṇa), Nước (Āpokasiṇa), Lửa (Tejekasina), Gió (Vāyokasiṇa), Xanh (Nīlakasiṇa), Vàng (Pītakasiṇa), Ðỏ (Lohitakasiṇa), Trắng (Odātakasiṇa),
    - Hư không (Ākāsakasiṇa), Ánh sáng (Ālokakasiṇa).
    2. 10 đề mục Tử thi (Āsubha) là:
    1) Bành trướng tướng (Uddhumātaka): tử thi sình trương lên.
    2) Thanh trướng tướng (Vinīkaka): tử thi sình lên và có màu xanh.
    3) Nồng lạn tướng (Vipubbaka): tử thi có mủ chảy ra.
    4) Ðoạn hoại tướng (Vicchiddaka): tử thi bị chặt đứt ra nhiều đoạn.
    5) Thực hám tướng (Vikkhājitaka): tử thi bị thú ăn có dấu nhiều nơi.
    6) Tán loạn tướng (Vikkhitaka): tử thi bị chặt đứt ra nhiều đoạn.
    7) Chiết đoạn tướng (Hatavikkhittaka): tử thi bị chém nhiều vết thương.
    8) Huyết đồ tướng (Lohikata): tử thi bị thương tích có máu chảy ra lênh láng.
    9) Trùng tụ tướng (Pulèvaka): tử thi bị dòi đục cả đống trong cữu khiếu.
    10) Hài cốt tướng (Aṭṭhika): tử thi chỉ còn bộ xương trắng rời rã.
    3. 10 đề mục Tùy Niệm (Anussati) là:
    - Niệm về Ân đức của Phật (Buddhānussati).
    - Niệm về Ân đức của Pháp (Dhammānussati).
    - Niệm về Ân đức của Tăng (Sanghānussati).
    - Niệm về Ân đức của Giới hạnh (Sīlānussati).
    - Niệm về Ân đức của Bố Thí (Cāgānussati).
    - Niệm về Ân đức của Chư Thiên (Devatānussati).
    - Niệm về sự Chết (Maranānussati).
    - Niệm về 32 thể trược của Thân (Kāyagatānussati).
    - Niệm Sổ tức quan – Hơi thở (Anāpānussati).
    - Niệm Tịch tịnh - Níp bàn. (Upasamānussati).
    4. 04 đề mục Tứ Vô Lượng Tâm (Appamaññā) là:
    - Từ (Mettā), Bi (Karuṇā), Hỷ (Muditā), Xả (Upekkhā).
    5. 04 đề mục Vô sắc (Arūpa) là:
    - Không Vô Biên Xứ (Āhārānañcāyatana).
    - Thức Vô Biên Xứ (Viññānañcāyatana).
    - Vô Sở Hữu Xứ (Akiñcaññāyatana).
    - Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Nevasaññānāsaññāyatana).
    6. 01 đề mục Phân biệt Thân tứ đại (Vavaṭṭhāna) là:
    - niệm về Đất, Nước, Lửa, Gió (Tứ đại) trong thân.( có 42 thứ gồm 04 nhóm: (Đ20-N12-L4-G6).
    7. 01 đề mục Quán tưởng (Saññā) là:
    - quán tưởng "Thực phẩm mà mình dùng là món đáng nhờm gớm" để niệm.
     THẾ NÀO GỌI LÀ ÐỊNH (Samādhi)?
    Trạng thái của tâm Đại thiện có sở hữu Định (Ekaggatā) thắng lực đồng sanh, an trụ vững chắc trong một đề mục gọi là Ðịnh. Có hai loại Ðịnh:
    1) Phàm định (Lokiya samādhi) là cái thể trạng của tâm Đại an trụ trong cảnh giới tham luyến theo ba cõi là: cõi Dục giới, cõi Sắc giới và cõi Vô Sắc giới.
    2) Thánh định (Lokuttara samādhi) là thể trạng của tâm lành an trụ trong một cảnh giới, nương theo Thánh Ðạo. Trong hai loại Ðịnh ấy, Thánh Ðịnh sẽ giải trong pháp Thiền Quán Tứ Niệm Xứ (Vipassana).
    Phàm Ðịnh có hai bậc: 1) Cận định (Upacāra samādhi) .
    2) Nhập định (Appanā samādhi) .
     Trong 2 bậc đó thì Cận định ở cõi Dục giới, Nhập định ở vào cõi Sắc giới và cõi Vô Sắc giới.
     Tâm hành giả thực hành Thiền Quán phát triển Tuệ giác trên nền tảng của Cận định và Phiến thời định. (Khanika samādhi). .
     CÁCH TU TẬP THIỀN ÐỊNH
    Hành giả nếu muốn tu tập Thiền, theo Tam Vô Lậu Học thì trước nhất phải nghiêm trì Giới luật, bởi Giới năng sanh Ðịnh, Ðịnh năng phát Tuệ.
    Những hành giả muốn học Thiền định, trước phải trau dồi giới hạnh cho tinh nghiêm. Nếu có một trong mười điều dính mắc (quyến luyến, bận rộn) giải sau đây phát khởi lên, thì phải trừ cho tuyệt và tìm nương theo một vị Thiền sư là bậc Thiện trí thức, để học hỏi cho thông thuộc một trong bốn chục đề mục nào hiệp theo tánh nết mình, lánh xa 18 nơi ở nghịch, không thích hợp tìm chổ ở chỗ thuận, xong rồi chú tâm niệm tưởng đề mục Thiền định đã chọn.
    • A. Trau giồi GIỚI HẠNH
    Phải trau giồi giới hạnh cho tinh nghiêm. Có lời hỏi rằng: Nếu hành giả chỉ chú tâm tham thiền, không cần phải giữ giới, có được kết quả chi cao thượng chăng, vì cớ nào?*
    Ðáp: Không có thể được, bởi những người phá giới thì tâm thường không trong sạch. Chẳng cần nói đến sự phạm trọng giới, dầu là phá khinh giới, như cố ý phạm tác ác (dukkatàpatti) cũng đủ làm cho tiêu hoại các đức cao thượng, nhất là thiền định. Nhân đó hành giả phải cần Tu trì giới luật cho trong sạch theo đúng phận sự của ngươì tại gia hoặc xuất gia. Sự trì giới là chỉ để giúp cho thân và khẩu tránh xa nghiệp dữ, nhưng nếu không nhờ năng lực của trí tụê dìu dắt, hướng dẫn thì khó gìn giử giới hạnh cho được trong sạch hoàn toàn.
    Thuận theo sự ưa thích của thân và khẩu, nếu không tu tập cho tâm Đại thiện phát sanh thì người đời thường sống trong sự ô nhiễm, tâm mà được trong sạch là nhờ có tu Thiền (nhân Giới mà sanh Ðịnh, nhân Ðịnh mà phát Tuệ), rồi mới có thể đoạn tuyệt các nghiệp chướng phiền não, khiến cho hành giả nhờ đó mà được phần giải thoát. Pháp tu thiền Ðịnh là để thâu tâm, gom ý cho yên lặng vững vàng không cho duyên theo ngũ dục mà phải bị Ma vương trong tâm mình điều khiển.
    • B. Mười điều Dính mắc (Bân rộn):
    01.- Dính mắc vì săn sóc chỗ ở (āvāsapalibodha)
    02.- Dính mắc vì buộc ràng theo thân quyến hoặc theo gia tộc của người hộ độ mình (kūlapalibodha)
    03.- Dính mắc vì thọ lợi nghĩa là buộc ràng theo sự tụng kinh chú nguyện hoặc thuyết pháp cho thí chủ nghe
    (lābhapalibodha)
    04.- Dính mắc vì nghe người học Kinh hoặc học Luận nghĩa là quyến luyến sự học (gangapalibodha)
    05.- Dính mắc vì công việc tự mình làm hoặc chỉ bảo người làm (kammapalibodha)
    06.- Dính mắc vì đường xa (addhanapalibodha)
    07.- Dính mắc vì nuôi bệnh người thân (như nuôi thầy Giáo thọ, Hòa thượng, hoặc nuôi cha mẹ (natipalibodha)
    08.- Dính mắc vì lo chữa bệnh cho mình (abādhapalibodha)
    09.- Dính mắc vì lo học Tam Tạng (gangthapalibodha)
    10.- Dính mắc vì lo gìn giữ thần thông (iddhipalibodha)
    * Muốn dứt bỏ cả mười điều dính mắc ấy, phải tùy cơ và do theo hai cách sau đây:
    1) Dứt bỏ ngay; 2) Làm cho xong.

  13. #1013

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Quoc.LLac Xem Bài Gởi
    .... Chết mất, Huynh VuiVe Copy rồi dán thế này ...Đọc mỏi mắt lắm. Các Tiền bối có thể nói cho QL biết pháp môn Thiền nào mà triệt được Tham-Sân-Si-Mạn-Nghi-Ác kiến hay chăng ?
    Bởi đi đâu cũng nghe là :...Thiền bao nhiêu năm mà ...Tham-Sân-Si...V.v vẫn còn nguyên .Vậy thì Quý Đạo Hữu Tu Thiền để mong cầu cái gì vậy ? 107 dap dau..


    Chẳng cầu gì, chỉ cần liễu nghĩa: Thật tánh vô minh tức Phật tánh!
    một tiếng chim kêu lời kinh vọng
    núi trôi sông chảy mộng đoàn viên

  14. #1014

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    dưới ánh nắng người và bóng vốn không rời nhau , vô minh cũng như cái bóng , luôn ẩn tàng phía sau , hễ cơ hội là tuông trào , nhưng khéo nhận ra thì ngay cái nhận ra đó nó thành bong bóng , chỉ nhận thấy nó chứ đâu cần làm gì , ăn trộm dụng ý đen tối thấy người là tự lui ,niệm niệm nổi lên là ta hỏi :" àh chào bạn " niệm đầu đã rõ , niệm sau chẳng thấy sao
    người và bóng vốn không hai , bỏ nọ mà tầm kia cầu giải thoát chẳng ích chi , sanh tử niết bàn không hai , ở trong sanh tử mà thường trụ ngay trụ ấy là niết bàn , thẳng tắp chẳng nghi ngại , rỗng lặng thì trí hằng chiếu , đâu đâu chẳng tỏ
    Thế "Cái bóng" trong bài của Huynh mysterious muốn ám chỉ cái gì vậy. Một khi đã thường nhận thấy "cái bóng" như thế thì còn gì phải ngại!!.

  15. #1015

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Quoc.LLac Xem Bài Gởi
    .... Chết mất, Huynh VuiVe Copy rồi dán thế này ...Đọc mỏi mắt lắm. Các Tiền bối có thể nói cho QL biết pháp môn Thiền nào mà triệt được Tham-Sân-Si-Mạn-Nghi-Ác kiến hay chăng ?
    Bởi đi đâu cũng nghe là :...Thiền bao nhiêu năm mà ...Tham-Sân-Si...V.v vẫn còn nguyên .Vậy thì Quý Đạo Hữu Tu Thiền để mong cầu cái gì vậy ? 107 dap dau..


    vào pháp môn thiền đăng tông với tui đi, cầu nho nhỏ thôi , chỉ cầu cái cốc 4 mặt tiền đối diện thảo cấm viên để tiện tịch cốc kinh hành

  16. #1016

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nha_Thien77 Xem Bài Gởi
    Chẳng cầu gì, chỉ cần liễu nghĩa: Thật tánh vô minh tức Phật tánh!
    ... Chỉ "Liễu nghĩa" mà kog Hành( Thiền) thì có ích chi..

  17. #1017

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi vuive Xem Bài Gởi

    • B. Mười điều Dính mắc (Bân rộn):
    01.- Dính mắc vì săn sóc chỗ ở (āvāsapalibodha)
    02.- Dính mắc vì buộc ràng theo thân quyến hoặc theo gia tộc của người hộ độ mình (kūlapalibodha)
    03.- Dính mắc vì thọ lợi nghĩa là buộc ràng theo sự tụng kinh chú nguyện hoặc thuyết pháp cho thí chủ nghe
    (lābhapalibodha)
    04.- Dính mắc vì nghe người học Kinh hoặc học Luận nghĩa là quyến luyến sự học (gangapalibodha)
    05.- Dính mắc vì công việc tự mình làm hoặc chỉ bảo người làm (kammapalibodha)
    06.- Dính mắc vì đường xa (addhanapalibodha)
    07.- Dính mắc vì nuôi bệnh người thân (như nuôi thầy Giáo thọ, Hòa thượng, hoặc nuôi cha mẹ (natipalibodha)
    08.- Dính mắc vì lo chữa bệnh cho mình (abādhapalibodha)
    09.- Dính mắc vì lo học Tam Tạng (gangthapalibodha)
    10.- Dính mắc vì lo gìn giữ thần thông (iddhipalibodha)
    * Muốn dứt bỏ cả mười điều dính mắc ấy, phải tùy cơ và do theo hai cách sau đây:
    1) Dứt bỏ ngay; 2) Làm cho xong.
    Dạ ! MUỘI không bị ràng buộc cả 2=1) Dứt bỏ ngay; 2) Làm cho xong., cái gì cũng xem cho biết rồi buông xã ,chú không bỏ ngay ,mà cũng không quyết định làm cho xong vì làm giữa chừng thấy cái đó không giải quyết đến đâu thì không làm tiếp nữa ,nghĩa buộc hay xã tùy TÂM
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  18. #1018

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Quoc.LLac Xem Bài Gởi
    ... Chỉ "Liễu nghĩa" mà kog Hành( Thiền) thì có ích chi..
    Đã Liễu mà ko hành thì đâu phải thực Liễu, khi thấy con Rắn đang há mồm chực đớp thì có nhảy tránh ko?
    một tiếng chim kêu lời kinh vọng
    núi trôi sông chảy mộng đoàn viên

  19. #1019

    Mặc định thiền định và thiền quán

    posted by Quoc.LLac;

    . Chết mất, Huynh VuiVe Copy rồi dán thế này ...Đọc mỏi mắt lắm. Các Tiền bối có thể nói cho QL biết pháp môn Thiền nào mà triệt được Tham-Sân-Si-Mạn-Nghi-Ác kiến hay chăng ?
    Bởi đi đâu cũng nghe là :...Thiền bao nhiêu năm mà ...Tham-Sân-Si...V.v vẫn còn nguyên .Vậy thì Quý Đạo Hữu Tu Thiền để mong cầu cái gì vậy ? 107 dap dau..
    .................................................. .................................................. ......

    Đây là chương trình học Thiền cho Tăng Ni và cư sỉ Phật Tử

    chương trình học trong 03 tháng

    toàn bộ tăng ni tu học 04 năm

    do vậy Quý Đạo Hữu nào muốn học cho có hệ thống chỉ tu tập như

    các bài nêu trên không có ngoại lệ do tu hành chính bãn thân







  20. #1020

    Mặc định thiền định và thiền quán

    ĐỀ TIỂU LUẬN MÔN THIỀN HỌC ĐẠI CƯƠNG


    I. Đề tài gợi ý:
    1. Khái quát về Tổ sư thiền.
    2. Thiền pháp của Tổ Đạt-ma.
    3. Thiền pháp của Lục tổ Huệ Năng.
    4. Sơ lược Thanh quy của Tổ Bá Trượng.
    II. Hướng dẫn:
    1 Cấu trúc:
     Không nên ghi theo cấu trúc: Mở bài, thân bài, kết luận. Cũng không nên bố ục theo cách: Mở bài, nội dung, kết luận.
     Cấu trúc của bài ngiên cứu nên được phân theo bố cục số la-mã. Phần I mang tính dẫn nhập hoặc giới thiệu bối cảnh ra đời của đề tài. Phần II trở đi cho đến phần kế hần kết luận là các phần thuộc về nội dung và luận điểm. Sau đó là phần kết luận.
    2 Mô tả và yêu cầu chung:
     Bố cục của bài nghiên cứu được xem như một quyển sách thu nhỏ. Nói cách khác, bố cục của quyển sách giống nhưng quy mô hơn, hệ thống hơn, chi tiết hơn một bài nghiên cứu.
     Các chuơng của một quyển sách hay phần mục chính của một bài nghiên cứu phải chiếm ít nhất 60% nội dung thông tin so với tựa đề quyển sách hay đề tài bài chuyên khảo.
     Mỗi phần / chương nội dung được đánh dấu bằng số la-mã, phải có nhiều luận điểm minh họa. Mỗi luận điểm được trình bày bằng các con số á-rập. Hệ thống mặc ước này có thể thay đổi nhưng phải giữ được tính thống nhất và không gây lẫn lộn và hiểu sai ở người đọc.
     Phần kết luận gồm: a) Tóm kết các nội dung chính được trình bày trong từng phần/ chương, b) Nêu bật được các đóng góp chính của tác giả, và c) Đề nghị các phương hướng nghiên cứu về sau, hay nói thêm ý tưởng của tác giả.



    III. Lưu ý khi làm bài:
     Phải có phần cước chú (ghi chú trích dẫn trực tiếp từ nguồn tư liệu nào - footnote) và được ghi theo thứ tự: tên tác giả, tên tác phẩm, Nxb, năm xuất bản, trang (tr ); hay từ nguồn trang web nào.
     Mục lục: ghi số trang cụ thể cho từng mục.
     Tài liệu tham khảo: ghi theo thứ tự tên tác giả, tên tác phẩm, Nxb, năm xuất bản; không liệt kê trang web (đưa nguồn trang web vào cước chú).
     Trích dẫn nguyên văn để trong dấu “ “, và tên tác phẩm in nghiêng.
     Sử dụng giấy A4 (210 x 297mm). Cỡ chữ: 13, Font: Time New Roman, mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1,5 lines; lề trên 2cm, lề dưới 2cm, lề trái 3cm, lề phải 2cm.
     Số trang khoảng 4 đến 8 trang.

    IV. Dàn bài gợi ý:

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Một Số Nghi Thức Chết Đơn Giản Của Đạo Phật
    By phatphapvoluongton in forum Đạo Phật
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 11-06-2012, 02:52 PM
  2. Phật và chư Thiên-Thế giới quan của Đạo Phật
    By Cửu Phẩm Liên Hoa in forum Đạo Phật
    Trả lời: 18
    Bài mới gởi: 08-06-2012, 01:28 PM
  3. Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 12:09 AM
  4. Nghị định 55/2001/NĐ-CP
    By Love_Tamlinh in forum Góp ý xây dựng diễn đàn
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 26-06-2011, 10:56 PM
  5. Dành cho người hữu duyên
    By nguoi_mu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 101
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 07:54 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •