Trang 1 trong 3 123 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 50

Ðề tài: Thiền Ki tô Giáo

  1. #1

    Mặc định Thiền Ki tô Giáo

    Thiền Kitô Giáo
    Đỗ Trân Duy
    T6, 27/11/2009 - 10:54
    Sơ Lược Lịch Sử Thiền

    Người Việt biết thiền qua các dòng tu Phật Đại Thừa và Thiền Tông trung Hoa. Vì vậy Kitô hữu Việt thường ái ngại khi nói đến thiền vì tin rằng đó là một sản phẩm Phật giáo. Thực ra thiền bắt nguồn từ nền minh triết Ấn Độ và đã có trước khi Phật Thích Ca ra đời. Vào thế kỷ III thiền được phổ biến qua Seria và Jordan. Thế kỷ X thiền truyền qua Nhật bản, Âu Châu và đại lục Sôviết. Đến thế kỷ XVIII hầu hết các nước trên thế giới đều biết đến thiền. Qua những giao thoa văn hóa, thiền biến thái thành nhiều môn phái. Ngay Thiền Tông Trung Hoa, mà người Việt quen thuộc, cũng chia ra nhiều phái, nào Nam Tông, Bắc Tông, Tào Động, Lâm Tế…Vì vậy không thể đưa ra một dạng cụ thể nào làm mẫu mực khi nói về thiền.

    “Thiền” theo nguyên ngữ Phạn (Sanskrit) là “dhyana”. Phật Thích Ca đọc theo âm Pali của ngài là “jhana”. Chữ jhana chuyển qua Tạng ngữ là “dzogchen” và qua Hoa ngữ là “ch’an”. Từ ch’an chuyển qua Nhật ngữ là “zen” và chuyển qua Việt ngữ là “thiền”. Zen được người Tây phương giữ nguyên chữ zen hoặc dịch là meditation. Chữ meditation (chiêm niệm) đã có từ rất lâu trong ngôn ngữ Thiên Chúa giáo phương Tây. Vì vậy để mặc cho nó một nghĩa mới, nhiều nơi người ta dùng chữ Christian meditation (thiền Kitô). Tóm lại từ “dhyana” trở thành “thiền” là một phiên âm sai lạc qua nhiều chặng đường. Thiền tự chính nó không có bóng dáng một tôn giáo nào.

    Chiêm niệm bắt đầu từ thời sơ khai của giáo hội và chỉ dành riêng cho các tu sĩ. Sử có ghi vào thế kỷ III nhiều tu sĩ vào sa mạc để sống đời chiêm niệm. Theo khái niệm chiêm niệm thời cổ, chúng ta hiểu là có gắn bó với thiền. Ngay danh xưng monk (tu sĩ) và monastery (tu viện) đã nói lên thâm ý của các tổ phụ chiêm niệm. Monk và monastery cùng có gốc Hy Lạp “monos” nghĩa là đơn độc. Theo truyền thuyết, đã có nhiều tổ thiền nổi danh như Moses, Poemen, Joseph… Câu nói đầy thiền tính của tổ phụ Moses là: “Hãy về tĩnh tọa trong phòng. Căn phòng sẽ dạy ta mọi sự.” Tuy nhiên những vị tổ này đều sống ẩn tu nên người đời sau không biết nhiều về họ. Một tôn sư được lịch sử nhắc tới là thánh Pantaenus với một cuộc đời đầy huyền thoại. Sử cho biết ngài đã sống ở Ấn Độ và được truyền thụ dhyana. Thánh Pantaenus sau đó truyền dhyana cho đệ tử là thánh Clement. Clement truyền lại cho Origen. Năm 300 thánh Paul lập tu viện ở núi Thebes bên Ai Cập. Thánh Paul là vị ẩn danh nên không để lại vết tích nào. Năm 310 thánh Anthony (250-356) thành lập tu viện trên núi Cairô qui tụ hằng ngàn tu sĩ sống đời chiêm niệm và tu thiền. Atanasius, Giám Mục Alexandria, viết về thánh Anthony như sau: “Ngài đơn độc vào sa mạc ẩn trú trong hốc đá. Cứ 6 tháng ngài đi lấy lương thực một lần. Ngài ở đơn độc như vậy trong nhiều năm để tu luyện cách từ bỏ mình.”

    Vào thời trung cổ thiền được giới thiệu cho Kitô hữu bởi giáo sĩ Richard (?-1173). Hiện thời, thiền được phổ biến rộng rãi nhờ công của các linh mục dòng Bênêđíc. Hai tổ thiền nổi tiếng là Thomas Merton (1915-1968) và John Main (1926-1982). Cha Merton, nhà thần học lớn của Công Giáo, có công đào sâu ý niệm về thiền. Cha Main có công dậy về luyện thiền. Trước khi đi tu, John Main đã học thiền với một đạo sư Ấn Độ. Sau khi thụ phong linh mục, Main lập ra 2 đại thiền viện một ở Luân Đôn và một ở Gia Nã Đại. Hiện tại vị kế nghiệp cha Main là cha Laurence Freeman (1951-?). Gần đây Kitô hữu Việt hải ngoại cũng biết tới thiền qua sự giới thiệu của cha Chu Công (1918-2004), Tu Viện Trưởng dòng Tra-pít. Cha Chu Công thụ huấn thiền với thiền sư Nhật Bản Joshu Sasaki Roshi. Ngoài ra những đoản văn ghi những vấn đáp thiền được phiên dịch và phổ biết rộng rãi trong giới Công Giáo. Có lẽ để tránh sự nhạy cảm lạc hướng, danh xưng “thiền sư” hay “guru” được dịch là “minh sư” cho có tính trung hòa. Sự đón nhận thiền của các linh mục đã đánh tan mối dè dặt của Kitô hữu về một kỹ thuật tĩnh tâm rất sống động.

    Khái Niệm Thiền

    Bất cứ đời sống tâm linh nào cũng phải đi đến giai đoạn tĩnh tâm thiền định. Đó là nhu cầu tâm hồn hòa nhập vào Đại Ngã. Cha Shannon gọi là trở về sống trong vườn địa đàng, nơi ta không còn cái tiểu ngã là gốc phát sinh những phân chia nhị nguyên giả tạo. Thiền không phải là một hệ thống tư tưởng, hay cảm giác, hoặc một nhận thức tâm lý… Vì vậy ta đừng rơi vào cạm bẫy tìm hiểu thiền qua những giảng giải đầy chữ nghĩa. Thiền là một chứng nghiệm sống không thể giảng giải. Khi ta bị đau vì đứt tay. “Đau” là một thực tại sống, không phải là khái niệm. Nếu phân tích “đau là gì?”, ta phải đóng khung nó vào một khái niệm. Đau trở thành một khách thể để suy tư. Nhưng ta không thể kinh nghiệm đau qua suy tư giảng giải. Sự thật đau là đau. Ta và đau là một. Chủ và khách không có. Trong thiền có câu “Dù nói mãi về đồ ăn cũng không làm ta no bụng”.

    Tuy nhiên người ta thường không thể chấp nhận một điều gì đó mà không có tối thiểu một vài khái niệm về nó. Vì vậy người ta đành phải có luận bàn về thiền. Triết gia Descartes nói một câu thâm sâu: “Tôi suy tưởng, vì vậy tôi hiện hữu.” Câu này rất đúng với trí thức, nhưng đối với thiền nó lại hoàn toàn sai. Trong thiền, ta càng suy nghĩ bao nhiêu, ta càng xa chân thân bấy nhiêu. Nếu ta lệ thuộc vào “cái tôi suy tưởng” ta sẽ không thể kinh nghiệm được sự thức tỉnh. Khi ta nói, “tôi hiện hữu” ta bắt buộc phải đẩy Chúa ra ngoài thành một đối tượng. Nhưng bản thể của Chúa là “Ta Là” (I Am) trong trạng thái “đang là” ở mọi nơi và trong hiện tại.

    Tại sao trí thức không thể giúp ta ý thức? Ta hãy nhận diện sự diễn tiến của trí thức. Trí thức xác định mỗi vật phải có một vị trí riêng trong không gian và thời gian. Nhờ có khoảng không gian biệt lập này, mà con người có chỗ đứng để nhìn ngắm và suy tưởng về vạn vật. Khi ta nhìn ngắm bông hoa, ta phải đứng ở vị trí của ta và bông hoa phải đứng ở vị trí đối lập với ta. Ta là ta. Bông hoa là bông hoa. Như vậy luôn luôn có hai thế đứng: chủ và khách. Sự biện biệt này là cách đánh lừa rất sâu sắc của trí thức. Nó sẽ dẫn ta tới những lối bí khó gỡ. Trong đời sống tâm linh, để có thể gọi là “ý thức”, ta với đối tượng phải hòa làm một. Muốn “chứng nghiệm” tâm phải thanh tịnh để không có một ý nào của tri thức lọt vào. Nếu ta phải nương vào khái niệm để biết, ta sẽ luẩn quẩn lạc lối trong khái niệm mà không bao giờ có kinh nghiệm về thực tại. Một cách cụ thể khi thiền ta hãy ngồi im lặng coi như thân xác đã chết dù tâm trí vẫn tỉnh. Ta bỏ lại đàng sau tất cả những gì liên quan đến đời sống trần thế, kể cả thân xác chính ta. Có như vậy ta mới tái sinh vào một thế giới cao đẳng hơn. Khi đó ta đạt thức tỉnh sự hiện hữu “đang là” của Thiên Chúa.

    Theo Đạo học Đông Phương, tâm là một bản thể tĩnh lặng. Tâm như bầu trời là một khoảng trống mênh mông, không màu sắc, không tiếng động, không quá khứ, không tương lai. Trong khi đó tư tưởng như những đám mây vần vũ, luôn luôn di chuyển, thay hình đổi dạng, và che khuất bầu trời. Người chứa đầy tư tưởng trong trí óc cũng như bầu trời bị mây phủ dầy đặc. Như vậy tâm vốn an tịnh, mọi rắc rối đều bởi trí óc mà ra. Chúng là tiến trình của những chuỗi tư tưởng đến rồi đi. Do đó tư tưởng chỉ là cái nhất thời. Chúng không phải là ta, nhưng là những kẻ bên ngoài tới rồi đi như những vị khách. Ta đón nhận chúng, khách tốt lẫn khách xấu, nhưng không thay đổi vị thế chủ nhà của mình. Có nghĩa là trí biến dịch nhưng ta vẫn tồn tại ở đây với tâm thanh khiết và đơn thuần. Vén mây để nhìn vào bầu trời, đặc ngữ thiền gọi là “quán tâm” (nhìn vào nội tâm). Nhìn ra sự thanh khiết của bầu trời (tâm) gọi là “ngộ” (trực giác biết không qua trí thức). Muốn nhìn vào bên trong tâm, đơn giản chỉ là ngồi im lặng gạt bỏ mọi tạp niệm, tức ngồi thiền. Thiền là đẩy những đám mây mù đặc để bầu trời (tâm) yên tĩnh hiện ra.

    Một số nhà tư tưởng Công Giáo giải thích thiền là dạng cầu nguyện tập trung (centering prayer). Cầu nguyện tập trung là đặt tất cả ý thức sự hiện hữu của mình an trú trong thời điểm hiện tại với Chúa. Cha Chu Công nói: “Ta không tìm bình an, không tìm giác ngộ, không tìm gì cho mình… Chúa là tất cả của giờ cầu nguyện.” Cha Merton cho rằng: cầu nguyện không phải chỉ là đứng trước Thiên Chúa để nói một điều gì, nhưng còn là để “kinh nghiệm niềm vui cuộc sống trong sự hiện diện của Ngài”.

    Thiền là ngồi “cầu nguyện” nhưng không đọc kinh, không suy ngẫm, không chiêm niệm, và không tư tưởng. Ta không có ý cầu nguyện bất cứ điều gì, dù là cầu nguyện với Thiên Chúa. Ta cũng không hy vọng bất cứ điều gì xảy ra, dù là hy vọng vào Thiên Chúa. Ta đóng lại mọi giác quan, mọi xúc cảm, mọi suy nghĩ, mọi lo lắng, mọi ràng buộc, để chìm vào cõi im lặng của hư vô. Khi Thiên Chúa sinh ra con người, Thiên Chúa thở hơi vào xác phàm của con người. Xác phàm trở thành mạng sống vì hơi thở của Thiên Chúa là Thần Khí ban sự sống. Vậy trong thiền, ta chỉ nên ngồi im lặng mà hít thở. Ta hòa tan hữu thể với Thần Khí ban sự sống. Thiền không phải là việc làm của trí thông minh, nhưng là thời gian của đức tin và lòng khiêm nhường. Tất cả mọi ý thức của ta tập trung hoàn toàn trong ý thức “đang im lặng trong niềm tin”. Các thần học gia gọi phương thế giữ mình trong im lặng là sự an trú trong tình yêu của Thiên Chúa.

    Yếu quyết của thiền là giải phóng mọi ràng buộc để mình là chính mình. Giải phóng là buông xả mọi xiềng xích. Nếu ta không buông xả, ta vẫn còn vướng mắc trong một khuôn mẫu chật hẹp nào đó. Mọi khuôn mẫu đều bị giới hạn trong vòng kiểm soát của trí óc. Chưa buông xả, ta chưa đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa một cách trọn vẹn. Hãy hủy bỏ mọi tư tưởng. Hãy hoàn toàn tĩnh lặng để tâm hồn chìm sâu vào hư vô, nơi Thiên Chúa hiện diện.

    Thiền Kitô

    Nói cụ thể thiền Kitô chính là dạng thiền của Đông Phương phối hợp với lối chiêm niệm của các ẩn sĩ Kitô giáo trong thế kỷ III. Linh hồn Kitô hữu phải gặp Chúa của mình. Nhưng “Ai là người sẽ đứng trước mặt Chúa. Ấy là người tay không nhúng tội và trái tim trong sạch” (TV 24:3-4). Thiền là cách giữ tâm thanh tịnh và trong sạch. Chính Chúa đã phán: “Hãy im lặng để biết Ta là Thiên Chúa” (TV 46:10). Thiền là chiêm niệm trong im lặng, là cách cầu nguyện với kinh vô thanh. Merton đưa ra khái niệm về thiền như sau. Vì Thiên Chúa là ánh sáng quá chói chang khiến trí óc và mắt con người chỉ thấy tối tăm. Vì vậy để gặp Người ta phải đi vào bóng tối. Vì Thiên Chúa không thể hiểu qua âm thanh, nên để gặp Người ta phải đi vào cõi im lặng. Vì Thiên Chúa không thể mường tượng trong trí óc, nên muốn gặp Người chúng ta phải đi vào cõi trống không. Tuy nhiên ta vẫn thức tỉnh để trực giác “biết” rằng ta đang hòa vào Thiên Chúa trong hiện tại vĩnh hằng. Đó là bí quyết thiền.

    Yếu tính của tĩnh lặng là gì? Tĩnh lặng nằm bên ngoài thế giới vật lý và những định luật của vũ trụ. Nó hoàn toàn chỉ là sự trống vắng rất đơn sơ giản dị. Giản dị đến mức không có gì để nói. Thiền là sống với tín lý “tinh thần nghèo khó” vì khi đó chúng ta không bám víu vào bất cứ giá trị nào của trần thế. Chúng ta thoát khỏi mọi hình thức vị kỷ. Trong tĩnh lặng, lời nói mất hiệu lực, ý niệm không còn ý nghĩa. Ta không còn sợ hãi. Ta không còn khả năng “động”. Ta hoàn toàn an tĩnh. Trong trạng thái tuyệt đối tĩnh lặng vượt khỏi biên giới ngôn ngữ, tư tưởng, và ý niệm, ta hoàn toàn khuất phục Thánh Linh. Ta lãnh nhận tình yêu của Thiên Chúa trong sự phó mặc. Rồi “bản thể đích thực” của ta sẽ tự sống dậy. Ta sẽ thấy bản thể thật của mình cũng là bản thể của Thiên Chúa. Lúc ấy tâm linh ta sống trong sự hiện hữu vĩnh hằng của Thiên Chúa. Đó chính là sự cầu nguyện tuyệt hảo vì khi đó ta ở trong Chúa và Chúa ở trong ta. Ta thức tỉnh để kinh nghiệm sự hiện hữu của Thiên Chúa và ta hòa nhập trong Người.
    Chủ yếu của thiền là chứng nghiệm cá nhân. Tuy nhiên khi thiền ta đừng mong muốn hay cầu nguyện điều gì. Quyền lực của thiền không phải ở lý luận trí thức nhưng ở sự hoàn toàn qui thuận Thiên Chúa. Thomas Merton nhắn nhủ ta rằng: Không phải chúng ta là người lựa chọn sự thức tỉnh cho mình, nhưng chính Thiên Chúa là Đấng lựa chọn đánh thức chúng ta.”

    Kỹ Thuật Thiền

    Như trên đã nói thiền có rất nhiều dạng, nên không thể lấy một dạng nào làm tiêu chuẩn mẫu. Ở đây, để có thể đàm luận một cách cụ thể, tôi xin mượn phép thiền của cha John Main. Bí quyết của thiền là ngồi im lặng, nhưng người ta nghiệm ra, không dễ gì mà giữ im lặng trong trạng thái hoàn toàn có ý thức. Trí óc con người rất giao động. Nó luôn luôn tuôn ra những hình ảnh và tư tưởng lộn xộn. Đàng khác nó cũng rất bén nhạy với tư tưởng và hình ảnh quyến dụ từ bên ngoài. Nó như chiếc lông chim nhẹ, chỉ cần một làn gió thoảng đủ khiến nó bay đi. Vì vậy, cái cốt yếu phải biết trong thiền là kỹ thuật giữ thinh lặng. Các tổ phụ Kitô thiền dậy rằng để giữ thinh lặng, chúng ta phải ngồi giữ lưng thẳng, hơi thở điều hòa, mắt nhắm lim dim, miệng tụng mantra (một câu kinh ngắn), rồi chìm vào hư vô. Cần nói rõ mantra không phải là lời cầu nguyện. Nó chỉ là câu niệm âm thanh để giúp trí óc không chạy vẩn vơ. John Main đã dùng nhóm từ “maranathan” làm câu niệm cho phép thiền của ngài. Sau một thời gian công phu luyên tập, ta đạt tới trang thái hoàn toàn tĩnh lặng, đặc ngữ thiền gọi là nhập định, khi ấy ta không cần tới mantra nữa. Tuy nhiên không ai biết khi nào ta đạt trình độ này. Nó tự nhiên đến mà không báo trước. Nếu ta mong nó đến, ta đã đi sai đường. Tất cả những gì ta cần phải làm là “Ngồi xuống, giữ thẳng lưng, tụng mantra.” Ngoài ra không kỳ vọng bất cứ một điều gì.

    Thêm nữa không phải lúc nào thiền cũng được. Thiền chỉ nên có mỗi ngày hai lần, mỗi lần khoảng từ 20 đến 30 phút vào những giờ giấc nhất định. Vì vấn đề kỹ thuật được nhấn mạnh, nên người ta có khuynh hướng tục hóa nghi thức này. Cuối cùng nó có thể trở thành một loại công phu “Yoga” luyện tập thể chất. Điều này không phải là sai, vì lối “ngồi im lặng” hóa giải được sự căng thẳng của thể xác và làm thư giãn tinh thần. Nhưng nếu ta không ý thức đó là dạng cầu nguyện, nó chẳng mang lại một tiến bộ tâm linh nào cho ta cả.

    Vào mỗi buổi sáng và buổi tối, ta hãy tìm một chỗ thanh vắng để thiền. Ta hãy ngồi với tư thế thanh thản, điều quan trọng là phải giữ sống lưng thẳng đứng. Có rất nhiều cách ngồi. Ngồi theo thế tòa sen (kiết già) hai bàn chân bắt chéo đạt lên đùi. Ngồi theo thế bán kiết già, xếp chân nhưng không bắt chéo đặt trên đùi. Ngồi trên ghế. Nếu ngồi trên ghế, tốt hơn đừng dựa lưng vào thành ghế. Tóm lại ngồi cách nào cũng được miễn ta thấy thoải mái. Thế ngồi thẳng lưng đứng tạo sinh lực giúp ta vượt giới hạn của thân và trí để có trạng thái buông xả.

    Trước khi thiền ta nên để tâm hồn hoàn toàn buông xả. Kế đó ta tụng câu “Ma-ra-na-tha”. Bốn âm thanh này phát ra đều đặn trong suốt buổi thiền. Ma-ra-na-tha có nghĩa là “lạy Chúa xin hãy đến”. Đây là tiếng Aramiac, ngôn ngữ của Đức Giêsu dùng khi xưa. Cha Main luôn luôn nhắc nhở “Hãy chỉ tụng lời, đừng nghỉ đến nghĩa”. Tụng đơn sơ và thanh khiết như con trẻ.

    John main tìm ra phương pháp này qua phương pháp tĩnh tâm của thánh John Cassian (360-435) ở thế kỷ IV. Thánh Cassian cùng bạn là thánh Germanus đi vào sa mạc Ai Cập học đạo với tổ phụ Isaac. Ngài Isaac tiết lộ rằng tất cả những gì ông biết đếu bắt nguồn từ tụng một câu kinh ngắn. Sau đó Isaac dạy cho Cassian lời nguyện với bí quyết: khi tụng kinh hãy buông mình theo hướng Chúa dẫn mình đi. Đừng trói buộc Chúa vào bất cứ một tư tưởng nào.

    John Main tâm sự, “Câu mantra của tôi là maranatha. Câu này là lời kinh tối cổ của giáo hội Kitô. Thánh Phaolô kết thư gửi cho tín hữu Côrintô bằng câu ấy. Thánh Gioan kết thúc sách Khải Huyền cũng bằng câu ấy. Maranatha đầy đủ ý nghĩa lại không phải là ngôn ngữ của chúng ta. Vì vậy khi đọc, câu này không gợi ra một hình ảnh hay một tư tưởng nào khuyết khích trí ta suy nghĩ. Tất cả chỉ có âm thanh đều đặn theo nhịp điệu hòa hợp với hơi thở.”
    Mục đích của thiền là giúp chúng ta cởi bỏ những gì thuộc thế giới ảo ảnh, vén tấm màn che dấu để năng lực sống của Thiên Chúa truyền vào chúng ta. Hữu thể của ta đã nối kết với Thượng Đế ở một nơi ngoài tầm của ngôn ngữ, của lý trí và của những thực thể. Thiền không phải là làm một việc gì. Không phải là tu luyện để trở thành một nhân vật khác. Thiền là trở thành chính mình: sinh ra bởi Chúa Cha, được cứu chuộc bởi Chúa Giêsu, là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Sau một thời gian “tu thân” chúng ta mới hiểu ích lợi của thiền. Như kho tàng dấu trong ruộng, bản tính đạo đức ẩn khuất từ từ khai triển và mở ra. Chẳng hạn ta tự nhiên có lòng bác ái, điều mà ta đã cố gắng lập đức từ lâu mà không sao thể hiện được. Sự diễn biến xảy ra rất tự nhiên trong khi ta không biết tại sao. Chính Thiên Chúa đã thanh lọc tâm hồn ta trong những lần ta đến an trú trong Người. Vào mỗi buổi sáng, sau khi chìm trong thiền định, sự thanh tịnh tồn tại bao phủ tâm hồn ta suốt cả ngày. Mọi việc tầm thường ta làm trong ngày đều có ý nghĩa hơn, vì ta có cảm nhận Thiên Chúa đứng đàng sau mọi việc.

    Đỗ Trân Duy
    ___________
    Tài liệu tham khảo
    John Main, O.S.B. 1999. “Christian Meditation: the Gethsemani Talks”. Medio Media, Tucson, Arizona.
    Joseph Chu Công, O.C.S.O. 1999. “The Contemplative Experience: Erotic Love and Spiritual Union”. The Crossroad Publishing Company, New York, New York.
    Thomas Merton, O.S.B. 1960. “Spiritual Direction and Meditation”. The Order of St. Benedict, Inc. Collegeville, Minnesota.

    Nguồn: daminhvn.net

  2. #2

    Mặc định

    THIỀN KI-TÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) của DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    I. BA HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN
    II. TÌM HIỂU NGHĨA CỦA THIỀN KI-TÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm)

    III. TÁM HIỆU QUẢ CỦA THIỀN KI-TÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm)

    IV. TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG VÀO CHÚA GIÊ-SU THEO THÁNH TÊRÊXA D’AVILA

    V. TƯ THẾ NGỒI TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG (cầm lòng cầm trí)

    VI. BA BƯỚC TẬP TRUNG VÀO CHÚA

    VII. THIỀN-KITÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    VIII. MỘT ÍT GỢI Ý TRONG THÁNH KINH CHO THIỀN-KITÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm)



    I. BA HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN
    1. Truyền thống Ki-tô giáo có ba hình thức cầu nguyện quan trọng :
    1.1. Khẩu nguyện (Oratio vocalis)
    1.2. Suy gẫm (Meditatio).
    1.3. Cầu nguyện chiêm niệm hoặc nguyện ngắm hoặc Thiền Ki-tô (Oratio contemplativa).
    Cả ba đòi hỏi ta phải tịnh tâm [x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (GLCG) số 2721].

    2. KHẨU NGUYỆN
    Khẩu nguyện là cầu nguyện thành tiếng, cách diễn tả rất phù hợp với con người, nên thích hợp nhất cho đám đông. Ngay cả khi cầu nguyện trong lòng, chúng ta không được xao lãng khẩu nguyện (x. GLCG số 2704).
    .
    3. SUY GẪM
    3.1. Suy gẫm là tìm hiểu trong khi cầu nguyện, bằng cách vận dụng khả năng suy tư, trí tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn.
    3.2. Nhờ suy gẫm chúng ta hấp thụ được đề tài trong đức tin và đối chiếu với thực tại cuộc sống (x. GLCG số số 2723).

    4. THIỀN KI-TÔ (NGUYỆN NGẮM HOẶC CHIÊM NIỆM)
    Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là hình thức đơn sơ của kinh nguyện,
    + là lấy đức tin mà chiêm ngắm Đức Giê-su,
    + là lắng nghe Lời Chúa,
    + là yêu mến Chúa trong thinh lặng.
    Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) cho ta hợp nhất với Đức Ki-tô trong kinh nguyện của Đức Ki-tô theo mức độ chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người (x. GLCG số 2724).

    II. TÌM HIỂU NGHĨA CỦA THIỀN KI-TÔ (NGUYỆN NGẮM HOẶC CHIÊM NIỆM)
    1. Chiêm niệm
    1.1. Chiêm: ngẩng lên mà nhìn.
    1.2. Niệm: Nhớ, nghĩ tới một cách thường xuyên.
    1.3. Chiêm niệm là cầu nguyện trong thinh lặng (x. GLCG 2717) bằng cách nhìn Chúa Giêsu bằng mắt và nhìn Chúa Giêsu bằng trí (x. GLCG số 2715).
    1.4. Trong chiêm niệm hoặc nguyện ngắm, chúng ta đi tìm "Đấng lòng ta yêu mến" (Dc 1,7 ; x. Dc 3,1-4 ) , nghĩa là chính Đức Giê-su, và trong Người, chúng ta tìm đến Chúa Cha.
    1.5. Chiêm niệm là cao điểm của đời cầu nguyện (x. GLCG số 2714). Chiêm niệm là lấy đức tin mà chiêm ngắm Đức Giê-su. Người dân quê làng Ars đã từng nói với thánh Gio-an Vianê, cha sở của ông, về những lúc cầu nguyện trước Nhà Tạm : "Tôi nhìn Chúa và Chúa nhìn tôi" ( x. GLCG số 2715).


    2. Nguyện ngắm
    2.1. Nguyện là cầu nguyện, là cầu xin thành khẩn mong mỏi điều tốt lành.
    2.2. Ngắm: nhìn kỹ với vẻ thích thú.
    2.3. Nguyện ngắm là cầu nguyện trong thinh lặng (x. GLCG số 2717) bằng cách nhìn Chúa Giêsu bằng mắt, và nhìn Chúa Giêsu bằng trí (x. GLCG số 2715).
    2.4. Nguyện ngắm hoặc chiêm niệm là một hồng ân, một món quà Thiên Chúa ban tặng; chúng ta chỉ có thể đón nhận với tâm tình của người khiêm tốn và nghèo khó (x. GLCG số 2713).
    2.5. Nguyện ngắm là gì ? Thánh nữ Tê-rê-sa Cả cho biết : "Theo tôi, nguyện ngắm chính là một cuộc trao đổi thân tình giữa hai người bạn, thường chỉ là một mình đến với Thiên Chúa mà ta biết là Đấng yêu thương ta" ( x. Vida 8 ) . Trong chiêm niệm, có thể chúng ta vẫn suy gẫm, nhưng tâm trí hướng thẳng về Chúa (x. GLCG số 2709).


    3. Thiền – Kitô
    3.1. Thiền là ngồi lặng yên suy nghĩ.
    3.2. Thiền – Kitô còn gọi là chiêm niệm, hoặc nguyện ngắm.
    3.3. Thiền – Kitô là ngồi yên lặng, tập trung và lấy đức tin mà chiêm ngắm Đức Giê-su, nhìn vào các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô (x. GLCG số 2715). Thiền Ki-tô (Nguyện Ngắm, Chiêm niệm) cho ta hiệp nhất với Đức Ki-tô (x. GLCG số 2715).
    3.4. Thiền – Kitô là thinh lặng, "biểu tượng của thế giới đang tới", hay của "tình yêu thầm lặng" (x. GLCG số 2717).
    3.5. Thiền – Kitô là một hồng ân, một món quà Thiên Chúa ban tặng; chúng ta chỉ có thể đón nhận với tâm tình của người khiêm tốn và nghèo khó (x. GLCG số 2713).

    III. TÁM HIỆU QUẢ CỦA THIỀN KI-TÔ (NGUYỆN NGẮM HOẶC CHIÊM NIỆM)
    1. HIỆU QUẢ THỨ NHẤT: Phó thác cho thánh ý của Chúa Cha và hiệp nhất với Chúa Giêsu
    Chiêm niệm là tâm tình của người nghèo khó và khiêm tốn phó thác cho thánh ý yêu thương của Chúa Cha, trong hiệp nhất ngày càng sâu xa hơn với Con Yêu Dấu của Người (x. GLCG số 2712).

    2. HIỆU QUẢ THỨ HAI: Hiệp thông với Chúa Ba ngôi và thiết lập giao ước
    2.1. Chiêm niệm là một tương quan giao ước Thiên Chúa thiết lập nơi đáy lòng ta (x. Gr 31, 33).
    2.2. Chiêm niệm là hiệp thông : nhờ đó, Ba Ngôi Chí Thánh làm cho con người "mang hình ảnh Thiên Chúa" trở nên "giống Thiên Chúa" (x. GLCG số 2713).

    3. HIỆU QUẢ THỨ BA: Nội tâm vững vàng, và xây dựng vững chắc trên đức mến
    3.1. Trong chiêm niệm Chúa Cha ban cho chúng ta được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi chúng ta được vững vàng;
    3.2. Chiêm niệm cho chúng ta, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; cho chúng ta được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức mến ( x. Eph 3,16-17; x. GLCG số 2714)

    4. HIỆU QUẢ THỨ TƯ: Thanh luyện tâm hồn và soi sáng con mắt linh hồn
    4.1. Muốn chiêm ngắm Chúa phải biết quên đi cái tôi của mình. Cái nhìn của Chúa thanh luyện tâm hồn ta; ánh sáng tôn nhan Người soi sáng con mắt linh hồn, dạy cho ta biết nhìn tất cả trong ánh sáng của chân lý và lòng thương xót Người dành cho mọi người.
    4.2. Khi chiêm niệm ta cũng nhìn vào các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô; nhờ đó, ta hiểu biết thâm sâu về Chúa hơn để yêu mến và đi theo Người hơn nữa (x. GLCG số 2715)

    5. HIỆU QUẢ THỨ NĂM: Lắng nghe Lời Chúa và thưa với Chúa Cha "xin vâng"
    5.1. Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là lắng nghe Lời Chúa. Đây không phải là một thái độ thụ động, nhưng là thái độ vâng phục của người tin Chúa, sự đón nhận vô điều kiện của người tôi tớ, sự gắn bó yêu thương của người con.
    5.2. Khi đó, cùng với Chúa Con, Đấng đã trở thành người tôi tớ, và với Đức Ma-ri-a, Người Nữ Tì khiêm tốn của Thiên Chúa, chúng ta thưa với Chúa Cha "xin vâng" (x. GLCG số 2716).

    6. HIỆU QUẢ THỨ SÁU: Chúa Cha sẽ nói với ta Lời của Người và Thần Khí nghĩa tử sẽ dạy ta cầu nguyện
    6.1. Trong tâm nguyện lời nói không phải là diễn từ, nhưng chỉ là những cọng rơm giữ cho ngọn lửa tình yêu luôn cháy sáng.
    6.2. Trong sự thinh lặng này, sự thinh lặng mà "kẻ hướng ngoại" không thể giữ nổi, Chúa Cha sẽ nói với ta Lời của Người : Ngôi Lời đã nhập thể, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại; và Thần Khí nghĩa tử sẽ dạy ta cùng cầu nguyện với Chúa Giê-su (x. GLCG số 2717).

    7. HIỆU QUẢ THỨ BẨY: Hiệp nhất với Đức Ki-tô
    7.1. Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) cho ta hiệp nhất với Đức Ki-tô trong kinh nguyện theo mức độ cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người.
    7.2. Mầu nhiệm Đức Ki-tô được Hội Thánh cử hành trong bí tích Thánh Thể, và được Chúa Thánh Thần làm cho sống động trong Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm), để chúng ta bày tỏ các mầu nhiệm đó qua hành vi đức mến (x. GLCG số 2718).

    8. HIỆU QUẢ THỨ TÁM: Đem lại sự sống thần linh
    8.1. Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là một hiệp thông tình yêu có sức đem lại sự sống thần linh cho nhiều người, nếu chúng ta chấp nhận bước đi trong đêm tối đức tin.
    8.2. Đức Ki-tô đã trải qua Đêm hấp hối và Đêm âm phủ để bước vào Đêm Phục Sinh. Đây là ba đỉnh cao của Đức Giê-su.
    8.3. Chúa Thánh Thần chứ không phải "xác thịt yếu đuối" đã giúp Đức Giê-su sống Giờ ấy trong Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm). Chúng ta phải sẵn lòng thức một giờ với Người (x. GLCG số 2719).

    IV. TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG VÀO CHÚA GIÊ-SU THEO THÁNH TÊRÊXA D’AVILA (Xin xem sách “Đường Hoàn Thiện”)
    1. Hãy hình dung như chính Chúa Giê-su đang ở gần kề bên bạn và hãy xem Người dãy bạn với một tình yêu và lòng khiêm nhường như thế nào (x. Đường Hoàn Thiện, Chương XXVI, 1).
    2. Tôi chỉ xin bạn một điều: nhìn ngắm Người. Bạn mong ước Người như thế nào, bạn sẽ được thấy Người như vậy ... Bạn hướng mắt về Người để chiêm ngắm Người (x. Đường Hoàn Thiện, Chương XXVI, 3 và 5).

    3. Bạn cố gắng một chút để hướng mắt về Chúa ngay trong nội tâm mình (x. Đường Hoàn Thiện, Chương XXVI, 8).

    4. Bạn hãy tìm cho mình một tượng ảnh Chúa tuỳ thích của bạn, không phải chỉ có ảnh chỉ đeo trên ngực thôi mà không bao giờ nhìn ngắm, nhưng phải thân thưa với Chúa thật nhiều lần, rồi Người sẽ cho bạn biết nói gì với Người (x. Đường Hoàn Thiện, Chương XXVI, 9).


    V. TƯ THẾ NGỒI TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG (cầm lòng cầm trí)

    Bạn có thể ngồi theo những cách sau:

    1/ Ngồi Trên ghế

    2/ Ngồi xếp chân

    3/ Ngồi bán già

    4/ Ngồi kiết già

    5/ Ngồi quỳ trên hai gót chân (kiểu ngồi của người Nhật), hoặc ngối một tư thế nào mà cơ thể bạn thấy thích hợp nhất để cầu nguyện được lâu.

    Dù ngồi theo cách nào điều quan trọng là lưng của bạn phải luôn luôn thẳng.

    VI. BA BƯỚC TẬP TRUNG VÀO CHÚA

    1. Cách tập mức độ 1

    Bạn đặt một ngọn đèn hay một cây nhang … ngang bằng tầm nhìn của mắt, xa từ 1m đến 4m. Ngồi thẳng lưng , ý chí của bạn cắt ngay ra khỏi tâm trí tất cả lo âu, suy nghĩ mà chỉ nhìn và nghĩ đến điểm sáng của đèn hay nhang trước mặt mà thôi.

    + Khi hít vào bạn nói thầm trong trí : Chỉ nhìn.

    + Khi thở ra bạn nói thầm trong trí : và nghĩ đến điểm này.

    2. Cách tập mức độ 2

    Bạn đặt một hình Chúa Giê-su mà bạn yêu thích ngang bằng tầm nhìn của mắt. Ngồi thẳng lưng, ý chí của bạn cắt ngay ra khỏi tâm trí tất cả lo âu, suy nghĩ mà chỉ nhìn và nghĩ đến hình Chúa Giê-su trước mặt mà thôi.

    + Khi hít vào bạn nói thầm trong trí : Chỉ nhìn.

    + Khi thở ra bạn nói thầm trong trí : và nghĩ đến Chúa.

    3. Cách tập mức độ 3
    Bạn đặt một hình Chúa Giê-su mà bạn yêu thích ngang bằng tầm nhìn của mắt. Ngồi thẳng lưng, ý chí của bạn cắt ngay ra khỏi tâm trí tất cả lo âu, suy nghĩ mà chỉ nhìn và nghĩ đến hình Chúa Giê-su trước mặt mà thôi.

    + Khi hít vào bạn nói thầm trong trí :Lạy Chúa Giê-su.

    + Khi thở ra bạn nói thầm trong trí : con yêu mến Chúa.


    VII. THIỀN-KITÔ (NGUYỆN NGẮM HOẶC CHIÊM NIỆM) THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) theo Dòng Sức Sống Chúa Kitô gồm có bốn giai đoạn:

    + Nguyện cầu: cầu xin Thần Khí (Chúa Thánh Thần) nhân danh Chúa Kitô :

    + Khoảng không : Tĩnh lặng tâm hồn và làm sạch tâm trí.

    + Ngắm nhìn : tâm trí nhìn Chúa Giêsu Kitô nơi chính mình.

    + Kết thúc : tạ ơn và thư giãn cơ thể.

    1. Nguyện cầu:
    Bạn cầu xin Thần Khí (Chúa Thánh Thần ) nhân danh Chúa Kitô. Làm dấu thánh giá và đọc ba lời nguyện dưới đây một cách thành tâm:

    1a. Xin Thần Khí thanh tẩy: Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, xin Cha ban Thần Khí tràn đầy hồn xác con, xin Thần Khí thanh tẩy tội lỗi con (thinh lặng giây lát).

    1b. Xin Thần Khí thánh hoá: Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, xin Cha ban Thần Khí tràn đầy hồn xác con, xin Thần Khí thánh hóa con (thinh lặng giây lát).

    1c. Xin Thần Khí dạy bạn tôn vinh Chúa: Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, xin Cha ban Thần Khí tràn đầy hồn xác con, xin Thần Khí dạy con tôn vinh Cha (thinh lặng giây lát).

    2. Khoảng không (theo gợi ý của Thánh Gio-an Thánh Giá)
    Mục đích của giai đoạn “khoảng không” giúp bạn tĩnh lặng tâm hồn và làm sạch tâm trí, để chuẩn bị cho việc ngồi yên lặng, tập trung và lấy đức tin mà chiêm ngắm Đức Giê-su, nhìn vào các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô và hiệp nhất với Đức Ki-tô (x. GLCG số 2715) ở giai đoạn “ngắm nhìn”.

    2a. Tạo khoảng không trong tâm trí

    Tĩnh lặng tâm hồn và làm sạch tâm trí bằng cách nhắm mắt và tập trung ý nghĩ một cách nhẹ nhàng vào một điểm, tốt nhất là điểm ở giữa hai chân mày (ấn đường), rồi từ từ quên điểm ấy luôn.

    + Khi hít vào bạn nói thầm trong trí : chỉ nhì điểm này (ấn đường)

    + Khi thở ra bạn nói thầm trong trí : và quên đi

    2b. Trạng thái khoảng không

    Lúc đó, tâm trí bạn vắng lặng, không nghĩ tưởng về bất cứ điều gì. (Thời gian chừng 3 phút).

    3. Ngắm nhìn (theo gợi ý của Thánh Têrêsa d’Avila)

    Tâm trí bạn nhìn Chúa Giê-su Ki-tô nơi chính mình.

    3a. Ngắm (nhắm mở mắt, thời gian chừng 3 phút). Bạn nhìn ảnh Chúa Giêsu nào mà bạn yêu thích, nhìn một cách chăm chú, bình thản,và yêu mến.

    + Bạn nhắm mắt, hít vào và đọc thầm trong trí: Lạy Chúa Giêsu.

    + Bạn mở mắt, thở ra nhìn hình Chúa Giê-su, và đọc thầm trong trí: con yêu mến Chúa.

    3b. Nhìn (nhắm mắt hoàn toàn, thời gian chừng 15 phút). Bạn nhắm mắt nhìn Chúa Giêsu bằng tâm trí (hình dung ra nơi tâm trí bạn hình Chúa Giêsu bạn vừa mới nhìn). Bạn giữ hình ảnh đó trong tâm trí với lòng yêu mến trong thanh thản.

    + Bạn hít vào và đọc thầm trong trí: Lạy Chúa Giêsu.

    + Bạn thở ra và đọc thầm trong trí: con yêu mến Chúa.

    Khi chiêm niệm ta cũng nhìn vào các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô; nhờ đó, ta hiểu biết thâm sâu về Chúa hơn để yêu mến và đi theo Người hơn nữa (x. GLCG số 2715)

    + Lưu ý quan trọng: Khi hít vào, thở ra hai hàm răng cắn nhẹ lên nhau, và đầu lưỡi đặt ở chân hàm răng trên (để đóng 2 đường kinh Nhâm và Đốc lại, giúp bạn dễ tập trung hơn)

    4. Kết thúc : tạ ơn và thư giãn cơ thể
    4a. Tạ ơn : Bạn dâng lời tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đã yêu thương hiện diện với bạn trong giờ nguyện ngắm, dâng lên Chúa cha trong Chúa Thánh Thần lời ca ngợi tôn vinh qua “Kinh Sáng Danh”.

    4b. Thư giãn cơ thể : Bạn xoa tay vào nhau, xoa mặt, vuốt hai tai, xoa nắn hai tay và hai chân làm chomáu lưu thông tốt hơn, thân thể thoải mái khỏi tê mỏi.


    VIII. MỘT ÍT GỢI Ý TRONG THÁNH KINH CHO THIỀN-KITÔ (NGUYỆN NGẮM hoặc CHIÊM NIỆM)

    1/ Ông A-đam và bà E-và

    ** Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu?" Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?" Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế?" Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn." (St 3,8-13).
    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là kinh nguyện của con cái Thiên Chúa, của tội nhân đã được tha thứ nay sẵn sàng đón nhận tình yêu được ban tặng và mong đáp lại tình yêu đó bằng cách yêu mến nhiều hơn. Người đó cũng biết rằng mình có thể yêu thương, đáp trả được là nhờ Thánh Thần trong tâm hồn, vì tất cả đều là ân sủng Thiên Chúa ban. Thiền Ki-tô là tâm tình của người nghèo khó và khiêm tốn phó thác cho thánh ý yêu thương của Chúa Cha, trong hiệp nhất ngày càng sâu xa hơn với Con Yêu Dấu của Người (x. GLHT số 2712).


    2/ Ông Áp-ra-ham

    ** ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc." Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA đã phán với ông. Ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran (St 12,1-4).
    ** Sau các việc đó, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram trong một thị kiến rằng: "Hỡi Áp-ram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn." Ông tin ĐỨC CHÚA, và vì thế, ĐỨC CHÚA kể ông là người công chính. Người phán với ông: "Ta là ĐỨC CHÚA, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi thành Ua của người Can-đê, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu." Ông thưa: "Lạy ĐỨC CHÚA, làm sao mà biết là con sẽ được đất này làm sở hữu?" Người phán với ông: "Đi kiếm cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy và một bồ câu non." Ông kiếm cho Người tất cả những con vật ấy, xẻ đôi ra, và đặt nửa này đối diện với nửa kia; còn chim thì ông không xẻ. Mãnh cầm sà xuống trên các con vật bị giết, nhưng ông Áp-ram đuổi chúng đi. Lúc mặt trời gần lặn, thì một giấc ngủ mê ập xuống trên ông Áp-ram; một nỗi kinh hoàng, một bóng tối dày đặc bỗng ập xuống trên ông (St 15,1.6-12).

    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) chính là một cuộc trao đổi thân tình giữa hai người bạn, thường chỉ là một mình đến với Thiên Chúa mà ta biết là Ðấng yêu thương ta" ( thánh Têrêxa d’Avila ). Trong Thiền Ki-tô, chúng ta đi tìm "Ðấng lòng ta yêu mến"(Dc 1,7) ( x. Dc 3,1-4), nghĩa là chính Ðức Giê-su, và trong Người, chúng ta tìm đến Chúa Cha. Chúng ta đi tìm Người, vì ta yêu mến nên khao khát Người. Phải tìm kiếm Người với một đức tin tinh tuyền, đức tin này làm cho ta được sinh ra nhờ Người và được sống trong Người. Trong Thiền Ki-tô, có thể chúng ta vẫn suy gẫm, nhưng tâm trí hướng thẳng về Chúa (x. GLHT số 2709).

    3/ Ông Mô-sê trên núi Khô-rép

    ** Bấy giờ ông Mô-sê đang chăn chiên cho bố vợ là Gít-rô, tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. Thiên sứ của ĐỨC CHÚA hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ông tự bảo: "Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được: vì sao bụi cây lại không cháy rụi?" ĐỨC CHÚA thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông: "Mô-sê! Mô-sê!" Ông thưa: "Dạ, tôi đây!" Người phán: "Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh." Người lại phán: "Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp." Ông Mô-sê che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa (Xh 3,1-6).

    ** Ông Mô-sê nói: "Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài." Người phán: "Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là ĐỨC CHÚA trước mặt ngươi. Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót." Người phán: "Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống." ĐỨC CHÚA còn phán: "Đây là chỗ gần Ta; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. Khi vinh quang của Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy." (Xh 33,18-23)
    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là hình thức đơn sơ nhất của kinh nguyện. Thiền Ki-tô là một hồng ân, một món quà Thiên Chúa ban tặng; chúng ta chỉ có thể đón nhận với tâm tình của người khiêm tốn và nghèo khó. Thiền Ki-tô là một tương quan giao ước Thiên Chúa thiết lập nơi đáy lòng ta (Gr 31, 33). Thiền Ki-tô là hiệp thông : nhờ đó, Ba Ngôi Chí Thánh làm cho con người "mang hình ảnh Thiên Chúa" trở nên "giống Thiên Chúa" (x. GLHT số 2713).


    4/ Ông Sa-mu-en trong đền thờ

    ** Cậu bé Sa-mu-en phụng sự ĐỨC CHÚA, có ông Ê-li trông nom. Thời ấy, lời ĐỨC CHÚA thì hiếm và thị kiến cũng không hay xảy ra. Một ngày kia, ông Ê-li đang ngủ ở chỗ ông, mắt ông đã bắt đầu mờ, ông không còn thấy nữa. Đèn của Thiên Chúa chưa tắt và Sa-mu-en đang ngủ trong đền thờ ĐỨC CHÚA, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA gọi Sa-mu-en. Cậu thưa: "Dạ, con đây!" Rồi chạy lại với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi." Cậu bèn đi ngủ. ĐỨC CHÚA lại gọi Sa-mu-en lần nữa. Sa-mu-en dậy, đến với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu, con ạ. Con về ngủ đi." Bấy giờ Sa-mu-en chưa biết ĐỨC CHÚA, và lời ĐỨC CHÚA chưa được mặc khải cho cậu. ĐỨC CHÚA lại gọi Sa-mu-en lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Bấy giờ ông Ê-li hiểu là ĐỨC CHÚA gọi cậu bé. Ông Ê-li nói với Sa-mu-en: "Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa: `Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.'" Sa-mu-en về ngủ ở chỗ của mình. ĐỨC CHÚA đến, đứng đó và gọi như những lần trước: "Sa-mu-en! Sa-mu-en!" Sa-mu-en thưa: "Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe." (1 Sm 3,1-10).
    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) lúc nào và bao lâu tùy thuộc vào quyết tâm của ta, quyết tâm này bộc lộ các điều kín nhiệm trong lòng. Không phải lúc nào cũng có thể suy gẫm, nhưng lúc nào cũng có thể Thiền Ki-tô, bất chấp những tình trạng về sức khỏe, công việc và tâm tình. Nơi mà ta tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa, trong khiêm nhu và tín thác chính là lòng ta (x. GLHT số 2710).


    5/ Ngôn sứ Ê-li-a trên núi Khô-rép

    ** Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó. Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông: "Ê-li-a ngươi làm gì ở đây?" Ông thưa: "Lòng nhiệt thành đối với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ còn sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng sống con." Người nói với ông: "Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt ĐỨC CHÚA. Kìa ĐỨC CHÚA đang đi qua." Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan ĐỨC CHÚA, nhưng ĐỨC CHÚA không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng ĐỨC CHÚA không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng ĐỨC CHÚA cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông: "Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?" Ông thưa: "Lòng nhiệt thành đối với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con." (1 V 19,9-14).

    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là thinh lặng, "biểu tượng của thế giới đang tới", hay của "tình yêu thầm lặng". Trong tâm nguyện lời nói không phải là diễn từ, nhưng chỉ là những cọng rơm giữ cho ngọn lửa tình yêu luôn cháy sáng. Trong sự thinh lặng này, sự thinh lặng mà "kẻ hướng ngoại" không thể giữ nổi, Chúa Cha sẽ nói với ta Lời của Người : Ngôi Lời đã nhập thể, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại; và Thần Khí nghĩa tử sẽ dạy ta cùng cầu nguyện với Chúa Giê-su (x. GLHT số 2717).


    6/ Thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gio-an trên núi Ta-bo (Mt 17,1-9 ; Mc 9,2-10 ; Lc 9,28-36)
    ** Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a." Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!" Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: "Chỗi dậy đi, đừng sợ!" Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi. Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng: "Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy." (Mt 17,1-9).

    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là lấy đức tin mà chiêm ngắm Ðức Giê-su. Người dân quê làng Ars đã từng nói với thánh Gio-an Vianê, cha sở của ông, về những lúc cầu nguyện trước Nhà Tạm : "Tôi nhìn Chúa và Chúa nhìn tôi". Muốn chiêm ngắm Chúa phải biết quên đi cái tôi của mình. Cái nhìn của Chúa thanh luyện tâm hồn ta; ánh sáng tôn nhan Người soi sáng con mắt linh hồn, dạy cho ta biết nhìn tất cả trong ánh sáng của chân lý và lòng thương xót Người dành cho mọi người. Khi Thiền Ki-tô ta cũng nhìn vào các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô; nhờ đó, ta hiểu biết thâm sâu về Chúa hơn để yêu mến và đi theo Người hơn nữa (x. GLHT số 2715).


    7/ Thánh Gio-an tông đồ

    ** Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người (1 Ga 1,1-3).

    ** Sau đó, tôi được một thị kiến. Kìa một cái cửa mở ra ở trên trời, và tiếng mà trước đây tôi nghe nói với tôi như thể tiếng kèn, bảo tôi rằng: "Lên đây, Ta sẽ chỉ cho ngươi thấy những điều phải xảy ra sau đó." Lập tức tôi xuất thần. Kìa một cái ngai đặt ở trên trời và có một Đấng ngự trên ngai. Đấng ngự đó trông giống như ngọc thạch và xích não. Chung quanh ngai có cầu vồng trông giống như bích ngọc (Kh 4,1-3).
    ** Tương tự như khi cử hành phụng vụ Thánh Thể, khi Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) chúng ta phải "cầm trí", hoàn toàn phó thác cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, ý thức Chúa ngự trong tâm hồn, giục lòng tin đến trước nhan Chúa Ðấng đang đợi chờ ta, phải rũ bỏ mọi thứ giả dối và hướng lòng mình về Chúa, Ðấng yêu thương ta, để phó dâng bản thân cho Người như một lễ vật cần Người thanh luyện và biến đổi (x. GLHT số 2711).


    8/ Các thánh Tông đồ

    ** Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?" Đức Giê-su đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." Ông Phi-líp-phê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện." Đức Giê-su trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: `Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha'? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha (Ga 14,4-12).


    ** Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho (Cv 2,1-4).
    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) cho ta hiệp nhất với Ðức Ki-tô trong kinh nguyện theo mức độ cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người. Mầu nhiệm Ðức Ki-tô được Hội Thánh cử hành trong bí tích Thánh Thể, và được Chúa Thánh Thần làm cho sống động trong Thiền Ki-tô, để chúng ta bày tỏ các mầu nhiệm đó qua hành vi đức mến (x. GLHT số 2718).


    9/ Thánh Phao-lô

    ** Ông Sao-lô vẫn còn hằm hằm đe doạ giết các môn đệ Chúa, nên đã tới gặp thượng tế xin thư giới thiệu đến các hội đường ở Đa-mát, để nếu thấy những người theo Đạo, bất luận đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giê-ru-sa-lem. Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông nói: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Người đá ngươi đang bắt bớ. Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì." Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ: họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai. Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đa-mát. Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống (Cv 9,1-9).

    ** Phải tự hào ư? Nào có ích gì! Dù thế, tôi cũng xin nói về những thị kiến và mặc khải Chúa đã ban cho tôi. Tôi biết có một người môn đệ Đức Ki-tô, trước đây mười bốn năm đã được nhắc lên tới tầng trời thứ ba -có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa biết. Tôi biết rằng người ấy đã được nhắc lên tận thiên đàng -trong thân xác hay ngoài thân xác, tôi không biết, chỉ có Thiên Chúa biết-, và người ấy đã được nghe những lời khôn tả mà loài người không được phép nói lại (2 Cr 12,1-4).

    ** Vậy đừng ai xét đoán anh em về chuyện đồ ăn thức uống, hay về mục ngày lễ, ngày đầu tháng, ngày sa-bát. Tất cả những cái đó chỉ là hình bóng những điều sắp tới, nhưng thực tại là thân thể Đức Ki-tô. Đừng ai viện cớ "khiêm nhường" và "sùng kính các thiên thần" mà làm cho anh em mất phần thưởng chiến thắng; họ chìm đắm trong những thị kiến của mình, vênh váo vì những suy tưởng theo lối người phàm. Họ không gắn chặt với Đức Ki-tô là Đầu; chính Người làm cho toàn thân được nuôi dưỡng, được kết cấu chặt chẽ nhờ mọi thứ gân mạch và dây chằng, và được lớn lên nhờ sức Thiên Chúa ban. Anh em đã chết cùng Đức Ki-tô và được giải thoát khỏi các yếu tố của vũ trụ, tại sao lại rập theo những quy luật, như thể anh em còn sống lệ thuộc vào thế gian? Chẳng hạn: "Đừng ăn cái này, đừng nếm cái kia, đừng đụng vào cái nọ", toàn những cấm đoán về những cái dùng đến là hư. Đó chỉ là những giới luật và giáo huấn của người phàm. Những điều ấy có vẻ khôn ngoan: nào là "sùng đạo tự ý", nào là "khiêm nhường", nào là "khổ hạnh", nhưng không có giá trị gì đối với tính xác thịt lăng loàn (Cl 2,16-23).
    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là cao điểm của đời cầu nguyện. Trong Thiền Ki-tô "Chúa Cha ban cho chúng ta được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi chúng ta được vững vàng; cho chúng ta, nhờ lòng tin, được Ðức Ki-tô ngự trong tâm hồn; cho chúng ta được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức mến" ( x. Eph 3,16-17 ) (x. GLHT số 2714).


    10/ ĐỨC MARIA

    ** Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cư làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi (Lc 1,26-38).
    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là lắng nghe Lời Chúa. Ðây không phải là một thái độ thụ động, nhưng là thái độ vâng phục của người tin Chúa, sự đón nhận vô điều kiện của người tôi tớ, sự gắn bó yêu thương của người con. Khi đó, cùng với Chúa Con, Ðấng đã trở thành người tôi tớ, và với Ðức Ma-ri-a, Người Nữ Tì khiêm tốn của Thiên Chúa, chúng ta thưa với Chúa Cha "xin vâng" (x. GLHT số 2716).

    ** Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết." Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2,15-19).

    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là một hiệp thông tình yêu có sức đem lại sự sống thần linh cho nhiều người, nếu chúng ta chấp nhận bước đi trong đêm tối đức tin. Ðức Ki-tô đã trải qua Ðêm hấp hối và Ðêm âm phủ để bước vào Ðêm Phục Sinh. Ðây là ba đỉnh cao của Ðức Giê-su. Chúa Thánh Thần chứ không phải "xác thịt yếu đuối" đã giúp Ðức Giê-su sống Giờ ấy trong chiêm niệm. Chúng ta phải sẵn lòng thức một giờ với Người (x. GLHT số 2719).

    ** Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta (Lc 2,46-52).

    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là hình thức đơn sơ của kinh nguyện, là lấy đức tin mà chiêm ngắm Ðức Giê-su, là lắng nghe Lời Chúa, là yêu mến Chúa trong thinh lặng. Thiền Ki-tô cho ta hợp nhất với Ðức Ki-tô trong kinh nguyện của Ðức Ki-tô theo mức độ chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người (x. GLHT số 2724).



    Ngày 15 tháng 06 năm 2011

    Viết lại bài đã viết năm 2006 tại Tu Viện Philip Phan Văn Minh.


    Xin ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi Cực thánh,

    và ngợi khen Trinh Vương Vô Nhiễm Maria, Mẹ của Sự Sống.



    Tu Sĩ Giuse-Maria Trương Văn Trung XV.
    DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    Các bạn đọc thêm các bài tiếp theo ở đây, rất thú vị là vô tình biết được chuẩn bị có 1 lớp học Thiền nguyện ở nhà thờ Chí Hóa:

    http://sucsongchuakito.net/Category.aspx?Categoryid=112
    Last edited by minhthai; 27-02-2012 at 04:13 PM.

  3. #3
    ๑۩۞۩๑ Gấu ๑۩۞۩๑ Avatar của Đầu gấu
    Gia nhập
    Feb 2012
    Bài gởi
    108

    Mặc định

    hình như có vài chổ nó hơi ngộ
    Vì Thiên Chúa không thể hiểu qua âm thanh, nên để gặp Người ta phải đi vào cõi im lặng. Vì Thiên Chúa không thể mường tượng trong trí óc, nên muốn gặp Người chúng ta phải đi vào cõi trống không
    Chắc là do quá trình Việt dịch nhỉ? nên thêm thay đổi tí, nếu không thì giống như Thiên chúa không thể hiểu âm thanh.
    Vì ta không thể hiểu Thiên Chúa qua âm thanh, nên để gặp Người ta phải đi vào cõi im lặng. Vì ta không thể mường tượng Thiên Chúa trong trí óc, nên muốn gặp Người chúng ta phải đi vào cõi trống không

  4. #4

    Mặc định

    Thực ra ngữ pháp việt nhiều câu vẫn dùng tân ngữ đảo lên đằng trước để nhấn mạnh đối tượng tác động. Ví dụ "Bởi vì bản thiết kế (tôi) vẽ có vài lỗi, nên thợ không thể thi công được" :)

  5. #5

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi minhthai Xem Bài Gởi
    THIỀN KI-TÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) của DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    I. BA HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN
    II. TÌM HIỂU NGHĨA CỦA THIỀN KI-TÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm)

    III. TÁM HIỆU QUẢ CỦA THIỀN KI-TÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm)

    IV. TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG VÀO CHÚA GIÊ-SU THEO THÁNH TÊRÊXA D’AVILA

    V. TƯ THẾ NGỒI TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG (cầm lòng cầm trí)

    VI. BA BƯỚC TẬP TRUNG VÀO CHÚA

    VII. THIỀN-KITÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    VIII. MỘT ÍT GỢI Ý TRONG THÁNH KINH CHO THIỀN-KITÔ (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm)




    ** Thiền Ki-tô (Nguyện ngắm hoặc Chiêm niệm) là hình thức đơn sơ của kinh nguyện, là lấy đức tin mà chiêm ngắm Ðức Giê-su, là lắng nghe Lời Chúa, là yêu mến Chúa trong thinh lặng. Thiền Ki-tô cho ta hợp nhất với Ðức Ki-tô trong kinh nguyện của Ðức Ki-tô theo mức độ chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người (x. GLHT số 2724).



    Ngày 15 tháng 06 năm 2011

    Viết lại bài đã viết năm 2006 tại Tu Viện Philip Phan Văn Minh.


    Xin ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi Cực thánh,

    và ngợi khen Trinh Vương Vô Nhiễm Maria, Mẹ của Sự Sống.



    Tu Sĩ Giuse-Maria Trương Văn Trung XV.
    DÒNG SỨC SỐNG CHÚA KITÔ

    Các bạn đọc thêm các bài tiếp theo ở đây, rất thú vị là vô tình biết được chuẩn bị có 1 lớp học Thiền nguyện ở nhà thờ Chí Hóa:

    http://sucsongchuakito.net/Category.aspx?Categoryid=112

    HN mới nghe về thiền Kito giáo đấy ! mình bik muộn quá

    hic! lỡ thiền theo kiểu nhân điện mất tiu rùi ! các loại thiền đó thì các cha xứ có thiền vậy hok nhỉ ? nếu có như vậy chắc sẽ tốt .

    / Ngồi Trên ghế


    2/ Ngồi xếp chân

    3/ Ngồi bán già



    4/ Ngồi kiết già




    5/ Ngồi quỳ trên hai gót chân (kiểu ngồi của người Nhật), hoặc ngối một tư thế nào mà cơ thể bạn thấy thích hợp nhất để cầu nguyện được lâu.




    hic! chị abba hay chị Satyaa có tập thì nhớ ngồi thẳng xương xống nhé !
    Last edited by hangnhinguyenthi; 27-02-2012 at 06:05 PM.
    chắc chắn


    Childlike Masterrose4

  6. #6

    Mặc định

    mt định đăng ký 1 lớp ở Chí Hòa tháng 4 này :)

    NN đọc các bài viết bên trong đường link này xem:
    http://sucsongchuakito.net/news.aspx?newsid=329
    Một từ "Nhân điện" giống nhau nhưng trong những trường hợp khác nhau sẽ nên hay không nên. Mình ko rành về món này lắm :)

  7. #7

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi minhthai Xem Bài Gởi
    mt định đăng ký 1 lớp ở Chí Hòa tháng 4 này :)

    NN đọc các bài viết bên trong đường link này xem:
    http://sucsongchuakito.net/news.aspx?newsid=329
    Một từ "Nhân điện" giống nhau nhưng trong những trường hợp khác nhau sẽ nên hay không nên. Mình ko rành về món này lắm :)
    nhân điện cũng hay lắm,nó giúp ta tự chữa bệnh cho chính mình cũng giúp giác ngộ, cái mà HN thích của nhân điện là giúp mở luân xa và tình thương chữa bệnh cho mọi ngừi.
    chắc chắn


    Childlike Masterrose4

  8. #8
    ๑۩۞۩๑ Gấu ๑۩۞۩๑ Avatar của Đầu gấu
    Gia nhập
    Feb 2012
    Bài gởi
    108

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hangnhinguyenthi Xem Bài Gởi
    nhân điện cũng hay lắm,nó giúp ta tự chữa bệnh cho chính mình cũng giúp giác ngộ, cái mà HN thích của nhân điện là giúp mở luân xa và tình thương chữa bệnh cho mọi ngừi.
    Cẩn thận đấy, mở luân xa cũng dể bị những thứ "ấy ấy" từ bên ngoài tác động vào, việc chữa bệnh cũng nên cẩn thận, vì nhiều người chữa cho người ta xong thì bản thân lại bị bệnh

  9. #9

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Đầu gấu Xem Bài Gởi
    Cẩn thận đấy, mở luân xa cũng dể bị những thứ "ấy ấy" từ bên ngoài tác động vào, việc chữa bệnh cũng nên cẩn thận, vì nhiều người chữa cho người ta xong thì bản thân lại bị bệnh
    rùi sao đó thí nào ? có bị chết hok bạn ? huhu chết non tội lắm !
    chắc chắn


    Childlike Masterrose4

  10. #10
    ๑۩۞۩๑ Gấu ๑۩۞۩๑ Avatar của Đầu gấu
    Gia nhập
    Feb 2012
    Bài gởi
    108

    Mặc định

    Nếu bị "ấy ấy" tác động thì hơi điiên loạn tí, còn trường hợp chữa bệnh thì tuỳ bệnh, chết chắc không chết, theo dạng sống khổ hơn chết thì mới đau

  11. #11

    Mặc định

    CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA



    Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt



    Trung tuần tháng 12 năm 1989, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã gửi cho các Giám Mục Công Giáo trên toàn thế giới một bức thư, lưu ý về việc suy niệm trong Kitô Giáo. Hiện nay có nhiều tín hữu Kitô dùng những phương pháp như nhập thiền, Yoga của các trường phái Ấn Giáo và Phật Giáo để giúp cầm trí cầu nguyện. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra: khi thực hành phương pháp chiêm niệm của các tôn giáo Đông phương, các tín hữu Công Giáo đi tìm bầu khí thinh lặng, hay họ cũng tìm đến sự trống rỗng tuyệt đối, hoặc là tìm về cái ngã, cái tôi của mình?? Bởi vì bản chất của sự cầu nguyện hệ tại cuộc đối thoại với Chúa. Con người giữ im lặng ngõ hầu có thể lắng nghe và đáp lại Tiếng Chúa. Trong khi đó, một số phương pháp suy niệm theo các tôn giáo Đông phương chỉ nhằm tạo ra sự trống rỗng tuyệt đối, chứ không đả động gì đến việc gặp gỡ đối thoại với Thiên Chúa. Và đó chính là điều mà văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo của Bộ Giáo Lý Đức Tin muốn lưu ý.
    Sau đây là chứng từ của ông Christian Marie, tín hữu Công Giáo Pháp, về cái nguy hại của phương pháp Yoga. Ông viết:

    Đọc xong văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo, tôi muốn bày tỏ vài thiển ý của riêng tôi. Yoga là một trong những phương pháp đông phương của thần bí triết học đang rất thịnh hành. Nhưng bên trong phương pháp này lại ẩn chứa một hiểm nguy mà ít người ngờ tới, nên tự để mình bị lôi cuốn vào vòng lừa đảo của nó.

    Yoga là phương pháp khổ chế nhằm dẫn đưa tâm trí con người đến trạng thái của lương tâm tinh tuyền, của sự hiện hữu tinh tuyền. Đó là trạng thái mà con người ý thức về cái tôi của mình, nghĩa là về điều siêu việt hóa sự hiện hữu, trừu tượng hóa sự hiện hữu. Yoga khiến con người ý thức về cái ngã, cái vô thể, cái hòa lẫn trong khoảng không, bởi vì, nó không có chất thể, nghĩa là không có bản thể, không có một hiện hữu nào hết từ chính nó. Nói tắt một lời, Yoga trước tiên là một học thuyết của trạng thái trống không, một học thuyết của trống rỗng tuyệt đối. Mục đích tối hậu của Yoga là dẫn đưa linh hồn con người đến chỗ hòa lẫn, hiệp nhất với cái vô thể. Thế nhưng điều này không thể nào xảy ra được, do đó có thể kết luận rằng: Yoga là một phương pháp chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của các quyền lực quỷ dữ. Cái hiểm nguy là ở chỗ trạng thái tinh tuyền mà Yoga muốn đạt tới trở thành đối thủ của Thần Linh và nhường chỗ cho tên quỷ ngày xưa trong vườn địa đàng đã quyến rũ bà Evà rằng: “Các người sẽ trở thành những thần linh!”
    Nói theo triết học thì Yoga được trình bày như một chối bỏ tất cả mọi hình thức của hữu thể. Và chính khi chối bỏ hữu thể cùng sự hiện hữu mà đồ đệ của trường phái Yoga phải đạt đến cái gọi là lương tâm tinh tuyền. Như thế Yoga là một loại triết học của vô thể. Để làm nổi bật ý tưởng này, xin trích dẫn vài tư tưởng của các triết gia đề cao chủ thuyết vô thể. Đó là ba nhà triết học hiện sinh vô thần nổi danh: Friedrich Nietzsche (1844-1900), người Đức; Jean Paul Sartre (1905-1980), người Pháp và Adolf Hitler (1889-1945), người Đức. Hitler còn là một tên độc tài khát máu. Nietzsche viết: “Tôi tuyên bố chỉ hư vô là vua có giá trị”. Còn Sartre thì nói: “Bởi vì tự chọn vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình, nên tôi không đi về đâu hết”. Trong khi Hitler trơ trẽn tuyên bố: “Tại sao chúng ta lại ưu tư lo lắng về đạo lý tình yêu và về trách nhiệm luân lý? Tôi chống lại điều này và thay vào đó bằng học thuyết tối cao của hư không, và cái vô nghĩa hoàn toàn của cá thể, của thằng tôi”. Những câu tuyên bố như thế, phải chăng chỉ có thể xuất phát từ các đồ đệ của Satan?

    Con rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi dã thú mà Thiên Chúa đã dựng nên. Nó hỏi người đàn bà: “Có phải thật Thiên Chúa đã dạy: các ngươi không được ăn quả cây nào trong vườn không?” Người đàn bà trả lời con rắn: “Chúng tôi được ăn các quả trong vườn, nhưng còn quả cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa đã phán: “Các con không được ăn, không được chạm tới, để khỏi phải chết”. Con rắn nói: “Không, ông bà sẽ không chết đâu, nhưng Thiên Chúa biết rằng, ngày nào ông bà ăn quả cây ấy, ông bà sẽ mở mắt ra, sẽ được nên như những vị thần, biết điều lành, điều dữ” (Sách Sáng Thế 3,1-5).

    (“LE CHRIST AU MONDE”, 2/1992, trang 176-177).




    (Sylvie là thanh nữ Pháp, 22 tuổi. Sau những tháng ngày mò mẫm tìm kiếm hạnh phúc trong hư vô lầm lạc, Sylvie đã hồng phúc gặp được Chúa GIÊSU, Đấng hiện hữu thực sự và Mẹ MARIA, Người Mẹ dấu ái của loài người). Sylvie kể lại cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa như sau.
    Cách đây 4 năm, Mẹ MARIA đã tìm đến gặp con trong chính cảnh khốn cùng cuộc đời con. Ngay từ tuổi thơ và suốt trong thời gian của tuổi dậy thì, tận sâu thẳm nội tâm, con luôn luôn khát vọng Thiên Chúa và mong mỏi gặp được Ngài.. Nhưng đáng buồn thay, con đã dại dột dùng những phương thế lầm lạc, đi theo những con đường giả dối. Thật ra con cũng bị bạn bè lôi cuốn một phần. Như bao người trẻ cùng lứa tuổi, con thích ca-vũ-nhạc-kịch và chạy theo bóng hình của một chàng trai!

    Một buổi tối, người bạn gái hỏi con có muốn dự buổi thực tập ngồi thiền không. Cô bạn giải thích: “Đây là lối suy niệm siêu hình, hay đúng hơn, là kiểu ngồi thiền tìm kiếm hư vô”. Con tự nhủ: “Mình cứ thử xem sao. Biết đâu sẽ gặp được Thiên Chúa, thay vì đi đến nhà thờ!” Nghĩ thế nên con theo bạn dự buổi ngồi thiền. Người hướng dẫn buổi ngồi thiền là một phụ nữ. Bà nói với chúng con: “Suy niệm kiểu này sẽ mang đến cho con người sự điềm-tĩnh, sự tự-chủ, niềm bình-an, trở về với nguồn cội của tư tưởng và đạt được những sức mạnh phi thường, kể cả các bí thuật thần thiêng!” Lời giải thích nghe thật êm tai, đưa hồn giới trẻ chúng con vào cõi mộng .. Nếu chỉ ngồi thiền trong một thời gian không lâu mà đạt được những điều vừa nói, thì quả thật là quá hay và quá dễ! Chúng con phải ngồi thiền mỗi ngày hai lần và mỗi lần 20 phút. Trong vòng 20 phút đồng hồ, con phải ngồi yên và chỉ lập đi lập lại hai tiếng duy nhất là “hư-vô”. Ban đầu, con cảm thấy mình hạnh phúc và hớn hở với ý nghĩ: “Chắc hẳn rồi đây mình sẽ khám phá nhiều điều lạ lùng. Và biết đâu, mình chẳng khám phá được Thiên Chúa?” Nhưng rồi, thời gian qua đi cùng với việc thực hiện phương pháp ngồi thiền, con không hề khám phá ra ánh sáng. Trái lại, con cứ càng ngày càng chìm sâu trong bóng tối đen dày đặc! Thật là hãi hùng kinh khiếp. Cứ mỗi lần con ngồi yên nhắm mắt là đầu óc con quay cuồng giữa hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng! Sau 20 phút ngồi thiền, thể xác con có phần nghỉ ngơi chút ít, nhưng linh hồn con lại rơi vào lo âu sầu khổ và tràn đầy tuyệt vọng. Tâm trí con cứ bị ám ảnh bởi hai tiếng hư-vô .. hư-vô .. hư-vô! Và vì chỉ lập lại hai tiếng hư-vô nên con không còn cầu nguyện cùng Chúa GIÊSU và Đức Mẹ MARIA nữa. Trong khi đó hai tiếng hư-vô làm con khiếp sợ và chỉ muốn tìm cách trốn thoát.

    Trong cơn khốn cùng, Mẹ MARIA đã giơ tay cứu vớt con. Trong phòng con có Bức Tượng Đức Mẹ nhỏ. Con thưa với Đức Mẹ: “Xin Mẹ đến giúp con!” Con chỉ nói với Đức Mẹ có thế thôi.. Cho đến một ngày, con gặp nhóm tín hữu Công Giáo đi hành hương. Họ cùng nhau lần hạt Mân Côi. Rồi họ nói về nhân đức khiêm-nhường, sự nghèo-khó và lòng trong-sạch. Đối với con, đây là điều hoàn toàn mới lạ, vì con nghĩ rằng, chả còn ai thực hành ba cái thứ nhân đức lỗi thời ấy nữa! Từ đó niềm hy vọng nhen nhúm trong lòng con. Con bắt đầu cầu nguyện với Đức Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi. Con dần dần lấy lại niềm an bình. Sau cùng con khóc vì cảm động, vì đã tìm thấy niềm vui, lòng trong trắng và tình yêu thương. Vâng, chính Đức Mẹ đã giúp con không còn sợ hãi Thiên Chúa nữa. Ngài không phải là Thiên Chúa hư-vô, nhưng là Thiên Chúa Hằng Hữu và đầy tràn tình thương..

    Rồi con gặp một vị Linh Mục. Ngài giúp con lãnh nhận bí tích Hòa Giải và trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa cho con. Thật là cuộc giải phóng tuyệt diệu! Con được tái sinh trong ơn thánh và tìm được hai vị Chủ Chăn dấu ái của cuộc đời con. Đó là Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ MARIA. Con thay thế hai tiếng hư-vô bằng lời Kinh dấu ái: Kính Mừng MARIA Đầy Ơn Phước. Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

    (Marie-Michel et Daniel-Ange, “Ce Jésus que tu cherches”, Le Sarment FAYARD, 1988, trang 118-120).
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  12. #12

    Mặc định

    Bài của 1 người Tin lành:
    -------

    CƠ ĐỐC NHÂN CẦN BIẾT GÌ VỀ YOGA TẬP THIỀN

    Gần đây, yoga là môn thể dục thịnh hành. Các bác sĩ, chính trị gia, giới nghệ sĩ ca ngợi ích lợi của yoga đối với sức khỏe. Các lớp yoga mở tại các phòng tập thể dục, trường học và thậm chí ở một số nhà thờ nữa.
    Ðể biết thêm về môn yoya, Tập San Biola Connections phỏng vấn Tiến sĩ George Alexander, từng trưởng dưỡng tại Ấn Ðộ là nơi phát sinh thuật yoga, ông là giáo sư môn Tôn Giáo Thế Giới tại Ðại Học Biola Sau đây là những điều ông trình bày.

    Yoga là gì?

    Hầu hết người phương Tây tưởng rằng yoga chỉ là một phương pháp giúp duy trì một thân thể khỏe đẹp được du nhập từ nước ngoài, nhưng thật ra trong yoga còn có nhiều điều khác nữa. Yoga là một pháp môn trong Ấn-độ giáo, nhằm đạt đến tình trạng giải phóng bản ngã và kết hợp với Ðại Ngã (Atman hay Thực Tại Tối Thượng) qua nỗ lực tập trung tinh thần cao độ, tham thiền sâu lắng và quán định. Từ “yoga” có nghĩa là kết hợp với Thượng Ðế. Ngày nay, yoga được biết đến rất nhiều trong thế giới Tây Phương cùng với những yếu tố khác trong Phong Trào Thời Ðại Mới (New Age). Hầu hết mọi người không biết rằng New Age chính là triết lý Ấn-độ giáo bọc sô-cô-la dành cho phương Tây.

    So sánh những lời dạy trong thuật yoga với Kinh Thánh

    Một trong những nguyên tắc nền tảng của Ấn-độ giáo là chủ nghĩa phiếm thần– cho rằng con người là sự tiếp nối của Thượng Ðế. Cho nên, nếu cứ luyện yoga, một ngày kia bạn sẽ nhận ra chính mình là Thượng Ðế. Nhưng theo Kinh Thánh, Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa, còn con người chỉ là tạo vật. Dù Kinh Thánh dạy rằng chúng ta có thể được kéo đến gần Ðức Chúa Trời nhưng không hề nói rằng chúng ta có thể trở thành Ðức Chúa Trời nhờ tập luyện một phương pháp tâm linh nào. Trong Ấn độ giáo hay trong triết lý yoga không hề có một khái niệm nào về tội lỗi, mà chỉ nói đến sự thiếu hiểu biết của con người. Khi ngu dốt bạn không cần sự cứu rỗi, nhưng chỉ có một nhận thức rằng chính mình là Ðức Chúa Trời.
    Mối quan tâm của bạn về yoga là gì?

    Các lớp dạy yoga thường rất nhập nhằng. Khi bạn muốn biết thêm chi tiết liên quan đến lớp yoga, thầy dạy yoga- gọi là yogi, sẽ trả lời rằng tập yoga rất tốt, giúp cho máu huyết lưu thông, giảm căng thẳng và vài điều khác nữa. Thông thường, thầy dạy yoga không chỉ biết có thế mà biết nhiều hơn rất nhiều những gì sẽ dạy bạn buổi đầu. Trong yoga có nhiều đẳng cấp khác nhau. Cấp một chỉ có vài điều căn bản. Người dạy chỉ thị cho bạn phải ngồi thẳng lưng, hai tay để lên đùi, hít vào thật sâu và thở ra giãn xả. Cấp hai, họ dạy bạn làm cho tâm trí trống không và đọc bài thần chú “Om”– Ðây là một từ ca tụng thánh thần trong Ấn-độ giáo. Ở cấp ba và bốn, bạn sẽ được tập một vài tư thế khác nhau như của loài rắn. Mỗi cấp sẽ đưa bạn đi càng ngày càng sâu hơn. Những yogi thứ thiệt còn có quyền lực siêu nhiên không phải đến từ Chúa Giê-xu nhưng từ nguồn khác. Tôi đã từng thấy họ tự nâng bổng lên, hoặc tự chôn sống trong nhiều ngày, bước đi qua lửa và biến hóa đồ vật. (Xin xem video, phim Hindu Asthetics). Ðúng như Kinh Thánh đã cảnh giác chúng ta rằng ma-quỉ có thể làm được phép lạ. Nhưng mục tiêu cuối cùng của ma-quỉ là hủy phá con người và các yogis này thường bị mất trí, điên loạn vào những năm cuối đời.

    Tín hữu Cơ-đốc có thể tập yoga nếu pháp môn này không liên hệ với Ấn-độ giáo không?

    Trước hết, tôi xác định rằng thân thể khỏe mạnh rất quan trọng và chúng ta làm sáng danh Chúa khi có thân thể khỏe mạnh. Kinh Thánh dạy rằng thân thể chúng ta là đền thờ của Chúa. Cá nhân tôi cũng thích tập thể thao, thích giãn xả, thích hít thở cho đúng cách, thích đến các trung tâm tập thể dục. Là Cơ-đốc nhân chúng ta có thể tập thể dục bất cứ cách nào, nhưng tại sao lại phải tham dự vào việc tập yoga? Trong quan điểm của tôi, người tập yoga là người mở ngỏ tâm trí mình cho ma-quỉ áp chế, dù ý thức hay không. Tôi quen nhiều tín hữu tập yoga cho biết rằng họ thường thấy ác mộng, thấy ma-quỉ xuất hiện trong bản chất rất ghê rợn. Là người phương Tây và là người tín hữu phương Tây, chúng ta đôi khi rất ngây thơ. Chúng ta đã quá vội vàng chạy theo yoga khi chưa kịp hiểu biết về hiểm họa của nó. Câu hỏi của tôi cho những tín hữu tập yoga là: “Tại sao chỉ vì muốn cho thân thể khỏe mạnh mà bạn lại phải đứng chung với một triết lý tôn giáo trái ngược với đức tin Cơ-đốc của mình?” Dr. George Alexander, Ph. D. (Thy Hương chuyển ngữ). Báo Thông Công, Giáo hạt truyền giáo Hoa Kỳ

    Tiến Sĩ George Alexander, Ph. D., là giáo sư cộng tác và là Trưởng Phân Khoa Truyền Giáo và Mục Vụ Liên Văn Hóa tại Ðại Học Biola
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  13. #13

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Vitxiem Xem Bài Gởi
    Bài của 1 người Tin lành:
    -------

    CƠ ĐỐC NHÂN CẦN BIẾT GÌ VỀ YOGA TẬP THIỀN

    Mối quan tâm của bạn về yoga là gì?

    Các lớp dạy yoga thường rất nhập nhằng. Khi bạn muốn biết thêm chi tiết liên quan đến lớp yoga, thầy dạy yoga- gọi là yogi, sẽ trả lời rằng tập yoga rất tốt, giúp cho máu huyết lưu thông, giảm căng thẳng và vài điều khác nữa. Thông thường, thầy dạy yoga không chỉ biết có thế mà biết nhiều hơn rất nhiều những gì sẽ dạy bạn buổi đầu. Trong yoga có nhiều đẳng cấp khác nhau. Cấp một chỉ có vài điều căn bản. Người dạy chỉ thị cho bạn phải ngồi thẳng lưng, hai tay để lên đùi, hít vào thật sâu và thở ra giãn xả. Cấp hai, họ dạy bạn làm cho tâm trí trống không và đọc bài thần chú “Om”– Ðây là một từ ca tụng thánh thần trong Ấn-độ giáo. Ở cấp ba và bốn, bạn sẽ được tập một vài tư thế khác nhau như của loài rắn. Mỗi cấp sẽ đưa bạn đi càng ngày càng sâu hơn. Những yogi thứ thiệt còn có quyền lực siêu nhiên không phải đến từ Chúa Giê-xu nhưng từ nguồn khác. Tôi đã từng thấy họ tự nâng bổng lên, hoặc tự chôn sống trong nhiều ngày, bước đi qua lửa và biến hóa đồ vật. (Xin xem video, phim Hindu Asthetics). Ðúng như Kinh Thánh đã cảnh giác chúng ta rằng ma-quỉ có thể làm được phép lạ. Nhưng mục tiêu cuối cùng của ma-quỉ là hủy phá con người và các yogis này thường bị mất trí, điên loạn vào những năm cuối đời.
    ??????

    Câu hỏi của tôi cho những tín hữu tập yoga là: “Tại sao chỉ vì muốn cho thân thể khỏe mạnh mà bạn lại phải đứng chung với một triết lý tôn giáo trái ngược với đức tin Cơ-đốc của mình?” Dr. George Alexander, Ph. D. (Thy Hương chuyển ngữ). Báo Thông Công, Giáo hạt truyền giáo Hoa Kỳ

    Tiến Sĩ George Alexander, Ph. D., là giáo sư cộng tác và là Trưởng Phân Khoa Truyền Giáo và Mục Vụ Liên Văn Hóa tại Ðại Học Biola
    HN cám ơn VitXiem . trang bạn đưa lên làm HN phải đọc vì nó liên quan đến yoga cái môn mà HN đã đang say mê, tìm hiểu, tin này trái ngược với điều HN đang nghĩ ,bài viết có nói đúng về cái mục đích của môn yoga,nhưng chưa có chứng minh cụ thể chi hết ! người học yo ga nhìu khá chỉ dựa vào lời của ông tiến sĩ George đó nói có quen vài người bạn học yoga xong bị này bị nọ rùi nói cho nó là môn ma quỷ là sao ? yoga phải tập đúng cách nữa học viên cần có thầy dạy rất kĩ lưỡng ko được sai sót,chuyện này ai bít mấy thầy kia tập thế nào ra sao để rùi tai họa,tự nhin quy tội cho yoga hết.
    chắc chắn


    Childlike Masterrose4

  14. #14

    Mặc định

    Vitxiem chỉ pót lên để mọi người tham khảo vì chuyện này ngoài sự hiểu biết của vit, vx chưa có thiền bao giờ, nhưng vx nghe người quen kể về người bạn cùng học chung trường ngày xưa, sau khi tập thiền mở luân xa gì gì đó ,1 buối tối nọ anh ta nhìn thấy 1 cái bóng con gái mặc áo trắng tóc dài đứng trong góc phòng ngủ tối thui, anh ta sợ quá tông cửa hét lên chạy ra ngoài đường :-)
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  15. #15

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Vitxiem Xem Bài Gởi
    Vitxiem chỉ pót lên để mọi người tham khảo vì chuyện này ngoài sự hiểu biết của vit, vx chưa có thiền bao giờ ---> phải rùi,vịt xiêm thì làm gì bít thiền ! :D

    , nhưng vx nghe người quen kể về người bạn cùng học chung trường ngày xưa, sau khi tập thiền mở luân xa gì gì đó ,1 buối tối nọ anh ta nhìn thấy 1 cái bóng con gái mặc áo trắng tóc dài đứng trong góc phòng ngủ tối thui, anh ta sợ quá tông cửa hét lên chạy ra ngoài đường :-)
    chỉ là kể thui,mà kể thì có thim bớt tùm lum sao mà tin,rùi nữa, cái đó cũng ko nên nghe vài ba ngừi nói ...rùi mình luận lung tung đc.hiii,để HN thử nghiệm xem sao rùi gữi kết quả đến mọi ngừi nhé ! HN đặc bit trug thực trong việc này,hiii
    chắc chắn


    Childlike Masterrose4

  16. #16
    Nhị Đẳng Avatar của Ma ba tuần
    Gia nhập
    Sep 2011
    Nơi cư ngụ
    Nhà của Ta
    Bài gởi
    2,145

    Mặc định

    thiền loạng quạng thì nhập vào ấm ma

    không phải cứ lấy 1 chút thiền cho đủ đâu, ,anh hãy nói cho tôi biết thiền có mấy loại ?thiền tăng trưởng cái gì? thiền gặp những chướng ngại nào ? cách trừ khử những chướng ngại nay ? thiền có mấy cấp ? kết quả của thiền là gì ?

    không phải cứ thấy người khác ăn khoai cũng vác mai đi đào đâu

  17. #17
    Nhị Đẳng Avatar của Ma ba tuần
    Gia nhập
    Sep 2011
    Nơi cư ngụ
    Nhà của Ta
    Bài gởi
    2,145

    Mặc định

    cái mà anh kể ra trên kia không phải là thiền nó chỉ là nhắm mắt rồi niệm thôi ,kết quả không làm tăng trưởng trí tuệ dc ,tạm chỉ tăng trưởng niệm lực nhưng khá ít ỏi

  18. #18
    Nhị Đẳng Avatar của Ma ba tuần
    Gia nhập
    Sep 2011
    Nơi cư ngụ
    Nhà của Ta
    Bài gởi
    2,145

    Mặc định

    thiền có 5 kẻ thù :
    +dục (tham ái)
    +sân(giận)
    +hôn trầm (ngủ mê )
    +trảo cử (dộng đậy chân tay ,và lăng xăng trong tâm )
    +hoài nghi (hoài nghi về kết quả )


    các bạn mà ko biết 5 đứa này thì chưa gọi là thiền

  19. #19

    Mặc định

    thiền PG tùm lum thế nào thì không biết chứ như bình thường thì ngồi thả lỏng,hít thật sâu vào,rồi thở ra nhẹ nhàng lâu lâu một chút là ok.
    Thiên hạ “Chi nghinh nam bắc điểu”
    Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”

  20. #20

    Mặc định

    Thực ra mục đích của Thiền Ki tô giáo chỉ nhằm thinh lặng, thinh lặng để hướng về Chúa.

    Đôi khi chúng ta lần hạt mân côi, không cần để ý đến nghĩa, tự nhiên sẽ đạt được sự thinh lặng.

    Ngày xưa tôi cứ sợ lần hạt mà không suy niệm, hoặc ngủ gật là mắc lỗi. Nhưng khi ta mất ngủ, nếu bạn nào có ý niệm rằng "Lạy Chúa, Lạy Mẹ Maria xin đưa con vào giấc ngủ an lành", hoặc đọc 1 đoạn Kinh "Chúa đã gìn giữ con ban ngày, thì xin gìn giữ con ban đêm kẻo sa phạm tội mất lòng Chúa, hay là chết tươi ăn năn tội chẳng kịp....", như vậy giấc ngủ từ 1 kẻ thù trở thành người bạn, nếu bạn mất ngủ thêm 20 phút nữa thì ý niệm này càng làm bạn gần Chúa dài hơn :)

    Hình như Đức Lạt Ma 14 cũng nói rằng Thiền trong Ki tô giáo dễ thực hiện hơn vì có 1 Thượng đế để con người làm điểm tựa, nên ko bị cảm giác chới với.
    Kinh Thánh có rất nhiều đoạn, nhiều dụ ngôn, nhiều hình ảnh để trừ khử tham, sân, si.

    Ví dụ hôm nay con bạn vừa cãi lại bạn, làm bạn vô cùng tức giận. Ta nhớ lại dụ ngôn người con hoang đàng, người cha nhân từ ngày ngày mong con trở về,vv... Thiên Chúa nhân từ với con người như vậy, mình ko làm được với con mình ? Tự nhiên cơn giận sẽ nguôi dần. Có thể ngày mai ta sẽ học theo hành động của người cha, tha thứ cho người con,vv... sân giận tiêu tan. Tối mai khi Thiền chắc sẽ ok, lòng nhẹ nhàng.Sau vài năm chắc ta không còn nóng nảy nữa :)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. GIÃI THOÁT CÓ KHÓ LẮM KHÔNG
    By nguoiconhukhong in forum Đạo Phật
    Trả lời: 858
    Bài mới gởi: 30-08-2016, 12:58 AM
  2. TỘI ÁC TÔN GIÁO ĐƯỢC THỔI PHỒNG
    By sa đại hiệp in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 51
    Bài mới gởi: 04-03-2012, 10:28 AM
  3. VÀI DÒNG LỊCH SỬ TỬ ĐẠO VÀ GIÁO HỘI VIỆT NAM
    By abbachaoi in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 26-11-2011, 02:13 PM
  4. Con đường chuyển hóa
    By Nicholas268 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 30-09-2011, 02:46 PM
  5. BÀ LA MÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
    By aptruong in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 19-01-2011, 12:58 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •