kết quả từ 1 tới 14 trên 14

Ðề tài: Kinh Lạy Cha cho Phật tử và Giáo dân

  1. #1

    Mặc định Kinh Lạy Cha cho Phật tử và Giáo dân

    Salad post bài này lên diễn dàn này từ rất lâu rồi. Lúc trước, giữa các đạo hữu cũng xảy ra một cuộc xung đột giữa 2 hệ tư tưởng Phật giáo, và Thiên chúa giáo. Nhận thấy gần đây, những mâu thuẫn có thêm phần gay gắt, nên Salad xin post lại bài này. Lúc trước, Salad gửi bài lên ở dạng comment, nay đem ra hẳn thành một topic... vài dòng chia sẻ cùng quý đạo hữu và ace.

    “KINH LẠY CHA

    Lạy Cha chúng con ở trên Trời

    Chúng con nguyện danh Cha cả sáng

    Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời

    Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày

    Và xin tha nợ cho chúng con như chúng con đã tha kẻ có nợ chúng con

    Xin giữachúng con khỏi sa trước cám dỗ

    Nhưng xin cứu chúng con ra khỏi sự dữ

    Amen “



    Bài Kinh Lạy Cha do chính Chúa Jesus dạy cho các môn đệ. Chúa Jesus là người cấp tiến trong nhận thức về Thiên Chúa vào thời đại ấy. Cho nên Kinh Lạy Cha mang một màu sắc hoàn toàn khác với những bài kinh khác như Kính Mừng,.v.v. Đa số trong đạo Thiên Chúa, các kinh đọc và lần chuỗi được chia ra làm 2 mảng. Mảng để tôn vinh Chúa, Đức Mẹ và mảng để thực hành. Tuy nhiên các giáo dân và có thể là cả những vị Linh mục không nhận thức rõ được điều này. Mảng để tôn vinh Thiên Chúa thì đứng đầu là kinh Kính Mừng, rồi kinh Sáng Danh, kinh Nữ Vương. Mảng để thực hành đầu tiên là Kinh Lạy Cha, rồi rất nhiều kinh của các vị Thánh , điển hình là bài Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô khó khăn...
    Trở lại phần trên như đã nói, Jesus là một người đạo Chúa cấp tiến. Thầy ấy gần như đã phá vỡ hoàn toàn các định kiến của thời bấy giờ. Trao quyền năng cho con người. Trong ấy quyền năng cao nhất là sự THA THỨ. " ở đất này, các người cũng có quyền tha tội cho anh em của các người ". Vậy Thầy Jesus mang màu sắc của Cựu Ước là hình ảnh Chúa Cha oai nghiêm ra để đến gần với tâm lý của dân Do Thái, và từ sự gần gũi ấy, Thầy gần như lấy hết các quyền năng của Chúa Cha mà trao cho con người. Như việc Ngài dạy các môn đệ cách làm yên biển động và gió dữ. và bảo rằng " lòng tin của ngươi đã cứu ngươi ". Theo cách nói của Thầy ấy, Chúa Cha không còn một quyền lực nào trên con người ngoại trừ sự PHÁN XÉT, THƯỞNG PHẠT , ĐỊNH TỘI... Thầy Jesus giới hạn sự tác động của nhân vật Cha trên Trời trở thành danh từ mà phương Đông, Đức Thích Ca gọi là LUẬT NHÂN QUẢ.



    " không ai đến được với Cha Thầy, mà không qua Thầy "



    Nếu chấp vào văn tự, ta sẽ hiểu lầm rằng Thầy Jesus đang đề cao chính Thầy, và tự làm quan trọng hóa bản thân. Nhưng nếu hiểu thoáng ra tức là muốn ung dung tự tại nơi Cha Thầy thì phải thực hành theo giáo lý của Thầy. Mà Giáo lý của Thầy là tình thương, là từ bi, bác ái. Như vậy, Thầy Jesus không trực tiếp giảng dạy về cách Thiền Quán Từ Bi, nhưng gián tiếp dạy về Hành Từ Bi cho các môn đệ và giáo dân của Thầy. Muốn ung dung tự tại trong nguồn máy bất tận và công bằng của NHÂN QUẢ, cách duy nhất Thích Ca nói đến là sự Tu tập, và đoạn diệt các tham đắm. Không gieo nhân nữa thì sẽ không có quả. Tức là không có tác ý. NHÂN QUẢ dẫn đến LUÂN HỒI, Bồ tát ung dung tự tại cứu khổ trong LUÂN HỒI vì Bồ tát liễu ngộ sâu sắc và tột cùng của NHÂN QUẢ. Vậy thì lời dạy của Jesus và Thích Ca có khác không ?


    Thầy Jesus tuy là người cấp tiến nhất thời bấy giờ, nhưng vẫn không thể nào giảng dạy một đạo mà ko hề liên quan gì đến Thiên Chúa. Không thể nào bảo rằng " Duy ngã Độc Tôn". Như vậy, giáo lý của Ngài sẽ bị cho là TÀ GIÁO theo quan điểm của giáo hội lúc bấy giờ. Ngài không còn cách nào khác, ngoài cách giảng dạy đã chọn. Đem con người vào một giáo lý mới, nhưng cũng khẳng định Thầy vâng lời Cha Thầy đến để truyền ban giáo lý này cho các con. Nhận là Con Thiên Chúa để giáo lý có thể được chấp nhận tuyệt đối. Thừa hưởng cái cũ, nhưng cũng đồng thời phá nát những định luật cổ xưa. Thiên Chúa không nói hai lời, nhưng tại sao giới luật cho Moise lại khác, và cho Thầy Jesus lại khác. Vì Thầy Jesus không phải đến để rao giảng về nước Thiên Chúa của ngàn xưa, Thầy đến để dạy về cách biến cõi đất này nên Thành của Thiên Chúa, và thánh hóa dân chúng trở nên một với Thiên Chúa. Cách đó ở Phương Đông, dân chúng cũng ngỡ ngàng với một học thuyết, các Phật thể tánh vốn đồng, và chúng sanh cũng đồng một Phật tánh.

    Kinh Lạy Cha thật sự là một cách cầu nguyện siêu việt và vĩ đại của Thầy Jesus, đó không phải là Kinh để đọc theo kiểu tính đếm, mà là Pháp để y giáo phụng hành, thực tập sâu sắc. Kinh ấy không phải để trừ tà ma mà là cách dạy nên những người có thể trừ tà bằng đức độ, và lòng tư bi vô lượng của chính bản thân họ.

    Lương thực là thứ đầu tiên được nhắc đến, nhưng tại sao không là lương thực quanh năm, lương thực dư thừa mà là lương thực hằng ngày ? hằng ngày là hiện tại, vậy Thầy Jesus quan tâm là hạnh phúc hiện tiền chứ không phải ngày mai, hôm qua và mai sau. Điều cầu xin đầu tiên không phải là giàu có, mà là sự đầy đủ. Lương thực là ẩn dụ của sự đủ đầy, no ấm và hạnh phúc. Lương thực vừa của tâm linh và thể xác. Là chiếc bánh thánh nơi bàn lễ, là chén cơm ăn mỗi ngày. Ý thức được rằng lương thực này của Cha ban, ta sẽ hứa thọ dụng trong chánh niệm, mà đối với người phương Tây là ăn một cách trịnh trọng. Ăn hạt lúa và nhận rõ tính chất tương quan trong hạt lúa. Điều này Kinh Hoa Nghiêm nói đến, bằng hình ảnh lưới trời Đế Thích, mỗi hạt châu phản chiếu muôn vạn hạt châu. Để thấy rằng Chúa Cha không phải là một hình tượng cụ thể mà tồn tại dưới dạng những định luật thường hằng của vũ trụ. Tìm Chúa Cha theo dạng tìm kiếm cụ thể hình dáng, mắt tai mũi lưỡi chính là giết chết Chúa Cha. Nhận ra sự hiện diện của Cha qua những điều bình dị của cuộc sống. Tìm Cha qua hạt lúa, hột cơm, tiếng cười, giọt nước mắt ấy mới là lòng tôn kính Cha Thật sự. Điều đó thể hiện rất rõ ràng qua " ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên trời ", và Thích Ca cách đó rất lâu cũng nói rằng : các định luật chi phối cả chư Thiên và chúng sanh.


    và tha nợ chúng con
    như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.



    Kế đến là sự mặc cả của sự tha tội, Cha ơi tha tội cho con nha, vì con cũng đã tha tội cho hết thảy những ai mắc nợ con rồi. Nói là sự mặc cả, nhưng thực chất Thầy Jesus đã đồng hoá con người, nâng tầm vóc của người cầu nguyện trở nên một với đối tượng lắng nghe sự cầu nguyện. Con cũng có thể tha tội cho người khác, và Cha cũng thế. Con và Cha không phải là hai thực tại riêng rẽ. Con trong Cha, và Cha ở trong con.

    Trong các Pháp quán Tứ Vô Lượng Tâm, pháp quán thứ 4 là xả. Xả là bỏ. Ở đây Tha Tội cũng gần giống với Xả, không chấp giữ. Xả là pháp quán có thể vượt thoát Sanh tử bởi không còn vướng mắt, không thương ghét, hỷ nộ ái ố. Lúc nào cũng an lạc, thanh thản. Ké khác mang nợ con, và con mắc nợ với Cha. Vậy Thầy Jesus đã cố ý xoá đi ranh giới giữa kẻ vay và người trả nơi thế gian này. Hắn nợ ta vì biết đâu trong kiếp trước ta nợ hắn và chưa trả, hôm nay hắn đến đòi lại. Không còn hình ảnh vay trả giữa hai thực thể nữa, mà là sự công bằng và toàn vẹn của NHÂN QUẢ, của Ý CHA trong từng sát na. Sự vay trả trở thành một dòng sông, không khởi điểm và cũng không kết thúc. Ai nói dòng sông có bắt đầu và kết thúc là họ đang chấp vào hình tướng và có cái nhìn thiển cận. Sông đổ ra biển, và từ biển đổ về sông. Nước sông không mất đi đâu cả, ngàn năm nay vẫn thế. Vì con nhìn thấy được tất cả đang được vận hành theo Ý CHA, nên con nguyện không nhìn ai là người mắc nợ, và không tự xem mình là kẻ đi cho vay. Con chỉ là một tác nhân trong dòng cuộn tròn của Nhân Quả, cho nên khi tự xét thấy mình không nợ ai, và không ai nợ mình ấy chính là khi hoa sen vút cao lên khỏi bùn nhơ. Vượt thoát khỏi sự trả vay vốn dĩ, vượt thoát khỏi sinh tử luân hồi ấy là lúc CHA tha nợ cho con rồi, và con về với nước CHA. Là Niết Bàn theo Thiền Tông, Cực Lạc theo Tịnh Độ và Thiên Đàng theo Kitô giáo. Nơi sự bất sanh bất diệt được hiển bày.

    Thầy Jesus dạy các môn đệ tu học theo Tân Ước phải dừng cuộc đòi nợ lại. Khi người cho vay không làm công việc thu nợ nữa, thì sẽ không còn bóng dáng hay danh hiệu của kẻ vay tiền. Sâu xa hơn, không chỉ dừng lại ở hai kẻ đi vay và cho vay, hay thiếu nợ và đòi nợ. Có lẽ, Thầy nhấn mạnh hơn rằng những danh xưng của thế gian này chỉ là tạm bợ, phù hoa, như dấu chân trên sa mạc. Chúng không có thật. Thầy Tư Tế làm công việc Tư Tế, nhưng không đền thờ, không giáo dân, không Thần Linh thì chức danh Tư Tế ấy có được hiểu hay không ? Cho nên danh xưng chỉ là cách định dạng, tóm gọn tạm bợ những gì nó bao gồm. Nhà vua có còn là vua khi không quần thần, không đền đài, thành quách, dân chúng,.v.v. Vì chúng con đã nhận thấy sự phù phiếm của danh xưng, đã dừng lại cuộc trả vay bất tận nên Cha tha cho chúng con. Cha chỉ tha thứ khi nào các con hội đủ những yếu tố ấy. Mà cũng không cần có một vị Cha cụ thể để làm công việc tha tội vĩ đại ấy, chính chúng con đã được sạch rồi. Cũng hệt như pháp Sám hối của Phật giáo

    “ Tội do Tâm sanh, do Tâm diệt

    Tâm đã diệt, tội cũng không còn

    Tội hết, tâm không, hai vẳng lặng

    Như Thế mới là chơn Sám hối “

    Đức Thích Ca sanh vào một thời kỳ mà Tôn giáo sản sanh ra như cỏ sau mưa, phái thờ thần Lửa, thần Rắn, thần Nước, phái Loã Thể, phái Khổ Hạnh .v.v.. Nên việc Ngài lập ra một Tôn giáo, một Triết lý mới và đánh sập toàn bộ hệ thống của các Tôn giáo khác là việc hoàn toàn có thể. Nhưng đối với Jesus, Thầy là một vị đạt được phương tiện khéo. Dùng chính những sai lệch, những thiếu sót trong Cựu Ước, và Thiên Chúa giáo nguyên thuỷ để lập nên một tôn giáo, một nền tảng triết lý khác. Ta có thể gọi là “ bình cũ nhưng rượu mới “. Chỉ cần Ngài xưng là Con Thiên Chúa thì đã bị xem là phạm thượng rồi, thì quan điểm mới của Ngài, trao quyền năng cho con người sẽ bị đối xử như thế nào ? Khi cái thấy của Ngài không đồng với tất cả các vị Tiên tri mà dân Do Thái từng ngưỡng mộ ? Con thuyền của Jesus lập nên có đủ sức để cứu chúng sanh cũng như thuyền Bát Nhã của Thích Ca. Vì chúng không khác nhau, bất nhị. Nhưng từng sắc tộc, địa điểm mà phương tiện phải thay đổi, phải linh động. Ấy gọi là “khéo ứng các nơi chỗ “ để cứu độ chúng sanh.



    “Xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ,
    nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.”



    Sau khi đã dừng lại giữa dòng sanh tử, vay trả không lúc nào ngơi nghĩ. Thầy mở ra cho dân Thầy thấy rằng đối tượng tăm tối không phải là Satan, Lucifer cụ thể như Cựu Ước đã từng đề cập mà là những cám dỗ và sự dữ. Những cám dỗ kéo con người bước đi vào lại nơi cuộc vay trả, trả vay đang quay cuồn cuộn. Sức hấp dẫn của những khổ đau không bao giờ đến bằng nước mắt, héo úa và sầu muộn mà hiện ra trước mắt hành giả bằng sắc đẹp, mùi hương, đàn hát, xác thịt, ngon ngọt. CHA giữ chúng con bằng cách nào ? bằng cách cho chúng con thấy rõ BẢN CHẤT VÔ THƯỜNG của vạn pháp. Cám dỗ kéo chân con, bắt con phải sa vào luân hồi, xin hãy thể hiện sự VÔ THƯỜNG nơi những cám dỗ ấy. Đức Phật quán 3 ma nữ con gái của Ba Tuần là già nua xấu xí. Thì hôm nay, Thầy Jesus dạy môn đệ nhìn thấy ấy là cám dỗ, và khổ đau ẩn tàng dưới lớp màn của hạnh phúc, dục lạc. Nhìn thấy đó là cám dỗ, thì nó mất ngay. Nhìn thấy đó là vọng tưởng thì nó liền tan. Ấy phải chăng là pháp thiền PHẢN QUANG TỰ KỶ, quay lại tìm tâm thì chẳng thấy tâm của Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi truyền đạo sang Trung Quốc ? Sự dữ là những ác nghiệp, cứu khỏi sự dữ là mang chúng con đi khỏi những ác nghiệp. Bằng cách nào ? Là dạy chúng con ác và thiện nghiệp cũng đồng một bản chất là NGHIỆP. Cha đã dạy chúng con dừng gieo hạt mầm của nghiệp báo lại rồi thì sự dữ ấy không còn đến được nữa. Bản dịch Tiếng Anh là “ Deliver us form evil “. Deliver nghĩa là mang ra khỏi, vượt thoát khỏi. Có lẽ hiểu bản Tiếng Anh sẽ sát với ý nghĩa hơn và dịch sang Tiếng Việt. Từ “ Cứu” thường bị hiểu lầm như từ “cứu” trong Phật giáo. Người ta hay hiểu “cứu” cũng giống như gà mẹ thấy gà con bị diều quạ tấn công liền dương đầu với diều hâu quạ dữ. Nhưng trong bài Kinh này, và trong các kinh điển Phật giáo, “cứu” được phát khởi từ Tâm Bi… Bi là mong muốn cứu thoát chúng sanh đang lâm nạn, sự mong muốn ấy phát triển đến một mức vĩ đại cao tột thì gọi là Đại Bi, và Đại Bi nên khéo ứng các nơi chỗ. Ứng nơi chỗ không phải để cứu theo cách của Thế gian, mà là mang lại Pháp môn thích hợp để cứu thoát. Như Ngài Địa Tạng độ thoát chúng sanh khỏi Địa Ngục… ta có thể dịch thành :” He can deliver Souls of Dead from Dell “. Độ thoát không phải là mang đi mà là trao cho phương tiện để có thể TỰ THÂN vượt thoát. Thầy Jesus từng bảo “ Chính đức tin của ông đã cứu ông “. Đó chính là ý nghĩa của cả câu “ cứu chúng con khỏi mọi sự dữ “, tức là hãy “hãy trao cho con Chánh pháp đặng con độ hết mọi đau khổ nơi thân tâm này”.

    Điều đáng lưu ý là đối với những cám dỗ lại dùng cụm từ “giữ cho khỏi sa” , và sự dữ thì “ cứu khỏi “. Có thể Thầy Jesus quan niệm rằng cám dỗ là một đối tượng để quán chiếu. Dục lạc là một đối tượng khá thú vị cho hành giả quán chiếu về sự vô thường của xúc cảm nơi thân. Nên có một số người nói rằng “ tu mà không diệt được dục thì không phải tu “… Ta không dấn thân vào Địa Ngục thì ai sẽ vào giúp ta đây ? dấn thân vào Địa ngục là hành động điềm tĩnh, an nhiên trước cám dỗ, dùng trí tuệ rộng lớn mà nhận thấy được bản chất của vấn đề. Thân này huyễn hoặc, do duyên hợp tạo thành thì có “sa “ trước cám dỗ không ? Tuyệt đối là không. Nhưng phải “giữ”, Cha phải “giữ “con. Đó là sự duy trì chánh niệm cho miên mật, cho liên tục. Không phải cứ nhận được chân tướng của cám dỗ một lần là sẽ thoát được đó, lúc nào cũng phải cảnh giác, phải nuôi lớn chánh niệm hằng ngày. Khi con cầu nguyện thì con không gục ngã. Khi con ngồi Thiền, trì Chú, Niệm Phật thì chắc chắc con vượt khỏi lục trần. Nhưng trong đời sống hằng ngày, con phải làm thế nào để phát huy được hạt giống con đã gieo trong những giờ hợp ý cùng Cha, những thời công phu sáng chiều. Phải phấn đấu sống chánh niệm suốt 24/24 mỗi ngày. Và câu nói, “cha ơi giữ gìn con nhé !” là một câu nói rất dễ thương, và êm dịu. Khi đứa con nhờ Cha giữ gìn vì nó sợ những lúc nó quên lối về, thì lúc ấy nó đã thắp được mặt trời chánh niệm mà bước đi rồi…



    Ta có thể kể lại chuyện Thầy Huệ Khả cầu đạo với Ngài Bồ Đề Đạt Ma

    - Thầy ơi, tâm con không an lành, xin Thầy giúp con

    - Vậy, con đem Tâm ra xem nào ?

    - Ơ hay, con không tìm được tâm con

    - Vậy là Thầy đã an tâm cho con rồi đấy !

    Và câu chuyện giữa người Kitô hữu với Thiên Chúa :

    - Chúa ơi, xin giữ con khỏi sa cám dỗ, và giúp con thoát khỏi những sự dữ

    - Vậy, con hãy mang cám dỗ và sự dữ ấy ra cho ta xem nào ?

    - Con không làm được, chúng không hiện hữu.

    - Vậy, Cha đã giúp con rồi đấy !

    Ta gọi dục lạc, gọi sắc thanh hương vị xúc pháp là những cám dỗ, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục là sự dữ. Nhưng bản chất của chúng vốn không thật, quay lại tìm thì chúng biến mất ngay. Vậy chỉ cần con canh phòng cẩn mật, hệt như lúc con quay lại tìm Tâm, hay tìm cám dỗ và sự dữ thì con sẽ được an lành.

    Trong một bài Kinh rất ngắn, Thầy Jesus hiển bày 3 pháp môn tối thắng của Phật giáo là HIỆN PHÁP LẠC TRÚ, QUÁN TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, và TRỰC CHỈ NHÂN TÂM KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT. Những điều ấy chứng minh rằng, những phép quán ấy không thuộc riêng về Phật giáo, không phải do công của Đức Thích Ca sáng tạo nên. Đó là chân lý hằng hữu trong vũ trụ này, chỉ cần thắp đèn trí tuệ thì có thể thấy được “ Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện , vị lai chư Tôn Pháp thường trú trong mười phương “. Những điều to lớn, khó tin ấy hoàn toàn có thật. Và Thầy Jesus cũng là một trong vô số hoá Phật đã diễn bày,và tuyên dương Chánh pháp giữa cõi Ta Bà này.
    kính xin quý Thầy, quý Sư cô tổ chức cầu siêu cho cụ bà Trần Thị Xuân hưởng dương 87t để thể hiện sự bác ái, từ bi vô lượng của Phật giáo

  2. #2

    Mặc định

    Chỉ đáng tiếc là đến tận bây giờ đa số người Do Thái tại Israel vẫn coi chúa Jesus là tà đạo, họ vẫn đợi đức Messi gì đó của họ, một số giáo sỹ Do thái giáo thì quả quyết là Messi sắp đến rồi để trị vì thế giới trong một nghìn năm. Nhà thờ chính thống giáo thì tuyên bố là AntiCris - đại diện cho bóng đêm, cái ác sẽ tìm cách thống trị thế giới. Bấy nhiêu phe, từng đấy ý kiến, chịu không biết đâu mà lần.

  3. #3
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Chỉ vì giảng dạy về lòng từ bi mà người Do Thái cho là báng bổ luật mô sê đó,Ngài đã phản đối một vài luật xử tử vô cớ của người Do Thái mà bị đóng đinh hỏi có đáng để tôn sùng hay không?
    Chúa Giê Su nói đúng ! không có ngôn sứ nào được chấp nhận ngay chính quê hương mình.Đạo Ngài không được chấp nhận ngay trên chính dân tộc Ngài.
    Phật Thích Ca cũng đường đường là hoàng tử vậy mà lại cũng không được chấp nhận ngay trên chính đất Ấn Độ mà lại lan truyền rộng rãi ở các nước của người da vàng !.
    haiz...........................

  4. #4
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi HSN2010 Xem Bài Gởi
    Chỉ đáng tiếc là đến tận bây giờ đa số người Do Thái tại Israel vẫn coi chúa Jesus là tà đạo, họ vẫn đợi đức Messi gì đó của họ, một số giáo sỹ Do thái giáo thì quả quyết là Messi sắp đến rồi để trị vì thế giới trong một nghìn năm. Nhà thờ chính thống giáo thì tuyên bố là AntiCris - đại diện cho bóng đêm, cái ác sẽ tìm cách thống trị thế giới. Bấy nhiêu phe, từng đấy ý kiến, chịu không biết đâu mà lần.
    Còn về Đấng mê si a là được nhắc đến trong cựu ước rồi,trong sách các tiên tri đã rất nhìu lần đề cập đến chuyện này,chuyện mà con của Thiên Chúa sẽ xuất hiện để giúp con người vào Thiên Đàng !
    haiz...........................

  5. #5

    Mặc định

    từ ngày tôi biết website này tôi đọc rất nhiều bài viết , các bài viết của anh , BỘ XƯƠNG , KIẾP MÙ LÒA , nhoc_salad . đúng là những người tài giỏi & được chúa chọn supperqeen nghĩ rằng các bạn đã học qua thần học rồi nên những bài viết làm cho mọi người đọc Sáng ra , & hiểu sâu hơn về các tôn giáo: công giáo , phật giáo ...v.v. tâm linh , các bạn nên có nhiều bài viết bổ ích nhiều hơn nữa , nhưng lưu Ý các bạn không nên nói BÓP MÉO một tôn giáo nào nhé , chúc các bạn luôn khỏe mạnh & mọi sự Bình An , CHÚA sẽ giữ gìn & bảo vệ các bạn khỏi sự dữ

  6. #6

    Mặc định

    hồi đó có nghe kể về người Do Thái, biết được nguyên nhân mất nước (xin lỗi giờ tự nhiên quên mất), có vẻ như bây giờ ho không khôn ngoan như tổ tiên của họ.
    Cư trần lạc đạo

  7. #7
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Itdepx Xem Bài Gởi
    hồi đó có nghe kể về người Do Thái, biết được nguyên nhân mất nước (xin lỗi giờ tự nhiên quên mất), có vẻ như bây giờ ho không khôn ngoan như tổ tiên của họ.
    những cuốn sách nói xấu đạo ki tô là của người do thái đấy !
    haiz...........................

  8. #8

    Mặc định

    Nếu am hiểu giáo lý nhà Phật một cách thấu đáo, người ta cũng sẽ hiểu được những gì trong Kinh Thánh, và mới thấy sự tương đồng quan điểm của các bậc đại tri thức. Bài viết này rất hay, đáng để mọi người chúng ta mở rộng trí huệ. Thân ái.

  9. #9
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Love_Tamlinh Xem Bài Gởi
    Nếu am hiểu giáo lý nhà Phật một cách thấu đáo, người ta cũng sẽ hiểu được những gì trong Kinh Thánh, và mới thấy sự tương đồng quan điểm của các bậc đại tri thức. Bài viết này rất hay, đáng để mọi người chúng ta mở rộng trí huệ. Thân ái.
    tôi đã nghe ai đó nói :
    Đức Phật Thích Ca bảo rằng : sau ta 500 năm sẽ có một vị thông thái ra đời.
    không biết có phải ý nói Chúa Giê Su hay không,nhưng chúng tôi vẫn sùng bái những gì mà Chúa Giê Su đã dạy
    haiz...........................

  10. #10

  11. #11

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi kiếp mù lòa Xem Bài Gởi
    những cuốn sách nói xấu đạo ki tô là của người do thái đấy !
    Nhầm rồi kiếp mù lòa ơi! Không phải những cuốn sách nói xấu đạo Chúa là do người Do Thái viết đâu mà do "kẻ thù của Chúa" sai khiến nhiều người viết chống lại Chúa đó!

  12. #12

    Mặc định

    Trào lưu thế tục muốn loại TC ra khỏi thế giới này, muốn loại trừ Ngài ra khỏi tâm hồn con người. Những ng chạy theo trào lưu thế tục chỉ biết đến danh lợi thú, họ k cần biết lương tâm là gì, sự khốn khổ ng khác là chi, chỉ có họ là chúa tể mà thôi

    Vì vậy Kito giáo ngày càng chịu sự bách hại tinh vi. K tỉnh thức chúng ta sẽ sa bẫy sa tan.

    Chúa đã hứa "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".
    Chúa đã mạc khải Lòng Chúa Thương Xót cho thời đại này, Ngài cũng mạc khải Tình Yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng ta.


    Hãy vững lòng tin nới Ba Ngôi Tình Yêu và sống xứng đáng là con cái Ngài

  13. #13

    Mặc định

    Khá dài, nhưng mình thấy rất hay. Xin các bạn CG chịu khó đọc nha

    Kinh Lạy Cha

    Gs.Nguyễn Đăng Trúc

    Trong Chúa Kitô,
    Giáo hội cầu nguyện
    Lạy cha chúng con

    Tái bản
    Định Hướng Tùng Thư

    2004

    I. Kinh Lạy Cha trong các bản Phúc Âm.

    Khi nói đến Kinh Lạy Cha, các nhà thần học, các nhà giải thích Kinh thánh thường nhắc lại câu nói bất hủ của Tertulianô : "Kinh lạy cha chúng con là một bảng tóm lược tất cả Phúc âm".

    Qua Kinh Lạy Cha, chúng ta thấy Đấng Thượng Đế mà Kytô hữu cầu nguyện được mặc khải cho con người một cách đặc biệt qua Chúa Giêsu.

    A - Hai bản văn

    Kinh Lạy Cha chúng ta thường đọc là bản văn viết trong Phúc Âm Mathêu.

    Ngoài lời cầu nguyện khẩn thiết của Chúa Giêsu với Thượng Đế Chúa Cha, được thánh Gioan chép lại trong Phúc Âm thứ tư đoạn 17 ở vườn Giệtsêmani trước khi Ngài bị bắt và bị đem đi đóng đinh, chúng ta có hai bản văn viết về Kinh Lạy Cha : một bản của Luca 11-2b-4 ngắn hơn, và một bản của Mathêu 6-9b-13 được viết dài hơn.

    Bản văn của Mathêu -6-

    9b. Lạy Cha chúng con Đấng (ở) trên trời

    Nguyện danh Cha được thánh.

    10. Nguyện nước Cha đến

    Nguyện ý của Cha được thực hiện ở trên trời cũng như ở dưới thế.

    11. Cầu xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằngngày.

    12. Và cầu xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng đã tha cho kẻ mắc nợ chúng con.

    13. Và cầu xin Cha đừng đưa chúng con vào chước cám dỗ

    nhưng xin cứu chúng con khỏi sự dữ.


    Bản văn của Luca -11- 2b

    Lạy Cha

    Nguyện danh Cha được thánh, nguyện nước Cha đến.

    3 Cầu xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày mỗi ngày.

    4 Và cầu xin Cha tha tội của chúng con vì chính chúng con cũng tha cho bất cứ ai mắc nợ chúng con, và xin đừng đưa chúng con vào chước cám dỗ.

    B. Những khác biệt của hai bản văn


    Hai bản văn có những khác biệt dễ thấy :

    - Mathêu có chữ chúng ta.

    - Mathêu có thêm Đấng ở trên trời, (là một thành ngữ Do thái thường dùng-và chỉ có ngài dùng đến 13 lần như thế trong Phúc âm của ngài).

    - Mathêu có thêm lời nguyện thứ ba : Nguyện ý Cha được thực hiện ở trên trời cũng như ở dưới thế.

    - Và tương ứng Mathêu có thêm lời cầu xin đối lại : Nhưng xin cứu chúng con khỏi sự dữ.

    - Mathêu dùng chữ Nợ, Luca dùng chữ tội.

    - Về mặt văn phạm, Luca ở 11.3 dùng động từ "xin hãy cho" ở thể hiện tại kéo dài. (xin cho mỗi ngày). Mathêu 6.11 dùng một động từ của Hy lạp gọi là (aoriste)- chỉ một hành động vào một thời điểm rõ rệt.

    Hẳn nhiên chúng ta sẽ hỏi xem, đâu là bản văn ghi lại trung thực lời Chúa Giêsu đã dạy.

    Các nhà giải thích Thánh Kinh đưa ra nhiều phân tích khác nhau. Nhưng họ đồng ý rằng, Mathêu ghi lại lời Kinh của cộng đồng người Do thái Kytô hữu, còn Luca ghi lại lời Kinh của cộng đồng người Kytô hữu không phải gốc Do thái. Dẫu sao thì toàn bộ lời Kinh của bản văn Luca đều có trong bản văn của Mathêu.

    Ngoài sự khác biệt về chính các câu văn, vị trí của Kinh Lạy Cha trong hai bản Phúc Âm cũng đặt vào hai khung cảnh khác nhau; Mathêu đặt bản văn Kinh Lạy Cha trong khung cảnh bài giảng đầu tiên của Phúc Âm ngài, gọi là "Bài giảng trên núi". Theo tinh thần toàn khối của chương nầy, Chúa Giêsu muốn đưa ra một mẫu mực cầu nguyện thật sự, ngược lại thái độ giả hình của các người Pharisêu trong lối sống đạo hạnh hình thức phô trương của họ. Còn Luca, thì đặt Kinh Lạy Cha vào một khung cảnh tích cực hơn. Khi các môn đệ thấy Chúa Giêsu thường cầu nguyện, họ muốn làm như Ngài; nên có một lần một người trong họ xin Ngài "Thưa thầy, xin thầy dạy chúng con cầu nguyện, như Gioan Tẩy Giả đã dạy điều đó cho các môn đệ của người". Và Chúa Giêsu đã đưa ra lời Kinh nầy.

    II. Mặc khải Kytô giáo trong Kinh Lạy Cha

    A - Quan điểm Thượng Đế, Đấng chí tôn trong các truyền thống văn hoá nhân loại


    Ý thức về Đấng Siêu Việt, Đấng Chí Tôn, cảnh vực thần linh... đều được mọi người cảm nhận qua các thế hệ, các thời đại khác nhau của lịch sử nhân loại. Cảm nhận đó thường được diễn tả bằng nhiều phương thế biểu lộ khác nhau. Qua cách diễn tả tượng trưng, người ta hình dung Thần Thánh bằng hình ảnh to lớn của vũ trụ như Trời xanh, Vô tận, luật thường hằng của Thiên nhiên... hoặc dựa vào nguồn gốc sinh thành vạn vật như Hóa công, Tạo hóa, có lúc lại lấy mẫu mực điều hành xã hội con người để chỉ Đấng Siêu Việt như Hoàng Thiên (Vua trời); trong tâm tình kính trọng người ta diễn tả Đấng đó là bậc đáng kính hơn cả, gọi là Đấng Chí Tôn. Đến mức độ cao hơn khi cảm nhận được những giới hạn nhận thức của mình trước Đấng ấy, thì thông thường người ta lại dùng lời nói tiêu cực như : Đấng Siêu Việt, Đấng không thể gọi tên, Đấng Tuyệt Đối, Đấng không thể hạn định được trong thời gian và không gian đang ràng buộc con người và thiên nhiên (= infini). Các triết gia Tây phương gọi là Hữu Thế tối cao, nguồn suối mà các tham thể thông dự vào. Kinh Thư Trung Hoa gọi là Đạo Tâm duy vi. Đặc biệt hơn hết người ta lấy mẫu mực tương quan cuộc sống gia đình để gọi tên Đấng Siêu Việt. Người ta gọi Đấng ấy là Cha chung muôn loài, cũng có khi còn gọi là Mẹ của muôn vật. Trong việc thờ cúng tổ tiên của người Việt, tổ tiên ta gọi Đấng đó là Văn tổ, Tổ trên hết các tổ.

    Các nhà cổ học truy cứu lại văn hoá cổ xưa của các vùng Tiểu Á, Ai Cập đã khám phá rằng Đấng thiêng liêng được tôn kính có lúc được các thi gia gọi tên là Mẹ hoặc là Cha.

    Tuy nhiên, giữa việc gọi Đấng Thiêng Liêng là Cha của các nền văn hoá nói chung và chữ Cha là Thiên Chúa được dùng trong các bản văn Cựu Ước lại có những nội dung khác nhau.

    B - Thiên chúa là Cha trong Cựu ước

    Thật ra trong Cựu Ước, rất ít khi Thượng Đế được gọi tên là Cha; đặc biệt nếu có dùng, thì chữ Cha không mang ý nghiã sinh thành tạo vật. Nhà thần học Jean Pouilly viết rằng : "Trái ngược với các huyền thoại ngoại giáo, phụ tính của Thiên Chúa hoàn toàn tách rời ý niệm về sinh thành và không bao giờ xuất lộ ra trong các bản văn (theo nghĩa đó) để ta có thể giải thích theo nghĩa mô phỏng về một đấng sinh thành hay tổ tiên. Thượng Đế là Cha, không phải vì ngài là "Đấng đã sinh hạ ra các thần thánh và con người", nhưng trong khuôn khổ ý nghĩa của việc Ngài chọn lựa Abraham và dân Do Thái mà Ngài nâng lên làm trưởng tử của Ngài khi cứu dân đó khỏi sự hà hiếp của Ai cập. Do đó, đây là một lối giải thích tượng trưng về phụ tính của Thượng Đế và trong khuôn khổ này lối giải thích đó không nhằm nói lên nguồn gốc của vũ trụ, nhưng liên hệ đến lịch sử con người" (Dieu Notre Père. Cahiers Evangile -số 68, các trang 9 và 11).

    Nói cách khác, ý niệm Thượng Đế là Cha trong Cựu Ước đi đôi với một Israel là con, không phải là một hình ảnh huyền thoại, nhưng dựa trên một kinh nghiệm lịch sử của Giao ước và Cứu độ. Qua ý niệm Thượng Đế là Cha, dân Israel được mặc khải sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử của dân này, một Thiên Chúa duy nhất đối thoại với mình và làm cho dân này bước đi theo sự chỉ dẩn của Ngài.

    Đến thời kỳ Do thái giáo ở Palestin hầu như đương thời với Chúa Giêsu, nhiều bản văn, Kinh nguyện của tôn giáo này đã kêu tên Thiên Chúa là Cha chúng tôi; hơn thế nữa các nội dung của Kinh Lạy Cha cũng thấy rải rác hiện diện trong các lời cầu xin của các tín đồ do thái giáo, đến nỗi sau khi đối chiếu các bản văn R.Aron đã viết :

    "Kinh căn bản này của Kytô Giáo, trong nhiều đoạn, trực tiếp phát xuất từ các kinh căn bản của người Do thái mà bấy giờ Đức Giêsu đã đọc hoặc đã nghe đọc suốt những năm Ngài sống ở Nazareth." (Les Origines Juives du Pater, trong Mission-Dieu, 85, 1966- trang 38).

    Những sự kiện khách quan về các văn bản đó cũng không thể làm ta quên lãng một sự khác biệt; khác biệt do chính hiện thân của Chúa Kytô khi mặc khải Thượng Đế là Cha và là Cha của Ngài.

    C - Thiên chúa là Cha chúa Giêsu và là cha chúng ta

    Chúng ta thường đọc trong Thánh lễ : nhờ Chúa Kytô, với Chúa Kytô và trong Chúa Kytô, mỗi khi dâng lời nguyện lên Chúa Cha. Kinh Lạy Cha mặc khải về Thiên chúa là Cha trong điều kiện đó. Trong Tân Ước, đặc biệt ở các thư của Phaolô (Gn 4, 4-6; Rm 8,15), Kytô hữu gọi tên Thiên Chúa là Cha với tinh thần là dưỡng tử.

    "Anh em đã nhận một tinh thần là dưỡng tử, trong tinh thần đó, chúng ta kêu lên : Abba, Cha !".

    Dưỡng tử vì Kytô hữu gia nhập vào Chúa Giêsu, con duy nhất của Chúa Cha. Và nhờ phép rửa chúng ta Kytô hữu tham dự vào cuộc sống Thiên Chúa.

    Từ chương 14 đến hết chương 17, Phúc Âm Gioan đã nhấn mạnh rõ nội dung đó, đặc biệt câu :"Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta" (Gioan 14-6).

    Đặc biệt thứ hai trong mặc khải về Thượng Đế trong Kinh Lạy Cha, là trong Đức Kytô Thượng đế là Cha của chúng ta.

    Chính nhờ Đức Kytô và trong Ngài, Kytô hữu mới có thể kêu lên : Cha, và đồng thời sống được chữ chúng con. Với Đức Kytô, trong Ngài, tất cả Kytô hữu và nhân loại trở thành chúng con, tức là Giáo hội, cộng đồng huynh đệ.

    Lời cầu nguyện Kytô hữu chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi kêu đến Thiên Chúa là Cha chúng con. Trong thần khí của Đức Kytô, Kytô hữu không thể sống riêng lẽ, cầu nguyện riêng lẽ một mình.

    Mỗi lời Kinh của Kytô hữu đều phải là lời cầu nguyện của Giáo hội, của toàn nhân loại.

    III. Cấu trúc của Kinh Lạy Cha
    (theo bản văn Mathêu)

    Các nhà giải thích Thánh Kinh thường chia bản Kinh Lạy Cha làm 3 phần :

    A . Xưng danh Thiên chúa :

    (xin dịch theo nguyên bản văn việt ngữ đang sử dụng).
    B. Ba lời nguyện kêu đến Thiên chúa và vì Thiên chúa :


    Lạy cha chúng con ở trên trời.

    Chúng con nguyện danh Cha cả sáng

    Nước Cha trị đến

    Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

    C. Ba lời cầu xin liên quan đến con người :

    Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày

    Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con

    Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ.


    A- Xưng danh Thiên Chúa

    Lạy cha chúng con ở trên trời

    Trong các bản Phúc Âm, ta gặp lối nói thân mật lạ lùng của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa Cha qua chữ Abba (Mc 14,36). Chữ Abba, là tiếng gọi thân mật trong tiếng Aram (tiếng Chúa Giêsu nói lúc bấy giờ) để kêu tên cha mình, như tiếng việt ta dùng chữ ba, hay tiếng pháp là papa. Lối xưng hô lạ lùng đó mặc khải tương quan thân mật và duy nhất của Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha Ngài. Trong Kinh Lạy Cha, chữ Cha được dùng như Cha việt nam, tổng quát hơn, nhưng luôn hàm ngụ một mối tương quan thân mật, ưu ái (xem đoạn Phúc Âm về "Người con hoang đàng trở về" Luca- 15,11-31).

    "Các con là bạn hữu của ta. (Gioan 15-14)

    "Ta đã gọi các con là bạn hữu vì mọi điều ta đã nghe nơi Cha ta Ta đã tỏ cho các con biết (Gioan 16-27).

    Tuy vậy, người Cha thật gần gũi đó cũng là Đấng Siêu Việt : Đấng ở trên trời.

    Hẳn nhiên không phải trên trời là chốn thật xa, ở một nơi khác không ăn nhập gì với con người trần thế. Chữ trên trời ở trong văn hoá Do thái, cũng như ngay trong văn hoá Á đông chúng ta là lối nói tượng trưng nhằm chỉ một cái gì vượt lên trên khả năng tiếp nhận thông thường của con người vốn hữu hạn. Trên trời cũng có nghĩa là bao dung, chung cho hết mọi người trong mọi thời đại, đối lại với "đất" nhằm chỉ những giới hạn địa phương, thời kỳ lịch sử...

    Một ý nghĩa nữa của trên trời là sự hiện diện ẩn kín mà con người trần thế có thể lãng quên hay không nhận ra.

    Cha chúng con

    Nhờ Đức Kytô, với Đức Kytô và trong Đức Kytô, Kytô hữu nhận ra Thiên Chúa là Cha và từ đó được sống trong cộng đồng huynh đệ : chúng con. Tình huynh đệ "chúng con" không có trước hay ngoài mối tương giao với Thiên Chúa ẩn kín qua Đức Kytô. Cuộc sống xã hội không tự mình làm nên tình nghĩa huynh đệ giữa các phần tử, cũng không tạo nên thần thánh theo nhu cầu sinh hoạt riêng của mình.

    Con người cũng không thể là con Thiên Chúa khi tách rời khỏi cộng đồng "chúng con" trong Đức Kytô.

    Lời cầu nguyện của Kytô hữu cũng chỉ có giá trị chân thật khi kêu lên "chúng con", nói cách khác lời nguyện của mỗi Kytô hữu phải là lời cầu nguyện của Giáo hội : Khi có hai, ba người họp nhau cầu nguyện, thì có Ta ở giữa họ.

    Qua câu tuyên xưng : Lạy cha chúng con ở trên trời, Kytô hữu thấm nhập hai điều răn gói trọn cuộc sống con người : Mến Chúa và yêu người.

    B. Ba lời nguyện ước

    Một số nhà chú giải Thánh Kinh xếp ba câu kế tiếp thành một phần riêng gọi là ba lời nguyện ước. Chúng ta cũng thấy một lối xếp khác, đưa toàn bộ phần còn lại của Kinh Lạy Cha thành một phần duy nhất; trong cuốn Giải lý của Giáo hội Công giáo, phần duy nhất này gọi là bảng : lời cầu xin. Dẫu chia làm hai phần hay giữ lại một phần, thì các tác giả của hai lối xếp đặt đều cảnh giác rằng : đừng nên xem ba câu đầu của phần này như nỗ lực hòa lại với Chúa Cha với ý định là để dễ dàng xin Ngài chấp nhận điều mình muốn xin sau này.

    Kỳ thực ba điều nguyện ước đầu cũng đã là những lời cầu xin. Và ba lời cầu xin sau cũng chỉ có thể hiểu được trong khuôn khổ của Nước Chúa đang đến với con người.

    Lời nguyện thứ nhất

    Chúng con nguyện danh cha cả sáng


    Vì cách dịch việt ngữ chúng ta đánh mất chữ thánh, và thay vào đó là hai chữ : một là chữ cả theo lối nói xưa có nghĩa thật nhiều, thật lớn, thật rộng khắp, và hai là chữ sáng nói lên sự tỏ lộ ra bên ngoài, và cũng có nghĩa là được tôn vinh. Nhưng khi dịch như thế chúng ta giữ được một ý quan trọng (như trong cuốn Giáo lý Giáo hội Công giáo đã mô tả : Sự thánh thiện của Thiên Chúa là lãnh vực của mầu nhiệm đời đời của Ngài, ta không thể thăm dò được. Điều được tỏ lộ ra trong tạo vật và lịch sử, Thánh Kinh gọi đó là Vinh quang, là sự chiếu sáng của sự Cao cả của Ngài. -2809), nhưng có điều bất lợi là chữ thánh với tất cả những nội dung tín lý, thần học hàm ngụ trong đó không được gợi lên.

    Danh cha

    "Tên" thông thường được hiểu là một tiếng gọi quy ước, nên trong sách của Lão-Trang ta thấy có sự e ngại khi gọi "tên" của Đấng Chí Tôn. Sâu xa hơn nữa sự lượng định giá trị con người theo các chức tước địa vị xã hội, mà ngôn ngữ ta thường gọi là có tên tuổi với đời, đã che mờ sự hiểu biết về phẩm giá thật của chính con người, vốn cao cả hơn tước hiệu phù du đó. Sỡ dĩ các nền văn hoá nhân loại coi nhẹ cái "danh", vì danh đó phát xuất từ hoàn cảnh hữu hạn của con người. Lão Tử không bác danh, nhưng cho rằng danh mà con người tự mình đặt ra thì không phải là Danh chân thật. Trong Cựu Ước để "cho thấy sự siêu việt của Thiên Chúa, Đấng ta không thăm dò được, Đấng mầu nhiệm, nên "Danh" đủ để chỉ Thiên chúa" (Vocabulaire de théologie biblique. Ed. du Cerf, Paris, 1988. 6. éd. p. 829).

    Còn trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ Ngài biết tên của Cha ngài (Gioan, 17, 6. 26). Khi tự mình tỏ lộ ra như là "Con", Ngài mặc khải rằng "Cha" là tên gọi biểu lộ sâu xa nhất bản tính Thiên Chúa. Cha đó, mà con Ngài là Giêsu (Mathêu 11,25..) cũng tràn ban phụ tính của mình trên tất cả những ai tin vào con Ngài (Gioan 20,17). (sd-830).

    Như thế Tên, Danh là chính Chúa do từ chính Chúa. Nói cách khác Thiên Chúa từ ý muốn của Ngài ban cho con người ân huệ gọi đến Ngài. Và gọi đến Ngài là "Cha" nhờ đức Kytô, trong Đức Kytô, với Đức Kytô, con Ngài.

    Cả sáng

    Ngay trong ngôn ngữ Tây phương, cũng có tác giả như J.Carmignac đề nghị dịch chữ "được thánh hoá" là "được hiển vinh". Chữ Thánh nói lên sư siêu việt của Danh Chúa, chữ hiển vinh nói lên sự tràn lan đến cho mọi tạo vật. Nói cách khác : Cầu mong cho mọi người, mọi thời đại nhận biết Thiên Chúa là Đấng đáng tôn thờ. Nhưng Chúa đó không phải do con người tự bày đặt ra, nhưng là Chúa được mặc khải cho con người qua Chúa Kytô.

    Và Danh đáng tôn thờ qua Chúa Kitô là Cha, Đấng Thượng Đế muốn con người nhìn nhận Ngài là tình yêu, là Đấng đã hiến cả con mình cho con người. Nên, cầu cho Danh cha được thánh, cũng là cầu xin Chúa ban cho mọi người nhận biết Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người trong Đức Kitô. Và khi cầu xin như thế, thì chúng ta cũng biểu lộ ước muốn hợp tác với Chúa Kitô để Thiên chúa là Cha được mọi người cảm nhận, Danh cha được thánh : gặp gỡ, gọi đến Thiên Chúa siêu việt, Thánh, đó là chức phận của Thầy Cả. Vị thầy cả duy nhất lại là Chúa Kitô, hiến tế chính mình để con người có thể gọi đến tên Thiên Chúa, gần gủi, đối diện được với Ngài. Vì vậy khi đọc "Danh cha được Thánh", mỗi Kitô hữu thông hiệp với chức Tư Tế của Chúa Kitô qua lời cầu kinh của mình. Mỗi khi đọc câu khẩn nguyện này, chúng ta cùng với Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần, tiếp diễn cuộc hiến tế trên Thánh giá.

    Lời nguyện ước thứ hai

    Nguyện nước cha đến

    Nước cha

    Trong bốn Phúc Âm, chúng ta nghe nhiều lần Chúa Giêsu dùng đến chữ "Nước Thiên Chúa". Chữ đó được bốn thánh sử dùng đến 122 lần, và 99 lần do từ lời nói trực tiếp của chính Chúa Giêsu. Đi đôi với từ ngữ nầy, Thánh Kinh, nhất là Cụu Ước tôn vinh Thiên Chúa là Vua (xem Thánh vịnh 93,1; 96,10; 97,1; 99,1)

    "Thiên chúa là Vua trên toàn cõi trái đất...

    Chúa ngự trị trên các dân tộc; Chúa ngồi trên ngai thánh của Ngài" (Tv 47,8-9).

    Theo nội dung chữ Vua của Cựu Ước, dân riêng của Chúa có một vua duy nhất là Thiên Chúa, nghĩa là dân đó được chọn để nhận biết Thiên Chúa là Đấng dẫn dắt cuộc sống của mình, quyết định vận mệnh của mình. Trong ngôn ngữ Trung Hoa, ảnh hưởng trên văn hoá Việt Nam, chữ Vương Đạo theo nghĩa biểu tượng là sự nối kết Trời với con người. Trái lại với Vương đạo là Bá đạo hay Vô đạo là việc quên đạo Trời, chỉ biết có quyền uy, bạo lực của người. Vương đạo ở đây không phải là thể chế chính trị quân chủ, nhưng là đạo lý của cuộc sống đầy đủ, chân thật của phẩm giá làm người của mỗi một chúng ta khi có sự tôn trọng đường lối của Đấng Chí Tôn. Trong Tân ước, việc loan báo Nước Thiên Chúa đến gần, luôn được hiểu là chính chúa Kitô đến với nhân loại. Nước Thiên Chúa là chính sự cứu độ của chúa Kitô.

    Cầu cho Nước Thiên Chúa đến là nguyện cầu cho mọi người nhận biết Thiên chúa trong sự thông hiệp với khổ nạn và sự sống lại của chúa Kitô.

    Ngài đã hạ mình thấp hèn,

    trở thành vâng phục cho đến chết

    và chết trên thập giá !

    Bởi vậy, Thiên Chúa đã tôn vinh ngài !

    và ban cho Ngài Danh hiệu

    vượt quá mọi danh hiệu,

    hầu trước Danh hiệu của Đức Giêsu

    mọi gối đều phải qùy xuống bái lạy

    ở chốn hoằng thiên,

    trên địa cầu, dưới gầm đất;

    và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng rằng :

    Giêsu Kitô là Chúa,

    để Thiên Chúa Cha được vinh danh

    (Thư gửi Philip. 2,8-11)

    Như thế, trong Đức Kitô, cầu xin nước Chúa đến là cầu xin cho Danh Đức Kitô được mọi người cảm nhận, là cầu xin cho mọi người được cứu độ nhờ Ngài. Nhưng Nước của Chúa đến nơi trần gian không phải phô bày trong quyền uy theo nghĩa thế tục con người, nhưng nơi sức mạnh của sự hạ mình, vâng phục, chết trên thập giá vì yêu mến Thiên Chúa và đồng loại.

    Nước Thiên Chúa đến còn mang ý nghĩa chung mãn của lịch sử, biểu lộ nỗi trông chờ của Kitô hữu vào buổi mặc khải vinh quang khi chúa Kitô lại đến. Cầu xin cho nước Chúa đến là cầu xin cho mỗi người kết hợp với Chúa Kitô, bước đi theo Ngài, cho toàn thể nhân loại thoát khỏi sự Ác, mang lấy vinh quang của con Thiên Chúa.

    Khi cùng với Chúa Kitô, dâng lên lời nguyện cầu này, Kitô hữu thông dự vào tước vị làm Vua, mà ngôn ngữ thần học gọi là tước vị vương giả của chúa Kitô. Nhờ chúa Kitô, Kitô hữu nối kết mình và nhân loại với Thiên Chúa (Vương đạo), tham dự vào niềm hy vọng Chúa Kitô lại đến trong vinh quang, chế ngự được mọi điều gian ác.

    Lời khẩn nguyện thứ ba

    Nguyện cầu cho ý cha được thực hiện, dưới đất cũng như trên trời


    Ý của cha

    Đây là lời khẩn nguyện Mathêu đã chép lại. (Không có trong bản văn của Luca)

    Trong toàn bản Phúc Âm của Mathêu ta thấy có 6 lần vị thánh sử nầy nói đến ý muốn của Thiên chúa. (6,10;7,21; 12,50; 18,14; 21,31; 26,42).

    Trước hết ta thấy ý muốn Thiên Chúa được biểu lộ trong cơn khổ nạn của Chúa Giêsu ở vườn Giệtsêmani. (26,42) và được lặp lại 2 lần (26,39) : "Không phải điều con muốn, nhưng là điều cha muốn".

    Khi nói đến ý muốn của Chúa, thì cũng khai mở thêm rằng Chúa đã cho con người, mà Đức Kitô là người toàn hảo, một ý muốn tự do. Nói đến ý muốn Thiên Chúa thì cũng nêu lên sự đáp trả tự do của con người. Sự đáp trả đó đã được Chúa Giêsu thực hiện trong khổ nạn, như một chén đắng, hy sinh đến chết nhục nhã trên thập giá.

    Những lần khác, Mathêu nhắc lại ý muốn của Thiên Chúa là để nhấn mạnh đến việc thực thi các điều Thiên Chúa dạy làm.

    7,21 : "Không phải chỉ nói thế nầy là đủ : "Lạy Chúa, Lạy Chúa !" để có thể được vào nước trời ; nhưng phải thực hiện ý muốn của cha ta Đấng ở trên trời"

    12,50 : "Ai làm theo ý cha ta Đấng ở trên trời, thì nười đó là anh ta, chị ta, mẹ ta !"

    21,31 : "Ai trong hai người nầy đã thực hiện ý muốn của cha mình ?"

    Như thế chúng ta nguyện cầu cho ý Chúa được thực hiện thì cũng có nghĩa là chúng ta xin Chúa thực hiện ý của Ngài nơi ta, và mặt khác chúng ta cũng mong ước làm trọn thánh ý của Ngài bằng việc thi hành lề luật của Ngài. Chúng ta cầu xin vì biết sức mình không những không biết được ý muốn Thiên Chúa, mà nếu có biết thì cũng không đủ sức thực hiện. Nhưng mặt khác cũng không phải chúng ta từ chối tự do của mình, chỉ cam tâm chịu đựng như một số phận kẻ bị trị, kẻ tôi đòi, nhưng cầu mong đủ sáng suốt, lựa chọn tự do và đáp trả một cách độ lượng lời mời của Thiên Chúa tình yêu.

    Khi khẩn nguyện "ý cha được thực hiện", Kitô hữu thông dự vào tước vị Tiên tri của Chúa Kitô. Tiên tri trong Cựu Ước là kẻ được sai đến để loan truyền ý muốn của Thiên Chúa. Ý muốn nhập thể nơi chính công cuộc cứu độ của Chúa Kitô.

    Ai thấy ta là đã thấy Cha (Gioan 14.9)

    Và ta sẽ xin Cha. Và Người sẽ ban cho các con một Đấng bầu chữa khác để Ngài ở với các người luôn mãi (Gioan 14, 16)

    Trong sự sống của Thần khí Thiên Chúa, chúng ta biết được và được ban ơn để thực hiện được thánh ý Thiên Chúa; Thánh ý đó là theo Chúa Kitô. Mọi Kitô hữu, khi cầu xin ý Chúa cha được thực hiện, đều tham dự vào sự mặc khải tiên tri của chúa Kitô, can cường vượt thắng chính con người của mình và lên án, đẩy lui bóng tối của sự ác đang tồn tại trong lịch sử nhân loại.

    Dưới đất cũng như trên trời


    Cuốn Giáo lý Giáo hội Công giáo năm 1992 đã giải thích :

    "Chúng ta còn có thể giải thích các lời nầy mà không làm thương tổn chân lý." Nguyện ý cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời", bằng những lời nầy : trong Giáo hội cũng như trong Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta ; trong người vợ đã được đính ước cho ngài, cũng như trong người chồng đã hoàn thành ý của Chúa Cha" (2827).

    Dưới đất là Giáo hội đang chiến đấu với sự ác, đang hoàn thành sự nghiệp của Chúa Kitô, nghe theo lời Ngài như Ngài đã làm theo thánh ý Cha Ngài. Văn hoá ngày nay đang phân cách một cách tuyệt đối Đất và Trời, cuộc sống trần tục và giá trị thần thánh, tôn giáo và chính trị. Người ta muốn dành đất cho người; và trời cao được xem là ý tưởng vu vơ dành cho những tâm hồn bịnh hoạn, lạc hậu, u mê. Nhưng Đức tin giúp ta nhận ra rằng:

    Đức Giêsu Kitô đã làm người, đã chết và đã được Chúa Cha cho sống lại vinh quang. Trong Đức Kitô con người trần thế thể hiện ý Thiên chúa trong lịch sử để mọi người nhận biết Thiên Chúa ẩn kín (trên trời) đang ở giữa cộng đồng nhân loại.

    Ba lời nguyện ước tuyên xưng niềm hy vọng trông đợi ngày hoàn tất lịch sử trong sự trở lại vinh quang của Chúa Kitô, đồng thời nói lên ý nguyện truyền bá Tin Mừng của ơn cứu độ của Ngài mà mình muốn thực hiện.

    C. Ba lời xin liên quan đến con người

    Lời cầu xin thứ nhất

    Xin Cha ban cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày

    Xin ban cho

    Cũng trong Tin Mừng Mathêu, ta đọc được câu này "Ngài làm mặt trời rạng lên chiếu soi kẻ ác cũng như kẻ lành và để mưa xuống trên kẻ công chính cũng như trên kẻ gian ác" (Mt 5, 45). Hẳn nhiên câu nói này giúp ta hiểu sự tốt lành của Thiên Chúa và sự công chính của ngài vượt lên trên tiêu chuẩn phán xét theo luật nhân quả của trí năng con người. Nhưng cũng có kẻ lại thêm rằng, nếu không van xin thì sự việc cũng xảy ra như thế; hơn nữa nếu Chúa đã được tuyên xưng là Cha, thì Ngài đâu phải đợi đến ta kêu xin mới ban cho. Trước hết lời van xin của Kitô hữu có nghiã là sự nhìn nhận toàn cuộc sống của mình và nhân loại là ơn của Thiên Chúa ban.

    Lời cầu xin cũng là lời chúc tụng tạ ơn. Chúng ta cũng biết rằng nếu Thiên Chúa đã ban cho nhân loại con một của Ngài để cứu độ, thì không còn có gì mà Thiên Chúa còn không ban cho con người được. Nhưng thật nhiệm mầu ! Chính Chúa Kitô đã dạy chúng ta hãy gõ cửa cầu xin, và khẳng quyết với chúng ta là khi chúng ta gõ cửa thì cha ngài sẽ mở cho chúng ta. Cuốn Giáo lý của Giáo hội Công giáo định nghiã đó là một cách biểu lộ giao ước giữa Thiên chúa và con người.

    "Xin cho chúng con" còn là một biểu thị của Giao ước : Chúng ta thuộc về Ngài và Ngài là của chúng ta, cho chúng ta. (2829).

    Giao ước đó là Đức Kitô Giêsu. Nên cầu xin Chúa cha cũng là nhìn nhận con một Ngài là Chúa Giêsu Kitô, đấng nối kết chúng ta với Thiên Chúa trong Ngài. Chúng ta xin tức là nhân danh chúa Kitô thực hiện giao ước về phần của mình, vốn đã được tạo dựng làm con người tự do để kết ước.

    Nói tóm lại, tuyên xưng câu "xin cha cho chúng con" là nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa của mình nhờ ơn cứu độ của chúa Kitô.

    Chúng con

    Cũng như khi khởi đầu của lời Kinh "Lạy Cha chúng con", lời cầu xin của Kitô hữu luôn là lời cầu của toàn Giáo hội và cho Giáo hội, cộng đồng những người con Thiên Chúa.

    Bánh của chúng con

    Bánh nuôi sống thân xác và cũng là bánh nuôi đời sống siêu nhiên. Bánh siêu nhiên là Lời Thiên Chúa, tức là chính Chúa Kitô : Lời Ngài dạy và chính mình và máu của Ngài trong Thánh Thể.

    Nói cách khác bánh là cuộc sống của mình. Khi dịch chữ bánh là lương thực chúng ta có khuynh hướng chỉ xem đây là đồ ăn có thể đưa vào miệng. Hẳn nhiên đó là nỗi âu lo khẩn thiết nhất để cuộc sống thân xác tồn tại; nhưng ngay cả cuộc sống thân xác cũng còn nhiều nhu cầu khác như khí thở, áo quần che thân, thiên nhiên bao quanh chúng ta... đó là chưa kể nhu cầu học biết, tình cảm gia đình, bằng hữu...

    Bánh siêu nhiên là lời Thiên Chúa, tức là chính Chúa Kitô. Lời Ngài dạy và chính mình và máu của Ngài trong Thánh Thể.

    Nên bánh trong Kinh Lạy Cha phải hiểu là sự sống toàn diện Thiên Chúa ban cho con người trong Chúa Kitô.

    Chúng con

    Chữ chúng con ở đây giúp chúng ta hiểu những gì Chúa ban là của chung của tất cả con cái chúa. Không thể tuyên dương, nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa, mà không thực hiện tình liên đới đồng loại, về cuộc sống thân xác cũng như siêu nhiên. Nói cách khác kính thờ Thiên chúa không thể tách rời khỏi sự thể hiện tình liên đới huynh đệ trong chúa Kitô.

    Hằng ngày

    Nguyên tĩnh từ Hy lạp là épiousios có nghiã là "cần thiết để sống". Điều cần thiết trước hết để sống từ vật chất đến siêu nhiên tinh thần là Thiên chúa ở cùng con người. Vì sự sống thật là Chúa Kitô như Ngài đã dạy. Nên bánh hằng ngày cũng là sự hiện diện của Đức Kitô trọn đầy trong mỗi giây phút của cuộc đời.

    Hôm nay

    Chữ nầy trong bản văn Luca viết là mỗi ngày. Mathêu nhấn mạnh ý tưởng hôm nay qua động từ "xin cho" ở thì aoriste của ngôn ngữ Hy lạp. Theo cách dùng chữ nầy, đây là một hành vi có tính cách cụ thể trong một thời gian nhất định. Nhà thần học Jean Pouilly giải thích :

    "Việc trình bày của Mathêu trong lời xin bánh hoàn toàn ăn khớp với lời dạy của chúa Giêsu khi Ngài kêu gọi ta tin tưởng hoàn toàn vào sự tốt lành của Cha trên trời","Các con đừng âu lo mà nói rằng : "Chúng ta sẽ ăn gì? chúng ta sẽ uống gì ?... Cha các con trên trời biết các con cần tất cả những cái đó... Các con đừng lo âu cho ngày mai ; hãy để ngày mai tự lo cho có" (Mt 6,25-34). Và đó cũng là bài học của thời kỳ ban bánh Ma-na lúc Chúa nuôi dân ngài hằng ngày trong sa mạc. Khi chúng ta trông cậy vào sự tốt lành của Thiên chúa, chúng ta chỉ xin ngài những gì cần thiết cho chúng ta trong ngày đó." (Dieu Notre Père. Cahiers Evangile, Cerf, trang. 45).

    Cuốn Giáo lý của Giáo hội Công giáo còn dạy rằng: "Ngày hôm nay đó không phải chỉ là ngày của thời gian hữu hạn ; nó là Ngày hôm nay của Thiên chúa" (2836)...

    "Con là con ta hôm nay, chính ta đã sinh ra con" (TV 2,7). Hôm nay có nghiã là : Khi chúa Kitô phục sinh" (2836).

    Khi đọc lên chữ Hôm nay, Kitô hữu được đưa vào thời gian của Chúa, tức là cảnh vực của sự sống Đức Kitô. Nên chữ nầy giúp ta hiểu toàn câu xin : "Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày" là xin Chúa Kitô hiện diện trong cuộc sống của tất cả nhân loại, vì Ngài là sự sống thật.

    Lời cầu xin thứ hai

    Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con


    Câu nầy ở Mathêu và Luca có một số chữ dùng khác nhau:

    Mt 6,12 : Và xá giải cho chúng con những món nợ như chúng con cũng đã tha giải cho con nợ của chúng con.

    Lc 11,4 : Và xá giải cho chúng con những tội lỗi của chúng con vì chính chúng con tha giải cho tất cả những ai có nợ chúng con.

    Trong lối dùng chữ aram mà đương thời chúa Giêsu dùng, chữ nợ được nói đến cũng có nghĩa bóng là kẻ có tội, khi đối diện với Thượng Đế (Theo P.Grelot trong cuốn Lõarrière-plan araméen các trang 546-547). Ngày nay trong bản Kinh Lạy Cha của các bản dịch đại kết (các tôn giáo thuộc Kitô giáo) người ta dịch thoáng là sự xúc phạm (xem bản dịch của cuốn Giáo lý của Giáo hội Công giáo). Cũng như chữ hoán giải theo nghiã đen của nợ nần, nay được dịch là tha, theo nghĩa bóng là tha thứ lỗi lầm.

    Nhưng chữ được nêu lên nhiều để phân giải trong câu này là như.

    Trước hết, theo các nhà giải thích Thánh Kinh chữ như không có nghĩa theo lý chứng nhân qủa. Nói cách khác,không phải hể chúng ta tha lỗi cho kẻ xúc phạm đến ta, thì hậu quả đương nhiên là lỗi phạm của ta tự nhiên được tha.

    "Không phải vì chúng ta tha cho kẻ khác mà chúng ta đáng được ơn tha thứ của Thiên Chúa, nhưng đó là một điều kiện phải chu toàn để hưởng sự tha thứ" (Jean Pouilly: Dieu Notre Père, Cahiers Evangile, trang 47).

    Nói rõ hơn, sự tha thứ tội lỗi con người là do ơn cứu chuộc của chúa Giêsu Kitô, nhưng muốn hưởng ơn tha thứ đó điều kiện ta phải chu toàn là ta cần tha thứ những xúc phạm của đồng loại đối với ta.

    Để hiểu rõ hơn điều kiện cần hầu hưởng ơn tha thứ của Thiên Chúa, ta đọc lại những câu khác trong Phúc Âm Mathêu:

    Mt 6,14-15 - "Thật thế, nếu các con tha cho người ta lỗi phạm của họ, cha các con trên trời cũng sẽ tha cho các con; nhưng nếu chúng con không tha cho người ta, cha các con cũng sẽ không tha thứ lỗi lầm các con."

    Mt 5,23-24 - "Nếu con đến dâng của lễ của mình ở bàn thánh và nếu ở đó con nhớ rằng người anh em của con có cái gì chống nghịch với con, con hãy để của lễ dâng ở đó trước bàn thánh và đi làm hòa với anh em con trước đã; sau đó hãy đến dâng của lễ của mình"

    Mt 18,35 - "Cha trên trời cũng sẽ xữ với các con như thế, nếu mỗi người trong các con không tha cho anh em mình tự đáy lòng."

    Cũng trong đoạn này (Mt.18), Chúa Giêsu dạy không phải chỉ cần phải tha bảy lần mà thôi, nhưng là bảy mươi bảy lần, nghĩa là tha không điều kiện và dứt khoát.

    Chữ "như" cũng thường được nói đến trong Phúc Âm không phải là sự so sánh về số lượng hay mức độ tuyệt đối giống nhau giữa hành vi con người và Thượng Đế, nhưng là sự thấm nhập một cuộc sống mới nơi Thiên Chúa trong Đức Kitô :

    "Tự đáy lòng" chúng ta tham dự vào sự thánh thiện, lòng nhân hậu, tình yêu của Thiên chúa chúng ta" (Giáo lý của Giáo hội Công giáo. 2842).

    Và chính Chúa Kitô trên Thánh giá đã không nói tự mình tha, nhưng cầu xin Cha Ngài tha cho kẻ xúc phạm đến mình : "Lạy cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34).

    Chính khi con người nói đến tha thứ lỗi kẻ khác, thì đó cũng là lời khẩn cầu Chúa Cha tha thứ lỗi lầm của toàn nhân loại, vì lỗi lầm con người xúc phạm đến anh em mình cũng là tội lỗi xúc phạm đến chính Thượng Đế.

    "Đối với người môn đệ chúa Giêsu, sẵn sàng tha thứ, cũng có nghiã là giang tay cầu xin Thiên chúa thứ tha" (J. Jérémias. Paroles de Jésus. Cerf 1963-tr 75).

    Cầu xin nầy cũng gợi lên những vấn đề của xã hội chúng ta đang sống ngày hôm nay. Hai khuynh hướng đè nặng trên lối sống đạo chúng ta. Thứ nhất, quan niệm về tội lỗi con người đi đôi với một Thượng Đế quan toà khắt khe luôn tra xét từng hành vi nhỏ nhặt của cuộc sống con người để sẵn sàng trừng phạt thích đáng.

    Hậu qủa trái nghịch là quan điểm về tội lỗi như là một phản ứng tâm lý bịnh hoạn của lớp người bạc nhược, không dám sống một cách tự do. Nói khác tội lỗi không có thật, đó chỉ là sự biạ đặt của tôn giáo làm cho con người nô thuộc vào một quyền lực giả tạo và ác độc.

    Kitô giáo xác quyết tội lỗi có thật; và tội lỗi cũng chỉ có nghĩa khi chấp nhận có tự do con người và có Thượng Đế. Tội lỗi là từ chối và chống lại tình yêu thương của Thượng Đế. Vì có Thượng đế, có kẻ khác, nên trong tương giao giữa con người với Chúa, và với nhau, những gì con người có thể làm phải lưu ý đến điều được phép làm. Mất ý thức tội lỗi của thời đại chúng ta phát xuất từ nhận thức rằng mọi cái ta có thể làm điều được phép thực hiện, làm như ngoài ta không còn có Thượng Đế và tha nhân. Nên tội lỗi đối với Kitô hữu là đi ngược lại với hai điều răn căn bản : "Yêu mến Thiên chúa, yêu mến người khác". Vì thế tội lỗi trong Kitô giáo không phải là vấn đề luật pháp, cân đo đong đếm các điều lầm lỗi của mình để tránh hình phạt, nhưng dược nhìn trong khung cảnh của tình yêu và tha thứ.

    Chúa Kitô đến không phải gieo vào lòng con người mặc cảm tội lỗi, nhưng là loan báo Tình yêu Thiên Chúa đối với con người và dạy con người thương yêu nhau :

    "Như Cha đã yêu mến Ta, Ta đã yêu mến các con. Hãy lưu lại trong lòng yêu mến của Ta". (Gioan. 15, 9).

    "Này là lịnh truyền của Ta : các con hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các con". (Gioan. 15,12).

    Và rõ hơn nữa Ngài nói:

    "Con người không đến để hủy diệt mạng người ta, mà để cứu chúng" (Lc. 9-56)

    Chính vì tội lỗi con người đã phạm và có thể phạm mà chúa Kitô đến để cứu độ, để con người làm hòa lại với Thiên Chúa và tha thứ yêu thương nhau; Kitô giáo không bày đặt ra một Thượng Đế quan tòa, gieo vào lòng người những mặc cảm tội lỗi bịnh hoạn.

    Kitô hữu cũng không ý thức tình trạng tội lỗi của mình để giam hãm mình trong mặc cảm tội lỗi triền miên, hay hãi hùng lo sợ một Thượng Đế sẵn sàng trừng phạt. Ý thức tội lỗi luôn đi đôi với niềm tin vào ơn Cứu Độ của chúa Kitô và sự chiến thắng của Ngài khi Ngài được Cha Ngài cho sống lại. Nghiã là ý thức tội lỗi hướng đến sự tha thứ của Thiên Chúa và quyết tâm sống trong tình yêu thương của ngài, thực hiện Tình yêu đó nơi đồng loại là con cái Ngài.

    Lời cầu xin thứ ba

    Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con khỏi sự dữ.

    Câu này chỉ có trong văn bản của Phúc Âm Mathêu, và chia làm hai vế. Hai vế này diễn tả một nội dung; vế đầu có tính cách tiêu cực, vế sau có tính cách tích cực.

    Cám dỗ

    Chữ cám dỗ thông thường ngày nay ta hiểu là sự lôi kéo ta vào đuờng tội lỗi. Nhưng nguyên chữ Hy lạp peirasmos còn có nghiã là sự thử thách con người phải gặp để xem mức độ trung tín. Trong các bản văn Cựu Ước, các tác giả Kinh Thánh không ngại viết rằng Thiên Chúa gửi đến một thứ ác quỷ để dẫn đưa con người phạm tội (xem 1 S 18,10-11; 1 S 26,19; 2 S 24,1). Hoặc có khi dùng lối nói khá lạ lùng như "Thiên chúa làm cho lòng vua Pharaôn cứng lại" (Xh 4,21; 7,3). Còn ý niệm Thiên Chúa thử thách sự trung tín của con cái Ngài thì bàng bạc trong nhiều bản Cựu Ước. (St 22,1; Xh 15,25; Khôn ngoan 11, 9...). Nhưng ở đây Thiên Chúa không đưa người vào dịp tội; các thử thách nêu lên chỉ là dịp đo lường sự trung tín mà thôi.

    ễ sách Job lại xuất hiện nhân vật Satan đóng vai trò kẻ dụ dỗ con người làm điều ác. Và ta còn gặp lại Satan cám dỗ chúa Giêsu trong sa mạc (Mt. 4,1-11; Mc 1 12-13; Lc 4,1-13). Thư của thánh Giacobê, lại nói rõ rệt thế nầy : "Khi bị cám dỗ, đừng có ai nói rằng:”Việc tôi bị cám dỗ là do Thiên Chúa, vì Thiên chúa không thể bị cám dỗ để làm điều ác và cũng không cám dỗ ai" (Giacobê 1,13).

    Xin đừng đưa chúng con vào cơn cám dỗ

    Nguyên động từ Hy lạp buộc phải dịch thế nầy : "Xin đừng làm cho chúng con đi vào chước cám dỗ", nhưng bản dịch việt ngữ của chúng ta thường dùng trong Kinh Lạy Cha lại dịch : "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Hai lối dịch gợi lên hai cách hiểu và giải thích khác nhau của các nhà giải thích Thánh Kinh.

    Cách thứ nhất giúp ta hiểu là chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta tránh khỏi bị cám dỗ. Nhưng nếu cám dỗ là một cuộc thử luyện, chiến đấu giữa "Xác thịt và Tinh thần", giữa sự tự mãn và tình yêu, thì hầu như câu cầu xin nầy trái với lời cầu khẩn của Chúa Giêsu với Cha Ngài trong vườn Gietsemani : "Con không xin cha cất chúng khỏi thế gian nhưng xin gìn giữ chúng khỏi sự dữ" (Gioan 17-15).

    Nói cách khác theo lối dịch nầy : "xin đừng làm cho chúng con đi vào cơn cám dỗ", nên hiểu chữ đi vào như là gặp phải cơn thử thách mà mình không đủ sức lướt thắng.

    Đây là lời cầu xin chúa Thánh Thần soi sáng để giúp ta nhận ra con đường phải đi và phân biệt được những lý chứng giả tạo khác với chân lý của Chúa. Xin đừng gặp phải cám dỗ, là xin đừng u tối đi vào con đường lạc mà không hay.

    Xin đừng gặp cám dỗ, trong thời buổi ta đang sống, là xin đừng coi thường những nguy cơ làm dịp cho ta vướng mắc vào tội lỗi. Đặc biệt khi nói đến chúng ta, chúng ta nghĩ ngay đến trách nhiệm giáo dục. Ngày nay người ta đánh giá quá cao tự do cá nhân bất chấp hoàn cảnh, tuổi tác và nhận thức của các trình độ, mức trưởng thành của mỗi lớp người. Việc phô trương các hình ảnh hung bạo, không lành mạnh qua báo chí, và các phương tiện truyền thông, quảng cáo... đã đẩy đưa nhiều lớp người vào dịp tội.

    Cách dịch thứ hai là xin cho chúng ta thắng vượt được cơn thử thách và các dịp có thể làm ta phạm tội. Lối dịch nầy tương ứng với lời chúa Giêsu nói với Phêrô trong bữa tiệc ly : "Simon, Simon, Satan đã đòi con để xoay con trong sàng như người ta sàng lúa. Nhưng ta đã cầu nguyện cho con để đức tin con không mất đi" (Lc 22,31-32)

    Hoặc lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô:

    "Không cơn cám dỗ nào đến với anh em, mà vượt quá sức con người. Thiên chúa trung tín ; Ngài sẽ không để anh em phải chịu cám dỗ quá sức mình. Khi có cám dỗ, ngài sẽ cho anh em phương thức để thắng vượt và sức mạnh để chịu đựng" (1Col,13).

    Đặc biệt các nhà chú giải Thánh Kinh đều nhấn mạnh đến cơn cám dỗ, thử thách về đức tin đang hướng dân Chúa đến ơn cứu độ. Trong thời buổi hôm nay, việc mất đức tin không phải là một nguy cơ tưởng tượng. Mất đức tin không phải vì bị bắt bớ, giam cầm nhưng là mất hứng khởi trong cuộc sống đạo; thay vào đó là chuyển niềm tin và hy vọng của mình vào tiến bộ khoa học, kỹ thuật, quyền uy chính trị... nói tóm là tài sức của riêng mình. Xin đừng sa chước cám dỗ cũng là xin đừng thoả hiệp với cơ cấu tội ác, đang kéo lôi từng xã hội đi vào nguy cơ từ bỏ Thiên Chúa.

    Xin đừng sa chước cám dỗ cũng là xin đừng rơi vào tình trạng thụ động, câm nín quên lãng sứ mạng rao truyền Tin Mừng cứu độ: Khốn cho tôi, nếu tôi không rao truyền Tin Mừng Chúa Kitô.

    Nhưng cứu chúng con khỏi sự dữ

    Câu nầy ăn khớp với lời khẩn nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Gietsemani trong Phúc Âm của Gioan : "Nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi Thần Dữ" (Gioan 17, 15).

    Thế giới ngày hôm nay không muốn có một nền đạo lý phân biệt ác và thiện; ác nay chỉ được dịnh nghĩa là sự lầm lẫn, sự thất bại hay không kiến hiệu. Sự ác có thật, nó không chỉ là một sự chọn lựa của lương tâm cá nhân mà thôi, mà còn là một sức mạnh có tổ chức, có chủ định, quyết tâm thù nghịch với Thiên Chúa và ơn cứu độ của Chúa Kitô, chà đạp nhân phẩm và mạng sống con người. Sự ác nói theo ngôn ngữ thần học hiện nay là cơ cấu của tội lỗi, cố tình làm cho chương trình cứu độ của đức Kitô thất bại.

    Và hơn bao giờ hết Kitô hữu hiệp thông với chính lời cầu khẩn của chúa Kitô đã và vẩn luôn mãi hướng đến Cha Ngài cho nhân loại và mỗi một người chúng ta.

    Chúng ta xin Chúa Cha cứu chúng ta khỏi sữ dữ vì trong niềm trông đợi đầy hy vọng ngày trở lại vinh quang của Chúa Kitô, chúng ta biết trước có Satan, Thần ác, các tiên tri giả, các cơ chế tội lỗi bủa vây cuộc sống dân chúa:

    "Xéo đi, Satan" (Mt 4,10), Đức Kitô đấng đã thắng Satan trong cơn thử thách của Ngài. Bởi Ngài, Đấng chiến thắng sự chết và trong Thánh thần của ngài, chúng ta, toàn Giáo hội tràn đầy hy vọng kêu lên Thiên Chúa, Cha chúng ta : "Abba ! Cha ơi!".

    Amen

    Là lời nguyện cầu chung kết : "ước gì mọi sự được như thế", hoặc còn có nghĩa là "Fiat" = xin cho mọi sự được xảy đến theo ý của cha. Đây cũng là lời nguyện của Maria, Mẹ chúa Giêsu, và mẹ của Giáo hội.

    Trước khi rời khỏi cuộc sống trần thế, chúa Giêsu đã muốn trao Giáo hội cho Mẹ ngài nâng đỡ, Ngài đã nói : "Hỡi bà, này là con bà" (Gioan 19,26). Và khi Chúa đã lên trời, trong cuộc họp mặt cầu nguyện đầu tiên của cộng đồng Kitô giáo, Maria mẹ Chúa Giêsu ở giữa mọi người và cùng cầu nguyện với họ (Tđcv 1,14).

    Amen, toàn thể Giáo hội cùng với Maria mẹ của mình liên lỉ cầu xin : Nguyện ý Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.

  14. #14

    Mặc định

    mt thấy bài phỏng vấn này đề cập nhiều vấn đề va đập giữa Đông-Tây, giữa các truyền thống văn hóa khác nhau nên post lên mọi người cùng đọc:

    NHÀ THẦN HỌC KITÔ GIÁO VỀ ĐẠO PHẬT


    Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài trả lời phỏng vấn của Paul F. Knitter, Giáo sư thần học về các Tôn giáo Thế giới và Văn hóa tại Chủng viện Union ở Hoa Kỳ và là tác giả cuốn sách “Không Học Phật, Tôi Đã Không Thể Là Một Con Chiên - Without Buddha I Could Not Be A Christian”.

    Trong bài trả lời phỏng vấn đó, nhà thần học Kitô giáo đã đề cập đến đạo Phật, triết lý và những phương pháp tu tập của đạo Phật. Chúng tôi mong rằng các bạn sẽ đọc kỹ để càng thấu rõ hơn tính chất vi diệu của Giáo Pháp đức Phật mà củng cố thêm niềm tin và lòng tinh tấn tu tập. Bài này do Pháp Niệm chuyển ngữ, chúng tôi xin phép được đăng lại.

    Nhóm Biên tập Trang Nhà

    Paul F. Knitter, tác giả cuốn sách “Không Học Phật, Tôi Đã Không Thể Là Một Con Chiên - Without Buddha I Could Not Be A Christian”, là Giáo sư Thần học về các Tôn giáo Thế giới và Văn hóa tại Chủng viện Union ở thành phố Nữu Ước chuyên dạy về Paul Tillich. Ông là người chủ đạo khởi xướng về sự đối thoại giữa các tôn giáo có trách nhiệm tổng thể và là tác giả của trên 10 cuốn sách chung quanh chủ đề này. Trong cuốn sách mới nhất này, bằng tính cách cá nhân, ông chia sẻ những nỗ lực, phấn đấu, khó khăn trong tự thân đối với đức tin Kitô, đồng thời thuật lại những nghiên cứu học hỏi về đạo Phật và thiền tập đã giúp ông vượt qua những khó khăn, chật vật đó như thế nào.

    Độc giả của National Catholic Reporter đã quen với đạo Phật hoặc thực tập theo những tôn giáo và các truyền thống Đông phương khác sẽ nhận thấy cuốn sách này rất dễ chịu, thích thú và bổ ích. Thật là một điều khác thường đối với một nhà Thần học Cơ Đốc viết về kinh nghiệm tu học riêng tư của mình như Knitter đã làm trong cuốn sách này. Vừa qua tôi đã trò chuyện với ông về đức tin Kitô của ông và về triết lý đạo Phật cũng như sự thực tập đã thấm vào lối suy tư và đời sống của ông như ông đã làm việc trong lãnh vực đối thoại giữa các liên hiệp tôn giáo, tín ngưỡng.

    Fox: Ông có nghĩ rằng chính ông là một tín đồ Kitô giáo không?

    Paul F. Knitter: Oh, hẳn nhiên. Tôi đã sinh ra trong gia đình Kitô giáo tại Chicago, lớn lên và học ở chủng viện. Tôi luôn nghĩ rằng mình là một tín đồ Kitô giáo, đặc biệt trong truyền thống Kitô giáo La Mã.

    Fox: Ông nghĩ rằng ông là một Phật tử-Kitô hay là một Kitô-Phật tử?

    Paul F. Knitter: Hẳn nhiên đứng về danh từ thì là Kitô giáo hay Công giáo; nhưng đứng về phương diện tính từ thì là Phật tử. Có thể nói tôi là một Kitô-Phật tử. Nguồn gốc ban đầu của tôi là một người Công giáo.

    Fox: Là một nhà Thần học Cơ Đốc, sự quan hệ chính thức của ông đối nhà thờ là như thế nào?

    Paul F. Knitter: Tôi nghĩ tôi là một thành viên có khá nhiều uy tín của Hội Thần Học Công Giáo Mỹ. Tôi thực tập đạo Công giáo. Liên hệ của tôi đối với nhà thờ, theo tôi nghĩ cho đến bây giờ, vẫn tốt. Nhưng thẳng thắn và thành thật mà nói, tôi đã nhận sự cảnh cáo, sự nhắc nhở chung chung từ đức Giáo Hoàng Benedict lúc ngài còn là đức Hồng Y Joseph Ratzinger. Trong cuốn sách nói về những tôn giáo khác, ngài đã đề cập về tôi như là một trong những người đại diện cho khuynh hướng có thể dễ dàng rơi vào chủ thuyết tương đối. Tôi đang làm việc trong một lãnh vực có khá nhiều sự tranh cãi, cụ thể là làm thế nào để Kitô giáo có thể thấy được chính mình trong ánh sáng của các tôn giáo khác.

    Fox: Trong sách của ông, ông có nói đến cụm từ “Tôi thực tập theo cả hai - double belonging.” Điều đó nghĩa là sao?

    Paul F. Knitter: "Tôi thực tập theo cả hai" (double belonging) hiện nay đang được nói đến rất nhiều, ngay cả trong hàn lâm viện Thần học và trong giới tâm linh Kitô giáo. Tôi nghĩ nó là từ ngữ đã được sử dụng khi càng ngày càng có nhiều người thấy rằng họ thật sự được nuôi dưỡng bởi nhiều truyền thống tôn giáo hơn là một truyền thống tôn giáo, bởi nhiều truyền thống gia đình hơn là một truyền thống gia đình, bởi nhiều truyền thống địa phương hơn là một truyền thống địa phương.

    Fox: Hiện tượng thực tập theo cả hai (double belonging) đang lan rộng tới mức nào?

    Paul F. Knitter: Tôi không nghĩ tôi nói điều này cho tất cả mọi người, nhưng trong các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ, tôi cho rằng số người thực tập một cách nghiêm túc đức tin của họ đang tìm thấy rằng ở mức độ nào đó trong quá trình thực tập theo cả hai truyền thống tôn giáo... đang càng ngày càng trở thành một phần của đời sống họ.

    Fox: Tại sao thời nay những tín đồ Kitô giáo có sự thích thú lớn rộng đối với đạo Phật như thế?

    Paul F. Knitter: Có nhiều lý do. Trong cuốn sách này, tôi có trích đoạn của một người bạn của tôi, Fr. Michael O’Halloran, trước đây là một vị thầy tu dòng Carthusian và bây giờ là Linh mục ở một địa phận thuộc quyền cai quản của một tổng giám mục tại Nữu Ước. Anh cũng là một vị thầy dạy thiền. Có lần Michael nói với tôi rằng đạo Kitô có bề dày về nội dung nhưng thiếu sót về phương pháp và kỹ thuật thực hành. Do đó tôi nghĩ đạo Phật cống hiến cho các tín đồ Kitô giáo những kỹ thuật, những pháp môn thực tập thực tiễn để họ có thể thâm nhập vào cái nội dung, thực tại bằng chính kinh nghiệm tu tập bản thân của họ về những gì họ tin.

    Fox: Theo ông nghĩ thì những tín đồ Kitô giáo cần cái gì nơi đạo Phật?

    Paul F. Knitter: Mong rằng tôi không khái quát hóa quá nhiều, nhưng tôi nghĩ điều này phải có liên quan đến sự không thỏa mãn mà những người theo đạo Kitô chúng ta cảm nhận đối với Thượng Đế, một vị được nhận thức là hoàn toàn nằm ở ngoài kia, một Thượng Đế hoàn toàn ngoài tôi, khác với tôi, một Thượng Đế đứng độc lập ngoài tôi và đương đầu với tôi. Tôi nghĩ chúng ta đang kiếm tìm những pháp môn thực tập như thế nào đó để có thể nhận ra một Thượng Đế thiêng liêng, siêu việt, một Thượng Đế không gì khác hơn là một phần của chính mình.

    Tôi nghĩ những tín đồ Kitô giáo đều đang tìm kiếm con đường, phương pháp thực nghiệm để thấy được Thượng Đế trong một khuynh hướng đoàn kết, hợp nhất, hoặc điều tôi nói trong sách là “con đường hay cái nhìn bất nhị - non-dual way,” nơi mà Thượng Đế trở thành một thực tại tất nhiên khác biệt tôi, nhưng là một phần của chính hiện hữu tôi.

    Fox: Đạo Phật không xác nhận sự có mặt của Thượng Đế. Đạo Phật đã được mô tả như là một tôn giáo “vô thần”. Làm thế nào đạo Phật có thể có tầm quan trọng lớn cho một tôn giáo hữu thần như Kitô giáo?

    Paul F. Knitter: Chúng ta phải thật cẩn thận với cách chúng ta sử dụng chữ “vô thần.” Hẳn nhiên đạo Phật không xác nhận sự có mặt của một Thượng Đế cá biệt, độc lập, nằm ngoài sự vật, nhưng tôi nghĩ cái thuật ngữ hay hơn có lẽ là “phi hữu thần” hơn là “vô thần”. Đạo Phật không phủ nhận Thượng Đế, nhưng có lẽ nếu tôi diễn đạt theo cách này, thì Phật và rất nhiều giáo điển Phật dạy chú trọng đến sự chứng ngộ cái thực tại bản môn - thực tại bất sinh bất diệt, không một không khác, không trong không ngoài... hơn là định nghĩa và miêu tả, đặt tên. Khi bạn hỏi Phật, “Ngài thuộc về phạm trù nào sau khi ngài đã giác ngộ hay khi ngài chứng được niết bàn?” Một trong những thuật ngữ hoặc tư tưởng đã được sử dụng là sunyata, nghĩa là không - trống rỗng. Đó không phải là một diễn giải hay, nhưng nó là chữ họ sử dụng để nhận diện rằng thực tại bản môn không phải là một thực thể thường hằng bất biến, một hiện hữu trường tồn, biệt lập, nhưng đúng hơn là cái mà họ gọi là tương quan tương duyên, tương tại, tương kết của mọi sự mọi vật. Hoặc như vị Thiền sư Việt Nam, Thích Nhất Hạnh sử dụng thuật ngữ “tương tức” để diễn bày cái thực tại bản môn. Đạo Phật đã giúp tôi khám phá trở lại sâu sắc hơn cái nghĩa lý mà trong kinh Tân Ước, có lẽ nó là cái định nghĩa duy nhất về Thượng Đế mà chúng ta thấy khi kinh nói rằng “Thượng Đế là tình thương.”

    Tôi nghĩ giáo lý “tương tức” của đạo Phật giúp tôi nắm bắt, khái niệm được cái mà trong thuật ngữ Kitô giáo chúng ta muốn nói khi chúng ta nói thực tại thiêng liêng là tình thương, và điều đó đã mở đường cho tôi và tôi nghĩ cũng cho rất nhiều tín đồ Kitô biết cách nắm bắt, khái niệm trở lại một trong những biểu tượng chính về Thượng Đế, đó là linh hồn.

    Như vậy đối với tôi bây giờ khi nói chữ “Thượng Đế”, những gì tôi khái niệm, hình dung, cảm nhận, thật phải cảm ơn đạo Phật, là một linh hồn tương tức tương nhập – linh hồn bất tử này, cái bất tử, năng lượng tương tức này không phải là một con người, nhưng rất cá biệt, ấy là cái mầu nhiệm chung quanh tôi, chứa đựng tôi, ôm lấy tôi, và là cái mà tôi tiếp xúc được trong Bí tích thánh thể, trong các lễ lược tụng niệm, và đặc biệt là trong thiền tập.

    Fox: Phật là người giác ngộ; Chúa Kitô là thánh linh. Đó là một sự khác biệt lớn, đúng không?

    Paul F. Knitter: Đúng vậy. Đó là sự khác biệt lớn. Trước hết, khi chúng ta nhìn vào ngôn ngữ mà chúng ta, những tín đồ Kitô Giáo, sử dụng để nói về sự mầu nhiệm của Chúa Kitô, có lẽ hai chữ nguyên sơ mà chúng ta sử dụng hoặc chủ thuyết mà chúng ta chứng nhận rằng Chúa Kitô là đức Chúa Con và đức Kitô là Chúa Cứu Thế. Bây giờ hai danh từ ấy, Đức Chúa Con, đức Chúa Cứu Thế, đều là những gì chúng ta tin. Những biểu đạt này là những cố gắng của chúng ta nhằm đưa sự mầu nhiệm của Thượng Đế vào ngôn từ. Tất cả những ngôn từ đều là những nỗ lực của chúng ta cố gắng diễn đạt thành lời những cái mà không bao giờ có thể được hoàn toàn diễn đạt bằng lời. Nói cách khác, chúng ta đang sử dụng những biểu tượng, chúng ta đang sử dụng những ẩn dụ, chúng ta đang sử dụng những suy luận để miêu tả Thượng Đế. Điều này đi thẳng trở lại với Thánh Thomas Aquinas và thầy của tôi, Karl Rahner. Tất cả ngôn ngữ của chúng ta đều mang tính ước lệ, tượng trưng.

    Fox: Như vậy, khi những tín đồ Kitô giáo nói rằng Chúa Kitô đã đến cứu chúng ta, chúng ta không phải chỉ nói như thế, phải không?

    Paul F. Knitter: Chúng ta đang nói một điều gì đó rất chân thật, điều mà chúng ta đã kinh nghiệm qua, nhưng chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt được cái thực tại tròn đầy của Chúa Kitô hay của Thượng Đế bằng những ngôn từ ấy. Hơn nữa, hãy sử dụng ý tưởng đạo Phật như đạo Phật đã thường sử dụng: ngôn từ chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng chứ không phải là mặt trăng của tự thân. Ngôn từ không bao giờ có thể được đồng nhất trọn vẹn với cái thực tại đang phơi bày mầu nhiệm.

    Fox: Ông viết rằng những tín đồ Kitô giáo cần một bí tích thứ tám. Xin hãy giải thích.

    Paul F. Knitter: Điều này có lẽ đã là một yếu tố then chốt mà tôi và nhiều người khác đã học được từ đạo Phật: sự quan trọng của im lặng. Trong một trạng thái thiền định chúng ta nhận ra rằng cái mầu nhiệm của Thượng Đế là điều không thể nắm bắt được một cách dễ dàng bằng sự suy tưởng.

    Điều này ăn khớp với thần học bí tích trong Công Giáo chúng ta. Chúng ta nói rằng mỗi cái Lễ chứa đựng vật thể và hình thức. Như vậy, vật thể trong sự im lặng của bí tích là hơi thở của mình, là ý thức về hơi thở của mình, là trở thành một với hơi thở, là không làm gì cả mà chỉ thở thôi.

    Fox: Có vài lần trong sách, ông trích dẫn lời của Thích Nhất Hạnh, vị Thiền sư người Việt Nam. Ông viết, lặp lại lời của Nhất Hạnh, rằng: muốn thực hiện hòa bình, trước hết bản thân của chúng ta phải sống hòa bình. Đảo lại lời tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Paul VI, rằng: nếu chúng ta muốn công bằng, chúng ta phải tìm kiếm hòa bình. Phải vậy không?

    Paul F. Knitter: Nhà tôi và tôi đã bỏ nhiều thời gian vào những năm 80 và 90 hoạt động ở El Salvador cho hòa bình trong thời chiến tranh. Như vậy chúng tôi đã hoạt động cho hòa bình suốt cả cuộc đời của chúng toy - suốt thời gian 20 năm ấy chúng tôi đã là những nhà hoạt động cho hòa bình, những nhà hoạt động cho xã hội. Nhưng khi nhìn trở lại thời gian hành động ấy, tôi nhận thấy những hành động ấy của chúng tôi thường chứa đầy những lời nói bạo động.

    Trong thời gian ấy chúng tôi đã phải cưỡng lại, phải đương đầu với những cấu trúc xấu ác. Có những cấu trúc xấu ác thật, nhưng cũng có cái gì đó thiếu hụt trong tôi. Cái thiếu hụt ấy tôi đã nhận ra được trong một kinh nghiệm mà tôi đã có vào năm 1986 hoặc 1987 khi tôi tham dự một khóa tu thiền với Roshi Bernie Glassman.

    Trong thời gian khóa tu tôi nói với Glassman rằng chúng tôi sẽ đi xuống El Salvador để cố gắng làm cái gì đó nhằm ngăn chặn những hiện tượng chết hàng loạt khủng khiếp. Ông nói: “Đúng vậy, quý vị phải ngăn chặn những hiện tượng chết hàng loạt, nhưng đồng thời quý vị cũng phải tu, phải thiền tập bởi vì quý vị sẽ không bao giờ ngăn chặn được sự cố ấy nếu quý vị chưa nhận ra được mình chính là họ, mình là một với họ, mình tương tức với họ”.

    Đó là sự giác ngộ mà đạo Phật mời gọi chúng ta hướng về, sự giác ngộ thâm sâu bằng chính bản thân về tuệ giác tương tức tương nhập, tương quan tương duyên với tất cả mọi loài, ngay cả đối với những ai mình đã và đang chống đối và xem họ như là những kẻ đàn áp, áp bức, như là những thủ phạm của sự xấu ác. Chúng ta là một, tương tức với họ. Đây là những gì thầy Thích Nhất Hạnh muốn nói khi Thầy nói rằng chúng ta phải có an bình ngay trong chính bản thân của chúng ta. Chúng ta phải vượt thắng cái vỏ ốc bản ngã của chúng ta và nhận ra được sự tương quan tương duyên, tương tức của mình đối với tất cả mọi loài.

    Fox: Ông có viết, “Đối với những người Phật tử, tính ích kỷ không phải là tội lỗi mà là chính cái ngu dốt.” Điều đó nghĩa là gì?

    Paul F. Knitter: Đây là một khía cạnh, theo tôi nghĩ, đặc biệt được đánh giá cao hoặc rất cần đối với nhiều người Kitô giáo. Đối với đạo Phật, và tôi cũng muốn nói cho Kitô giáo nữa, tính chất nền tảng của chúng ta rất tốt. Tính chất nền tảng của chúng ta là tính Phật (Phật tính), ấy là chúng ta là một phần của vũ trụ vạn hữu, tương tức, chúng ta là một đại thể tương quan tương duyên, tương tác, chúng ta được mời gọi trở về để nhận biết về cái thực tại mầu nhiệm ấy và để hành động bằng tình thương, bằng lòng từ bi, nhân ái.

    Nhưng vấn đề là chúng ta không nhận ra được chân lý này. Bởi vì chúng ta không nhận ra được chân lý này, bởi chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những cá thể biệt lập thay vì là một hợp thể tương quan tương duyên, chúng ta nghĩ chúng ta phải bảo vệ chính chúng ta. Chúng ta nghĩ chúng ta phải thủ đắc cái gì đó để củng cố nguồn gốc, bản ngã của chúng ta và vì thế chúng ta hành động một cách ích kỷ. Chúng ta hành động ích kỷ không phải vì chúng ta mất mát, không phải vì chúng ta xấu ác trong bản chất mà do vì chúng ta vô minh.

    Fox: Ông có viết rằng trong tương lai, những người tin theo Kitô giáo sẽ trở thành mầu nhiệm hoặc họ sẽ không trở thành cái gì cả. Ông nói như vậy nghĩa là sao?

    Paul F. Knitter: Đó là một sự trích dẫn thiếu chặt chẽ từ thầy của tôi, Karl Rahner. Những gì thầy tôi khám phá ra là thế này: Có quá nhiều sự thách thức và khó khăn mà chúng ta đối diện, rằng nếu nguồn gốc của chúng ta không được dựa trên kinh nghiệm của chính mình về Thượng Đế, nếu Thượng Đế không phải là một phần của họ (Kitô hữu), nếu họ không phải là một với Chúa Kitô, nếu Chúa Kitô không phải là chính cái hiện hữu của họ, thì họ sẽ không có khả năng tìm thấy được sức mạnh, sức nhẫn nại và có tuệ giác để bước vào cái cõi thênh thang ấy hay gọi là Nước Chúa.

    Fox: Ông có viết trong sách rằng đạo Phật đã giúp ông nhìn kỹ vào sự mầu nhiệm sau cái chết. Vậy sau cái chết và sống là gì?

    Paul F. Knitter: Đối với tôi, có lẽ đó là cái hữu ích nhất, nhưng có thể là phần gây sự tranh cãi nhiều nhất trong cuốn sách của tôi. Đạo Phật nói với chúng ta rằng ngay trong kiếp hiện tại này, con người thật của mình, hạnh phúc chân thực của mình, là phải vượt thoát khỏi cái tính chất cá thể của mình, tức là cái bản ngã. Tôi nghĩ điều đó cộng hưởng với câu nói trong Phúc Âm: “Nếu hạt lúa mì không thật sự rơi xuống đất và chết đi, thì nó sẽ không tái sinh và đơm hoa kết trái”. Đạo Phật đã dẫn dắt tôi nhìn sâu hơn vào cái trạng thái mà đạo Phật muốn nói hoặc Chúa Kitô muốn nói, khi ngài nói: “Bạn sẽ không tìm ra được chính mình nếu bạn không đánh mất chính mình”.

    Điều này đã giúp tôi nhận diện ra một cái gì đó mà đối với tôi hình như thỏa mãn hơn, ấy là sự sống chờ tôi sau khi tôi chết để tôi sẽ vẫn tiếp tục hiện hữu, sự hiện hữu đó vượt thoát cái hiện hữu biệt lập này của tôi, một hình tướng Paul Knitter. Tôi sẽ tiếp tục có mặt (biểu hiện), nhưng chắc chắn tôi sẽ không có mặt y hệt như là hình tướng của Paul Knitter. Nói cách khác, đời sống của chúng ta trong tương lai sau khi chết là một hình thái biểu hiện siêu việt tính chất cá thể biệt lập. Điều đó không có nghĩa là tôi bị tiêu diệt, trở thành hư vô; điều đó không có nghĩa rằng tôi không còn hiện hữu, nhưng tôi sẽ hiện hữu trong một sự chuyển biến triệt để, chuyển cái hiện hữu như một cá thể biệt lập, tức là cái ngã hiện hữu nằm riêng lẽ ngoài mọi sự mọi vật khác.

    Tham khảo thêm file pdf cuốn sách " Without Buddha I Could Not Be A Christian" ở đây:http://www.oneworld-publications.com...out_buddha.pdf

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. TÂM VŨ TRỤ
    By doxuantho in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 26-03-2012, 02:27 PM
  2. Thờ Cúng và Lễ Bái
    By dinhlong64 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 30-03-2011, 02:27 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •