Trang 12 trong 97 Đầu tiênĐầu tiên ... 267891011121314151617182262 ... Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 221 tới 240 trên 1939

Ðề tài: Xin mời mọi người chia sẻ và tìm hiểu về những khái niệm Phật Pháp

  1. #221

    Mặc định



    Hỏi: Ở nhà khó tu lắm, thưa Sư phụ?

    Đáp: Nếu tu Tổ sư thiền thì không phải là khó, chỗ nào cũng tu được.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    wellcome1
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  2. #222

    Mặc định



    Hỏi: Chúng con tập khí quá nhiều, vậy khi nào mới dứt được?

    Đáp: Nay hành giả tham thiền đừng để ý đến trừ tập khí, giữ được nghi tình thì tập khí có thể dứt dần, nhưng muốn dứt sạch phải kiến tánh mới được.
    Tham thiền chỉ có thể dứt những tập khí thô, còn tập khí vi tế phải sau khi kiến tánh rồi mới dứt. Nên sau khi kiến tánh phải qua sự bảo nhiệm để dứt tập khí thế gian và xuất thế gian.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    eatdrink004
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  3. #223

    Mặc định




    Hỏi: Thời nay, nhiều vị tu hành rất cống cao ngã mạn, tự ăn cắp học thuộc lòng một số ngữ ngôn kỳ đặc của Tổ sư, cho là vốn liếng của mình, đi khắp nơi đả phá cái này cái kia, làm trò cười cho thiên hạ. thậm chí đem ra chỉ trích pháp dạy của Phật, của Tổ, cho là không đúng, phải làm theo cách bày đặt của họ mới là đúng … Con mong Sư phụ từ bi khai thị, mở mắt cho những kẻ ngông cuồng ngạo mạn này.


    Đáp: Học Phật pháp phải biết nhân quả, nhân nào quả nấy, ai tạo nấy chịu. Lục Tổ trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói:”Thường tự thấy lỗi mình, chớ nên thấy lỗi người.” chánh pháp phải phá ngã chấp, cứ thấy lỗi của người khác tức còn ngã chấp.

    Những người tham thiền cần lo cho mình được mau kiến tánh, không cần biết tới lỗi của người khác, ấy là ý của chư Tổ dạy như thế. Hễ giữ được nghi tình, tự nhiên không thấy lỗi của người khác. Hãy lấy thân mình làm mô phạm cho người khác noi theo. Khỏi cần nói, cứ làm cho đúng,vì có nói cũng vô ích, người ta có chịu nghe đâu ! Mặc dù mình không nói, nhưng người khác nhìn thấy cũng biết. Phải thường thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi người khác là được.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :oh_go_on:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  4. #224

    Mặc định




    Hỏi: Hành giả tham thiền phải tu làm sao để thấu Tam quan?


    Đáp: Đó tùy thuộc vào chính mình. Cũng như ngài Cao Phong Nguyên Diệu Thiền sư trong Thiền Quan Sách Tấn nói:”Nếu nghi tình của mình nặng như cục đá lớn từ trên đỉnh núi rơi xuống biển, chẳng một sự chướng ngại nào, trong bảy ngày đêm mà không kiến tánh, thì Cao Phong ta sẽ đọa địa ngục A-tỳ , bị cắt lưỡi vì tội nói dối.” Nếu hành giả tham thiền dụng công đến mức như ngài Cao Phong nói trên, trong bảy ngày đêm cũng có thể kiến tánh.

    Trong lịch sử Thiền tông có Thiền sư Phật Đăng, trong tứ oai nghi chỉ ứng dụng một oai nghi là đi, không đứng, không nằm, không ngồi. Ăn cũng đi, uống cũng đi, ngày đêm như thế, đi đến mệt rồi, dựa vào vách tường ngủ mê lúc nào chẳng hay, đến khi thức giấc, tự mình đánh mình, rồi không đi gần vách tường nữa. Đi mãi tham mãi, đến 49 ngày kiến tánh.

    Công phu của chúng ta nếu được như ngài Phật Đăng thì 49 ngày cũng được kiến tánh, nhưng việc này bắt chước không được.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    sick032
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  5. #225

    Mặc định



    Hỏi: Ngài Bác Sơn nói về công phu tham thiền có bốn điều kiện: Khẩn- thiết- miên mật- dung hoát. Xin Sư phụ khai thị về bốn điều kiện trên.

    Đáp: Ở trên tôi có nói đến cách “nhìn,” vừa nhìn vừa hỏi. Cái nhìn đó khiến cho miên mật; giữ được nghi tình là do khẩn thiết, nhất là thống thiết về sanh tử. Bởi vì không biết mình sẽ chết vào tối nay hay ngày mai, nay chưa chết phải giải quyết vấn đề này. Ai cũng sợ chết, nhưng sợ vẫn phải chết. Nên phải khẩn thiết như thế.
    Nghi tình là không biết, không biết thì chẳng dính mắc với ngoại cảnh, không để cho người khác làm chủ cho mình.; người khác khen ngợi mình cũng không biết, chê cười cũng không biết, khen ngợi cũng chẳng vui, chửi mắng cũng không buồn… Tất cả việc gì đều không dính dáng đến mình, chẳng có chướng ngại, gọi là dung hoát. Dung là dung thông, hoát là trống rỗng, chẳng gì dính mắc. Hễ giữ được nghi tình thì tự nhiên như thế. Nếu không, chắc chắn phải bị dính mắc cái này cái kia.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :hypnotized:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  6. #226

    Mặc định




    Hỏi: Sự hiểu biết của phàm phu là do bộ não, chính bộ não nghiên cứu nhiều, hiểu biết nhiều, nên chúng sanh mới bị đọa tam ác đạo, phải không?


    Đáp: Ở Mỹ, tôi có ra một bài “Phật pháp với khoa học,” mặc dù nay nói “chấm dứt tác dụng của bộ não,” nhưng chỉ là phương tiện. Như hôm qua tôi nói:”lục căn, kiến văn giác tri đều là tác dụng của bộ não.”

    Ngài Nguyệt Khê thí dụ:
    Kiến văn giác tri là binh lính của bọn cướp, lục căn là binh khí của vua cướp, vô thỉ vô minh là vua cướp. Tiểu thừa ví như tịch thu binh khí của bọn cướp. Binh khí dù bị tịch thu, nhưng vẫn có thể sắm lại. Trung thừa ví như giết hết binh lính cướp, cho là đã yên ổn, chẳng biết đó chỉ là tạm thời thôi, vì còn vua cướp (vô thỉ vô minh), có thể chiêu binh mãi mã, hoạt động trở lại. Nay tham thiền ví như chẳng tịch thu binh khí của bọn cướp, cũng chẳng giết hại lính cướp, mà lợi dụng lính cướp, cầm binh khí của họ để bắt vua cướp. Vua cướp bắt được rồi, thì lính cướp trở thành lính chính qui của nhà nước.

    Cho nên, chỉ cần phá được vô thỉ vô minh, tất cả tương đối đều thuộc về tự tánh, đều biến thành tuyệt đối. Nay cuộc sống hàng ngày là do lục căn làm chủ; khi kiến tánh rồi, Phật tánh làm chủ, bộ não chỉ là đầy tớ thôi. Phật tánh sai khiến bộ não làm việc, chỉ làm điều lành, không làm việc xấu. Còn do bộ não sai khiến thì hay làm việc xấu vậy.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :thumbs_up:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  7. #227

    Mặc định



    Hỏi: Trong sự khai thị của Sư phụ, hoặc trong lúc coi kinh, bất thần rồi con ngộ, vậy sự ngộ này ở nơi quyền trí hay Chơn trí?

    Đáp: Ngộ có giải ngộ và chứng ngộ.

    Trong lúc xem kinh, thình lình hiểu được nghĩa kinh là giải ngộ, chẳng phải chứng ngộ.

    Chứng ngộ chẳng có nghĩa lý, chỉ là hiện ra bản thể của Phật tánh khắp không gian thời gian.

    Giải ngộ vì còn nằm trong tương đối, nên đối với sự giải thoát cũng không ích lợi gì.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :nerd:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  8. #228

    Mặc định



    Hỏi: Nghi tình dùng tâm để tham hay dùng bộ não để tham?

    Đáp: Phương tiện là dùng bộ não, dùng sự không biết của bộ não chấm dứt tất cả biết của bộ não. Đến sau cùng nghi tình bùng nổ, sự biết của bộ não tan rã và sạch hết, cái biết của Phật tánh hiện ra, gọi là kiến tánh thành Phật.

    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :star:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  9. #229

    Mặc định



    Hỏi: Trong kinh nói có tám mươi bốn ngàn pháp môn để tu, sao Thầy chỉ dạy một pháp môn?

    Đáp: Một pháp môn cũng bao gồm tất cả pháp môn. Pháp môn nào cũng đều muốn hiển bày cái Tâm, Tổ Sư thiền là pháp thiền trực tiếp, đi con đường thẳng, những pháp kia là đi con đường gián tiếp, nhưng cuối cùng cũng từ nghi đến ngộ. Cho đến Tịnh Độ và các pháp thiền Đại thừa cũng vậy. Còn thiền Tiểu thừa chưa ngộ triệt để, vì họ ngộ rồi còn chấp cái ngộ, nên gọi là Niết Bàn Tiểu thừa.

    Nói tám mươi bốn ngàn pháp môn chỉ là ước số, chứ không phải thật nhất định có tám mươi bốn ngàn pháp môn. Ở Trung Quốc gồm năm phái :Thiền, Tịnh, Giáo, Luật, Mật.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :love_struck:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  10. #230

    Mặc định



    Hỏi: Cách hành trì của Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa như thế nào?

    Đáp: Đại thừa gồm Tối thượng thừa, Tiểu thừa gồm Trung thừa. Có 5 thứ khác biệt:

    1.Điểm xuất phát chẳng đồng:
    a.Tiểu thừa: Bắt nguồn từ nhân sinh quan đắm khổ, nghiệp cảm duyên khởi, nhàm chán phiền não mà cầu nơi thanh tịnh.
    b.Đại thừa: Từ nhân sinh quan từ bi, chân như tỏa ra, lấy hóa tha tự tại làm chí nghiệp.

    2.Hành vi chẳng đồng:
    a.Tiểu thừa: Tự lợi tự độ, chỉ được giải thoát theo tiêu cực, tức là lấy đoạn dứt phiền não làm Niết bàn và mục tiêu cuối cùng.
    b.Đại thừa: Tự độ độ tha, lấy hoạt động tích cực làm hành vi, đắc đại tự tại làm tư tưởng chung cuộc.

    3.Cảnh giới chẳng đồng:
    a.Tiểu thừa: Ngừng nơi hiện tượng giới.
    b.Đại thừa: Vào nơi thực tại giới.

    4.Phương pháp chẳng đồng:
    a.Tiểu thừa: Dứt lục căn, đoạn nhất niệm vô minh, vào nơi đoạn diệt, chủ nghĩa cấm dục.
    b.Đại thừa: Phá vô thỉ vô minh, kiến Phật tánh, chủ nghĩa tự tại, chủ nghĩa thực tại (tức Chân Như), sắc tâm và pháp đều tồn tại vĩnh viễn.

    5.Lý luận chẳng đồng:
    a.Tiểu thừa: Tầm khảo sát ngưng nơi hiện tượng và cho rằng chủ khách thực tế tồn tại, là nhị nguyên luận. Ngoài ra dùng chủ nghĩa cảm giác phủ định những thực tại ngoài cảm giác.
    b.Đại thừa: Siêu việt phạm vi nhận thức của bộ não, sự cùng tột của thực tại với hiện tượng giới chẳng khác, chủ khách như một, chân vọng hợp nhất, là nhất nguyên luận, là thực tại luận siêu việt Hình Nhi Thượng.

    Triết học phương Tây chỉ có hai giai đoạn: Ngã chấp và pháp chấp, đều nằm trong phạm vi nhất niệm vô minh, tức tư duy và lý niệm. Nhưng tư duy và lý niệm đều là hóa thân của nhất niệm vô minh, cũng là tác dụng của bộ não.
    Mục đích triết học phương Tây là nghiên cứu lý luận để tìm hiểu, nên chẳng chịu rời bỏ nhất niệm vô minh. Bởi vì nếu tiến vào phạm vi của vô thỉ vô minh thì cảm giác trống rỗng chẳng có lý luận để tuy cứu, cũng chẳng có gì để tìm hiểu, hoàn toàn trái ngược với mục đích của họ.

    Cho nên, xưa nay các nhà triết học phương Tây chưa ai từng đi vào cảnh giới vô thỉ vô minh, hễ chưa vào cảnh giới vô thỉ vô minh thì chẳng thể đột phá cái chấp không, cũng chẳng vào được tuyệt đối. Phá được cái chấp không là kiến tánh, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn.

    Mục đích của nhà triết học phương Tây là truy lý cầu tri, còn mục đích tu trì Phật pháp là liễu thoát sanh tử; triết học phương Tây chú trọng lý luận, Phật pháp thì chú trọng thực tiễn, tức là từ nhất niệm vô minh tiến thẳng vào tuyệt đối vậy.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    rose4
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  11. #231

    Mặc định



    Hỏi: Con nghe nói ở Chùa Đậu Hà Nội, có hai chú cháu Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, hơn ba trăm năm mà nhục thân vẫn còn, vậy hai vị đó đã đắc đạo chưa?

    Đáp: Mặc dù để lại nhục thân, nhưng không thể chứng tỏ là kiến tánh. Năm 1974, tôi đi viếng thăm các chùa ở Thái Lan, cũng có nhiều vị để lại nhục thân, những vị đó đều chưa phải kiến tánh. Ở Đài Loan có Pháp sư Từ Hàng thuộc Giáo Môn, cũng để lại nhục thân nhưng chưa kiến tánh.

    Người tham thiền chỉ cần đáp được một chuyển ngữ: Chư Tổ đã kiến tánh hỏi người chưa kiến tánh, người đó chỉ cần đáp được một chuyển ngữ, chứng tỏ đã kiến tánh là được ấn chứng, gọi là “truyền tâm ấn.” Tại sao gọi là chuyển ngữ? Chuyển tức không có sở trụ; vì bản thể của Phật tánh vô trụ, lời nói của chư Phật chư Tổ đều là vô trụ, nên gọi là chuyển ngữ.

    Có một ngoại đạo hiện đủ thứ thần thông trong mười mấy năm, người đời đồn xa, có người đem câu chuyện kể cho một vị Thiền sư nghe, vị đó chẳng ngó ngàn tới. Khi ngoại đạo đó chết, đem thiêu được nhiều xá lợi, có người lại đem việc này nói với Thiền sư, Thiền sư nói:”Xá lợi nhiều cách mấy, không bằng đáp cho tôi một chuyển ngữ.” Do đó, xá lợi nhiều không thể chứng tỏ là đã kiến tánh


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :thinking:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  12. #232

    Mặc định



    Hỏi: Làm sao phân biệt giữa định và hôn trầm?

    Đáp: Tham thiền phải giữ được nghi tình, luôn có sự thắc mắc, muốn biết mà biết không nỗi, nhưng không có tán loạn, gọi là định, hễ có tán loạn ắt có vọng tưởng, chẳng phải định.

    Nếu không có nghi tình, không biết gì hết, ấy là hôn trầm, cũng như cái không biết của người ngủ mê, cái không biết của người chết giấc, của kẻ tâm thần v.v…, ấy là cái không biết chết, gọi là hôn trầm. Khi đang công phu, bất chợt chìm vào giấc ngủ, lát sau mới tỉnh dậy, vậy không phải là định, mà là hôn trầm.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :coffee:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  13. #233

    Mặc định



    Hỏi: Ngày xưa các ngài khó hiểu biết, vì không có phương tiện nghe nhìn; còn ngày nay phương tiện nghe nhìn có nhiều, nên người tham học khỏi đi hành cước. Đáng lẽ, người nay phải ngộ nhiều hơn người xưa, tại sao ngược lại?

    Đáp: Nghe hiểu nhiều chừng nào thì sự chứng quả ít chừng nấy. Nghiên cứu lý để tìm hiểu là chuyện thế gian, muốn tu pháp xuất thế gian thì phải lìa lý lìa hiểu. Cho nên, hiểu nhiều thì phải xa sự chứng ngộ.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :batting_eyelashes:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  14. #234

    Mặc định



    Hỏi: Ngày xưa, Ngài Hám Sơn trong khi tu có Ngài Cao Phong giúp đỡ; ngày nay, chúng con cần phải học hỏi tìm hiểu, vậy có thể chứng ngộ không?

    Đáp: Ngày nay người ta tôn trọng khoa học và triết học, nhưng khoa học và triết học hiện đại là phải cứu lý tìm hiểu. Phật pháp phải ngược lại lìa lý lìa tìm hiểu, Tiểu thừa chấm dứt lục căn, không cho lục căn tìm hiểu. Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu thừa là ngưng hoạt động của tâm, Trung thừa và Đại thừa cuối cùng cũng đình chỉ hoạt động của tâm. Đình chỉ tâm là mục đích đến chỗ kiến tánh, đến lúc kiến tánh thì không cần đình chỉ nữa. Vì bản thể tự tánh luôn luôn khắp không gian, khắp thời gian, không bao giờ ngưng.

    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    object-004
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  15. #235

    Mặc định



    Hỏi: Lý do gì sự ngộ của Thiền tông không cần kinh điển?

    Đáp: Kinh chỉ là trợ duyên, công phu đến mức thì gặp cái gì cũng ngộ, cũng như có người gặp con khỉ leo cây mà ngộ, có người thấy hoa đào nở thì ngộ, có người đi bị vấp té lại ngộ, có người bị bạt tai ngộ, có người nghe hát ngộ, có người đi ngang chỗ bán thịt, nghe nói “bán cho tôi một cân thịt nạt”, người bán chặt mạnh con dao xuống bàn và nói lớn “chỗ nào không phải là thịt nạt?”, người ấy liền ngộ. Đâu phải chỉ xem kinh mới ngộ? Cũng có người xem kinh mà ngộ.

    Như có người tham kiến Mã Tổ, Mã tổ nói: Hãy đảnh lễ đi.

    Người đó mới lạy xuống thì Mã Tổ đá một cái ngả xuống đất liền ngộ. Nghe kinh ngộ chỉ một phần ít, cái ngộ là do nghi tình đến mức bùng nổ, lúc đó muốn không ngộ cũng không được.


    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :i_dont_know:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  16. #236

    Mặc định



    Hỏi: Có phải Thiền tông không tin vào kinh điển không?

    Đáp: Sao nói là Thiền tông không tin kinh điển! Thiền tông tự nhiên ăn khớp với kinh điển, chứ không phải không tin kinh điển, chỉ là không chấp kinh điển.

    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    rose4
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  17. #237

    Mặc định



    HỘT CẢI NẠP TU DI, TU DI NẠP HỘT CẢI: 芥子納須彌 , 須彌納芥子

    Hột cải rất nhỏ, Tu di rất lớn. Nơi thế giới tương đối, tu di nạp hột cải thì được, hột cải nạp tu di thì không được. Nhưng nếu vào thế giới tuyệt đối thì lớn nhỏ có thể dung nạp lẫn nhau. Đây chứng tỏ sau khi ngộ rồi thì chẳng phân biệt tương đối nữa.


    (trích Từ điển Phật học của Hòa Thượng Thích Duy Lực)

    :skull:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  18. #238

    Mặc định



    Hỏi: Như vậy là do con người đuổi theo lời nói thành ra lỗi lầm?

    Đáp: Đúng vậy, hễ đuổi theo lời nói đều sai, vì do bộ óc suy nghĩ, nên Kinh nói:”Phàm là lời nói đều chẳng có nghĩa thật.”

    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    slapping
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  19. #239

    Mặc định



    Hỏi: Người tu hành trước kia đã tạo ác, nay đi tu có hết tội không?

    Đáp: Thiện với ác là tương đối, Tham thiền đến kiến tánh rồi là đi vào quốc độ tuyệt đối, tất cả tương đối không còn nữa. Mà tương đối cũng là do tâm tạo, nhắm mắt chiêm bao hay mở mắt chiêm bao cũng là chiêm bao, khi thức tỉnh rồi, ra ngoài chiêm bao, lúc đó tìm tội chướng ở đâu? Cho nên, chỉ cần thức tỉnh, thì tất cả việc làm trong chiêm bao đều tìm không ra.

    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    :i_dont_want_to_see:
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  20. #240

    Mặc định



    Hỏi: Thế nào là công đức, thế nào là phước đức? Tại sao công đức không có hết, mà phước đức lại có hạn trong Tam giới?

    Đáp: Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ giải thích: Công đức là tự tánh sẵn có, chẳng phải ở ngoài, chẳng do tạo tác. Đã sẵn có thì chẳng có sự bắt đầu, cũng là nghĩa vô sanh; vô sanh tức vô diệt, nên không hết được. Còn phước đức do tạo mới thành, có thành ắt có hoại. Phước đức có số lượng, hưởng dần sẽ hết, công đức không số lượng, nên không hết. Do đó, Chư Phật chư Tổ chỉ muốn chúng ta kiến tánh, thì công đức hưởng hoài không hết.

    (trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)

    sick032
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 2 users browsing this thread. (0 members and 2 guests)

Similar Threads

  1. Mật tông vấn đáp
    By ductri16580 in forum Mật Tông
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 05-09-2014, 11:53 AM
  2. Kinh Vô Lượng Thọ Phật !
    By kinhdich in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 04:26 PM
  3. Xin hỏi về phương thức trợ niệm
    By ngocbich.ploy in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 30-10-2011, 11:46 PM
  4. Dành cho người hữu duyên
    By nguoi_mu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 101
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 07:54 PM
  5. NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG -PHÁP MÔN THIỀN-TỊNH
    By linh_tinh_85 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 22-02-2011, 08:47 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •