kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Thánh Augustine và Thomas Aquino

  1. #1

    Mặc định Thánh Augustine và Thomas Aquino

    Thánh Augustine, tiến sĩ hội thánh (354 AD – 430 AD)
    Jos. Tú Nạc, NMS8/27/2011


    --------------------------------------------------------------------------------

    Thánh Augustine hay còn gọi là Augustine Hippo là một trong những nhân cách nổi tiếng nhất trong việc phát triển Ki-tô giáo Tây phương. Ông đươc công nhận là thánh hoặc thậm chí là một vị thánh trong Thiên Chúa giáo La Mã, và cũng là một trong những nhà thần học tiên khởi của Phong Trào Cải Cách việc giảng dạy về sự cứu rỗi và ân sủng. Tác phẩm “The Confessions” (Lời thú tội) của ông vẫn còn được đọc trên khắp thế giới. Nó được đánh dấu như cuốn Tiểu sử Tây phương đầu tiên.

    Được coi như là người đầu tiên của thời kỳ trung đại hay cuối thời kỳ cổ đại thì ông vẫn mãi là hình ảnh sinh động với Ki-tô giáo và phạm trù lịch sử của tư tưởng Tây phương. Có nhiều dẫn chứng nổi tiềng đầy ấn tượng giữa những dòng trong các tác phẩm của ông. Một số quyển ông đã viết: On Christian Doctrine (Học thuyết Ki-tô giáo), The City of God (Thành phố của Chúa), On Trinity (Chúa Ba Ngôi).

    Những dẫn chứng và trích dẫn bất hủ của Augustine:

    Hãy lắng nghe từ moi phía.

    Một điều không trung thực tất yếu vì được phát ra một cách xấu xa tồi bại, hoặc không sai lầm bởi được nói ra một cách nghiêm túc.

    Bằng sự trung thành chúng ta được tuyển chọn và kết hơp trong sự hiệp nhất với chính bản thân, nhưng trái lại chúng ta sẽ bị khuếch tán thành nhiều dạng khác nhau.

    Kiêng cữ toàn diện dễ hơn tiết chế hoàn hảo.

    Phải chăng bạn muốn trở thành vĩ đại? Vậy hãy bắt đầu bằng sự tồn tại. Bạn khao khát xây dựng một kết cấu mênh mông và cao vút ư? Trước nhất hãy nghĩ về những nền tảng của sự khiêm tốn. Kết cấu của bạn càng cao thì nền móng của nó phải càng sâu.

    Bạn không tin rằng trong con người có một chiều sâu uyên thâm được giấu kín đến nỗi ngay cả con người không biết nó là gì sao?

    Đức tin là tin vào những gì bạn không thấy, sự tưởng thưởng của đức tin này là nhìn vào những gì mà bạn tin.

    Khám phá biết bao nhiêu mà Thiên Chúa đã ban cho ta và từ đó đem đến những gì mà ta cần, phần còn lại thực sự là bởi tha nhân.

    Lòng khoan dung độ lượng không phải là sự thay thế cho công lý bị chối bỏ.

    Người nhân từ được tự do, cho dù người đó là một nô lệ; người độc ác bị nô lệ, cho dù người đó là một hoàng đế.

    Vì chưng, chẳng tốt lành gì để những điều độc ác được tồn tại, quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa hẳn không cho phép, vì vượt qua sự hoài nghi điều dó thật dễ dàng, đối với Thiên Chúa không được thực hiện những gì ngoài ý định của Người, chỉ được thực hiện những gì là ý định của Người.

    Tha thứ là sự miễn hình phạt của tội lỗi. Vì tha thứ mà những gì đã bị mất, và đã đươc tìm thấy, được lấy lại từ những gì đã mất.

    Thiên Chúa phân xử rất công minh để đem cái thiện xua đi cái ác để không còn phải chịu đau khổ vì sự hiện diện của cái ác.

    Thiên Chúa yêu thương mọi người trong chúng ta y như thể chúng ta duy nhất chỉ là một.

    Người đố kỵ là người không có tình yêu thương.

    Khiêm tốn là nền tảng của mọi đức tình khác vì lẽ đó trong tâm hồn mà không tồn tại đức tính này thì không thể có bất kỳ một đức tính nào khác ngoại trừ dáng vẻ bên ngoài.

    Con không tìm thấy Người, ôi lạy Chúa, trống vắng, vì con đã sai lầm trong việc kiếm tìm Người mà trống vắng nội tâm.

    Thể xác của chúng ta được tạo dáng để thai sinh con trẻ, và cuộc sống của chúng ta là công trình phát kiến những tiến trình của sự sáng tạo.

    Ôi tôi biết tôi yêu Người tuy muộn, ôi Vẻ Đẹp tức thì rất xưa và rất mới!

    Khi tình yêu sống dậy trong ta, cũng là lúc vẻ mỹ miều trở giấc. Vì tình yêu là vẻ đẹp tâm hồn.

    Lời thú tội của những việc làm thâm độc là sự bắt đầu trước tiên của những việc làm nhân đức.

    Tôi đã tìm thấy ở Plato và Cicero khôn ngoan và trác tuyệt; nhưng tôi không bao giờ tìm kiếm một trong hai số họ. Đến với tôi tất cả đất trời là lao động và được chuyên chở nặng nề.

    Hãy cho tôi sự tinh tuyền và tiết dục, nhưng không phải bây giờ.

    Nếu chúng ta sống cuộc sống đạo đức, đó cũng là những lúc an vui. Vì chúng ta sống như thế nào thì cuộc đời cũng thế.

    Thiên Chúa cho Con Một của Người xuống thế không tội lỗi, nhưng không bao giờ Người vắng bóng khổ đau.

    Nếu chúng ta không có những tâm hồn duy lý, chúng ta sẽ không thế có được niềm tin.

    Vẻ đẹp thực sự là món quà tuyệt vời của Thiên Chúa. Nhưng sự tuyệt vời không nên nghĩ là sự tuyệt vời quan trọng, Thiên Chúa ban bố nó cho cả người tội lội.

    Nếu ta tin vào những gì mà ta yêu thích trong Tin Mừng, và chối bỏ những gì mà ta không thích, đó không phải là do tin Tin Mừng, mà tại chính ta.

    Trong sự vắng mặt của công lý, quyền tối thượng nhận biết sự cướp bóc là gì?

    Tình yêu và thực hiện đó là những gì mà ta yêu thích.

    Phép lạ không phải là những gì mâu thuẫn với tự nhiên, mà chỉ mâu thuẫn với những gì chúng ta hiểu biết về tự nhiên.

    Người ta ra ngoài sửng sốt trước những ngọn núi cao, trước những con sóng khổng lồ biển cả, trước những dòng chảy miên man sông nước, trước đại dương bao là vô tận, trước những chuyển động xoay quanh của muôn vì tinh tú, và họ đã làm ngơ không tự vấn.

    Thật vậy, con người ước muốn được hạnh phúa ngay cả khi sống để tạo ra hạnh phúc là một điều không thể.

    Ai có thể đặt ra những áp lực khác nhau vào hoạt động trong tâm hồn con người? Con người là một chiều sâu thăm thẳm, Ôi lạy Chúa, tóc trên đầu người ta dễ dàng để đếm so với cảm giác, những hoạt động tâm hồn.

    Ý chí là cuộc đua như ngựa phải có người cưỡi.

    Những người mà khư khư chiến thắng chẳng khác nào những người chinh phục bị chinh phục.

    Một số bài khác:
    http://vietcatholic.com/News/Html/92339.htm

  2. #2

    Mặc định

    CON BÒ CÂM
    Bé Toma Aquinas năm tuổi, dáng người phục phịch, lặng lẽ ngồi trên lưng ngựa với người đầy tớ. Họ đang chờ đợi giờ khởi hành. Bé thấy nôn nao vì sắp được rời xa tòa lâu đài xám, nơi đó, dù cha bé thống lãnh cả một vùng, nhưng ít khi ông ở nhà; còn mẹ thì chẳng mấy khi bé được gặp; có người chị thân nhất lớn hơn bé một tuổi thì mới bị sét đánh chết ngay trong phòng ngủ cách đây mấy tháng! Tôma rùng mình khi hồi tưởng trận bão ác nghiệt đó.......
    Đoàn ngựa chở Tôma và ba má của bé cùng đoàn tùy tùng chẳng mấy chốc đã vượt qua 6 dặm đường núi, tiến về tu viện Cassinô, một tu viện danh tiếng tại Ý, mà vị Viện Trưởng lại có họ hàng với gia đình bé. Tại đây, sau một nghi lễ vắn tắt, bé được đón nhận và trở thành một học sinh trường Dòng.
    Tôma bắt đầu cuộc sống mới nơi đan viện không tiếng ồn ào. Lạ lùng thay, bế chẳng thấy đơn côi, nhưng lại tỏ ra thích thú cuộc sống thinh lặng nơi đây. Bé yêu thích trường sở, mộ mến vẻ thân thiện của các đan sĩ, say mê các khúc hát trầm bổng trong giờ ngyuện kinh của các thầy.
    Khởi sự làm môn sinh của các thầy từ khi ê-a ba chữ A B C, Tôma ngày càng tỏ ra thông minh sáng trí. Cuộc sống đạo hạnh của bé phát triển không ngừng. Năm 13 tuổi Tôma đã vượt xa các bạn đồng lứa. Cậu có một trí nhớ khác thường, thuộc lòng toàn bộ Phúc Âm và các thư thánh Phaolô. Cậu đã chuyển ngư õnhiều tập sách từ tiếng Latinh sang tiếng Ý. Người ta đồn rằng, Tôma không hề quên bất cứ điều gì cậu đã học!
    Cuộc sống trầm lặng nơi đan viện đột nhiên nổi sóng. Hoàng đế Frederick ra lệnh chiếm cư tu viện Cassinô. Các đan sĩ và học sinh bó buộc phải rời bỏ đan viện. Một lần nữa, Tôma bị đặt giữa khúc quanh cuộc đời.
    Năm 14 tuổi, ba má cho Tôma nhập Đại Học thành Naples với nguyện vọng là sau cơn sóng gió, chàng có thể về lại đan viện để trở thành một đan sĩ dòng Bênêđicto. Danh tiếng của Tôma nổi như sóng cồn, chàng không những vượt xa chúng bạn mà còn tỏ ra trổi vượt hơn các giáo sư cả về kiến thức lẫn cuộc sống thánh thiện, và được gọi là "Thiên thần của học đường". Chàng đã trải qua 5 năm tại Đại Học thành Naples.
    Trong khoảng thời gian đó, thánh Đaminh lập Dòng mới có tên là dòng Giảng Thuyết. Các thầy thuộc dòng này chuyên Giảng trong các đại học và giảng thuyết bất cứ nơi nào cần đến. Không như dòng Bênêđito, các thầy Đaminh thời đó tự đi xin ăn và đón nhận của bố thí. Mọi người đều nghe nói đến sự thánh thiện và kiến thức sâu rộng của các thầy. Bị thu hút mãnh liệt bởi gương lành các tu sĩ dòng Đaminh, Tôma đã gõ cửa tu viện xin nhập dòng. Các thầy khuyên chàng hãy chờ đợi và cầu nguyện. Chàng nghe theo lời khuyên của các thầy, đồng thời làm bạn với nhiều tu sĩ trong dòng. Năm 20 tuổi, Tôma tốt nhiệp đại học, một lần nữa chàng xin nhập dòng Đaminh. Lần này chàng đã được nhận lời. Lập tức chàng nhắn tin cho mẹ hay. Cha chàng đã qua đời một năm trước đó.
    Được tin con vào dòng Đaminh, bà Thêôđôra, mẹ chàng nổi cơn lôi đình, bà nói:
    -Đay là điều bất hạnh cho dòng họ Aquinas! Hãy tưởng tượng xem một người con trai vương giả lại đi ăn xin và giảng thuyết khắp đường phố như người điên! Hãy đem ngựa cho tao! Nội đêm nay tao sẽ lôi cổ nó ra khoải tu viện!
    Người ta báo cho Tôma biết cơn giận và âm mưu của mẹ chàng, chàng vội vã chuyển đến một tu viện khác tại Rôma. Nhưng bà Thêôđôra phóng ngựa đuổi theo. bất chấp những gì xẩy đến, Tôma phải vâng lời bà! Bà quên rằng Thánh Ý Chúa còn vượt trên ý định của bà. Gõ cửa tu viện ở Rôma, bà ra lệnh phải đem Tôma ra ngoài! Nhưng thầy giữ cửa cho biết Tôma đã rời khỏi tu viện sáng nay cùng với một số thầy. Lập tức bà sai người đưa tin cho các anh của Tôma đang đi lính đóng tại làng gần đó, phải tìm mọi cách bắt Tôma đưa về nhà.
    Khoảng giữa trưa, Tôma cùng với nhóm các thầy đang ngồi nghỉ bên bờ giếng, thình lình một toán kỵ mã do các anh của Tôma dẫn đầu xông vào bắt chàng, rồi lôi chàng lên lưng ngựa và đem về lâu đài của gia đình. Tại đây, mẹ chàng đã giam chàng trong một pháo đài, cửa sẽ khóa kín cho tới khi chàng hứa vâng lời bà. Bà không thèm để ý đến Thánh Ý Chúa và tuổi tác của con bà.
    Tôma nhìn quanh khu pháo đài bằng đá vắng lạnh đang giam hãm chàng: góc bên này là chiếc giường ngủ, bên kia là một chiếc bàn và chiếc ghế ọp ẹp. Quang cảnh thật trống vắng! Nhưng chàng lại thích bầu khí thinh lặng! Chàng biết rằng chàng không đơn côi một mình, nhưng có Chúa hằng ở bên chàng. Không có việc gì làm, chàng bắt đầu truyện vãn với Chúa bằng những lời cầu nguyện ....
    Người duy nhất được phép đến thăm tôma là Marotta, em của chàng, một cô gái mang nặng đầu óc trần tục. Nàng cố gắng dùng mọi lý lẽ thuyết phục Tôma phải vâng lời mẹ. Để cho cô em thuyết chán, Tôma mới bắt đầu nói cho nàng nghe về tình thương bao la của Chúa đối với nàng. Chàng khéo nói đến nỗi chỉ sau đó ít ngày, Marotta đã đi đến quyết định chính nàng cũng sẽ dâng đời mình phụng sự Chúa. Thế rồi nàng tìm cách giúp đỡ Tôma những gì có thể, và lén lút đem cho chàng sách vở cùng những vật dụng chàng cần đến.
    Thế là Tôma chia thời giờ ra để học hành, viết sách, và cầu nguyện. Ý chí của chàng còn sắt đá hơn cả ý muốn của mẹ chàng, tưởng chừng chàng có thể vĩnh viễn sống cuộc đời giam hãm tại pháo đài, nếu Ý Chúa muốn như thế. Mẹ và các anh của chàng dùng đủ mọi mánh khóe để chàng bỏ ý định tu dòng Đaminh. Một đêm, họ dẫn vào cho Tôma một cô gái trẻ đẹp, với mục đích dùng nàng để quyến dũ Tôma phạm tội. Không chút lưỡng lự, chàng liền rút que củi cháy đỏ trong lò sưởi, xua đuổi người con gái ra ngoài.
    Đằng đẵng hai năm dài, Tôma bị giam hãm trong pháo đài. Đã đến lúc Giáo Hội phải can thiệp. Bà Thêôđôra được biết bà sẽ bị dứt phép thông công với Giáo Hội nếu bà không trà tự do cho con bà.... Thế rồi, một buổi sáng, Tôma thấy cửa pháo đài bỏ ngò, chàng lẹ chân trốn khỏi pháo đài trở về tu viện. Chàng và mọi người quen biết lòng phấn khởi mừng vui. Từ nay chàng được tự do phụng sự Chúa trong dòng Đaminh. Mọi người đều tỏ lòng kính yêu Tôma, một thầy dòng trẻ mập mạp, ít nói, nhưng chiếu tỏa sự thánh thiện.
    Thầy được cử đi học Đại Học Paris dưới sự chỉ giáo của vị giáo sư danh tiếng, sau này trở thành thánh Anbêtô Cả. Không một gíao sư hay sinh viên nào trong trường này quen biết Tôma khi người sinh viên mới, với dáng người nặng nề, trầm lặng này bước chân vào lớp. Sau vài ngày, họ tự hỏi nhau tại sao thảo và tranh luận sôi nổi của họ. Một sinh viên lên tiếng hỏi:
    -Anh chàng đó là ai vậy? Một người nhanh nhẩu trả lời:
    -Một con bò câm!
    Mọi người phá lên cười.
    Tuy nhiên, Giáo sư Anbêtô sớm khám phá ra sự khôn ngoan, thông sáng của "Con Bò Câm". Một hôm bị giáo sư công khai sát hạch Tôma giữa lớp. Tôma trả lời cách hết sức thông minh, đến nỗi giáo sư Anbêtô phải kưu ý cả lớp:
    -Các bạn gọi thầy Tôma là "Con Bò Câm", nhưng các bạn lên nhớ tiếng rống của "Con Bò Câm" này sẽ vang dội khắp thế giới!
    Trước những sự kiện đó, Tôma chỉ mỉm cười. Thầy không màng để ý đến cái tên riêng họ đặt cho thầy.
    Chẳng bao lâu, Tôma được thụ phong Linh Mục. Cha tăng gấp đôi giờ cầu nguyện trước Chúa Giêsu Thánh Thể. Cha giảng thuyết, dậy học và viết sách. Trong cố gắng trả lời câu nghi vấn đã ám ảnh Tôma từ hồi thơ ấu "Thiên Chúa là gì?", Cha đã viết hết pho sách này đến pho sách khác. Và từ đó, cha trở thành một nhà tư tưởng trứ danh của mọi thời đại. Mỗi lần Tôma không thỏa mãn với những điềi cha viết, hoặc phài giải quyết những vấn nạn " hóc búa", cha đều đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và cầu nguyện lâu giờ.
    Một lần đang khi cha Tôma quì cầu nguyện trước bàn thờ, thình lình ngài nghe tiếng Chúa phán từ tượng chịu nạn:
    -Tôma, con đã viết rất khéo về Cha! Con muốn Cha thưởng gì cho con?
    Lập tức cha Tôma trả lời:
    -Lậy Chúa, ngoài Chúa ra, con chẳng muốn điều gì khắc!
    Thế rồi, một ngày kia Tôma đột nhiên ngừng viết, mặc dầu ngài chưa hoàn tất tác phẩm nổi tiếng của ngài. Khi được hỏi lý do, cha Tôma trả lời:
    -Mọi điều tôi viết chỉ là không, so với những gì đã được mạc khải cho tôi!
    Cha Tôma qua đời năm 1274, khi Ngài mới được 49 tuổi. Không đầy 50 năm sau, Ngài được tôn vinh trên bàn thờ. Do các tác phẩm nổi tiềng của ngài, thánh Tôma được trao tặng danh hiệu " Tiến Sĩ Hội Thánh". Do sự trinh trong của ngài, thánh Tôma được gọi là " Tiến Sĩ Thiên Thần". Do các giáo thuyết của Ngài, thánh Tôma được tôn phong là "Thánh Sư các Trường Công Giáo". Tiếng rống của "Con Bò Câm" đã thực sự vang dội khắp thế giới. Hàng năm, Giáo Hội mừng kính Ngài vào ngày 28 tháng Giêng.

    Nguồn: http://tinvuixuanloc.vn/ArticleDe.aspx?ID=90

  3. #3

    Mặc định

    Topic này hy vọng mọi người cùng chia sẻ về phương pháp cầu nguyện của 2 vị thánh.

    Thánh Augustine và Thánh Tô ma Aquino có 2 cá tính đối lập, và 2 phương pháp cầu nguyện đối lập, một tìm kiếm nội tâm theo kiểu Phật giáo, và một hướng ra bên ngoài để tìm kiếm Thiên Chúa.

    Chắc các bạn CG đều ko lạ với cuộc đời trụy lạc của thánh Augustine trước khi trở lại.Bạn nào có các sách hay được viết bởi hai vị thánh này có thể share giùm được ko.
    Tối nay học giáo lý được thầy quảng cáo cuốn "Tự thuật của thánh Augustine", share mọi người cùng đọc:
    http://www.dunglac.org/index.php?m=h...detail&ia=8564

  4. #4

    Mặc định

    -Học Thuyết thánh Thomas Aquinas http://daminhvn.net/tai-lieu/hoc-thu...s-aquinas.html

    Trích dẫn: Thánh Tôma Aquinô Và Sự Hài Hòa Tự Nhiên Giữa Đức Tin Và Lý Trí http://www.daminhvn.net/tai-lieu/hoc...la-ly-tri.html

    Ngày 2 tháng 6 vừa qua, trong buổi triều yết chung tại quảng trường Nhà Thờ Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã có bài giáo lý sau đây về Thánh Tôma Aquinô, người mà Đức Thánh Cha cho hay được Giáo Hội gọi là Thánh Tiến Sĩ Chung (Doctor Communis).

    Trích dẫn thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” của vị tiền nhiệm là Đức Gioan Phaolô II, Đức GH Bênêđíctô XVI nói rằng “Giáo Hội rất có lý khi nhất quán tôn phong Thánh Tôma là bậc thầy của tư duy và là một mẫu mực cho việc nghiên cứu thần học cách đúng đắn” (số 43). Bởi thế, không ai ngạc nhiên khi Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo trích dẫn Thánh Tôma đến 61 lần, chỉ sau Thánh Augustinô. Ngài cũng được xưng tụng là Tiến Sĩ Thiên Thần (Doctor Angelicus), có lẽ vì nhân đức của ngài, nhất là nét cao quí trong suy tư và nét trong trắng trong cuộc sống của ngài.

    Thánh Tôma sinh giữa các năm 1224 và 1225 trong lâu đài mà gia đình qúi phái và giầu có của ngài sở hữu tại Roccasecca, ngoại ô Aquino và gần đan viện Montecassino nổi tiếng, nơi ngài được gửi tới để tiếp nhận nền giáo huấn đầu đời. Khoảng một năm sau, ngài được gửi tới Naples, thủ phủ Vương Quốc Sicily, nơi Frederick II từng lập một đại học nổi tiếng. Tại đó, ngài được học hỏi không giới hạn tư tưởng của Aristốt, một triết gia Hy Lạp. Ngài lãnh hội ngay được các giá trị vĩ đại của triết gia này.

    Nhưng quan trọng hơn cả là trong thời gian ở Naples, ngài đã khám phá ra ơn gọi đi tu Dòng Đa Minh. Thực vậy, Thánh Tôma rất say mê lý tưởng của vị sáng lập ra Dòng này, một Dòng mới được Thánh Đa Minh lập cách đó không lâu. Tuy nhiên, khi mặc áo Dòng, ngài bị gia đình chống đối và buộc phải rời tu viện trở về sống với gia đình.

    Năm 1245, lúc đã trưởng thành, ngài được tự do theo đuổi con đường đáp lại tiếng Chúa mời gọi. Sau đó, ngài được gửi qua Paris học thần học dưới sự hướng dẫn của một vị thánh khác là Thánh Cả Albertô. Giữa hai vị nẩy sinh một tình bạn thâm giao đến độ khi được yêu cầu qua Cologne thiết lập một trung tâm nghiên cứu thần học, Thánh Albertô đã đem theo cả người học trò yêu qúi của mình là Tôma Aquinô. Nhờ sự hướng dẫn và giải thích của Thánh Albertô, Thánh Tôma đã nghiên cứu mọi công trình của Aristốt cũng như các công trình chú giải của các soạn giả Ả Rập.

    Trong khoảng thời gian này, nền văn hóa của thế giới La Tinh đã được kích thích một cách sâu sắc nhờ gặp gỡ các công trình của Aristốt, những công trình từng bị lãng quên từ trước đến nay. Đây là những trước tác đề cập tới bản chất của nhận thức, tới các khoa học tự nhiên, tới siêu hình, tới linh hồn và đạo đức học, rất giầu thông tri và trực giác có giá trị và có sức thuyết phục. Chúng đem lại một thế giới quan hoàn bị lúc chưa có Chúa Kitô và trước thời Chúa Kitô, một thế giới quan chỉ dựa vào lý trí, và xem ra buộc lý trí phải nhận như là thế giới quan duy nhất; cho nên, giới trẻ hồi đó rất thích thú được đọc và được biết nền triết học này. Tuy nhiên, trong khi nhiều người say mê tiếp nhận kho tàng học thuật cổ xưa và vĩ đại này, say mê một cách nhiều khi thiếu cả phê phán, coi nó như có khả năng canh tân văn hóa một cách có lợi, và mở ra nhiều chân trời hoàn toàn mới mẻ, thì cũng có người sợ rằng tư tưởng ngoại đạo của Aristốt đi ngược lại đức tin Kitô Giáo, nên họ từ khước không học hỏi nghiên cứu gì về ông. Ở đây, có sự đụng độ của hai nền văn hóa: nền văn hóa tiền Kitô Giáo của Aristốt dựa hẳn vào lý tính, và nền văn hóa Kitô Giáo cổ điển.

    Một số môi trường khiến người ta bác bỏ Aristốt. Các trình bày về nền triết lý này của các nhà chú giải Ả Rập như Avicenna và Averroes cũng góp phần vào viếc bác bỏ ấy. Thực ra, chính những nhà chú giải này đã lưu truyền nền triết học Aristốt cho thế giới La Tinh. Cụ thể, họ dạy rằng con người không có một trí hiểu có tính bản vị, mà chỉ có một trí hiểu phổ quát, một bản thể tâm linh chung cho mọi người. Một trí hiểu hành động trong mọi người như thể “chỉ là một”. Họ đã phi bản vị hóa con người. Một điểm gây tranh luận khác của các nhà chú giải Ả Rập là thế giới cũng vĩnh hằng như Thiên Chúa. Tất nhiên, nhiều tranh luận bất tận đã diễn ra trong đại học và các giới Giáo Hội. Triết học Aristốt vì thế phổ biến khắp nơi, cả trong giới bình dân.

    Dưới sự hướng dẫn của Thánh Albertô, Thánh Tôma Aquinô đã tiến hành một công trình có tầm quan trọng căn để đối với lịch sử triết học và thần học, nói cách khác, đối với lịch sử văn hóa: ngài nghiên cứu Aristốt và các nhà chú giải ông một cách sâu sắc, tạo ra các bản La Tinh dịch từ nguyên bản Hy Lạp. Như thế, ngài không còn tùy thuộc các nhà chú giải Ả Rập nữa, mà đọc thẳng từ nguyên bản, và đích thân chú giải phần lớn các công trình của Aristốt, nhờ thế phân biệt được điều có giá trị và điều đáng hoài nghi hay cần phải bác bỏ, chứng minh được sự đồng thanh đồng khí với các biến cố của lịch sử mạc khải Kitô Giáo và sử dụng tư tưởng Aristốt một cách đầy đủ và sắc bén để trình bày các trước tác thần học do ngài biên soạn. Tóm lại, Thánh Tôma Aquinô cho ta thấy có một sự hài hòa tự nhiên giữa đức tin Kitô Giáo và lý trí. Đó là công trình vĩ đại của Thánh Tôma, người mà ở thời điểm giao thoa giữa hai nền văn hóa, thời điểm dường như đức tin phải đầu hàng lý trí, đã chứng minh được rằng chúng đi đôi với nhau, rằng điều xem ra lý trí không thể tương hợp với đức tin thực ra không phải là lý trí, và điều xem ra là đức tin không phải là đức tin bao lâu nó đi ngược lại lý tính chân thực; như thế, ngài đã tạo được một tổng hợp mới, một tổng hợp lên khuôn cho cả nền văn hóa của các thế kỷ về sau.

    Nhờ có được những khả năng tri thức ngoại thường, Thánh Tôma được triệu về Paris giữ ghế giáo sư thần học do Dòng Đa Minh nắm giữ. Tại đây, ngài cũng bắt đầu cho xuất bản các trước tác của mình, một công việc được ngài theo đuổi tới lúc qua đời, một công việc tuyệt vời: các chú giải Thánh Kinh, vì trước nhất, giáo sư thần học là người phải giải thích Thánh Kinh, các chú giải các trước tác của Aristốt, những công trình lớn lao có tính hệ thống, trong đó trổi vượt hơn cả phải kể Bộ Summa Theologiae (Tổng Luận Thần Học), nhiều khảo luận và giảng khóa về nhiều vấn đề khác nhau. Trong khi trước tác, ngài được một số thư ký giúp đỡ, trong đó có Thầy Reginald thành Piperno, người đã trung thành đi theo ngài và kết tình huynh đệ thâm hậu, hết dạ tin tưởng và tín thác nhau. Đây cũng là một đặc điểm của các vị thánh: kết tình bằng hữu, vì đây là một trong những biểu hiện cao thượng nhất của trái tim con người và chính trong biểu hiện này, ta cũng thấy một điều gì đó hết sức thần thiêng. Chính Thánh Tôma đã giải thích điều này trong Tổng Luận Thần Học khi viết: “Bác ái là tình bằng hữu của con người trước nhất với Thiên Chúa, rồi với những hữu thể thuộc về Người” (II, q.23, a.1).

    Ngài không lưu lại Paris lâu và đều đặn. Năm 1259, ngài tham dự Tổng Hội Dòng Đa Minh tại Valenciennes trong đó, ngài là thành viên ủy ban thiết lập ra chương trình học tập của Dòng. Rồi từ năm 1261 tới năm 1265, Thánh Tôma sống tại Orvieto. Đức GH Urban IV, vị GH rất qúi mến ngài, ủy nhiệm cho ngài việc soạn thảo các bản văn phụng vụ cho Lễ Mình Thánh Chúa, được thiết lập sau phép lạ Thánh Thể tại Bolsena. Thánh Tôma có một tâm hồn tuyệt diệu về Thánh Thể. Những thánh thi tuyệt vời mà phụng vụ Giáo Hội ca hát ngày nay để mừng kính mầu nhiệm Mình và Máu Thánh Chúa thực sự hiện diện trong Phép Thánh Thể đã được gán cho lòng tin và sự khôn ngoan về thần học của ngài. Từ năm 1265 tới năm 1268, Thánh Tôma cư ngụ tại Rôma, nơi có lẽ ngài điều khiển cơ sở Studium tức Nhà Học Của Dòng và cũng là nơi ngài khởi sự viết bộ Tổng Luận Thần Học (Xem Jean Pierre Torrell, Thomas Aquinas: The Man and the Theologian, Casale Monf., 1994, pp. 118-184).

    Năm 1269, ngài lại được triệu về Paris để bắt đầu vòng dạy học thứ hai. Các sinh viên dĩ nhiên rất hứng khởi đối với các giảng khóa của ngài. Một trong các cựu sinh viên của ngài cho hay con số các sinh viên dự các khóa giảng của ngài đông đến nỗi không có lớp học nào đủ chỗ cho họ. Anh còn nói thêm “đối với anh, được nghe ngài là một niềm hạnh phúc sâu xa”. Tuy nhiên, lối giải thích Aristốt của Thánh Tôma không phải ai ai cũng chấp nhận, có điều chính kẻ thù của ngài trong giới khoa bảng, như Goffredo di Fontaines, chẳng hạn, cũng phải nhìn nhận rằng học lý của Thầy Tôma cao hơn học lý của những người khác vì tính hữu dụng và giá trị của nó, nó được dùng để sửa sai các học lý của các bậc tiến sĩ khác. Có lẽ muốn tránh cho ngài khỏi những cuộc tranh luận sôi nổi ấy, các bề trên đã phái ngài tới Naples một lần nữa để phục vụ Vua Charles Đệ Nhất, người đang có dự định tái tổ chức việc học tại đại học.

    Song song với việc nghiên cứu và giảng dạy, Thánh Tôma cũng dành nhiều thì giờ giảng thuyết cho giáo dân. Và giáo dân tới nghe ngài rất đông. Quả là một hồng ân lớn lao khi các thần học gia biết đơn sơ và sốt sắng nói truyện với người tín hữu bình dân. Ngược lại, thừa tác vụ giảng thuyết cũng giúp các học giả thần học biết được tính thực tại mục vụ lành mạnh và làm giầu hơn việc tìm tòi nghiên cứu của mình nhờ được kích thích.

    Những ngày tháng sau cùng trong cuộc đời dương thế của Thánh Tôma đã được bao phủ bằng một bầu không khí đặc biệt, đúng hơn, một bầu không khí bí nhiệm. Thực vậy, tháng 12 năm 1273, thánh nhân cho gọi người bạn và thư ký riêng của mình là Thầy Reginald tới để báo cho thầy hay quyết định ngưng hết mọi việc lại vì trong khi đang cử hành Thánh Lễ, nhờ một mạc khải siêu nhiên, ngài hiểu ra rằng tất cả những gì ngài trước tác cho tới lúc đó đều chỉ là “một đống rơm”. Quả đây là một thời kỳ bí nhiệm, nó giúp ta hiểu không những tính khiêm nhường của Thánh Tôma, mà còn cả sự kiện này là mọi thành công của ta trong tư duy cũng như trong phát biểu về đức tin, dù cao xa và tinh ròng bao nhiêu, cũng còn xa vời vợi chưa nói được gì về sự cao cả và vẻ đẹp của Thiên Chúa, sự cao cả và vẻ đẹp ta chỉ được mạc khải đầy đủ trên Thiên Đàng mà thôi. Mấy tháng sau, lúc đang để hết tâm trí vào việc suy niệm như thường lệ, ngài qua đời trên đường đi Lyon để tham dự công đồng chung do Đức GH Grêgôriô X triệu tập. Ngài mất tại Đan Viện Dòng Xi Tô ở Fossanova, sau khi chịu Của Ăn Đàng một cách hết sức sốt sắng.

    Có thể tóm tắt cuộc đời và giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô vào câu truyện do các nhà viết tiểu sử hồi đó truyền lại. Vào một buổi sáng kia, khi đang cầu nguyện, như thói quen, trước tượng chịu nạn tại nhà nguyện Thánh Nicholas ở Naples, ông từ nhà nguyện, Domenico da Caserta, nghe thấy một cuộc đối thoại đang diễn ra. Thánh Tôma lo ngại lên tiếng hỏi xem những điều ngài viết về các mầu nhiệm của đức tin Kitô Giáo có đúng không. Thì Tượng Chịu Nạn trả lời: “Tôma ạ, con viết về Thầy hay lắm. Con muốn Thầy thưởng con điều gì?”. Câu trả lời của Thánh Tôma là điều hết thẩy chúng ta, bằng hữu và môn đệ của Chúa Kitô mọi thời, đều muốn thưa: “Lạy Thầy, không gì khác mà là chính Thầy!” (Đã dẫn, tr.320).
    Vũ Văn An

  5. #5

    Mặc định

    Thấy kể thánh Toma có cái bụng rất bự, đến mức ngồi vào cái bàn bình thường thì khó ăn uống và viết lách, nên có 1 cái bàn được khoét 1 cung tròn để Ngài dễ bề làm việc, hiện nay cái bàn đó vẫn còn.Bạn nào có đường link ảnh thì up giùm :)

  6. #6

    Mặc định

    Tâm tình của thánh Thomas Aquinas nè, thánh nhân là nhà thần học lỗi lạc nhưng hết sức khiêm nhường. Xin thánh nhân giúp chúng ta biết noi gương ngài.
    LỜI KINH DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...Gy7gj7m4ymZH9w

    Bản dịch : Minh Thông
    từ nguyên bản tiếng Pháp trong tuyển tập
    PRIÈRES DE SAINT THOMAS D' AQUIN
    do P.S.R xuất bản 1992

    Lạy Chúa là Cha rất nhân từ,
    xin ban cho con những điều làm vui lòng Cha,
    đó là niềm khao khát mãnh liệt, sự tìm kiếm cách khôn ngoan,
    sự nhận biết cách chân thật, thực hành cách hoàn hảo
    để ca tụng và tôn vinh danh Cha.

    Xin Cha hãy sắp đặt đời sống con.
    Khi con làm những điều Cha mong muốn,
    xin Cha hãy soi sáng để con nhận biết,
    xin Cha nâng đỡ để con hoàn thành.
    Chớ chi điều đó là cần thiết,
    chớ chi điều đó là mưu ích cho phần rỗi linh hồn con.

    Lạy Cha, chớ chi con đến với Cha
    bằng con đường chắc chắn, ngay thẳng, thênh thang và đưa đến cùng đích;
    một con đường không bị lầm lạc vào giữa thịnh vượng và nguy nan.
    Chớ chi con biết tạ ơn Cha
    trong khi thịnh vượng và biết kiên tâm khi gặp nguy nan.

    Xin đừng để con tự kiêu, cũng xin đừng để con ngã lòng.
    Chớ chi không có điều gì làm con vui lòng cũng như làm con buồn lòng
    ngoài điều dẫn con đến với Cha hoặc làm con xa lìa Cha.
    Chớ chi khi con muốn làm vui lòng hoặc sợ làm phật lòng ai
    thì điều đó con biết dành cho Cha.

    Chớ chi mọi điều là đê hèn dưới mắt con được biến tan đi vì Cha
    và chớ chi mọi điều trở nên quí giá cho con đều là lĩnh nhận ở nơi Cha.
    Vâng chính Cha. lạy Thiên Chúa của con, Cha là trên hết mọi sự.
    Chớ chi tất cả mọi niềm vui đều khiến con mệt mỏi, nếu thiếu vắng Cha,
    chớ chi con không ước mong gì hơn là chính Cha.

    Chớ chi mọi công việc, lạy Cha,
    đều khiến con thích thú, nếu nó được thực hiện vì Cha,
    và chớ chi mọi nghỉ ngơi không thể nào chịu nỗi nếu vắng bóng Cha.
    Xin cho con biết năng hướng tâm hồn lên Cha,
    và khi yếu đuối biết đánh giá đúng khuyết điểm của mình với niềm đau khổ,
    với một quyết tâm chắc chắn phải cải thiện.

    Lạy Cha là Thiên Chúa của con,
    xin cho con biết vâng phục và không cãi lại,
    biết sống nghèo và đừng bội ước,
    biết sống khiết tịnh và không hủy hoại,

    biết nhẫn nại và đừng phản kháng,
    biết khiêm tốn thức tỉnh và không giả bộ,
    biết vui thú mà không phung phí,
    biết đau buồn mà không chán nản,

    biết kiên định mà không cứng nhắc,
    biết hoạt bát mà không nông nổi,
    biết e dè mà không thối chí,
    biết chân thành mà không với thái độ hai lòng,

    biết làm điều tốt mà không huênh hoang tự đắc,
    biết chấp nhận người khác mà không với thái độ tự cao,
    biết xây dựng lời nói và gương sáng mà không giả hình làm bộ.

    Lạy Cha là Thiên Chúa của con,
    xin ban cho con một trái tim thức tỉnh,
    để không một tư tưởng hão huyền nào kéo con xa Cha,
    một tấm lòng cao thượng,
    để không một tình cảm đê tiện nào có thể hạ thấp con,

    một tấm lòng ngay thẳng
    để không một ý đổ mập mờ nào có thể làm cho con ra xiên xẹo,
    một tấm lòng kiên vững
    để không một nghịch cảnh nào có thể làm con nản lòng,
    một tấm lòng tự chủ để không một đam mê mãnh liệt nào lấn át được.

    Lạy Cha là Thiên Chúa của con,
    xin ban cho con một trí khôn để nhận biết Cha,
    một thái độ sốt sắng mau mắn kiếm tìm Cha,
    một sự khôn ngoan tìm gặp Cha, một cuộc đời làm vui lòng Cha,
    một tấm lòng kiên trinh chờ đợi Cha
    với niềm phó thác và niềm tin tưởng rằng cuối cùng sẽ chiếm được Cha.

    Xin ban cho con biết cảm thương
    với nỗi đau thương của Cha qua cuộc sống khổ hạnh,
    biết sử dụng nẻo đường ân phúc của Cha bằng ân sủng Cha ban,
    biết vui hưởng niềm vui của Cha, nhất là vinh quang trong Nước Cha.
    Amen.

  7. #7

    Mặc định

    Thánh Toma Aquino, một con người mẫu mực của sự khiêm nhường và cầu nguyện


    Từ trước tới nay, phàm ai làm người mà không hiểu cái đạo khiêm nhường…Thánh Toma Aquino là mẫu gương của điều này…

    Đọc qua tiểu sử của Ngài, ai không thấu rõ chữ “Khiêm” trong con người ấy.

    Tôma khấn dòng ở Naples, rồi tới đại học Colonia. Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình. Không khi nào Ngài đã để cho người ta biết rằng Ngài chính là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả. Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài. Như người ta kể lại, một ngày nọ, có một bạn học giảng bài cho Ngài(Trong khi đó, Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn). Đó là thói câm lặng của Toma. Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn. Người ta gọi ngài là "chú bò câm thành Sicile". Thánh An-bê-tô đã nói tiên tri rằng:
    - Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới.

    Trong Dòng, ngài tránh xa những cuộc đàm luận vô ích và khi khách bắt đầu nói chuyện phiếm thì ngài bỏ đi thẳng, không cần biết người đó là ai.
    Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em. Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, đã bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác. Lập tức Tôma sửa lại liền. Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:
    - Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

    Khiêm tốn, vâng phục…Liệu chăng mỗi cái “tôi” trong bạn và trong tôi có chịu cho chúng ta “phát âm” lại một từ, một ngữ(giống như một đứa trẻ mẫu giáo)!?

    Đức Khiêm là đầu mối các nhân đức khác. Kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” của người Công giáo chúng ta đã đề cao đức Khiêm nhượng lên hàng đầu: “Thứ nhất Khiêm nhượng chớ Kiêu ngạo”. KHIÊM NHƯỢNG - KIÊU NGẠO là cặp phạm trù đối lập nhau. Một vị chức sắc cao cấp của một tôn giáo nọ sau nhiều năm nghiền ngẫm đã đưa ra một số nguyên tắc dẫn đến thất bại cần phải tránh, cũng như những nguyên tắc đưa đến thành công cần phải thực hiện và vị chức sắc tôn giáo ấy đặt tên là “Thập đại bại” và “Thập đại thắng”.

    Điều đầu tiên của “Thập đại bại” là: kiêu căng, xem người như máy móc, độc đoán chẳng chịu nghe ai, bảo thủ ý kiến.

    Điều đầu tiên của “Thập đại thắng” là: khiêm tốn trọng nhân phẩm mỗi cá nhân, uyển chuyển linh động, lắng nghe sáng kiến mọi người, rồi suy nghĩ lượng giá.

    Thiết nghĩ, phàm chúng ta là con cái Thiên Chúa, lại là người từng nhận Thánh nhân làm quan thầy nên chúng ta cũng phải học lấy chữ "Khiêm" trong lòng Ngài. Dẫu chúng ta có chút đỉnh tài năng, cũng không nên kiêu ngạo, kiêu ngạo là một thói xấu đến nỗi người ta có câu: “Ai mà kiêu ngạo là kẻ sắp đi đến bước đường cùng”. Người giỏi còn có kẻ giỏi hơn: “Cao nhân tất hữu cao nhân trị”. Hãy dùng chữ KHIÊM làm kim chỉ nam cho cuộc sống của chúng ta!

    Tô-ma khó tin người ta lại phạm tội này tội nọ; trước những yếu đuối của người khác, ngài lấy làm "kinh ngạc", ngài không hiểu tại sao một tu sĩ lại có thể nghĩ đến những điều gì khác ngoài Thiên Chúa. Để chế nhạo sự "ngây thơ" của ngài, một anh em đã nói :
    - Này anh Tô-ma, ra mà xem con bò đang bay.
    Và ngài đi xem thật. Khi bị người ta cười nhạo, ngài trả lời :
    - Tôi tưởng có con bò đang bay còn dễ tin hơn một tu sĩ nói dối.
    Có lẽ tâm hồn Tô-ma thật trong sáng và đầy ân sủng, và Tô-ma tưởng ai cũng như mình hoặc hơn mình.

    Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:
    - Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.
    - Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: “Cái búa mà quân thù bửa xuống”.

    Điều khiến những người chung quanh ngài ngạc nhiên hơn cả chính là tinh thần cầu nguyện của Tô-ma, cầu nguyện nối kết với đời sống trí thức. Nếu như Tô-ma đã dám nói mình học được từ việc cầu nguyện nhiều hơn do học hỏi, thì chính là vì ngài đã cầu nguyện về những gì mình nghiên cứu; và sau đó, lại đem tất cả sức mạnh của trí tuệ vào hoạt động; ngài biết rằng sức mạnh đó không hoạt động được do chính nó, nhưng do ân sủng của Chúa đã thương ban. Nơi Tô-ma, chúng ta thấy rõ mối tương quan mật thiết giữa đời sống cầu nguyện và đời sống trí thức. Chúng ta tìm thấy sự thánh thiện của ngài trong cách thức thực thi đời sống trí thức.

    Thiết nghĩ mỗi con người trẻ nơi chúng ta, những người nhận Thánh nhân làm quan thầy,…cũng nên học lấy cái tinh thần “cầu nguyện” nơi Ngài. Như thánh Gregory thành Nazianzen nói: "Ta phải nhớ đến Chúa nhiều hơn là ta thở”. Mỗi khi ta nhớ tới Ngài là những lúc ta cầu nguyện.

    Tôi nói rằng Tô-ma muốn tự xóa mình đi trước đối tượng và không để lộ ra những tình cảm của tâm hồn mình. Tuy nhiên, những ai học hỏi ngài đều có cảm nhận về một sự hiện diện cá vị mãnh liệt. Cảm nhận đó thật khó mà phân tích. Nơi Tô-ma đó là một sự hiến dâng trọn vẹn bản thân cho công việc của sự khôn ngoan. Nói đến Tô-ma, chúng ta không thể không nghĩ đến câu : "phúc cho những tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được xem thấy Thiên Chúa".

    Xin mượn lại lời cầu nguyện của ai đó: Lạy Chúa, Chúa đã làm cho thánh Tôma trở nên một bậc thầy lỗi lạc vì đã ban cho Người lòng tha thiết sống cuộc đời thánh thiện và hăng say giảng dạy đạo lý cao siêu. Xin Chúa thương mở lòng soi trí để chúng con ngày càng hiểu biết điều Người dạy và ra công bắt chước điều Ngài làm.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 112
    Bài mới gởi: 21-05-2019, 08:28 AM
  2. Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 01-06-2012, 11:51 AM
  3. Tìm hiểu về TĐGCL
    By tinhkhithan in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 33
    Bài mới gởi: 28-06-2011, 05:51 PM
  4. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 13-04-2011, 11:41 AM
  5. Pháp Ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không
    By bachliencu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 05-04-2011, 09:12 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •