Trang 4 trong 7 Đầu tiênĐầu tiên 1234567 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 61 tới 80 trên 130

Ðề tài: Kết thúc của Tây Du Ký - Sự chống lại đạo đức

  1. #61

    Mặc định

    kính huynh ....ngày xưa đệ cũng từng là TỀ THIÊN ....ham chơi bõ mặc SƯ PHỤ ...cũng may nhờ NGUYỆN LỰC các ngài nhắc nhở ...nên bây giờ cũng khá tốt rồi .....cách đây không lâu đệ có viết ....tề thiên chính là chúng ta ..nhưng ko nhớ là viết ỡ đâu ....
    sau này khi ĐÊ hiểu ra thế nào.....và khi hiểu ..lại phãi hợp nhất ....
    đê thành tựu ...
    CŨNG MAY ĐỀ THI KHÔNG KHÓ LẮM nên đệ may mắn dc điễm khá .....đệ nói đây là mong huynh chúc mừng đệ đã tạm thời vượt qua con đường khó khăn ....
    kính huynh
    Last edited by hửu hình .hoại; 15-10-2011 at 03:00 PM.

  2. #62
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hửu hình .hoại Xem Bài Gởi
    kính huynh ....ngày xưa đệ cũng từng là TỀ THIÊN ....ham chơi bõ mặc SƯ PHỤ ...cũng may nhờ NGUYỆN LỰC các ngài nhắc nhở ...nên bây giờ cũng khá tốt rồi .....cách đây không lâu đệ có viết ....tề thiên chính là chúng ta ..nhưng ko nhớ là viết ỡ đâu ....
    sau này khi ĐÊ hiểu ra thế nào Là TÂM ẤN .....và khi hiểu TÂM ẤN ...lại phãi hợp nhất ....
    đê thành tựu KIM CANG BẤT HOẠI ........
    CŨNG MAY ĐỀ THI KHÔNG KHÓ LẮM nên đệ may mắn dc điễm khá .....đệ nói đây là mong huynh chúc mừng đệ đã tạm thời vượt qua con đường khó khăn ....
    kính huynh
    Hoan hỉ ,hoan hỉ !
    Xin chúc mừng cho Lão Đệ ,mong Đệ tinh tấn sau khi nắm được vững đề thi .
    Thôi ráng theo dõi chuổi bài này nha ,còn dăm ba đoạn nữa là hết.
    Chúc Đệ tinh tấn .
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  3. #63
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Nẻo về bên ấy

    Có đi ắt có đến. Cuối cùng, thầy trò Đường tăng cũng đặt chân tới cảnh giới của Phật. Thấy Đường tăng mải mê ngắm cảnh đẹp, Tề thiên nhắc khéo: “Sư phụ những lúc gặp cảnh giả, phật tượng giả thì vội sụp người lạy. Bây giờ gặp cảnh thật, phật tượng thật lại chẳng xuống ngựa là cớ sao?” Tam tạng nghe vậy, vội vàng xuống ngựa, bước tới cửa tòa lầu, nhìn thấy một đạo đồng đứng nghiêng người trước cổng chùa... [TDK X 1988: 156]

    Đọc chậm rãi tới đây, nếu tinh ý một chút, người đọc dừng lại tự hỏi rằng: Sao lạ vậy? Tại sao trước cổng chùa không bố trí một chú tiểu, sa di, tì kheo hay hòa thượng? Tại sao trước cổng chùa lại để một đạo đồng? Phải chăng sơ tâm nên viết lẫn lộn? Đạo đồng sao không đứng nơi đạo quán (Lão, Tiên) mà ra cổng chùa (Thích, Phật) để đón Đường tăng?

    Hỏi, rồi lại đọc thêm xem cớ sự thế nào. Hóa ra, đạo đồng ấy vai vế rất lớn, “đó là Kim đính Đại tiên ở quán Ngọc chân dưới chân núi Linh sơn...” [TDK X 1988: 157]

    Đầu chương nói chùa, bây giờ bảo quán!

    Linh sơn là đất Phật, Đường tăng tìm Phật để thỉnh kinh Phật, ai ngờ đến cõi Phật thì lại gặp... tiên! Và ông tiên đó lãnh nhiệm vụ của Quan âm (Phật) chờ đón người thỉnh kinh Phật! Ngô Thừa Ân phải chăng phóng túng ngòi bút bất chấp sự nhất quán, nhất trí của câu chuyện?

    Nhớ lại trong những hồi trước đây, có nhiều đoạn kể việc Tề thiên đập phá đạo quán, chỉ trích đạo sĩ, lấy nước tiểu giả làm “kim đơn”... [TDK V 1988: 110]. Có người sẽ lầm tưởng rằng Ngô Thừa Ân bài bác Tiên, Lão và cổ vũ riêng cho Phật, Thích. Thực sự không phải thế!

    Tam giáo một nguồn

    Tây du ký dung hòa Tiên, Phật và chủ trương Thích, Lão không khác nhau về con đường giải thoát. Đi Tiên thì về Phật. Đến Thích thì khởi đi từ Lão. Ẩn ý này được thể hiện nhiều chỗ trong toàn bộ Tây du. Chẳng hạn, ở đầu truyện, Tề thiên học đạo Tiên với Bồ đề Tổ sư, rồi sau quy y làm hòa thượng. Và cuối truyện, trước khi vào đất Phật, mấy thầy trò phải dừng chân nghỉ qua đêm ở quán Ngọc chân của Kim đính Đại tiên.

    Có người cho rằng Phật lớn hơn Tiên. Qua Tây du người ta có thể vin vào nhiều chi tiết để cố minh chứng cho quan niệm Tiên thấp hơn Phật. Chẳng hạn: Lão quân, Ngọc hoàng (tiêu biểu cho bên Tiên) không trị được Tề thiên, mà chỉ có Phật tổ Như lai mới nhốt được Mỹ hầu vương dưới Ngũ hành sơn. Hoặc vin ngay câu chuyện Kim đính Đại tiên được cắt cử làm “receptionist” (tiếp tân) trực dưới núi Linh sơn đón khách.

    Ngô Thừa Ân phải chăng đã khéo léo phủ nhận thành kiến đó một cách kín đáo? Bởi lẽ, khi Phật tổ trao kinh Phật cho Đường tăng lại ân cần dặn dò rằng: “Phải quý báu! Phải coi trọng! Bởi trong đó có phép màu đắc đạo thành tiên...” [TDK X 1988: 176]

    Phật trao kinh Phật cho đệ tử Phật, để rồi theo đó con Phật tu hành sẽ đắc đạo thành... Tiên! Như vậy, theo Ngô Thừa Ân, dù Tiên hay Phật, dù Lão hay Thích, sự khác nhau chỉ là danh xưng, hình thức, cốt lõi vẫn là một. Đi xa hơn, Ngô Thừa Ân còn gồm luôn cả Nho vào một bảng giá trị của chân lý giải thoát, tuy rằng về cơ bản Nho hầu như thiên về nhập thế. Quan điểm Tam giáo đề huề, đồng đẳng của họ Ngô đã được tác giả nói ra bằng cách mượn lời Như lai khi trao kinh cho Đường tăng:

    “Công đức của những quyển kinh này không có gì sánh nổi. Tuy là giới luật của cửa ta (Phật môn), nhưng cũng là nguồn dòng của Tam giáo...” [TDK X 1988: 176]

    Lời tâm huyết của Như lai trên điện Lôi âm cũng là lời vua Trần Thái tông sau khi đại ngộ, đã ân cần gửi gấm trong sách Khóa hư lục:

    Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,
    Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.

    Nghĩa là:
    U mê đời lầm lẫm mà coi Tam giáo khác nhau,
    Khi đạt được gốc cội rồi đều giác ngộ một tâm.


    Nói thêm:

    Về chủ trương dung hòa Tam giáo, ngoài Ngô Thừa Ân với Tây du ký, đời Minh còn có Tiên phật hiệp tông ngữ lục (một quyển) do đạo sĩ Ngũ Thủ dương tuyển chọn. Thủ dương là đạo hiệu, còn có hiệu là Xung hư (tử). Theo [Ngô Phong 1994: 1226], trong quyển Tiên Phật hiệp tông, Ngũ Thủ dương đã dung hòa công phu thiền định (nội đan công pháp) của Tam giáo.

    Vì sao quyển sách có tên Tiên Phật hiệp tông? Theo Thủ dương, mục đích luyện đan là thành phật thành tiên, con đường luyện đan là hoàn hư mà hoàn hư là lý luận dung hợp của Nho, Thích, Lão. Ông cho rằng Tiên Phật tu đạo đồng công phu, đồng hiệu quả (đồng công đồng hiệu). Ông viết:

    “Ngộ hữu Tiên khả học, tắc học Tiên tức Phật dã. Ngộ hữu Phật khả nhập, tắc nhập Phật tức Tiên dã.” (Gặp Tiên có thể theo học, học Tiên tức là học Phật vậy. Gặp Phật có thể nhập môn, vào cửa Phật tức là vào cửa Tiên đó.) Lê Anh Minh dịch.

    Đường vô xứ Phật

    Ngủ một đêm tại quán Ngọc chân, hôm sau mấy thầy trò chuẩn bị lên đường. Tề thiên nói với Kim đính Đại tiên: “Sư phụ tôi đang sốt ruột muốn bái Phật, phải đi ngay đừng chậm trễ nữa.”

    Đại tiên cười khà khà dắt tay Đường tăng dẫn vào cửa pháp môn. Nguyên con đường này không ra lối cổng chùa, mà từ gian giữa trong quán, đi xuyên qua lối cửa sau. Đại tiên chỉ Linh sơn nói: “Nơi ấy là núi Linh thứu, thánh địa của Phật tổ đấy.” [TDK X 1988: 158]

    Nói cách khác, muốn đi vô đất Phật, chỉ có con đường một chiều như trên. Không thể nào đi lộn trở ra. Con này đưa vào lối phía sau. Chi tiết này gợi nhớ đến lúc Mỹ hầu vương cầu đạo ở Tà nguyệt Tam tinh động, phải “đi vào bên trong, đóng cửa giữa lại, rồi đi vào lối cửa sau, ở chỗ kín ấy sư phụ sẽ truyền đạo cho.” [TDK I 1982: 55]

    Học tu theo Lão hay Phật, đi vào con đường thiền, tức là hành giả chọn con đường hướng nội (đi vào trong). Đi ra (hướng ngoại), chỉ gặp âm thanh sắc tướng; nói theo Phật, đó là huyễn ảo. Đạo đức kinh, Chương XII có câu: “Vị phúc bất vị mục.” (Vì bụng chứ không vì mắt.) Đó là ám chỉ hành giả phải quay vào, quay vô trong, đừng nhìn ra ngoài, như thế mới gặp được chân, bỏ được giả.

    Theo truyền thống phương Đông, giáo pháp chỉ bày con đường tu thiền phải mật truyền, giống như Bồ đề Tổ sư dạy Hầu vương ở cửa sau, nơi chỗ kín nhiệm. Kinh kệ, cúng bái, cầu siêu, sám hối, lập đàn, v. v... là hình nhi hạ học, là ngoại giáo công truyền (exoterism), dành cho đại chúng.

    Trái lại, con đường đi tìm trăng sao cửa động (tìm tâm) của hành giả cô đơn, âm thầm lặng lẽ, là hình nhi thượng học, là nội giáo tâm truyền (esoterism), hay nói theo Bồ đề Đạt ma ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ Sáu là giáo ngoại biệt truyền. [ Xem bài Nỗi lòng giấy trắng.]
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  4. #64

    Mặc định

    chỉ có người hiểu mới nói dc như thế
    CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG
    CÁM ƠN ĐỜI ĐÃ GIÚP TA HOÀN THIỆN
    ĐỂ MAI NÀY SẼ NỐI CHÍ NHƯ LAI
    GẮNG GẮNG GẮNG ĐỂ THỪA HÀnh PHẬT SỰ
    VÀ...... SẼ LÀ 1 VỘ THƯỢNG PHÁP VƯƠNG
    KÍNH

  5. #65
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hửu hình .hoại Xem Bài Gởi
    chỉ có người hiểu mới nói dc như thế
    CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG
    CÁM ƠN ĐỜI ĐÃ GIÚP TA HOÀN THIỆN
    ĐỂ MAI NÀY SẼ NỐI CHÍ NHƯ LAI
    GẮNG GẮNG GẮNG ĐỂ THỪA HÀnh PHẬT SỰ
    VÀ...... SẼ LÀ 1 VỘ THƯỢNG PHÁP VƯƠNG
    KÍNH
    Hãy đọc những đoạn sau này,để thấy được "TDK" có bài xích ,sự chống lại Đạo Đức" không nha !?

    Càng đọc càng thấy hay vô cùng ,bản thân tôi phải nói là :"Thân phục,khẩu phục cuốn TDk và cả cuốn Giải Mã TDK "
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  6. #66
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Trên bến Lăng vân

    Sau khi từ biệt Kim đính Đại tiên, mấy thầy trò Đường tăng tiếp tục đi tới bến Lăng vân và “nhìn thấy một dòng nước cuồn cuộn, sóng vỗ tung trời, rộng tới tám chín dặm, bốn phía tịnh không một bóng người.” [TDK X 1988: 159]

    “Bến này nguyên chỉ có một cây cầu độc mộc.” Đường tăng không chịu qua cầu, vì lẽ cầu ấy:

    Muôn trượng cao một cọng cầu vồng.
    Trơn như mỡ khó đặt chân...

    [TDK X 1988: 159]

    Tuy nhiên Tề thiên cứ nhất định bảo: “Phải bước qua cây cầu này mới thành Phật được chứ.” [TDK X 1988: 160]

    Cây cầu trớ trêu ấy thực sự nằm chính trong thân con người. Trong phép tu thiền của đạo Lão và Cao đài, hành giả phải uốn cong đầu lưỡi cho đụng vào hàm trên, tạo thành cây cầu nối liền hai bờ, là hàm dưới và hàm trên. Động tác này tạo thuận lợi cho nước miếng tiết ra nhiều. Nước miếng (tân dịch) vốn được các đạo sĩ quý báu, coi là một “vị thuốc” thiên nhiên sẵn có trong thân mỗi hành giả (nội dược), dùng để luyện nội đơn cho thành chánh quả (đắc đạo).

    Giữa lúc Đường tăng còn phân vân chưa dám qua cầu, bỗng có Tiếp dẫn Phật tổ mang thuyền đến rước qua sông. Truyện Tây du tả đoạn này rất khéo: “Tam tạng quay đầu, chợt nhìn thấy phía hạ lưu có một người đang chèo thuyền bơi tới, cất tiếng gọi to: Lên đò! Lên đò!” [TDK X 1988: 160]

    Đọc kỹ đoạn này, cần lưu ý trình tự sự việc. Không phải vì Đường tăng nghe tiếng gọi đò trước mà sau đó mới quay đầu lại. Chính nhờ Đường tăng quay đầu lại trước nên mới gặp người lái đò đang tới.

    Đò là để đưa người qua sông, sang tới bờ bên kia (đáo bỉ ngạn). Đường tăng quay đầu lại nhìn thấy đò tức là gặp được phương tiện để sang bờ bên kia (bỉ ngạn) cũng là bờ giác ngộ (bến giác) hay cõi Phật. Bờ bên này là luân hồi sanh tử (bờ mê).

    Nói rằng Đường tăng quay đầu lại thấy đò, tức là sẽ thấy bờ bên kia; ở đây truyện Tây du muốn ám chỉ bốn chữ của nhà Phật: hồi đầu thị ngạn (quay đầu lại là bờ).

    Con người phàm phu hướng ngoại cứ đi hoài trong cõi hồng trần, lênh đênh trên biển khổ sóng gió chập chùng (khổ hải vạn trùng ba). Nhưng trong tự thân con người đã có sẵn chủng tử của Phật (Phật tính), do đó, một khi con người sực tỉnh dừng bước giang hồ, quay đầu lại thì không còn tiếp tục đi sâu vào biển trần nữa, bến giác sẽ hiện ra.

    Do triết lý đó mà có câu chuyện mười tám ông ăn cướp, vừa mới kịp buông dao giã từ đời oan khiên nghiệp chướng, lập tức đã trở nên thập bát la hán trang nghiêm cho đời sùng mộ, kính ngưỡng.

    Trở lại chuyện chiếc thuyền (hay con đò). Nó không có đáy! Đường tăng hỏi người lái đò: “Thuyền của ngài là thuyền hỏng, không đáy, qua sông làm sao?” [TDK X 1988: 161]

    Thuyền có đáy là thuyền hữu hình cõi tục. Nó chỉ có thể chở khách trần đi từ bờ mê này sang bến mê kia. Thuyền có đáy dù to đến mấy, sức chở người cũng có giới hạn.

    Thuyền không đáy là thuyền vô hình cõi tiên cõi phật. Nó đưa khách trần lìa bến mê sang bờ giác. Nó không đáy mà chở người vô hạn. Không có sóng dữ nào nhận chìm được.

    Chính vì huyền diệu như thế nên thuyền ấy được Phật tổ tán thán rằng:

    Thuyền ta đây:
    Thuở hồng hoang từng nổi tiếng,
    Có ta đây chèo chống giỏi giang.
    Sóng to gió cả vững vàng,
    Không đầu không cuối bước sang cõi lành.
    Quay về gốc, bụi trần chẳng bợn,
    Muôn kiếp đày, thanh thản qua sông.
    Thuyền không đáy vượt trùng dương,
    Xưa nay cứu vớt muôn vàn sinh linh.

    [TDK X 1988: 161]

    Chiếc thuyền trên bến bến Lăng vân chính danh của nó là thuyền bát nhã. Phật gọi cõi đời này là sông mê, biển khổ. Qua sông vượt biển cần phải dùng thuyền. Con thuyền đạo pháp đưa chúng sanh đến bến bờ giải thoát hay niết bàn tịnh lạc chính là trí huệ, còn gọi là bát nhã (prajna).

    Cái trí huệ bát nhã ấy không phải Phật đem trao, ban tặng cho chúng sinh, mà bản thân chúng sinh đã có từ lâu. Nó vô thủy vô chung (không đầu không cuối). Phật chỉ giúp đỡ cho chúng sinh tìm lại cái mà họ đã có sẵn. Phật chỉ là bà đỡ, bà mụ; chúng sinh phải đẻ chứ Phật không đẻ dùm! Chính do ý đó mà trong bài kệ về thuyền bát nhã, câu 2 nói thuở hồng hoang (tiên thiên); câu 5 nói không đầu không cuối (bất sinh bất diệt); câu 3 nói có ta (Phật) đây chèo chống...

    Phật là người đưa đò cho chúng sinh sang bến giác, chúng sinh phải xuống đò, phải tự bước lên thuyền mà sang sông. Nói cách khác, chúng sinh phải tự mình lên đường; Phật chỉ là người dẫn dường dắt lối, cho nên người đến đón thầy trò Đường tăng mới có pháp hiệu là Tiếp dẫn Phật tổ.

    Bát nhã còn gọi là bát nhã ba la mật đa (prajna-paramita). Ba la mật đa (paramita) theo chữ Nho là đáo bỉ ngạn (qua tới bờ bên kia, bờ giác ngộ). Khi Đường tăng quay đầu lại thấy thuyền (hồi đầu thị ngạn), ấy mới chỉ là nhân. Có nhân vẫn chưa đủ, cho nên dù đã được Phật tổ bảo đảm sẽ đi qua tới bến giác, Đường tăng cứ mãi dùng dằng không muốn lên thuyền.

    Phải chăng, đó cũng là tâm lý thế gian: làm phật tiên thời phần đông ai cũng muốn cũng ham, nhưng mà coi lại cõi trần, tuy bản chất (nói theo Phật) là khổ, nhưng hiện tượng (cảm nhận bằng trí phàm phu) cớ sao lại muôn màu muôn vẻ; chèng ơi, vui quá! Cho nên bỏ đi cũng chẳng đành! Bởi vậy, trong Cao đài có bài thơ làm chứng cho nỗi lòng thế nhân ở bên này sông, một chân dợm bước xuống thuyền, mà một chân còn trì vào bờ lưu luyến:

    Điên đảo lòng con nỗi đạo đời,
    Đời con rộn rực luyến mê chơi.
    Đạo thì cũng muốn tu thành Phật,
    Theo đạo thì con lại tiếc đời.

    [Đại thừa chơn giáo 1950: 86]

    Vậy, tuy có nhân rồi nhưng lại cần có thêm duyên. Cái duyên ấy sẽ dồn cho chúng sinh không còn phải lưỡng lự gì cả. Trong cuộc đời, đó là nghịch cảnh. Nghịch cảnh làm con người chán chường phồn hoa vật chất và hồi tâm nghĩ đến chuyện tu hành giải thoát. Ở Tây du, Ngô Thừa Ân mượn tay Tề thiên để tạo ra duyên:

    “Hành giả đứng khoanh tay trước ngực, bất ngờ đẩy mạnh một cái, Tam tạng đứng không vững, rơi đánh ào một cái xuống nước, Phật tổ nhanh tay đỡ lấy, dắt xuống đò. Tam tạng vừa phủi quần áo vừa dậm chân oán trách Hành giả.” [TDK X 1988: 161]

    Tâm lý của Tam tạng “oán trách Hành giả” cũng là tâm lý của Ngưu ma vương và bà La sát (Thiết phiến Công chúa), oán hờn thù ghét Tề thiên, vì Tề thiên đã trợ duyên cho Hồng hài nhi (yêu ma) trở nên Thiện tài Đồng tử nơi cõi Phật, hầu cận Quan âm. Cho nên, cái éo le cay đắng là nhiều khi làm ơn mắc oán.

    Chú: Khi nghe Tề thiên nhận vợ chồng Ngưu ma vương vào vai vế anh chị, vợ Ngưu ma vương (bà La sát) liền trách mắng: “Con khỉ khốn kiếp kia, đã là tình anh em thân thiết, sao lại hại con ta?” (tr. 201). Còn Ngưu ma vương thì quát lên: “... cớ sao lại nỡ hại con ta là Ngưu Thánh anh ở động Hỏa vân, khe Khô tùng núi Hiệu? Ta đang căm giận nhà ngươi...!” [TDK VI 1988; 223]

    Cũng vậy, lịch sử các tôn giáo hoàn cầu, từ Đông qua Tây, từ xưa tới nay, đều có một định lệ gần như bất di bất dịch: Anh mà đem đạo, đưa giáo lý tới cõi đời để cứu đời, thì chính người đời sẽ đóng đinh, sẽ bức tử, giam cầm, dè bỉu, chỉ trích anh thậm tệ. Bởi thế, trên đường sang Thiên Trúc gặp Phật, Đường tăng đâu phải chỉ riêng gặp tai ương với quỷ ma yêu quái, mà Đường tăng còn gặp cả những hiểm nguy giữa con người với con người, đồng loại với đồng loại. (Đường tăng ơi! Muốn đáo bỉ ngạn ư? Muốn đưa người sang sông ư? Nẻo về bên ấy chông chênh lắm!)
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  7. #67
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Nỗi lòng giấy trắng

    Nghe tin báo thầy trò Đường tăng đã đến, “Phật tổ mừng lắm, lập tức xuống chiếu vàng, cho gọi tám vị bồ tát, bốn vị kim cương, năm trăm vị a la hán, ba nghìn vị yết đế, mười một vị đại diệu, mười tám vị già lam vào đứng xếp thành hai hàng, sau đó mới xuống chiếu vàng cho gọi Đường tăng vào.” [TDK X 1988: 164]

    Mở đầu cho việc truyền kinh mà tả tỉ mỉ cảnh đón tiếp long trọng hiếm có như thế nhằm ngụ ý rằng đạo pháp không phải dễ duôi truyền thụ (đạo pháp bất khinh truyền).

    Trong chùa Lôi âm, được diện kiến Phật tổ Như lai tại điện Đại hùng, sau một số nghi lễ cho đủ thủ tục, Đường tăng quỳ lạy và thưa rằng:

    “Muôn xin Phật tổ ra ơn, ban cho chân kinh sớm mang về nước.” Như lai bèn mở miệng từ bi, động lòng thương xót, nói với Tam tạng: “Cõi đông thổ của nhà ngươi (...) người đông vật thịnh, tham lam độc ác, trí trá gian dâm, (...) bất trung bất hiếu, bất nghĩa bất nhân, lừa mình dối người (...) Nay ta có ba tạng kinh có thể siêu thoát khổ não, giải trừ tai ương (...). Các ngươi từ xa xôi tới đây, ta cũng muốn trao cho tất cả mang về, chỉ e người phương đó ngu si lỗ mãng hủy báng chân ngôn, không biết ý chỉ sâu xa trong đạo của ta.” [TDK X 1988: 165-166]

    Trước khi tìm hiểu dụng ý của Ngô Thừa Ân vì sao phải dông dài như thế, cũng nên biết rằng đoạn văn trên đây của Tây du hoàn toàn phù hợp với lịch sử truyền giáo của nhà Phật.

    Ba lần thỉnh pháp

    Lịch sử đạo Phật ở Ấn Độ, khi chép về thời kỳ tu chứng của tu sĩ khổ hạnh Cồ đàm, cho biết rằng lúc đắc quả Phật chánh đẳng chánh giác, ngồi ở gốc cây Ajapala bên bờ sông Ni liên thiền, đức Phật đã trầm tư về vấn đề có nên đem cái đạo pháp giải thoát mà Phật đã tự chứng đắc truyền bá cho người đời hay không, thì mấy lượt ngài đã do dự.

    Lần thứ nhất, đức Phật nghĩ rằng: “Đạo pháp mà Như lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, mà tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu (...) Như lai đã khó khăn lắm mới chứng ngộ được đạo pháp. Không cần phải phổ biến đạo pháp ngay lúc này. Người thế gian còn mang nặng tham ái và sân hận không dễ gì thấu triệt.”

    Liền sau đó, một vị Phạm thiên (Brahma) ở cõi trời đọc được tư tưởng của Phật, liền cầu thỉnh Phật từ bi mà truyền đạo.

    Phật trả lời:
    “Người đời tham ái chìm đắm trong đêm tối, bị đám mây mù tham ái bao phủ, sẽ không thấy được đạo pháp bởi vì đạo pháp đi ngược dòng tham ái. Đạo pháp sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức, và tế nhị. Vì suy gẫm như thế, Như lai chưa quyết định truyền bá đạo pháp.”

    Vị Phạm thiên khẩn nài lần thứ nhì, Phật cũng đáp như thế. Mãi đến khi thỉnh pháp lần thứ ba,

    Phật mới đồng ý và tuyên bố:
    “Cửa vô sanh bất diệt đã mở cho chúng sanh. Hãy để cho ai có tai nghe đặt trọn niềm tin tưởng!” [Narada 1964: 60-63]

    Trương Lương ba lần nhặt dép mới được tiên ông Hoàng Thạch công trao quyển thiên thư. Lưu Bị ba lần hạ mình tới nhà tranh (tam cố thảo lư) mới thỉnh được Khổng Minh. Cái gì khó khăn mới đạt được, càng khó thì đời càng quý, càng trọng. Cái gì dễ dàng có được thì người ta dễ duôi, coi thường. Và chỉ ai biết giá trị của quý mới rán sức đánh đổi tương xứng để đạt được bảo vật đó. Đây cũng là ẩn ý đạo pháp bất khinh truyền.

    Bởi thế, muốn lấy được bảo bối của Phật, tức là thỉnh được kinh mầu nhiệm có thể cứu người thoát vòng luân hồi sinh tử, Đường tăng đương nhiên phải đánh đổi lại cho tương xứng. Đánh đổi cái gì và đánh đổi như thế nào?

    Mật nghĩa việc đánh đổi bình bát

    Truyện Tây du kể rằng: “A nan, Ca diếp dẫn Đường tăng xem khắp tên các bộ kinh một lượt, đoạn nói với Đường tăng: Thánh tăng từ phương Đông tới đây, chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng? Mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho.

    Tam tạng nghe xong nói: Đệ tử là Huyền Trang, vượt đường sá xa xôi, chẳng chuẩn bị được quà cáp gì cả.

    Hai vị tôn giả cười nói: Hà! Hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất.” [TDK X 1988: 168]

    Đọc tơ lơ mơ, lắm người bảo rằng A nan và Ca diếp đòi ăn hối lộ! Thực ra, làm gì có chuyện vòi vĩnh của đút lót ở cửa Phật! Trong mười đại đệ tử của Phật, ông Ca diếp đứng hạng ba, A nan đứng thứ mười, đều đắc quả A la hán, dứt bỏ hết các lỗi lầm (nhứt thiết lậu tận), không lẽ lại vướng lụy vì chút của cải vụn vặt của thế gian ư?

    Theo lịch sử Thiền tông Ấn Độ, Phật Thích ca (Phật tổ) là Sơ tổ, Ca diếp là Nhị tổ, A nan là Tam tổ. Bậc giác ngộ đã lìa thế gian, thoát vòng sanh tử, làm sao có thể mở miệng vòi của lót tay?

    Khi Hành giả (Tề thiên) khiếu nại sự việc bị đòi lễ vật,

    Phật tổ cười nói:
    “Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người [A nan, Ca diếp] vòi lễ các ngươi, ta đã biết rồi. Có điều kinh không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được.” [TDK X 1988: 172]

    Rốt cuộc, khi đổi kinh vô tự để lấy kinh có chữ, Đường tăng vẫn bị đòi dâng lễ vật. “Tam tạng chẳng có vật gì dâng, đành bảo Sa tăng mang ra chiếc bát tộ vàng (...) A nan nhận lấy chiếc bát, tủm tỉm cười.” [TDK X 1988: 173]

    Tại sao Tam tạng chẳng có vật gì dâng? Thực ra Tam tạng còn có hai bảo vật của Phật Quan âm tặng: chiếc cà sa báu và cây thiền trượng. Thế thì tại sao lại chỉ dâng cho A nan chiếc bình bát?

    Trong đời sống xuất gia, bình bát (patra) vốn là biểu tượng của nhà tu khất thực (khất sĩ trì bát). Nhưng chiếc bình bát bằng vàng nguyên là của vua Đường tặng cho ngự đệ (em vua) kết nghĩa. Vì thế, trong tình huống này, nó còn tượng trưng cho của cải và danh vọng ở thế gian.

    Ngoài ra, nói rằng Tam tạng chẳng có vật gì đem theo là ám chỉ kẻ xuất gia tu hành không còn tư hữu (tăng vô nhất vật). Để lãnh kinh báu của Phật, dâng nạp bình bát là ngụ ý: muốn thọ lãnh đạo giải thoát của Phật, con người phải xuất gia, lìa bỏ danh vọng và của cải thế tục.

    Hành động của Đường tăng ở đây là ẩn dụ, có tính cách biểu tượng. Theo truyền thống đạo học thì đạo pháp không thể truyền thụ dễ duôi (đạo pháp bất khinh truyền), cho nên kẻ học đạo, muốn thọ pháp, phải đánh đổi. Đánh đổi có nhiều hình thức.

    Khi Thái tử Cồ đàm tìm đạo giải thoát, Ngài đã phải đánh đổi cả ngai vàng, vợ đẹp, con thơ, cả cuộc sống nhung lụa đế vương. Khi Thần Quang (tức Huệ Khả, Nhị tổ Thiền tông Trung Hoa) cầu đạo với Sơ tổ Bồ đề Đạt ma, và bị từ chối, Ngài đã tự mình chặt lìa cánh tay trái dâng lên thầy. Đó là ngụ ý sẵn sàng đánh đổi sinh mạng phàm phu để thọ lãnh đạo giải thoát tối thượng của thiền môn.

    Vì sao A nan và Ca diếp sợ người sau chết đói?

    Ngoài ý nghĩa đạo pháp bất khinh truyền và phải đánh đổi như trên, cũng nên chú ý đến lời nói của A nan và Ca diếp: “Hai vị tôn giả cười nói: Hà! Hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất.” Tại sao lại là người sau chết đói? Tại sao có chuyện ăn uống nơi đây?

    Xin thưa, đạo giải thoát cũng được gọi là pháp thực. Con người thân xác hữu cơ vốn cần có thực phẩm hữu cơ nuôi dưỡng thì con người tâm linh cũng cần có đạo pháp làm thực phẩm dưỡng nuôi.

    Muốn cho đời này sang đời khác vẫn có được pháp thực nuôi tâm linh con người thì đạo pháp phải được trường lưu. Muốn đạo pháp trường lưu thì phải có con người xứng đáng nắm giữ đạo pháp để xiển dương và hoằng giáo. Đạo tuy thiêng liêng, nhưng bắt buộc phải có vai trò chủ sử của con người. Bởi thế, sách Nho có câu: Nhân năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân.

    Nếu dễ duôi truyền đạo pháp cho người không xứng đáng, chẳng những kẻ ấy không thể hoằng dương được chánh pháp mà còn khiến cho dòng đạo pháp suy tàn, bế tắc. Như thế, đời sau sẽ không còn hưởng được vị ngọt pháp thực nữa, nghĩa là tâm linh con người sẽ “đói”.

    Chính vì lẽ sống còn này mà các bậc giáo tổ ngày xưa trước khi được lãnh trọng trách, đã phải chịu thử thách, chịu “bầm dập” đủ điều từ nội tâm tới thân xác và ngoại cảnh.

    Mạnh tử đã sớm nói rõ điều trọng yếu ấy như sau:

    “Thế nên hễ Trời định phó thác trách nhiệm lớn lao cho người nào, trước hết phải làm cho người ấy khổ não tâm chí, lao nhọc gân cốt, đói khát cầu bơ cầu bất, nghèo nàn thiếu trước hụt sau, và làm rối loạn, điên đảo các việc làm của người ấy. Làm thế để mà phát động lương tâm của người, cho nhẫn kiên tánh tình của người, và gia tăng tài đức còn khiếm khuyết của người.”

    [“Cố Thiên tương giáng đại nhiệm ư thị nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ thân, hành phất loạn kỳ sở vi. Sở dĩ động tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất năng.” Mạnh tử: Cáo tử, chương cú hạ, 15.]

    Trở lại với việc A nan và Ca diếp đòi lễ vật. Ngoài những ý nghĩa hàm ngụ như đã trên đây, hư cấu sự kiện này còn để gài vào một tình tiết hợp lý là lãnh kinh không chữ và đổi kinh có chữ.
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  8. #68

    Mặc định

    trên cả tuyệt vời ....ngày xưa khi ĐỨC BÔN SƯ ...cho đệ ăn ..cái gì đó .và ngài nói rằng
    nhà ngươi chĩ có thể hiễu điều này bằng thiền định .....phải đến gần 30 năm sau ...đệ mới hiểu ĐÓ CHÍNH LÀ PHÁP VỊ ......
    HAY THAY ..LÀNH THAY ....HOAN HỸ HOAN HỶ ...
    CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG
    KÍNH HUYNH

  9. #69
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Từ kinh vô tự đến kinh hữu tự (pháp vô vi ra pháp hữu vi)

    Thoạt đầu, A nan và Ca diếp trao kinh không chữ (kinh vô tự), các quyển kinh toàn giấy trắng! Phật tổ dạy thầy trò Đường tăng: “Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay.” [TDK X 1988: 172]. Tuy vậy, Phật cũng đồng ý cho đổi lấy kinh có chữ. Then chốt ở đây là kinh vô tự có trước rồi sau mới có kinh hữu tự. Nó đúng với lịch sử truyền pháp của đạo Phật và nhiều tôn giáo khác ở phương Đông.

    Khai sáng Phật giáo là Thích ca. Khi Thích ca đi tu, không có tụng kinh, không có lễ bái, dộng chuông, thắp nhang, đốt sớ. Thích ca đắc đạo, chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác (a nậu đa la tam miệu tam bồ đề) thì Ngài vốn không có thầy. Không thầy, không kinh, biết lấy chi bám víu mà đạt đạo? Ngài chỉ nhờ giác ngộ được bổn tâm của mình. Bằng con đường tham thiền mà Ngài giác ngộ. Kinh vô tự ám chỉ pháp môn thiền. Thiền hay nội giáo tâm truyền (esoterism) dành cho những bậc đại căn đại trí.

    Khi Phật truyền tâm ấn cho Nhị tổ Ca diếp, cũng không có văn tự. Sử chép rằng: Ngày kia, Phật tại núi Linh Thứu, trước đông đảo đệ tử Phật bắt đầu thuyết pháp bằng cách im lặng (vô ngôn) và cầm một cành hoa đưa lên trước đại chúng (niêm hoa).
    Mọi người bàng hoàng chẳng hiểu ý chi. Riêng đại đệ tử thứ ba là Ca diếp nhoẻn miệng cười (vi tiếu).
    Phật thấy Ca diếp đã lãnh hội được, bèn truyền tâm ấn cho Ca diếp làm Nhị tổ Thiền tông với lời lẽ như sau:

    “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, vi diệu pháp môn, thực tướng vô tướng, kim phó chúc Ma ha Ca diếp.” (Ta có kho tàng con mắt của chánh pháp, tâm huyền diệu của niết bàn, cửa pháp vi diệu, thực tướng vô tướng, nay đem trao lại cho Đại Ca diếp.)

    Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ là Bồ đề Đạt ma qua Trung Quốc làm Sơ tổ Thiền vào năm 520 cũng tóm tắt tôn chỉ lập giáo của Ngài như sau:

    Bất lập văn tự,
    Giáo ngoại biệt truyền.
    Trực chỉ nhân tâm,
    Kiến tánh thành Phật.


    Tôn chỉ của Đạt ma có nghĩa là: Không thông qua chữ nghĩa, không sử dụng kinh điển giáo lý, nhắm thẳng vào nội tâm con người, hễ thấy bổn tánh thì thành Phật.

    Tóm lại, kinh vô tự giấy trắng là biểu tượng của tâm pháp, của thiền môn, là nội giáo, cái mà Khổng tử gọi là hình nhi thượng học (esoterism). Ở Ấn Độ, nó có từ Thích ca, ở Trung Quốc, nó truyền từ Đạt ma.

    Sau khi Phật Thích ca tịch diệt, nhập niết bàn, do nhu cầu truyền giáo, các đại đệ tử mới tổ chức ghi chép lại lời dạy của Phật. Công lao này đứng đầu là A nan. Vì khi Phật còn tại thế, ông A nan được tuyển làm thị giả hầu cận đức Phật, nên ông được nghe Phật thuyết pháp nhiều hơn ai hết, và nhờ có trí nhớ kiểu Lê Quý Đôn, nên đã nghe thì bộ nhớ ghi lại trọn vẹn, không sót một lời.

    Ông nghe kinh nhiều quá thành ra... tu luyện huyền công có phần nào hơi kém cỏi hơn đồng đạo, thần thông đã thua anh em, mà chứng ngộ cũng trễ hơn anh em. Bù lại, ông được tôn là Đa văn đệ nhứt trong mười đại đệ tử; ông tuy hạng nhứt về nghe kinh nhiều, nhưng lại xếp hạng chót trong mười đại đệ tử. (Lý thuyết kém hơn thực hành chăng?)

    Vậy vô vi hay kinh vô tự có trước, về sau mới có kinh hữu tự, hữu vi. Có hữu vi nên mới dựng chùa, đúc chuông, tô tượng Phật, tụng kinh, thắp nhang, đốt sớ, v.v... Con đường truyền giáo này phù hợp cho đại chúng, nó là phổ độ, là hình nhi hạ học, là ngoại giáo công truyền (exoterism).

    Phật pháp truyền từ Thích ca đến Ca diếp đánh dấu bằng tâm ấn niêm hoa vi tiếu, vắng bặt ngôn ngữ.
    Ca diếp là Nhị tổ, truyền đến Tam tổ là A nan thì bắt đầu có tổ chức kết tập kinh điển, văn tự miên man, lời lẽ dằng dặc.
    Cho nên có thể thấy Ca diếp là tiêu biểu cho con đường tâm pháp nội tu (kinh vô tự giấy trắng) và A nan là tượng trưng cho giáo lý công truyền (kinh hữu tự).
    Hiểu như vậy mới cảm nhận được trọn vẹn chỗ tài tình của Ngô Thừa Ân, vì sao lại phải chọn đúng Ca diếp, A nan là người trao kinh cho Đường tăng trong lúc bấy giờ ở điện Đại hùng còn có tám bồ tát, bốn kim cang, mười một đại diệu, mười tám già lam, năm trăm la hán, và ba ngàn yết đế [TDK X 1988: 164].

    Kinh vô tự bị đem trả lại chùa Lôi âm để đổi lấy kinh hữu tự! Đó là con đường mà tâm pháp bị hữu vi hóa, đạo pháp thất chơn truyền. Ở Trung Hoa đó là hình ảnh mà thiền (tâm pháp) từ Bồ đề Đạt ma truyền xuống Lục tổ Huệ Năng thì rẽ ngang nhánh Thần Tú (ngoại giáo). Cũng là hình ảnh của đạo Lão từ Lão tử truyền xuống tới Trương Đạo Lăng thì biến ra âm thanh sắc tướng.

    Theo Phật, Lão và Cao đài, chỉ có thực hành thiền (nội tu) mới có thể giải thoát thực sự. Ngoài ra, tu kinh tu kệ thì chỉ là lý thuyết. Giáo lý chỉ có thể giúp con người sáng suốt, trang bị thêm một mớ kiến thức chữ nghĩa chứ không biến được phàm phu ra phật ra tiên. Nói cách khác, tu bằng kinh hữu tự con người chưa thể đáo bỉ ngạn để qua tới bến bờ giác ngộ. Kinh hữu tự không thể đưa con người đến rốt ráo của giải thoát. Ý chỉ sâu sắc đó được Ngô Thừa Ân diễn tả bằng việc phơi kinh ướt ở bờ sông Thông thiên [TDK X 1988: 189], bị mất hết mấy tờ cuối quyển. Đọc kinh mà không tới chung kết cũng giống như tu hành mà không đạt kết quả (không giải thoát).

    Trở lại với lời cảnh tỉnh của Phật tổ trước lúc trao kinh cho Đường tăng:

    “... chỉ e người phương đó ngu si lỗ mãng huỷ báng chân ngôn, không biết ý chỉ sâu xa trong đạo của ta.” [TDK X 1988: 166].

    Kinh giấy trắng cao siêu quá, tuy không hủy báng, nhưng đã đặt vào tay mà còn đem trả lại, cũng gần như là chê bỏ!

    Không ai giao sách cho người không biết đọc. Kinh vô tự của Phật vì vậy không đọc được bằng nhục nhãn (mắt thịt). Nhục nhãn chỉ đọc đưọc kinh hữu tự không toàn vẹn (thiếu trang chót). Kinh vô tự phải đọc bằng tâm, bằng nghị lực tự thắng của hành giả cô đơn. Và như thế, nỗi lòng giấy trắng không phải để san sẻ cho đại chúng bì phu, mà chỉ hiện chữ cảm thông cho riêng ai âm thầm với trăng sao soi cửa động.

    Tâm lập

    Giải mã truyện Tây du, bài Sáu bảy mười ba giải về thập tam ma (lục dục, thất tình). Để hàng phục tâm, chuyện không dễ. Mà khi tâm đã hàng phục rồi, thì sao? Bức ảnh thiền trên đây viết rất đẹp hai chữ Tâm lập.

    Tâm lập mang ý nghĩa gì? Tâm lập nghĩa là tâm đã đứng vững vàng, đã an định, không còn điên đảo trước mọi yếu tố đảo điên.

    Lòng ta ta đã chắc rồi,
    Dễ ai giục đứng giục ngồi mà nao.
    Dù ai nói ngả nói nghiêng,
    Ta đây vẫn vững như kiềng ba chân.
    Dù ai nói đông nói tây,
    Ta đây vẫn vững như cây trên rừng.

    Làm sao đạt được tâm lập?

    Lục dục, thất tình. Mười ba cái đó bủa vây tấn công lòng người. Chúng làm cho tâm phàm thoạt vầy thoạt khác, như khỉ vượn lăng xăng nhảy nhót chuyền leo (tâm viên: vượn lòng). Tâm không trụ, cứ bôn ba chạy theo cảnh đời bôn ba, như ngựa hoang rong ruổi mặc tình (tâm mã: ngựa lòng).
    Lòng người có khi chợt nổi sóng triều dâng, cuồn cuộn vì ham muốn, vì khát vọng (tâm ba: sóng lòng). Có khi nung nấu bừng bừng, như lửa cháy đốt thiêu vì phẫn nộ, sân hận (tâm hỏa: lửa lòng).
    Tâm như thế không phải là tâm thanh tịnh, mà chỉ toàn những cặn cáu, bụi bặm quậy lên ngầu đục (tâm cấu, tâm trần: bụi bặm trong tâm).

    Thiền nhà Phật dạy thế nhân con đường minh tâm kiến tánh. Sáng lòng thấy tánh thì giác ngộ, đắc đạo, thành phật thành tiên. Nhưng tâm phàm vốn chất chứa đủ thứ rộn ràng, vốn đa mang bộn bề hệ lụy thì làm sao minh tâm để được sáng lòng? Hẳn nhiên không dễ! Cho nên, sự uy hùng của con người không phải là chiến thắng muôn vạn hùng binh giữa chốn chiến trường hòn tên mũi đạn; sự uy hùng của con người nằm ở một mặt trận khác, tuy rằng cuộc chiến thầm lặng, cô đơn, không có máu me xương thịt tan tành mà lại vô cùng dữ dội, cực kỳ quyết liệt.
    Mặt trận đó nơi đâu? Thưa rằng, kinh Pháp cú còn ghi lời Phật dặn dò:

    "Chiến thắng vạn quân không bằng tự thắng mình. Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất."

    Kẻ nào tự thắng chính bản thân mình, đó mới đích thực là con người đại hùng đại lực. Tu sĩ Cồ đàm đã tự thắng nên được xưng tán là Đại hùng. Chánh điện trang nghiêm thờ Phật Thích ca vì thế được tôn xưng là Đại hùng bửu điện.

    Đề tài hàng phục tâm thể hiện rõ trong ảnh thiền Tâm lập. Thanh gươm và cái khiên là hình ảnh tượng trưng cho chiến sĩ, hay trang kiếm khách. Kiếm khách này không chinh phục tha nhân mà chỉ chinh phục bản tâm. Trận chiến không diễn ra ngoài nội tâm mà chỉ là những trận quyết đấu một mất một còn ở nội tâm để đoạn trừ thập tam ma (lục dục, thất tình), cũng như mọi thứ phiền não chướng ngại khác ngõ hầu chuyển hóa tâm trần cấu đảo điên trở thành tâm thanh tịnh, an định.

    Trong trận chiến tưng bừng khốc liệt giữa thầm lặng cô đơn, vũ khí duy nhất của kiếm khách chính là trí huệ. Phải dùng trí huệ để đoạn diệt mọi chướng ngại. Như dùng dao bén gươm sắc mà chặt đứt lìa tất cả. Trong ý nghĩa biểu tượng đó, các thiền sư mệnh danh trí huệ là huệ kiếm, huệ đao.

    Kinh Duy ma cật chép:
    “Dĩ trí huệ kiếm phá phiền não tặc.” (Lấy gươm trí huệ phá giặc phiền não.)

    Tương tự, trong truyện thơ Quan âm Thị Kính, dân gian Việt Nam có câu:

    Này gươm trí huệ mài đây,
    Bao nhiêu phiền não cắt ngay cho rồi.

    Đối với những hành giả trót đã chọn đời kiếm khách độc hành, mang gươm cất bước vào cõi tịch liêu trên dặm trường thiên lý quay về nội tâm cô đơn, thì mọi phiền não, mọi chướng ngại của tâm cũng chính là những nợ nần cần phải thanh toán một lần cho sạch sẽ.

    Kinh cầu siêu Cao đài có câu:

    Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,
    Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.


    Nhìn lại ảnh thiền Tâm lập, thấy rõ thanh gươm hãy còn nằm nguyên trong bao. Và để gác lên tấm khiên. Thanh bình thay, yên ả thay! Cuộc chiến đã tàn. Chàng hiệp khách năm xưa nay đã rửa tay gác kiếm rồi. Tâm ấy thôi không còn gì phong ba phiền não. Trên mặt tấm khiên, hình con rồng như nét vẽ trang trí, mà cũng như nói xa nói gần đến thuật ngữ của thiền gia đạo Lão và hành giả Cao đài:

    Hàng long phục hổ (thu phục rồng cọp).

    Trong trận chiến riêng tư của từng kiếm khách với thập tam ma, bao giờ mới có thể rửa tay gác kiếm? Câu trả lời chẳng dễ, vì thời gian không hề được định mức ở đây. Đức Khổng tử phải đến bảy mươi tuổi mới dám bảo tâm đã định, đã lập, bấy giờ tâm muốn sao cũng có thể chìu theo vì không còn sợ lâm vấp lỗi lầm nữa [“Thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ.” Luận ngữ: Vi chính, câu 4].

    Học trò Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu tên là Linh Vân cũng đã phải mài kiếm (tu tập thiền định) suốt ba mươi năm. Một hôm chợt nhìn thấy hoa đào nở mà chứng ngộ (satori). Thiền sư Linh Vân cảm khái:

    Tam thập niên lai tầm kiếm khách,
    Kỷ hồi lạc diệp kỷ trừu chi.
    Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu,
    Trực chí như kim bất cánh nghi.


    Có người dịch:

    Ba chục năm qua tìm kiếm khách,
    Bao phen lá rụng với cành trơ.
    Một lần từ thấy hoa đào nở,
    Cho đến ngày nay dạ chẳng ngờ.


    Đáng sợ một nỗi, đề tài Tâm lập trên tấm ảnh thiền này lại là sáng kiến của một... tiệm ăn bên xứ Phù Tang: Thạch điền tửu điếm. Để trang trí cho tờ lịch treo tường năm 1984, tháng Sáu. Lấy cái thâm vi tế nhị của thiền đem đặt vào một chỗ uống ăn rất đời thường giữa sự thế phồn hoa; phải chăng ai đó muốn gửi gắm lại cho đời ý nghĩa rốt ráo của người xưa, rằng:
    Thiền đích thị là thiền trong chỗ chẳng thiền?
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  10. #70
    nguyễn châu tú
    Guest

    Mặc định

    Thiền hiệu quả nhất là lúc nào thích Thiền là thiền, dù trong chốn thị phi, ồn ào, náo nhiệt hay những nơi thanh vắng, không còn phân biệt 2 thứ đó. Còn cứ chui vô nơi thanh vắng mà thiền thì chậm tiến lắm. Hihihi...

  11. #71

    Mặc định

    tuyệt vời ...ngày xưa lúc đệ công phu ......xong rồi đi tụng kinh ...trong lúc đang tụng ..đột nhiên hiểu ra ..TẠI SAO TRƯỚC KHI THUYẾT KINH ..NHƯ LAI NHẬP ĐẠi ĐỊNH RỒI MỚI THUYẾT ....QUẢ ĐÚNG LÀ BẤT KHẢ TƯ NGHÌ ......
    ......

  12. #72

    Mặc định

    [QUOTE=XuanPhong;464843]Chủ đề này khiến Xuân Phong tôi hiếu kỳ và muốn rút kiếm chém vài nhác vào màng vô minh cho nó rách nát, lộ ra ánh sáng.

    Trong bài luận này của hòa thượng Thích Nhật Từ, tôi không bàn về ông, có vài điều không đúng.

    Thứ nhất, Ngộ Thừa Ân là soạn giả, tức là người gom góp tài liều viết thành một tác phẩm, không phải là tác giả, tức là người từ ý riêng của mình sáng tạo ra câu truyện. Quyển Tây Du Ký lần đầu tiên được viết ra do Trường Xuân Chân Nhân, Khưu Xứ Cơ, sáng tác, và sau này được bổ túc và thêm thắc bởi Ngô Thừa Ân. Có thể nói, Ngô Thừa Ân rất am hiểu Phật Giáo cũng như Đạo Lão, và rất am hiểu nội dung của Tây Du Ký, nên mới có thể thêm vào những đoạn văn chương khá hoàn mỹ.

    [QUOTE] Như Xuân Phong đã nói NTÂ rất thông hiểu Đạo Giáo thì mắc kái wái gì để kon khỉ Tề Thiên chưa đắc đạo đánh bầm dập tiên thánh, Thái Thượng Lão Quân. NTA đã khắc họa lên hình ảnh Thượng Đế ko rõ thị phi, hồ đồ, hèn nhát vô dụng. Nên nhớ sư phụ Tôn Ngộ Không là Tu Bồ Đề cũng là Đạo Lão mà ra. Như thế Tôn Ngộ Không đã phản lại đạo. Xem như sư phụ TNKHÔNG ko làm đc trò trống gì *haiz*

  13. #73

    Mặc định

    @Qin ShiHuang,
    Đọc bài viết của bạn hay quá. Tôi chưa một lần đọc cuốn Tôn Ngộ Không, chỉ thỉnh thoảng xem một hai tập phim trên truyền hình.
    Đọc bài viết của bạn tôi thấy khỏi phải đọc truyện nữa?

    Xin hỏi bạn: đã đem đốt cuốn truyện Tây Du ký mà bạn có chưa?

  14. #74
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Minh Co Xem Bài Gởi
    @Qin ShiHuang,
    Đọc bài viết của bạn hay quá. Tôi chưa một lần đọc cuốn Tôn Ngộ Không, chỉ thỉnh thoảng xem một hai tập phim trên truyền hình.
    Đọc bài viết của bạn tôi thấy khỏi phải đọc truyện nữa?

    Xin hỏi bạn: đã đem đốt cuốn truyện Tây Du ký mà bạn có chưa?
    Chào bạn ,

    Tôi xin được chia sẻ với bạn đôi điều về việc :"Tại sao tôi gởi bài "Giải Mã TDK"của ông LAD lên topic này,trước hết là cám ơn khi bạn đọc và có lời khen về cuốn sách đó ( của ông LAD chứ không phải của tôi ).Điều này ( lời khen của bạn là thực tâm thì miễn bàn ) chứng tỏ bạn có sẵn trong Tâm của bạn về những lời khen mà chính bạn cãm nhận ,mà chưa có dịp để cãm nhận được cái hiểu biết đó của bạn ,nay qua cuốn sách của ông LAD ,bạn nhận ra được chính bạn trong đó ,là : Đường Tăng ,Tề Thiên ,Bát Giới,Sa Tăng .Nói chung đó chính là bạn.
    và xin lỗi câu này:

    ( "Xin hỏi bạn: đã đem đốt cuốn truyện Tây Du ký mà bạn có chưa?")
    của bạn được tô đen đậm,mà tôi không hiểu được ý của bạn,xin vui lòng giải thích ?

    Và đây là những điều tôi xin chia sẽ với bạn về việc gởi bài này lên ,có thể nó sẻ khá dài dòng ,tôi cố gắng viết cô đọng lại và cho dể hiểu ,mong bạn cố gắng đọc.

    Chúng ta thường hay có một chủ kiến ,một quan niệm sống,một thành kiến về mọi vấn đề trong đời sống và định kiến về những vấn đề mà chúng ta tin vào đó.Do đó chúng ta nhìn sự việc qua cái lăng kính của "cái ý" sẵn có đó để nhìn sự việc,và từ đó cái nhận xét của sự việc bị lệch lạc theo cái Định kiến ( nói chung)

    Dưới góc cạnh của "Đức tin tôn giáo",đó là một Định kiến đã ung đúc lâu đời ( tùy theo mỗi người),đã tạo ra sự nhìn vấn đề trở nên khó chịu ( hoặc ngược lại ) với chính họ ,nếu thể loại đức tin đó là sự cực đoan và cố chấp ! thì còn tệ hại hơn.

    Nếu đọc bất kể một cuốn sách nào ( kể cả sách nhi đồng và chuyện nhãm nhí ),với một đầu óc thông thoáng và học hỏi ,thì sẽ nhận ra một ít điều mà tác giả của cuốn sách đó có hiểu biết về lĩnh vực đó ,đã giúp cho chúng ta học được một điều mới mà chúng ta chưa biết đến .

    TDK ,là cuốn sách đã góp phần giúp cho con đường tu tập của tôi thăng tiến tốt đẹp khi tôi nhận ra được :"Làm thế nào để kềm chế được cái ý !" và Tề Thiên ,Câu Chú ,Niền Kim Cô là câu trả lời đối với tôi ,nhờ vậy mà tôi đã biết cách để đi đến "Thường Niệm".

    http://www.thegioivohinh.com/diendan...ad.php?t=16887
    ( nếu rãnh, xin vui lòng đọc chổ này .Cám ơn)
    Rồi càng về sau ,việc tu tập càng tiến thì tôi cãm nhận rỏ ràng TDK là một bộ sách nói về "Con Người" mượn một ý tưỡng lịch sử mà tác giả đã hư cấu cái "bề trong" của một người tu hành ,mãi đến năm 1991 ,tình cờ tôi mua được cuốn sách "GMTDK",và đọc ,càng đọc càng thấy sao người này ( LAD) ,hiểu được phương cách tu tập mà chính bản thân tôi đang thực hiện ,một cách chính xác như vậy ?

    Những lần vào TGVH ,để chia sẻ những hiểu biết của tôi với các bạn ,tôi đọc topic này của Vietnamese ,với chủ đề này và dưới cái nhìn của một vị tu hành theo "Hình nhi hạ !" và so sánh với những cái gì hiểu biết qua sách vở ,kinh kệ.Tôi có ý gởi bài của cuốn sách này lâu rồi ,mà cứ chần chờ ,vì sợ rằng ít người hiểu được !?May quá,còn có người hiểu và thông cãm cho tôi nói riêng và ông LAD ( ông không cần chuyện này ,vì ông ta đã in thành sách rồi và đã tái bản 3 lần vì như cầu tìm kiếm của người học Đạo <chứ không phải học Tôn Giáo!> ).

    Đó là những gì tôi muốn chia sẽ với các bạn ,cũng như muốn trao đỗi với sự học hỏi và hiểu biết về Đạo của các bậc Cao nhân trong diễn đàn,trong lĩnh vực này TDK .

    Tôi đưa ra một ví dụ để bạn cãm nhận nha :
    <<<" Ngày xửa ,ngày xưa người ta nói trong không khí có những con vật nhỏ xíu ,mắt không thấy được ,và ít người tin ,tuyệt đại đa số không tin vào chuyện đó.Ngày nay ,nhờ khoa học họ làm ra cái kính hiển vi để nhìn thấy được những con vật bé xíu đó ,còn nhỏ hơn nữa và nhân loại ai cũng tin là Có trong cái không thấy đó .Khi bạn tu tập đến những giai đoạn như trong TDK diễn đạt ,thì lúc đó cái nhìn ,cái biết ,cái hiểu của bạn sẽ khác ngay vì cái đó không còn là tin nữa mà là "nó là như vậy !">>>

    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  15. #75

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Qin ShiHuang Xem Bài Gởi


    Chào bạn ,

    Tôi xin được chia sẻ với bạn đôi điều về việc :"Tại sao tôi gởi bài "Giải Mã TDK"của ông LAD lên topic này,trước hết là cám ơn khi bạn đọc và có lời khen về cuốn sách đó ( của ông LAD chứ không phải của tôi ).Điều này ( lời khen của bạn là thực tâm thì miễn bàn ) chứng tỏ bạn có sẵn trong Tâm của bạn về những lời khen mà chính bạn cãm nhận ,mà chưa có dịp để cãm nhận được cái hiểu biết đó của bạn ,nay qua cuốn sách của ông LAD ,bạn nhận ra được chính bạn trong đó ,là : Đường Tăng ,Tề Thiên ,Bát Giới,Sa Tăng .Nói chung đó chính là bạn.
    và xin lỗi câu này:

    ( "Xin hỏi bạn: đã đem đốt cuốn truyện Tây Du ký mà bạn có chưa?")
    của bạn được tô đen đậm,mà tôi không hiểu được ý của bạn,xin vui lòng giải thích ?

    Và đây là những điều tôi xin chia sẽ với bạn về việc gởi bài này lên ,có thể nó sẻ khá dài dòng ,tôi cố gắng viết cô đọng lại và cho dể hiểu ,mong bạn cố gắng đọc.

    Chúng ta thường hay có một chủ kiến ,một quan niệm sống,một thành kiến về mọi vấn đề trong đời sống và định kiến về những vấn đề mà chúng ta tin vào đó.Do đó chúng ta nhìn sự việc qua cái lăng kính của "cái ý" sẵn có đó để nhìn sự việc,và từ đó cái nhận xét của sự việc bị lệch lạc theo cái Định kiến ( nói chung)

    Dưới góc cạnh của "Đức tin tôn giáo",đó là một Định kiến đã ung đúc lâu đời ( tùy theo mỗi người),đã tạo ra sự nhìn vấn đề trở nên khó chịu ( hoặc ngược lại ) với chính họ ,nếu thể loại đức tin đó là sự cực đoan và cố chấp ! thì còn tệ hại hơn.

    Nếu đọc bất kể một cuốn sách nào ( kể cả sách nhi đồng và chuyện nhãm nhí ),với một đầu óc thông thoáng và học hỏi ,thì sẽ nhận ra một ít điều mà tác giả của cuốn sách đó có hiểu biết về lĩnh vực đó ,đã giúp cho chúng ta học được một điều mới mà chúng ta chưa biết đến .

    TDK ,là cuốn sách đã góp phần giúp cho con đường tu tập của tôi thăng tiến tốt đẹp khi tôi nhận ra được :"Làm thế nào để kềm chế được cái ý !" và Tề Thiên ,Câu Chú ,Niền Kim Cô là câu trả lời đối với tôi ,nhờ vậy mà tôi đã biết cách để đi đến "Thường Niệm".

    http://www.thegioivohinh.com/diendan...ad.php?t=16887
    ( nếu rãnh, xin vui lòng đọc chổ này .Cám ơn)
    Rồi càng về sau ,việc tu tập càng tiến thì tôi cãm nhận rỏ ràng TDK là một bộ sách nói về "Con Người" mượn một ý tưỡng lịch sử mà tác giả đã hư cấu cái "bề trong" của một người tu hành ,mãi đến năm 1991 ,tình cờ tôi mua được cuốn sách "GMTDK",và đọc ,càng đọc càng thấy sao người này ( LAD) ,hiểu được phương cách tu tập mà chính bản thân tôi đang thực hiện ,một cách chính xác như vậy ?

    Những lần vào TGVH ,để chia sẻ những hiểu biết của tôi với các bạn ,tôi đọc topic này của Vietnamese ,với chủ đề này và dưới cái nhìn của một vị tu hành theo "Hình nhi hạ !" và so sánh với những cái gì hiểu biết qua sách vở ,kinh kệ.Tôi có ý gởi bài của cuốn sách này lâu rồi ,mà cứ chần chờ ,vì sợ rằng ít người hiểu được !?May quá,còn có người hiểu và thông cãm cho tôi nói riêng và ông LAD ( ông không cần chuyện này ,vì ông ta đã in thành sách rồi và đã tái bản 3 lần vì như cầu tìm kiếm của người học Đạo <chứ không phải học Tôn Giáo!> ).

    Đó là những gì tôi muốn chia sẽ với các bạn ,cũng như muốn trao đỗi với sự học hỏi và hiểu biết về Đạo của các bậc Cao nhân trong diễn đàn,trong lĩnh vực này TDK .

    Tôi đưa ra một ví dụ để bạn cãm nhận nha :
    <<<" Ngày xửa ,ngày xưa người ta nói trong không khí có những con vật nhỏ xíu ,mắt không thấy được ,và ít người tin ,tuyệt đại đa số không tin vào chuyện đó.Ngày nay ,nhờ khoa học họ làm ra cái kính hiển vi để nhìn thấy được những con vật bé xíu đó ,còn nhỏ hơn nữa và nhân loại ai cũng tin là Có trong cái không thấy đó .Khi bạn tu tập đến những giai đoạn như trong TDK diễn đạt ,thì lúc đó cái nhìn ,cái biết ,cái hiểu của bạn sẽ khác ngay vì cái đó không còn là tin nữa mà là "nó là như vậy !">>>

    Điều quan trọng là đốt bằng gì.

    Có --> Không --> Có

    Lão Tử Đạo Đức Kinh:

    "Đạo khả đạo phi thường đạo
    Danh khả danh phi thường danh"

    Kinh có chữ không thể nói rõ hết về Đạo.

    Tác giả bài viết trên theo tôi có một vài chỗ gượng ép.
    Ví dụ: tác giả nói rằng Đức Phật Thích Ca không có thầy là không đúng. Thậm chí Người còn có nhiều thầy. Trong các tài liệu đều nói khi Người mới xuất gia thì Người có đi theo các thầy Bà la môn. Tuy nhiên Người nhận thấy Người không thể đạt đạo. Chỉ tới khi Người bỏ đi tự mình ngồi thiền một mình dưới cội bồ đề thiền định 49 ngày đêm thì Người hốt nhiên đãi ngộ.
    Hiểu theo Nhân Duyên thì những người thầy Bà la môn là những nhân giúp Người trong quá trình Ngộ đạo.

    Đó là Có --> Không --> Có

    Về chuyện cây cầu và con đò (e là nói cũng không thể hết ý mình muốn nói):
    Vì Tam Tạng sợ mà không dám đi cầu nên Tam Tạng phải đi nhờ đò. Cây cầu hay con đò đều là phương tiện để đưa Tam Tạng tới bờ bên kia. Nếu Tam Tạng không sợ mà bước chân lên cầu mà đi thì hỏi bạn Tam Tạng có cần phải nhờ tới con đò nữa không? Tam Tạng có còn phải lo sợ sóng to gió cả trên sông không?
    Last edited by Minh Co; 18-10-2011 at 09:16 AM.

  16. #76

    Mặc định

    coi phim này nhiều lần ,thật sự là phim toàn bôi bác phật, bồ tát với người tu ,ngài Anan với Ca diếp mà còn tham tiền,thủ đoạn xấu tính thì còn ai tu mà tốt nữa ?!! , hồi chưa đọc kinh chưa biết về 2 vị này chính tôi cũng nghĩ là truyện này dựa trên kinh phật hay truyền thuyết nào đó.... thử hỏi biết bao nhiêu người việt đã xem phim này mà ko có suy nghĩ sai lệch về phật giáo !
    Nam Mô A Di Đà Phật
    Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

  17. #77
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi chinhnghiahoi Xem Bài Gởi
    coi phim này nhiều lần ,thật sự là phim toàn bôi bác phật, bồ tát với người tu ,ngài Anan với Ca diếp mà còn tham tiền,thủ đoạn xấu tính thì còn ai tu mà tốt nữa ?!! , hồi chưa đọc kinh chưa biết về 2 vị này chính tôi cũng nghĩ là truyện này dựa trên kinh phật hay truyền thuyết nào đó.... thử hỏi biết bao nhiêu người việt đã xem phim này mà ko có suy nghĩ sai lệch về phật giáo !
    Sau mấy trăm năm ( 300 ?) Đức Phật nhập niết bàn ,tôn giáo Phật mới được thành lập do các vị tăng lử và kinh sách mới được "viết lại" theo lời kể của các vị có trí nhớ dai ,tốt ! Cũng từ cái ngày đầu tiên đó ,mà có được hai Tông phái : Phật giáo Nguyên Thủy( không chấp nhận cách truyền giáo của nhóm Đại Thừa) và Phật giáo Đại Thừa .

    Mật Tông ( Phật giáo Tây Tạng có từ cuối thế kỹ thứ 8 Tây lịch mới được truyền từ Đại Sư Liên Hoa Sinh ,được gọi là Lạt Ma Giáo).

    Nơi phát xuất ra nhân vật "Phật" mà được gọi là tôn giáo "Phật giáo" không trụ nỗi nơi chính đất nước của Ngài Cồ Đàm ,phải phiêu bạt qua Trung Quốc ,qua Đông Nam Á .

    Đó như vậy mà Phật giáo có bị mai một trở thành một tôn giáo chết yểu đâu ?! Mà sức mạnh của Phật giáo vẫn phát triển và tăng trưỡng mạnh hơn ,mà bây giờ cã thế giới đã có trên 1 tỷ người là tín đồ Phật giáo.

    Phật giáo đâu có phát triển theo những cách như các tôn giáo khác dùng đến vũ lực ,bắt ép dưới những hình thức "không đường lựa chọn" để vào Phật giáo đâu ! Mà PG đã từ từ ngấm dần vào mỗi chúng sinh trên khắp địa cầu này như là nước ngấm dần .Hãy coi lại lịch sử tôn giáo của thế giới để biết rõ hơn.

    Vậy, chỉ một cuốn sách TDK mà có thể làm cho PG sụp đỗ chăng ?!
    Hay là sẽ sụp đỗ do các Sư ,Sãi ,các tín đồ Phật tử ,chùa chiền đã làm những công việc phãn lại với "Phật" ,sống thiếu Đạo Đức ,mà lúc nào cũng tuyên xưng ta là "Phật tử",đó chính là những nguyên nhân sẽ làm cho Phật giáo sụp đỗ ,chứ không phải là cuốn TDK có đã lâu đời rồi,lại có tác dụng mạnh như vậy được !!!.

    Hãy nhìn ở cái tỗng thể ,chứ đừng nhìn ở một chuyện nhỏ ,rồi tiếp tay để phóng đại vấn đề ,như vậy vì thiếu hiểu biết mà tưỡng là mình làm đúng ,ai ngờ chỉ làm thêm rối rắm cho lòng người !

    Có lẽ tôi nói chừng đó đũ rồi ,không cần phải nói nhiều hơn nữa.
    Rất tiếc phải nói lên những điều này.
    Last edited by Qin ShiHuang; 18-10-2011 at 07:40 PM.
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  18. #78

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Qin ShiHuang Xem Bài Gởi

    Vậy, chỉ một cuốn sách TDK mà có thể làm cho PG sụp đỗ chăng ?!
    Hay là sẽ sụp đỗ do các Sư ,Sãi ,các tín đồ Phật tử ,chùa chiền đã làm những công việc phãn lại với "Phật" ,sống thiếu Đạo Đức ,mà lúc nào cũng tuyên xưng ta là "Phật tử",đó chính là những nguyên nhân sẽ làm cho Phật giáo sụp đỗ ,chứ không phải là cuốn TDK có đã lâu đời rồi,lại có tác dụng mạnh như vậy được !!!.

    Hãy nhìn ở cái tỗng thể ,chứ đừng nhìn ở một chuyện nhỏ ,rồi tiếp tay để phóng đại vấn đề ,như vậy vì thiếu hiểu biết mà tưỡng là mình làm đúng ,ai ngờ chỉ làm thêm rối rắm cho lòng người !

    Có lẽ tôi nói chừng đó đũ rồi ,không cần phải nói nhiều hơn nữa.
    Rất tiếc phải nói lên những điều này.
    Ko phải vì nó mà sụp đổ. Mà là có ảnh hưởng nhỏ. Nhưng chúng ta vẫn ko nên bỏ qua cái ảnh hưởng nhỏ đó vì nó cũng là ẢNH HƯỞNG

    Theo tôi nếu Ngô Ân có ý hiểu phật pháp thì nên giải thích ý nghĩa luôn cho người ta hiễu. Đằng này ổng ko nói gì hết, mà toàn là người ta giải thích dùm ổng. Có phải Ngô Th. Ân bậy hay đúng thì phải hỏi ở ổng thôi. thân

  19. #79

    Mặc định

    tùy duyên thôi huynh à ......nếu mỗi một người đều thấy cái ...TÂM VIÊN ..của mình hay là 1 TÔN NGỘ KHÔNG ...thì thế giới này hòa bình lâu rồi .....
    kính huynh

  20. #80

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi biettatca Xem Bài Gởi
    Ko phải vì nó mà sụp đổ. Mà là có ảnh hưởng nhỏ. Nhưng chúng ta vẫn ko nên bỏ qua cái ảnh hưởng nhỏ đó vì nó cũng là ẢNH HƯỞNG

    Theo tôi nếu Ngô Ân có ý hiểu phật pháp thì nên giải thích ý nghĩa luôn cho người ta hiễu. Đằng này ổng ko nói gì hết, mà toàn là người ta giải thích dùm ổng. Có phải Ngô Th. Ân bậy hay đúng thì phải hỏi ở ổng thôi. thân
    Điều này theo tôi phải hiểu tại sao lại là kinh vô tự và tại sao kinh hữu tự thì bị ướt mất mấy trang cuối.

    Đường Tăng là thầy tu có nghĩa là đã và đang đi trên con đường Đạo. Khi Đường Tăng tới được Tây Thiên và được Phật Tổ Như Lai trao cho kinh vô tự tức là đã đạt Đạo. Nhưng vì Đạo như Lão Tử nói: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo" nên khi đã dùng tới ngôn từ thì Đạo không hẳn là Đạo nữa. Cũng vì điều đó mà Đức Phật Thích Ca lúc sắp nhập diệt có nói rằng cả đời Người chưa hề nói một lời Pháp nào hết. Ngưởi đã nói Pháp suốt 45 năm mà sao đến cuối đời Người lại nói rằng chưa hề nói một câu Pháp nào? Ấy là bởi vì Người sợ những người nghe Pháp từ Người vướng mắc vào ngôn từ, đi tìm Đạo theo ngôn từ mà không hiểu rằng Đạo không thể nói ra rõ được bằng ngôn từ. Lão Tử thì nói rằng "gượng ép gọi nó là Đạo".

    Đường Tăng đã đạt Đạo và có nhiệm vụ truyền lại Đạo cho dân ở nước Đại Đường. Sự đạt Đạo của Đường Tăng không phải là sự đạt đạo của người dân Đại Đường. Đường Tăng chỉ có thể truyền lại sự hiểu biết Đạo của mình qua ngôn từ. Nhưng bản thân ngôn từ đó không phải là Đạo. Bởi vậy mà cuốn kinh Đường Tăng mang về là kinh có chữ. Từ ngữ là phương tiện truyền tải giữa người đạt Đạo là Đường Tăng tới những người tu hành nhưng chưa đạt đạo ở nước Đại Đường.

    Vì là kinh có chữ nên nó phải mất đi mấy trang cuối. Tại sao? Tại vì ngôn từ không thể nói hết được về Đạo. Người dùng kinh đó đọc hết kinh vẫn chưa thực sự đến với Đạo. Vậy người đó phải bằng chính trí tuệ của mình soi xét để tìm ra phần bị mất của kinh có chữ đó.
    Và khi đã tìm ra thì lập tức cuốn kinh đó sẽ biến thành kinh vô tự (vì phần đó có chữ đâu!).

    Kinh sách hay người thầy chỉ là phương tiện hay là cái nhân ban đầu. Kết quả để đến được kinh vô tự hay là chân kinh rốt cuộc là ở người đi tu. Người thầy hay kinh sách không phải là Đạo. Đạo là ở cái chân kinh (kinh vô tự) kia do người đi tu tự tìm thấy cơ.

    Đức Phật Thích Ca nói:

    "Nhìn theo ngón tay thì thấy trăng nhưng ngón tay không phải là trăng"

    "qua sông rồi thì phải bỏ đò"

    Con thuyền (kinh sách) là phương tiện đưa người tu hành sang bên bờ giác ngộ, nhưng bản thân con thuyền đó không lên được bờ. Muốn lên bờ thì người tu hành phải tự nhảy từ thuyền lên bờ. Nếu lên bờ rồi mà còn kéo theo con thuyền thì thuyền nặng hơn sẽ kéo người tu hành rơi trở lại dòng sông. Cho dù có kéo được thuyền lên thì chỉ làm nặng thêm mình sao có thể tự do tự tại mà bước đi trên bờ giác ngộ. Như thế chưa phải là đã tu đến đích.

    Tôi chưa đọc kỹ truyện nhưng nếu không nhầm thì cuốn kinh vô tự là do Phật Tổ đưa cho Đường Tăng, còn cuốn kinh có chưa là do hai ngài A Diếp với ngài gì đó đưa cho. Đọc tới đây mọi người có thể tự nhận thấy tại sao một cuốn không có chữ (cuốn của Phật Tổ tức là Đạo) còn cuốn kia là có (hai vị đó chưa phải là Phật). Vì chưa phải là Phật nên các vị đó vẫn còn một chút tham, yêu cầu Đường Tăng phải đổi đồ để lấy kinh.

    Phải chăng Ngô Thừa Ân đã đạt Đạo nên ông không thể nói thẳng được mà dùng chuyện thần tiên để nói về Đạo?

    "Đạo khả Đạo phi thường Đạo,
    Danh khả Danh phi thường Danh"

    Chỉ có thể nói về Đạo theo kiểu "Như Lai" mà thôi?

    Còn để hiểu tại sao có chiếc cầu thì theo tôi phải đọc về chuyện ngộ Đạo của tổ Huệ Khả trong phái Thiền.
    Last edited by Minh Co; 21-10-2011 at 11:38 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - TÁC GIẢ VƯƠNG KIM
    By vankhuc in forum Bửu Sơn Kỳ Hương
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 22-07-2012, 04:47 PM
  2. Kinh Vô Lượng Thọ Phật !
    By kinhdich in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 04:26 PM
  3. YOGA GIẤC MỘNG VÀ SỰ THỰC HÀNH VỀ ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN
    By ÁNH SÁNG -T2- ÚC CHÂU in forum Mật Tông
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 21-01-2011, 01:35 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •