Trang 1 trong 3 123 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 48

Ðề tài: Pháp tu trì Quan âm với Kinh luân.

  1. #1
    Đai Đen Avatar của laduykhanh
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Tu viện Drikung Kagyupa
    Bài gởi
    540

    Exclamation Pháp tu trì Quan âm với Kinh luân.

    Xin chào quý phật tử .
    Hôm nay tôi viết bài này vì lợi ích cho mọi người trên diễn đàn này cũng như cho người đệ tử đã thỉnh cầu tôi. Nguyện cho mọi sự cát tường chúng sanh anh lạc. Hầu mong cho lòng đại bi vô hạn của bồ tát Quan Thế Âm sẽ này nở trong trái tim của quý vị.


    Đại Bi quán thế âm!

    Tôi xin viết về cách thiền quán với Kinh Luân đơn giản mà các tông phái Phật giáo Tây Tạng hay tu trì. Trong phái Drikung Kaguypa của tôi thì có một vị Rinpoche ma` ai cũng biết tới đó là ngài Garchen. Vì khi đề cập tới ngài, là đề cập tới lòng Đại Bi .


    Ngài sinh trưởng tại miền Ðông Tây-Tạng vào năm 1936, Trưởng Lão Ðại Sư Garchen Rinpoche thuộc giòng Drikung Kagyu là hoá thân của một vị đại thành tựu giả tên Siddha Gar vào thế kỷ 13 -- đệ tử tâm truyền của ngài Kyobpa Jigten Sumgon, vị Tổ lừng danh của giòng phái Drikung Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng.


    Kyobpa Jigten Sumgon tổ của dòng phái DRIKUNG KAGYUPA

    Ngài được biết đến rất nhiều qua những chứng đắc sâu dày, cũng như qua tình yêu thương và tâm từ bi vô bờ bến dành cho tất cả chúng sinh. Trên tay ngài lúc nào cũng cầm một ‘kinh luân’ (prayer wheel), bất luận là đang làm gì, chiếc kinh luân đó cũng được ngài quay vòng liên tục để phóng toả ánh từ bi đến khắp các cõi. Garchen Rinpoche nói, ánh từ bi đó chính là ân phước của đức Bạch-Quan-Âm (Tara) ban truyền. Ánh từ bi đó cũng phát ra tự trong đáy lòng của ngài.



    Đây là Kinh luân.

    Bánh xe cầu nguyện này làm bằng sắt , trong bánh xe này là vô vàn thần chú OM MANI PADME HUM được in lên giấy lụa mỏng . Cuốn quanh một trục quay . Có những bánh xe được quay bằng tay , hay bàng sức nước , lửa và gió.
    Nếu trong bánh xa này có 1000 thần chú Om Mani Padme HUm thì cũng tương tự như tụng 1000 biến chú này vậy. Nếu trong bánh xe có 100000000000 biến chú mà bạn quay 1 vòng cũng như tụng ngần nấy thần chú . Đây là phương tiện Thiện Xảo nhất để tích tập Công đức một các rốt ráo trong thời gian ngắn .


    Ở tây tạng , trước khi đi vào chùa luôn có 1 hàng bánh xe cầu nguyện như vậy để cho phật tử đi vào quay, nhằm tạo được phước đức một cách đơn giản nhất.
    Vì trong bánh xe này có chứa Thần chú OM MANI PADME HUM , thần chú của lòng đại bi của bồ tát Quan Thế ÂM . Chú là những Âm Thanh Vi diệu của chư Phật , bí mật khó hiểu và không thể nghĩ bàn .
    Được biết rằng mỗi khi trì tụng câu Chân Ngôn Om Mani Padme HUM.

    Trong kinh Đại Thừa Trang nghiêm Bảo Vương quyển 2 có dạy :

    Phật dạy: Không có ai biết. Thiện nam tử! Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này vô lượng tương ưng Như Lai mà còn khó biết huống gì là Bồ Tát làm thế nào mà biết được chổ bổn tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát? Tôi đi trải qua các quốc độ khác cũng không biết sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này. Nếu có người thường thọ trì sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni thì khi trì tụng có chín mươi chín Căng già sa hà sa số chư Như Lai nhóm hội, có vô số Bồ Tát nhiều như vi trần nhóm hội cùng các Thánh chúng Thiên tử ở ba mươi hai cõi trời cũng đều nhóm hội. Lại có bốn Ðại Thiên Vương ở bốn phương làm hộ vệ, có Ta Nga La Long vương, Vô Nhiệt Não Long vương, Ðắc Xoa Ca Long vương, Phạ Tô Chỉ Long vương. Như vậy có vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố na Long vương đến hộ vệ người thọ trì ấy. Lại ở khắp trong cõi đất hết thảy các Dược Xoa Hư Không thần cũng đến hộ vệ. Thiện nam tử! Trong lỗ chân lông Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát có trăm ức Như Lai an trụ và khen ngợi người trì tụng ấy: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi hãy được như ý ma ni bảo, bảy đời dòng họ của người đều sẽ đều được giải thoát.

    Thiện nam tử! Người trì minh kia (kẻ trì chú) ở trong bụng có các trùng, các trùng ấy sẽ được Bất thối chuyển địa vị Bồ Tát. Nếu lại có người lấy sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này mà đeo giữ nơi thân, trên đảnh. Thiện nam tử! Nếu thấy được người đeo giữ ấy, thời cũng như thấy thân Kim Cang, như thấy tháp Xá Lợi, như thấy đức Như Lai, như thấy một trăm ức trí tuệ. Nếu có kẻ trai lành gái tín nào hay y pháp niệm sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này, thì người đó sẽ được vô tận biện tài được trí tụ tụ thanh tịnh, được đại từ bi, như vậy người đó ngày ngày được viên mãn công đức sáu chữ Ba la mật đa. Người đó được trời Chuyển luân Thánh vương quán đảnh, người ấy lời nói hơi trong miệng phát ra, chạm đến thân người nào, người chạm được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chóng chứng đắc Vô thượng bồ đề Chánh đẳng chánh giác. Nếu người đeo giữ và thọ trì lấy tay chạm đến người khác, người được rờ chạm ấy mau được Bồ Tát vị. Nếu kẻ nam người nữ, con trai con gái, cho đến dị loại hữu tình khác, thâý được người đeo và thọ trì ấy, tất cả đều mau được Bồ Tát vị. người như thế đó, vĩnh viễn không còn chịu khổ sanh, già, bịnh, chết, khổ thương xa lìa, mà được sự niệm tụng tương ưng không thể nghĩ bàn. Nay như thật mà nói lên sáu chữ đại minh Ðà Ra Ni vậy.


    Chú là những chuỗi mẫu tự được gia trì do những vị đã giác ngộ với mục đích mang lại lợi ích cho chúng sinh. ‘Chú’ nghĩa là ‘bảo vệ tâm’, nó bảo vệ tâm khỏi bị lung lạc bởi những hình tướng và vọng tưởng thế tục mà hậu quả là khổ đau triền miên trong cõi tabà sinh tử tái tục.

    Ðược biết những câu chú khác nhau hàm chứa những lợi ích khác biệt của chúng, và phần nhiều chúng chỉ được bí truyền cho những môn sinh đã dự buổi lễ quán đảnh của đúng pháp hành đó. Thế nhưng đối với bảo chú này thì khác, tôn sư Kalu có nhận định là “uy lực của nó cực kỳ mạnh mẽ” và “bất cứ 1 ai cũng có thể dùng tập được” để rút ngắn con đường đến giác ngộ. Ðạo sư Dilgo Khyentse viết, “bảo chú này không phải chỉ là 1 câu gồm mấy chữ tầm thường, mà nó chứa đựng tất cả những ân phước cùng với lòng bi mẫn của Ngài [Avalokiteshvara],” và Ðạo sư khuyến dụ chúng ta lắng nghe câu chú này, “hãy tụng, hãy đọc, và hãy viết xuống chữ bằng vàng cho thật đẹp đẽ. Bởi vì không có mảy may khác biệt giữa chính vị bổn tôn và minh chú –minh chú chính là phần tinh tuý của vị bổn tôn– nên những việc làm này sẽ mang lại lợi lạc lớn lao.”

    Tôi được nghe ngài Lama Zopa Rinpoche nói rằng :Nếu bạn có một Bánh Xe Cầu nguyện trong nhà bạn, căn nhà của bạn sẽ giống như Potala, cõi tịnh độ của Đức Phật Bi mẫn. Nếu bạn có một bánh xe cầu nguyện ở bên cạnh khi bạn chết, bạn không cần tới pháp Chuyển Di Thần Thức (phowa) Việc có Bánh Xe Cầu nguyện tự nó trở thành một phương pháp để chuyển di tâm thức bạn tới một cõi tịnh độ. Chỉ nghĩ tưởng tới một Bánh Xe Cầu nguyện là đã trợ giúp cho một người hấp hối phóng tâm thức của họ lên kinh mạch trung ương và thoát ra đỉnh đầu để tái sinh trong cõi tịnh độ của Đức Phật Amitabha và Đức Phật Bi mẫn. Chỉ chạm vào một Bánh Xe Cầu nguyện là đã đem lại một sự tịnh hoá to lớn những nghiệp tiêu cực và các che chướng.

    Lạtma Zopa cũng giảng giải , nếu hành giả niệm bảo chú tối thiểu 1.000 biến mỗi ngày thì cơ thể họ sẽ được thánh hoá và như vậy sẽ lợi ích cho những ai đụng chạm họ. Ðiều được nêu lên ở đây là khi dấn thân vào pháp hành chuyển kinh luân và niệm bảo chú, hành giả thật sự trở thành điểm giao tiếp cho những người muốn tiếp xúc năng lực của vị giác ngộ. Theo 1 nghĩa nào đó, cơ thể của hành giả trở thành giống như 1 thánh địa hay giống như 1 bảo tháp –nơi mà pháp thân toàn giác của Phật hoá hiện để lợi lạc chúng sinh.


    Một bánh xe cầu nguyện ở nepal

    Khi tôi học tại tu viện Drikung đã thấy 1 cái bảo luân to bằng 1 ngôi nhà và kì lạ thay, vào ngày tôi sang thăm Trung Tâm Rime ( Rime là 1 tông phái mật giáo với tinh thần bất bộ phái ) họ có những bánh xe nhỏ tới nỗi chỉ bằng ngón tay út.

    Có những loại khác nhau , bánh xe nước thì giống như 1 cai guồng quay nước chạm vào nó , rồi nước được ban phước . Chảy ra sông hay hồ tịnh hóa cả vạn triệu côn trùng , các loài vật trong hồ hay biển . Loại quay bằng gió thì giống như chiếc chong chóng mà ở Việt Nam ta trẻ em hay chơi! Nhìn rất thích mắt , ở bên trong chúng là thần chú OM MANI PÀDME HÙM . Ngọn gió đi qua chúng , bay vào các chúng sanh khác rồi tịnh hóa những chúng sanh được ngọn gió đó thổi tới . Còn bánh xe lửa , được quay bằng sức nóng , tương tự như đèn kéo quân vậy , ánh sáng bánh xe này phóng chiếu tới đâu , nơi đó được ban phước và trở thành một cõi tịnh độ Potalaka ( Phổ đà la ) mà người thường không thể nhìn thấy được .
    Cũng như vậy , việc có 1 bảo luân nhỏ tới đâu đi chăng nữa trong nhà bạn . Thì căn nhà sẽ trở thành 1 cõi tịnh độ , vì bất cứ chúng sanh nào chết trong nhà bạn sẽ được sanh về các cõi lành !


    Cõi tịnh độ !

    Tu trì ra sao ?

    Hãy ngồi tu tập theo tư thế 7 ĐIỂM TÌ LÔ GIÁ NA :

    Bảy lợi điểm của tư thế ngồi thiền thích hợp là:
    i . ngồi thoải mái trên gối trong tư thế kiết già hay bán kiết già ;
    ii. mắt hé mở, nhìn theo hướng sống mũi ;
    iii. ngồi thẳng, lưng như những đồng tiền chồng lên nhau ;
    iv. giữ vai cho thẳng ;
    v. đầu không cao quá, không thấp quá, không đưa tới đưa lui, thẳng một đường từ mũi cho đến lỗ rún ;
    vi. răng và miệng trong trạng thái tự nhiên, chót lưỡi chạm chân răng của hàm trên ;
    vii. hơi thở im lắng và nhẹ nhàng.


    Nên chọn 1 khoản thời gian nhất định hàng ngày và nơi chốn cho phù hợp .
    Nên bày 7 ban nước sạch trứơc ban thờ , hãy thay nước hàng ngày .
    Đặt hình đức phật bổn tôn của bạn trên đó . Theo tôi thì ban thờ không nên quá cao . Chỉ cần ngang tầm mắt khi vạn thiền quán thôi .Đốt một nén hương lên , Bày những pháp khí và đặc biệt là hình ảnh vị bổn sư của bạn lên . Trước khi thiền quán hãy lễ lạy 3 lạy . Ban thờ nên được lau dọn thường xuyên , nếu có khăn Katag cúng dường biện lên càng tổt...

    Khi tu trì thì tay phải cầm Kinh Luân tay trái cầm 1 tràng hạt. Có thể là loại dài như 108 hạt hay 21 hạt ngắn . Bằng chất liệu gì thì tùy bạn , nhưng theo ngài Sonam Rinpoche , vị thầy của tôi cũng là hóa thân ngài Văn thù sư lợi . Thù thắng nhất vẫn là tràng hạt bằng hạt bồ đề hay tràng thủy tinh !

    Tràng hạt

    Tôi cũng nhận thấy lợi ích từ những loại tràng hạt này( Tâm an định hơn )
    Và nên nhớ rằng hãy giữ gìn bảo luân và tràng hạt như con mắt của mình . Hãy đặt lên cao , chỗ thờ cúng và đừng bao giờ buớc qua chúng ! Vì chúng là những pháp khí tối thượng.



    PHÁP THIỀN KINH LUÂN



    Nam Mô Ðấng Ðạo Sư, Quán Thế Âm Ðại Sĩ, Vị Phật Ðại Bi
    Om Mani Padme Hum

    Quy Y và Phát Bồđề Tâm (3x)

    Con xin quy y Phật, Pháp, và Hiền Thánh Tăng cho đến khi con thành tựu bồđề.
    Do công đức gặt hái được nhờ ở thiền cho và các hạnh balamật,
    xin cho con thành tựu quả vị Phật để lợi lạc tất cả chúng sinh.

    Phục Nguyện

    Mục đích đời sống của con không phải là để đeo đuổi hạnh phúc cho chính mình cũng như để giải trừ phiền não của riêng mình. Mục đích đời sống của con là cứu độ vô lượng chúng sinh, làm cho con hữu dụng và lợi ích cho họ. Con sẽ độ từng người một khỏi tất cả những khổ đau của họ và dẫn họ đến hạnh phúc trong đời sống này, những kiếp sống tương lai, những tái sinh tốt lành, hạnh phúc chân thực của sự giải thoát khỏi cõi tabà, và rồi hạnh phúc tối thượng của giác ngộ viên mãn.

    Quán Tưởng & Chú Niệm

    Bắt đầu chuyển bảo luân theo chiều kim đồng hồ và niệm câu chú: Om Mani Padme Hum. Ðồng lúc với chuyển kinh luân và niệm chú, tịnh quán chúng sinh ở các cõi như sau (càng lâu càng tốt):

    THANH TỊNH HOÁ BẢN THÂN

    Những tia ánh sáng phóng chiếu từ bảo luân kéo hút ra tất cả ác nghiệp, phiền não và tất cả những ô nhiễm của hành giả. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, hành giả phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Hành giả thành tựu 6 hạnh balamật, và trở thành như Ngài Quán Thế Âm, hoàn toàn chỉ để tâm đến sự an vui hạnh phúc của tất cả chúng sinh.

    THANH TỊNH HOÁ CHÚNG SINH Ở ÐỊA NGỤC

    Những tia sáng phóng chiếu từ bảo luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh ở các tầng địa ngục –những cực hình khốc liệt như lạnh buốt hoặc nóng cháy, bị nghiền nát, bị đun nấu, và bị cắt chém hoặc đánh đập. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của họ ra, các phiền não như sân hận, và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, họ phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Họ thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.

    THANH TỊNH HOÁ NGẠ QUỶ

    Những tia sáng phóng chiếu từ bảo luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh ở cõi ma đói –như sự đói khát khủng khiếp không làm sao tìm hoặc dùng được thực phẩm, kiệt lực, hãi sợ, nóng cháy hoặc lạnh buốt. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của họ ra, các phiền não như tham lam, và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, họ phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Họ thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.

    THANH TỊNH HOÁ SÚC SINH

    Những tia sáng phóng chiếu từ bảo luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh ở cõi súc sinh –như đang bị rượt đuổi và bắt ăn, bị giam giữ hoặc bị ép buộc phải lao động cho con người, tật bệnh, nóng hoặc lạnh, kinh sợ, và ngu tối. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của chúng ra, các phiền não như ngu si, và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, chúng phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Chúng thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.

    THANH TỊNH HOÁ LOÀI NGƯỜI

    Những tia sáng phóng chiếu từ kinh luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh ở cõi người –như mong cầu mà không được, bị mất những gì đang có, lo lắng, xuống tinh thần, bần cùng, chiến tranh, bệnh hoạn, và chết chóc. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của họ ra, các phiền não như tham ái, và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, họ phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Họ thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.

    THANH TỊNH HOÁ ATULA

    Những tia sáng phóng chiếu từ kinh luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh ở cõi atula –như bị bức não vì tâm ganh ghét chư thiên, tâm thần bất an, chiến đấu và bại trận dưới tay chư thiên. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của họ ra, các phiền não như đố kỵ, và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, họ phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Họ thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.

    THANH TỊNH HOÁ CHƯ THIÊN

    Những tia sáng phóng chiếu từ kinh luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh ở các cõi trời –như bị giam hãm ở cõi tabà vì vô minh và phiền não, vẫn hãi sợ phải tái sinh xuống các cõi thấp, và sự đau khổ cùng cực của cái chết. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của họ ra, các phiền não như kiêu mạn, và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào bảo luân rồi tan biến trong đó.

    Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, họ phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Họ thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.

    THANH TỊNH HOÁ CHÚNG SINH Ở CÕI TRUNG GIỚI

    Những tia sáng phóng chiếu từ kinh luân kéo hút ra tất cả khổ đau của chúng sinh vừa lìa đời và đang ở cõi trung giới. Ðồng thời những tia sáng hút tất cả các ác nghiệp của họ ra, các phiền não và tất cả những ô nhiễm. Chúng mang hình tướng là những luồng khói đen bị hút hết vào kinh luân rồi tan biến trong đó. Trong khi những tia sáng đang phóng chiếu, họ phát triển từ-bi-hỷ-xả và bồđề tâm. Họ thành tựu 6 hạnh balamật và đạt đến toàn giác như Phật Quán Thế Âm.



    Hồi Hướng

    Nhờ công đức này xin cho con mau chóng thành tựu quả vị Phật Quán Thế Âm và dẫn độ tất cả chúng sinh, không sót 1 ai, đến quả vị giác ngộ này.
    Mong rằng viên bảo châu vô thượng –bồđề tâm– nếu chưa phát khởi, hãy phát khởi và tăng trưởng; và mong rằng khi đã phát khởi thì đừng suy giảm mà càng ngày càng gia tăng.
    Mong rằng thọ mạng của các vị thị hiện qua xác thân người –Ngài Ðạtlai Lạtma, các thiện tri thức, và tất cả bậc hiền thánh– được dài lâu và vững bền.
    Do công đức này, mong rằng bất cứ chúng sinh nào, chỉ cần thấy, nghe, chạm, nói chuyện với, hoặc nghĩ về con thì ngay lập tức sẽ được thoát khỏi tất cả những khổ đau, tật bệnh, ác vong nhiễu hại, ác nghiệp, phiền não, và tất cả ô nhiễm, và mong rằng họ sẽ mãi mãi an trú trong hạnh phúc cùng tột của toàn giác.

    * Trong khi trì tụng , hãy cố an tịnh tâm chuyên nhất vào thần chú và quán tưởng này !!!

    Lợi ích của thần chú và bánh xe cầu nguyện .

    Khi một người trì tụng mười chuỗi thần chú một ngày bơi lội, dù trong sông, biển hay một vài sinh loài sống trong nước nào khác, nước chạm vào thân người đó cũng sẽ được ban phước.

    Ta cũng được biết rằng bảy đời tổ tiên (cửu huyền thất tổ) của người đó cũng không bị tái sinh trong các cõi thấp. Đó là nhờ năng lực của thần chú, thân được ban phước bởi những người trì tụng thần chú và quán tưởng thân họ trong sắc tướng của thân linh thánh như Đức Chenrezig (Quán Thế Âm).

    Vì thế, thân thể trở nên rất mạnh mẽ, tràn đầy ân phước đến nỗi nó tác động tới tâm thức cho tới bảy đời và kết quả là nếu người ấy chết với một niệm tưởng bất thiện, người ấy sẽ không bị tái sinh trong một cõi thấp.

    Còn Kinh luân đặc biệt trợ giúp hành giả phát triển đại bi tâm và bồđề tâm; nó giúp hành giả hoàn thành việc tích lũy các công đức sâu dày và thanh lọc các ô nhiễm ngõ hầu đạt đến giác ngộ trong khoảng thời gian ngắn nhất.

    Bảo luân biểu hiện tất cả hạnh nghiệp của 10 phương chư Phật và chư Bồtát. Với mục đích lợi lạc cho chúng sinh, chư Phật và chư Bồtát hoá hiện trong bảo luân để tẩy trừ tất cả các ác nghiệp và ô nhiễm của chúng ta, và khiến cho chúng ta thực nghiệm được con đường đến giác ngộ. Tất cả chúng sinh trong khu vực chế tạo bảo luân đều được độ khỏi phải tái sinh xuống các cõi ác; họ sẽ được tái sinh vào cõi trời hoặc cõi người, hoặc cõi tịnh độ của chư Phật. Nếu bạn có 1 cái bảo luân trong nhà, thì căn nhà bạn sẽ không khác gì Phổ đà sơn, cõi tịnh độ của Phật Quán Thế Âm. Nếu có bảo luân bên cạnh lúc bạn lìa trần, đó chính là 1 phương pháp để chuyển thần thức bạn đến cõi tịnh độ của Phật Adiđà hoặc Phật Quán Thế Âm. Chỉ cần đụng chạm vào bảo châu thôi là đã có thể thanh lọc nghiệp chướng và ô nhiễm.

    Bất cứ ai niệm câu chú lục tự trong khi chuyển kinh luân thì ngay lúc đó cơ nghiệp có thể sánh ngang với ngàn vị Phật.

    Chuyển kinh luân thì thù thắng hơn là văn, tư, và tu cả vô lượng kiếp.

    Chuyển kinh luân 1 lần cũng đủ hơn là bỏ ra cả ngàn năm tu 10 hạnh balamật. Nó còn hơn là bỏ ra vô lượng kiếp thuyết giảng và lắng nghe 3 tạng kinh điển và 4 tạng mật điển.


    Khi một người mà mỗi ngày từng trì tụng mười chuỗi Om Mani Padme Hum đi xuống sông hay biển, nước chạm vào thân người ấy được ban phước, và sau đó chất nước được ban phước đó sẽ tịnh hoá hàng tỉ tỉ chúng sinh trong nước. Người này cứu giúp những sinh vật trong nước đó thoát khỏi nỗi khổ không thể tưởng tượng nổi nơi các cõi thấp. Việc ấy thật lợi lạc đến mức khó tin.

    Khi một người như thế đi xuống một con đường, gió chạm vào thân người ấy và sau đó tiếp tục chạm vào những côn trùng, nghiệp tiêu cực của chúng được tịnh hoá và nhờ đó chúng có một tái sinh tốt đẹp. Tương tự như vậy, khi một người như thế xúc chạm vào thân người khác, nghiệp tiêu cực của những người đó cũng được tịnh hoá.

    Việc một người như thế nhìn ngắm thì thật đầy ý nghĩa; việc được nhìn và xúc chạm trở thành một phương tiện để giải thoát chúng sinh. Điều này có nghĩa là thậm chí hơi thở của người đó chạm vào thân của chúng sinh khác cũng tịnh hoá nghiệp tiêu cực của họ. Bất kỳ sinh loài nào uống nước trong đó một người như thế từng bơi lội cũng được tịnh hoá.

    Vì vậy mà công đức khi tu trì pháp này thật bất khả tư nghì bất khả thuyết .

    Phật dạy :
    Thiện nam tử! Như vậy mỗi con sông lớn kia ta có thể đếm số mỗi một giọt nước kia. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Ðại Minh một biến được công đức ta không thể đếm số lượng. Thiện nam tử! Lại như loài hữu tình bốn chân trong bốn đại châu như sư tử, voi, ngựa, trâu đồng, trâu nước, cọp, beo, nai, vượn, chồn, heo, dê, thỏ; những loài bốn chân như vậy ta có thể đếm số lượng từng sợi lông một. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Ðại Minh này một biến thì được công đức ấy ta không thể đếm số lượng được. Thiện nam tử! Lại như núi Kim Cang Câu Sơn Vương kia, vuông mỗi bên tám vạn bốn ngàn du thiện na, nơi núi ấy có người không già không chết, trải qua một kiếp nhiễu quanh núi chỉ được một vòng. Núi Vương như vậy ta lấy y Kiều Thi Ca có thể trải hết không sót. Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh này được công đức ta không thể nói hết số lượng. Thiện nam tử! Lại như biển lớn sâu đến tám vạn bốn ngàn du thiện na, lỗ miệng rộng lớn vô lượng, ta có thể lấy một sợi lông nhét vừa hết không dư. Thiện nam tử! Nếu có người niệm một biến sáu chữ Ðại Minh này được công đức mà ta không thể nói hết số lượng. Thiện nam tử! Lại như rừng cây Thi Lợi Sa, ta có thể đếm hết mỗi một lá. Thiện nam tử! Nếu niệm một biến sáu chữ Ðại Minh được công đức không thể nghĩ lường. Thiện nam tử! Lại như bốn đại bộ châu những kẻ nam người nữ, con trai con gái ở đầy khắp trong đó, những người này đều chứng Thất Ðịa Bồ Tát, chúng Bồ Tát ấy đã có công đức cùng với công đức người niệm sáu chữ Ðại Minh này không khác. Thiện nam tử! Trừ một năm mười hai tháng ra còn gặp năm nhuần mười hai tháng, lấy tháng dư nhuần ấy làm số năm đủ mãn một kiếp trên cõi trời, ở đó ngày đêm thường mưa lớn.

    Thiện nam tử! Ta có thể đếm số mỗi một hạt mưa kia được. Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh này một biến, công đức số lượng rất nhiều. Nơi ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử! Lại như vô số một trăm ức đức Như Lai ở tại một chỗ trải qua một kiếp của cõi trời, lấy các thức ăn uống, y phục, ngọa cụ và thuốc thang đồ cần dùng, các thứ ấy đem cúng dường cho các đức Như Lai mà cũng không thể đếm hết số lượng công đức của sáu chữ Ðại Minh. Chẳng những ta ngày nay ở thế giới này mà ta từ trong định ra cũng không thể nghĩ bàn.

    Thiện nam tử! Nếu có người biên chép sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này thời đồng với chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng. Nếu có người lấy vàng báu cõi trời, tạo hình tượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, số như vi trần, làm như vậy rồi nơi một ngày khánh lễ tán dương cúng dường, chỗ thu hoạch quả báo không bằng đã được quả báo công đức biên chép một chữ trong sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni ấy, đã khéo an trụ nơi đạo giải thoát không thể nghĩ bàn. Nếu thiện nam tử và thiện nữ, y pháp niệm sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này thì người đó sẽ đắc tam ma địa (được đại chánh định) gọi là: Trì ma ni bảo tam ma địa, Quảng bát tam ma địa, Thanh tịnh địa ngục bàng sanh tam ma địa, Kim Cang giáp trụ tam ma địa, Diệu túc bình mãn tam ma địa, Nhập chư phương tiện tam ma địa, Nhập chư pháp tam ma địa, Quán trang nghiêm tam ma địa, Pháp xa thinh tam ma địa, Viễn ly tham sân si tam ma địa, Vô biên tế tam ma địa, Lục ba la Mật môn tam ma địa, Trì đại diệu cao tam ma địa, Cứu chư bố úy tam ma địa, Hiện chư Phật sát tam ma địa, Quán sát chư Phật tam ma địa, được một trăm lẻ tám món tam ma địa như vậy.


    Ngài Zopa Rinpoche có nói :
    Chẳng còn gì ngu dại hơn việc không chịu sử dụng sự thuận lợi của cơ hội vĩ đại này. Nói chung, chúng ta liên tục xao lãng và phí phạm cuộc đời mình. Không chỉ có thế, mọi hành vi được làm với bản ngã và tâm thức nhiễm ô ba độc tham, sân và si tạo nên nghiệp tiêu cực, là nguyên nhân của đau khổ. Trong cả cuộc đời, không còn gì ngu xuẩn hơn việc sử dụng thân người toàn hảo này chỉ để tạo nên đau khổ.

    Đúng vậy , kẻ hèn mọn đột lốt người tu Konchok Tinley này xin khẩn khoản cầu van quý vị . Xin hãy tu tập pháp này và đừng bỏ lỡ cơ hội quý báu vô ngần nơi thực hành pháp. Đây là pháp mầu nhiệm viên ngọc quý mà tôi đã khuyên các đệ tử của tôi thực hành và bay giờ tôi xin quý vị . Hãy vì thương tưởng tới mọi loài chúng sanh cũng như cha mẹ nhiều đời mà tu tập pháp Tối thắng này .

    Để làm lợi ích cho mọi chúng sanh , xin hãy trì tụng , hát , đọc , viết , in lên mọi nơi . Chỉ cần 1 chúng sanh nhìn thấy chú này thôi sẽ đem tới kết quả thiện lành nhất !



    Do công đức này, mong rằng bất cứ chúng sinh nào, chỉ cần thấy, nghe, chạm, nói chuyện với, hoặc nghĩ về con thì ngay lập tức sẽ được thoát khỏi tất cả những khổ đau, tật bệnh, ác vong nhiễu hại, ác nghiệp, phiền não, và tất cả ô nhiễm, và mong rằng họ sẽ mãi mãi an trú trong hạnh phúc cùng tột của toàn giác.
    Tất cả sai sót là của người soạn, mọi công đức xin hồi hướng về khắp pháp giới chúng sanh.
    Nguyện cho thầy tổ an khang chân cứng đá mềm để bánh xe chánh Pháp được xuay chuyển khắp cùng pháp giới .
    Xin cho bậc hóa thân thứ 18 Lama Sonam Rinpoche bậc hóa thân Văn thù sư lợi thọ trường , giáo pháp của ngài lan mãi đến ngàn xa .




    SVCZ YouTube Player
    ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

    Tôi đã đạt được hạnh phúc vô bờ bến của pháp tu này , xin quý vị cũng vậy hãy thực hành nó .

    Bạn có thể tu trì pháp này mà không cần quán đảnh. Nếu được thọ quán đảnh thì đó là một phước duyên vô cùng lớn. Bánh xe cầu nguyện có thể thỉnh tại 1 cửa hàng nào đó trên chùa Quán sứ tại Hà nội. Nước ngoài có thể thỉnh tại tự viện hay 1 cửa hàng Văn hóa phương đông .
    Last edited by laduykhanh; 19-08-2008 at 11:09 AM.
    Lama Drikung Konchog Tinley
    :yb663:Namo Gurube:yb663:

    Thiền quán mà chẳng học Pháp thì như leo núi mà chẳng có chân.
    Học Pháp mà chẳng thực hành thì là bơ bị chua đáng bỏ.

    Y!: laduykhanh

  2. #2

    Mặc định

    xin hỏi tu trì và quán đảnh có nghi là gì ... có phải tu trì là tụng kinh kô và quán đảnh là lại kô ... xin lổi vì mình chưa hiểu 2 nghĩ đó ...cám ơn bác

  3. #3
    Đai Đen Avatar của laduykhanh
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Tu viện Drikung Kagyupa
    Bài gởi
    540

    Mặc định

    dunglise mến!
    Tu trì : Tu = Sửa , trì = Giữ . Sửa và giữ cho Thân Khẩu Ý 3 nghiệp thanh tịnh thì gọi là Tu trì . Trong đây có nghi quỹ tu trì gọi là : Pháp thiền kinh luân . Thì hàng ngày bạn phải thực tập theo đó ( tu trì ) không để đứt đoạn .
    Quán đảnh hiểu đơn giản đó là 1 lễ mở đạo , nhập môn của mật tông !

    Trong mật giáo , hầu hết các pháp đều phải có " quán đảnh " gia trì ban phước để người học được quyền tu trì . Riêng pháp Quan Âm này bạn cứ thực hành mà không sợ mắc tội . Có thì rất tốt . Không có thì thôi . Vẫn có thể tu được !
    Lama Drikung Konchog Tinley
    :yb663:Namo Gurube:yb663:

    Thiền quán mà chẳng học Pháp thì như leo núi mà chẳng có chân.
    Học Pháp mà chẳng thực hành thì là bơ bị chua đáng bỏ.

    Y!: laduykhanh

  4. #4

  5. #5

    Mặc định Tây Tạng chỉ tu theo Mật Tông

    Trong các quốc gia có Phật Tử tu theo Phật Giáo Đại Thừa :

    Tây Tạng chỉ tu theo Mật Tông mà thôi. Ở Tây Tạng có 4 tông phái Mật Tông chính đó là :

    1)Nyingmapa, 2)Sakyapa, 3)Kagyupa, 4)Gelupa.

    Mỗi một tông phái thì đều có phương pháp tu hành khác nhau theo các Kinh Mật Tông khác nhau nhưng tất cả các tông phái đều cùng thực hành 4 bậc Mật Tông đó là:

    1)Lễ Bái Mật Tông,
    2)Nghi Lễ Mật Tông,
    3)Thiền Quán Mật Tông,
    4)Tối Thượng Mật Tông.

    Mật Tông thì tiếng Phạn gọi là Tantra. Đạo Bà La Môn (Hinduism) cũng có Tantra nhưng mà cái Tantra này không phải là Tantra của trong Kinh Mật Tông dạy.

    Đây là sơ lược về 4 tông phái Mật Tông tại Tây Tạng:

    1)Nyingmapa:

    Tông phái Nyingmapa được khai sáng do Ngài Padmasambhava, là vị đem Phật Giáo Mật Tông từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng vào đầu thế kỷ thứ 7 sau TL. Ngài Padmasambhava đem theo tất cả Kinh Mật Tông bằng tiếng Phạn qua Tây Tạng vì vậy mà hiện nay chỉ có ở Tây Tạng là có đủ tất cả các Kinh Mật Tông. Ngài Padmasambhava đã dịch rất nhiều Kinh Mật Tông từ tiếng Phạn ra tiếng Tây Tạng. Ngài Padmasambhava đã truyền lại giáo lý Mật Tông cho 25 người đệ tử và sự truyền thừa đó vẫn tiếp tục cho đến bây giờ.

    Theo truyền thyết thì Ngài Padmasambhava đã hàng phục vị Thần Chủ xứ Tây Tạng cùng nhiều quỷ thần khác để cho họ quy y theo Phật Pháp và trở thành các vị Hộ Pháp tại các tu viện.

    2)Kagyupa

    Do Marpa Chokyi Lodoe Khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 10 sau TL. Ngài Marpa là đệ tử của Ngài Naropa. Ngài Naropa là vị đã truyền dạy về 6 pháp Thiền Quán về Mật Tông và Đại Thủ Ấn cho ngài Marpa và Ngài Marpa đã truyền lại cho đệ tử là Ngài Milarepa và Ngài Milarepa đã truyền lại cho hai vị đệ tử là các Ngài Gampopa, Rechungpa và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay.

    3)Kadampa

    Do Ngài Atisa khai sáng vào giữa thế kỷ thứ 9 sau TL. Ngài Atisa đã cho dịch ra rất nhiều kinh Mật Tông từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng. Ngài Atisa đã truyền giáo lý Mật Tông cho các vị đệ tử và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay.

    4)Sakya

    Do Ngài Khon Konchok Gyelpo Khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 11 sau TL. Ngài Khon Konchok Gyelpo đã truyền lại giáo lý và các pháp tu cho các đệ tử và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay.

    5)Gelupa

    Do Ngài Je Tsongkhapa khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 15 sau TL. và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay.

    Trong các tông phái kể trên thì chỉ có tông phái Gelupa là các vị xuất gia còn các tông phái Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa thì đa số là các vị cư sĩ vì vậy mà rất nhiều người không hiểu biết nói là các sư Tây Tạng có vợ là một sự sai lầm rất lớn.

    Giáo lý Mật Tông có hai phần Hiển Giáo và Mật Giáo.

    Hiển Giáo: Là tất cả cá giáo lý Tiểu Thừa, Đại Thừa và tất cả các Kinh, Luật, Luận của Tiểu Thừa và Đại Thừa.

    Mật Giáo: Là tất cả các giáo lý trong các kinh Mật Tông thí dụ như là phương pháp Thiền Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, phương pháp Chuyển Hoá Thân Thành Thân Bổn Tôn, phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, phương pháp Tự Thọ Quán Đảnh, phuơng pháp Truyền Pháp Quán Đảnh, phuơng pháp Chuyển Di Thần Thức, phương pháp Cung Thỉnh Chư Bổn Tôn, phương pháp Câu Triệu và Hàng Phục Thiên Long Quỷ Thần v.v rất là nhiều các pháp hành trì của Mật Tông khác.

    Rất nhiều kinh Mật Tông chỉ có trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng chứ không có trong Đại Tạng Kinh Hán là bởi vì các vì phiên dịch kinh Phật từ Phạn sang Hán khi xưa không có tu hành theo Mật Tông. Ngay cả khi Ngài Huyền Trang thỉnh Kinh Phật từ Ấn Độ về thì cũng chỉ đem về một số lượng rất là ít ỏi so với hàng ngàn bộ Kinh Mật Tông hiện có bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn ở tại các tu viện Tây Tạng.

    Nền tảng của triết lý Mật Tông là triết lý của Duy Thức, Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Bồ Đề Tâm. Triết lý Mật Tông đặt nền tảng trên các Kinh của Đại Thừa và Mật Tông và các bộ Luận như là Trung Luận, Du Già Sư Địa Luận, Nhân Minh Luận,Nhập Trung Luận,Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Biện Trung Biên Luận, Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận v.v.

    Triết lý và phương pháp hành trì của Mật Tông căn bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới-Định-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật giáo. Tuy nhiên Mật Tông đặt nặng về Gia Trì Lực của Chư Phật Bổn Tôn nên hay có nhiều sự thần thông biến hoá.

    Ba yếu tố chính trong sự tu hành của Mật Tông Tây Tạng là Từ Bi, Trí Tuệ, Phương Tiện Thiện Xảo.

    Mật tông có bốn bậc khác nhau từ cao xuống thấp là:

    Tối Thượng Mật Tông
    Thiền Quán Mật Tông
    Nghi Thức Mật Tông
    Lễ Bái Mật Tông

    Tối Thượng Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của ba bậc thấp hơn và thành tựu đầy đủ các pháp quán tưởng chuyển hoá thân thành vị Phật Bổn Tôn được thành tựu Tam Mật tức là Thân Mật, Ngữ Mật, Ý Mật.

    Thiền Quán Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của hai bậc thấp hơn. Hành giả phải biết rõ pháp tu quán tưởng chuyển hoá thân thành Đức Phật Bổn Tôn. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này

    Nghi Thức Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của bậc thấp hơn. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này

    Lễ Bái Mật Tông: Là hành giả phải tu hành đầy đủ các pháp lạy sám hối, trì tụng. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này

    Trong mỗi bậc Mật Tông lại có hai phần là Nội Mật và Ngoại Mật.
    Ở tại Việt Nam khi nói đến Mật Tông là nói đến hai loại Mật Tông đầu đó là Lễ Bái Mật Tông và Nghi Thức Mật Tông.

    Các Kinh về Thiền Quán Mật Tông và Tối Thượng Mật Tông thì chỉ có ở trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng mà thôi.

    Chư Tăng và Phật Tử Việt Nam sở dĩ không có tin việc tu hành theo Mật Tông trong một đời mà có thể thành Phật là bởi vì không có ai biết về Thiền Quán Mật Tông và Tối Thượng Mật Tông.

    Không phải là hễ ai tu theo Mật Tông thì cũng thành Phật trong một đời cả mà chỉ có các vị tu theo pháp Tối Thượng Mật Tông lúc được thành tựu viên mãn thì mới có thể chứng quả Phật trong hiện đời.

    Pháp Tối Thượng Mật Tông rất là thâm sâu vì vậy một người muốn tu hành pháp Tối Thượng Mật Tông thì phải có căn bản vững chắc về Mật Tông của các bậc dưới rồi và hành giả trước hết phải nhận được Pháp Quán Đảnh của một vị Kim Cang Pháp Sư đã thành tựu về Pháp Tối Thượng Mật Tông truyền dạy. Hành giả cũng phải có sự chứng nhập thâm sâu về Tánh Không và Bồ Đề Tâm thì mới có thể tu hành Pháp Tối Thượng Mật Tông .

  6. #6

    Mặc định Kính xin ai muốn có 04 vcd bài giãng Đức ĐạtLai Lạt Ma 14

    Bài giãng tại Hoa Kỳ

    Kính xin Biếu

    Kính
    Last edited by vuive; 19-08-2008 at 04:43 PM.

  7. #7

    Mặc định Nyingmapa."tông phái Mật Tông "

    Ninh-mã phái (zh, bo. nyingmapa )

    Cũng được gọi là Cựu phái vì được sáng lập từ lần đầu Phật giáo truyền qua Tây Tạng , hoặc Hồng giáo vì các tu sĩ phái này thường mang y phục màu hồng (hoặc mũ màu hồng), là một trong bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng .

    Tông này thống nhất truyền thống của Đại sư Liên Hoa Sinh (sa. padmasambhava) và các cao tăng Tì-ma-la-mật-đa (hoặc Tịnh Hữu, sa. vimalamitra), Biến Chiếu (sa. vairocana) từ Ấn Độ truyền qua trong thế kỉ thứ 8 . Từ thế kỉ 15 trở đi, giáo lí của tông này được xắp xếp theo hệ thống nhưng không được thu nhận vào Đại tạng (Cam-châu-nhĩ/Đan-châu-nhĩ) của Tây Tạng. Giáo pháp này lấy Đại cứu cánh (bo. dzogchen) làm cơ sở và dựa trên luận giải của Long-thanh-ba (zh. , bo. klong chen pa ). Phái Ninh-mã nguyên thuỷ gồm có cả tăng sĩ lẫn cư sĩ và giữ được truyền thống của mình qua thời kì Phật giáo bị Lãng-đạt-ma (bo. glang dar ma ) bức hại ( 836 - 842 ). Qua thế kỉ thứ 11 , phái này bắt đầu phát triển và trong nội bộ chia làm ba dòng chính: dòng "lịch sử", dòng "trực tiếp" và dòng "kiến chứng".

    Dòng kiến chứng (bo. dag snang ) dựa trên sự tiếp xúc trực tiếp với Báo thân của các vị Đạo sư (đã nhập diệt) trong lúc nhập định, theo lời khai thị của các vị đó để tuyên giáo các giáo pháp cụ thể trong những thời kì nhất định. Qua cách truyền giáo này mà Long-thanh-ba được xem là trực tiếp nhận những lời khai thị của Liên Hoa Sinh .

    Dòng trực tiếp hay Bí lục (bo. gter ma ) dựa trên các bí lục do Liên Hoa Sinh truyền lại. Ví dụ như Tử thư (bo. bardo thodol là một tác phẩm bí lục.

    Dòng lịch sử hay tuyên giáo (bo. bka' ma ) dựa trên hiển giáo xuất phát từ Phổ Hiền , trong đó có các giáo pháp quan trọng của Ba thừa chỉ được tìm thấy trong dòng Ninh-mã như Ma-ha-du-già (sa. mahāyoga), A-nậu-du-già (sa. anuyoga) và A-tì-du-già (sa. atiyoga).

  8. #8

    Mặc định Tây Tạng p01

    Nằm giữa giao lộ của hai nền văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, lịch sử Tây Tạng là một mớ rối rắm nhiều sự kiện có ảnh hưởng hỗ tương. Về mặt chủng tộc, người Tây Tạng có nhiều nét hoàn toàn khác với sắc dân Hán phía đông, Slav phía tây, Mông Cổ phía bắc, và Ấn Độ, Nepal, Miến, Thái... phía nam. Về văn hoá, Tây Tạng gần gũi với Ấn Độ hơn Trung quốc, chữ viết Tây Tạng hiện nay dựa trên mẫu tự của ngôn ngữ Sanskrit.

    Xã hội Tây Tạng không mang nét văn minh Khổng giáo, mà mang sắc thái Phật giáo đại thừa đặc thù du nhập từ Ấn Độ cùng với Ấn giáo và Jain giáo, vừa huyền bí vừa cao thâm, hoà hợp với Bon giáo bản xứ tin vào pháp thuật và thú linh. Tuy Phật giáo Tây Tạng có bốn tông phái chính, phần lớn người Tây Tạng ngày nay vừa tôn thờ vừa chịu sự lãnh đạo của Dalai Lama thuộc phái Gelugpa cả trên phương diện thế tục lẫn tinh thần.

    Về mặt chính trị, Tây Tạng khác với hai dân tộc Triều Tiên và Việt Nam. Hai nước nhỏ này mang đậm dấu ấn của Khổng giáo và cũng có chung biên giới với gã khổng lồ Trung quốc, nhưng từ thượng cổ cho tới thời cận đại họ luôn luôn muốn chứng tỏ sự độc lập của mình và cương quyết đánh đuổi bọn ngoại xâm, mặc dù thỉnh thoảng vẫn có những kẻ muốn dựa vào thế lực bên ngoài để nắm quyền nhưng cuối cùng đều thất bại.

    Ngược lại, từ khi hình thành một nhà nước Tây Tạng rõ rệt, các triều đại cầm quyền ở Tây Tạng đã chịu sự chi phối sâu đậm của người Hán, thậm chí tước Dalai Lama cũng do người Mông Cổ phong cho, rồi các nhóm thế lực bản xứ dựa vào Mông Cổ để tranh giành quyền lực vì thế nội tình bị Mông Cổ lũng đoạn trong hơn 4 thế kỷ. Đến đầu thế kỷ 18, Tây Tạng chịu sự đô hộ trực tiếp của nhà Mãn Thanh gần một thế kỷ, rồi tới sự can thiệp của Anh quốc. Năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch, Trung quốc lại bắt đầu xâm lấn dần và đặt nền cai trị có tính cách diệt chủng văn hoá ở Tây Tạng, với sự ngó lơ đồng loã của thế giới hoặc thỉnh thoảng có lời phản đối trên đầu môi của cộng đồng quốc tế trong suốt nửa thế kỷ qua.

    Hiện nay, người Tây Tạng lưu vong có một quốc hội ở Dharamsala, Ấn Độ, với một vị Lama giữ vai trò tương đương như Thủ tướng lo mọi việc ngoại giao, kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục... Tuy nhiên, đối với quốc tế hầu như chỉ có Dalai Lama 14 là người có một số uy tín tương đối nào đó khi phát biểu về những vấn đề liên quan tới Tây Tạng.

    Một khi vị Dalai Lama hiện nay qua đời, sẽ có một khoảng trống quyền lực kéo dài ít nhất 20 năm, hoặc tới khi vị Dalai Lama mới đủ trưởng thành để dẫn dắt dân tộc Tây Tạng, trong khi đó Trung quốc chắc chắn sẽ đưa lên một Dalai Lama khác, như hiện đã có hai Panchen Lama, một lưu vong và một dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Trung quốc. Tương lai có vẻ không sáng sủa cho lắm đối với dân tộc Tây Tạng.

  9. #9

    Mặc định Tây Tạng p02 "một số mốc chính trong lịch sử Tây Tạng"

    416 trước Công nguyên: Nyatri Dzenpo lập vương quốc đầu tiên, kinh đô ở thung lũng Yarling. Bon là hình thức tôn giáo chính, tin vào pháp thuật và thú linh.

    620-649 Công nguyên: Songzen Gampo chinh phục Nepal ở phía tây và Lamarupa ở nam, thống nhất đất nước, kinh đô ở Lhasa. Gampo cưới công chúa nhà Đường để lập quan hệ với Trung Hoa.
    Thế kỷ 7: Phật giáo đến Tây Tạng. Kinh Phật được dịch ra tiếng Tây Tạng, gián tiếp định hình chữ viết Tây Tạng từ mẫu tự Gupta thuộc ngôn ngữ Sanskrit.

    Cuối thế kỷ 8: Padmasambhava, tu sĩ Ấn, sáng lập tông phái Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng, Mật tông Nyingmapa. Phật giáo bắt đầu có ảnh hưởng lớn trong chính quyền.

    1073: Konchok Gyalpo thoát ly phái Nyingmapa, lập phái Sakyapa, tông phái lớn thứ hai ở Tây Tạng.
    1193: tổ sáng lập phái Karmapa (một nhánh của Sakyapa) là Dusum Chempa mất. Karmapa là tông phái đầu tiên chủ trương vị tổ sẽ đầu thai để tiếp tục sự nghiệp truyền đạo.
    1251: Mông Cổ xâm lăng Tây Tạng. Đại hãn Hốt Tất Liệt được phái Sakyapa phong làm Lama, là Hoàng đế-Lama đầu tiên của Tây Tạng. Bắt đầu gần 400 năm Mông Cổ lũng đoạn nội tình Tây Tạng.
    1409: nhà cải cách Tsong Khapa lập tu viện ở Ganden của phái Gelugpa, tông phái thứ tư của Tây Tạng.
    1578: Altan Khan của Mông Cổ phong tước Dalai Lama cho Sonam Gyatso (1543-88), vị trụ trì tu viện Drepung của phái Gelugpa. Sonam Gyatso là Dalai Lama thứ 3 của Tây Tạng. Tước vị này cũng phong cho hai vị tiền nhiệm của Sonam là Gedung Truppa (1391-1474) và Gedung Gyatso (1475-1542).

    1642-1720: Mông Cổ củng cố thế lực ở Tây Tạng, giao quyền cho Lobzang Gyatso, Dalai Lama 5. Ông đánh bại phái Karmapa, từ đó phái Gelugpas nắm quyền chính trị ở Tây Tạng.
    1720-1795: Nhà Thanh đuổi Mông Cổ khỏi Lhasa, thiết lập quyền cai trị ở Tây Tạng.
    1795: Tây Tạng tự giải phóng khỏi sự cai trị của Trung Hoa nhờ nhà Thanh bắt đầu suy đồi.
    1903-4: phó vương Ấn Lord Curzon xâm lăng Tây Tạng để chặn ảnh hưởng của Nga, buộc Tây Tạng mở cửa buôn bán với Anh và cấm gia hạn đặc quyền thương mại cho Nga.
    1906: hiệp ước Anh-Hoa công nhận chủ quyền của Trung Hoa ở Tây Tạng.
    1911: lợi dụng cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa, Tây Tạng trục xuất người Hán.
    1913: Quốc hội Tây Tạng và Dalai Lama 13 (1875-1933) tuyên bố độc lập.
    1913-4: Hội nghị Simla giữa Anh, Tây Tạng và Trung Hoa để giải quyết vấn đề Tây Tạng nhưng không đạt kết quả.
    1918: Tây Tạng lật đổ Trung Hoa và tự trị.
    1940: Tenzin Gyatso (1935-) trở thành Dalai Lama 14.

    22/5/1950: Trung Hoa đề nghị cho Tây Tạng là khu tự trị nếu chấp nhận chủ nghĩa cộng sản.
    7/10/1950: Trung Hoa thôn tính Tây Tạng, đặt thành tỉnh. Dalai Lama 14 trở thành bù nhìn và cố hoà giải. Lời kêu gọi cho Tây Tạng tại Liên hiệp quốc không mang lại hiệu quả nào.

    23/5/1951: tại Bắc Kinh, ký hiệp ước 17 điểm sáp nhập Tây Tạng vào Trung Hoa, và thành vùng tự trị. Năm 1953, Dalai Lama chấp nhận hiệp ước.
    26/10/1951: quân đội Trung Hoa chiếm đóng Lhasa. Bắt đầu đàn áp dân Tây Tạng, giết 40.000 người năm 1954, trục xuất và cưỡng bức lao động; đưa hàng triệu người Hán đến định cư trong nỗ lực xoá bỏ văn hoá Tây Tạng.
    3/1959: Dalai Lama trốn sang Ấn Độ sau vụ dân Tây Tạng nổi loạn và 87.000 người bị giết. Lập chính quyền lưu vong ở Dharamsala, cách biên giới 35 dặm. Trung Hoa đưa Panchen Lama lên làm quyền chủ tịch Tây Tạng.
    1960: tu viện Tashilhunpo bị cướp phá, 4.000 tu sĩ bị giết hoặc đi đày. Panchen Lama, Chokyi Gyaltsen, tố cáo Trung quốc xâm lăng; năm 1964 ông bị tù 14 năm.
    1961: Liên hiệp quốc thông qua nghị quyết tố cáo đàn áp nhân quyền ở Tây Tạng khi chính quyền Trung Hoa lục địa xin gia nhập tổ chức này. Dalai Lama kêu gọi Liên hiệp quốc phục hồi độc lập cho Tây Tạng, nhưng không được nước nào ủng hộ.
    1965: Tây Tạng chính thức trở thành khu tự trị trong lãnh thổ Trung quốc, và chính quyền cộng sản tuyên bố sẽ thực hiện chính sách xã hội hoá.
    1966-76: Cách mạng Văn hoá phá hủy 6.000 tu viện Tây Tạng, cấm mặc y phục cổ truyền và mọi hoạt động tôn giáo. Hơn một triệu người Tây Tạng bị giết.
    1978: Panchen Lama được phục hồi chức vị sau khi bị cầm tù, và kêu gọi Dalai Lama trở về Tây Tạng.
    1980-2: Dalai Lama gửi bốn phái đoàn về Tây Tạng.
    1987: Dalai Lama đưa Kế hoạch Hoà bình 5 điểm, kêu gọi đặt Tây Tạng thành một vùng hoà bình, chấm dứt đưa người Hán vào tràn ngập Tây Tạng, phục hồi tự do, dân chủ và các quyền căn bản, và Trung quốc ngưng dùng đất Tây Tạng để sản xuất bom nguyên tử và tàng trữ các phế thải có phóng xạ.

    15/6/1988: Dalai Lama cụ thể hoá Kế hoạch Hoà bình 5 điểm, đề nghị lập vùng tự trị Tây Tạng trong nước Trung Hoa.
    1988: Asia Watch tố cáo Trung Hoa vi phạm nhân quyền ở Tây Tạng. Sau đó Liên hiệp quốc báo cáo Trung Hoa bắt và tra tấn người Tây Tạng đối lập.
    1989: Dalai Lama nhận giải Nobel Hoà bình.
    1990: điều tra dân số Tây Tạng có độ 2,2 triệu người.
    1992: Trung Hoa biến Tây Tạng thành Đặc khu kinh tế.
    1995: Dalai Lama chọn Gedhun Choeklyi Nyima 6 tuổi là Panchen Lama thứ 11. Trung Hoa bắt giam đứa bé và chọn Gyaincain Norbu.
    1997: Gyaincain Norbu, chủ tịch chính quyền địa phương của Tây Tạng, tuyên bố Trung Hoa sẽ không bao giờ cho Tây Tạng tự trị như Hồng Kông.

    05/01/2000: Karmapa thứ 17 đến Dharamsala diện kiến Dalai Lama, sau khi từ tu viện Tsurphu trốn nhà cầm quyền Trung Hoa và cuối cùng vượt biên giới qua Nepal.

    5/2007: Dalai Lama tỏ ý muốn tự giảm bớt vai trò chính trị và giao quyền cho quốc hội Tây Tạng lưu vong.

    9/2007: Trung quốc ra luật về việc chọn Dalai Lama tương lai phải được chính quyền Bắc Kinh chấp thuận.

    2008: biểu tình khắp thế giới ủng hộ người Tây Tạng nhân dịp Thế vận hội mùa hè tại Bắc Kinh. Nhiều cuộc náo động tại Tây Tạng bị Bắc Kinh đàn áp đẫm máu, Dalai Lama kêu gọi mọi phía bình tĩnh. Lời kêu gọi và phương pháp ôn hoà của ông gặp sự phản đối của một số người trẻ Tây Tạng chủ trương hoàn toàn độc lập và tách khỏi Trung quốc, trong khi đó chính quyền Trung quốc tố cáo ông xúi giục bạo động.

    25/4/2008: chính phủ Trung quốc tuyên bố đồng ý gặp gỡ sứ giả của Dalai Lama trong những ngày sắp tới, nhưng không nêu cụ thể nội dung các vấn đề sẽ thảo luận. Trong nhiều tuần qua Trung quốc đã chỉ trích Dalai Lama đứng sau các vụ náo loạn ở Lhasa và các vùng phía tây Trung quốc và chủ trương tách rời Tây Tạng khỏi Trung quốc. Dalai Lama bác bỏ các cáo buộc này và phản đối các hành vi dẫn tới bạo động của cả hai phía. Samdhong Lobsang Tenzin Rinpoche, thủ tướng chính phủ lưu vong Tây Tạng, nói trong một cuộc phỏng vấn ở Dharamsala rằng Dalai Lama không chủ trương độc lập khỏi Trung quốc, và ngay từ đầu đã ủng hộ Trung quốc tổ chức Thế vận hội năm 2008.

  10. #10

    Mặc định Một câu hỏi của thính giả "Đức Đạt La Lạt Ma trả lời"

    "Chúng tôi có thể tu tập các Pháp môn nầy không, khi tôi là người theo đạo Công giáo?“.

    Ngài trả lời rằng: „Nếu mới vô thì không thấy gì khác, vì hai tôn giáo hầu như giống nhau, đều dạy về thương yêu, nhân từ, bác ái… Nhưng nếu đi sâu hơn, thì có sự khác biệt, như tánh không, giải thoát, bồ tát hạnh… hầu như không thích ứng với nhau, nên rất khó khăn. Vậy nửa Chúa, nửa Phật được không? Tốt nhất là nên đi sâu vào một cái thôi“…

    Có thân nầy là có sự đau khổ. Ngay từ trong bụng mẹ, chịu nóng, chịu lạnh (nếu mẹ uống lạnh, ăn nóng). Khi sinh ra đau đớn, khổ. Lớn lên khổ… Triền miên.

    Nhưng nếu ta biết xử dụng thân nầy một cách có ích, biết tu tập, sẽ tạo nên nhiều công đức… Thường thường người ta hay chạy theo trụy lạc. Sự vui sướng đó tốn rất nhiều công sức, và luôn luôn kèm theo sự nguy hiểm, và qua đi rất mau!. Trong khi đó cái khổ đến rất tự nhiên, ngay cả trong lúc ta đang tận hưởng dục lạc. Người thông thái thì bị khổ vì tâm thức dày vò, người phàm phu thì bị thân xác. Khổ đau đầy rẩy, vui sướng chỉ thoáng qua như tia chớp. Trong vui sướng có khổ đau, nhưng trong khổ đau không có sự vui sướng… Cuộc sống bắt đầu bằng một tâm niệm vô minh. Nên tu tập Tứ Niệm Xứ, trong đó Thân thể được quán niệm một cách kỹ lưỡng, rất tốt cho việc tu tập…

    Tất cả ngoại duyên, các đối tượng… sẽ không bao giờ làm cho ta thỏa mãn. Chỉ khi chúng ta biết tự đủ thì mới đủ (ghi chú: tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc!). Thấy một người đàn bà đẹp ta mê đắm? Tất cả sự thương, ghét… đều do nhận thức sai lầm của tâm thức mà ra. "Nàng là của tôi“ là một sự sai lầm lớn! Khi mình có mụn nhọt ngứa, gãi cho là sướng.

    Nhưng tốt hơn là không có mụn nhọt mới thật là sướng (mọi người vỗ tay cười). Cũng vậy, khi thỏa mãn được dục lạc, ta cho là sướng, nhưng tốt hơn là không nên có sự tham dục đó. Dù chúng ta có xức bao nhiêu dầu thơm, có rửa sạch mấy đi chăng nữa, cũng không thể làm cho thân thể nầy sạch được (mọi người cười ồ!). Nên quán Bất tịnh để đối trị tham dục…

    Muốn đi vào thiền định, phải có một sự an lạc nào đó (ghi chú: phải trừ bỏ ngũ cái: trạo cử, hôn trầm, dục, sân, nghi). Còn vướng ngã chấp thì không thể giải thoát được. Nếu chỉ thiền định, không phá ngã, thì không thể thành công, đạt tới niết bàn. (ghi chú: Chỉ và Quán phải luôn luôn song hành)… Phải tích tụ công đức, trau dồi trí tuệ. Kinh Lăng Già: Tất cả điều chúng ta nhận biết được, đều không thật có (ghi chú: là „tiếng gọi của sự kinh sợ“).

    Ngã mạn sẽ tạo ra ác nghiệp. Không ngã mạn sẽ tạo ra công đức. Phải biết khiêm nhường. Người có trí không bao giờ nghĩ rằng mình hơn người. Nghĩ đến tương lai thì đừng tạo ác nghiệp. Có bốn quan niệm sai lầm thường mắc phải: thế gian nầy thường còn, cuộc đời là vui thú, có một cái ngã chắc chắn, các Pháp là thanh tịnh… Giữ giới là một việc rất quan trọng, và luôn luôn tỉnh thức chánh niệm, phát triển trí tuệ qua thiền định…Đó là những bước đầu căn bản. Dần dần tiến lên những bước cao hơn, như phát bồ đề tâm, tu bồ tát hạnh…v...v

  11. #11

    Mặc định Vài thông tin về Đức Đạt La Lạt Ma 14 khả kính

    Đức Đạt La Lạt Ma năm nay 72 tuổi, sinh ngày 6-7-1935 tại một làng nhỏ miền Đông Bắc Tây Tạng với tên khai sanh là Lhamo Dhondrub.

    Lúc 2 tuổi (1937) Ngài được công nhận là tái sanh của Đạt La Lạt Ma đời thứ XIII. Năm 4 tuổi, ngài được đưa về cung điện Potala ở Lhasa để huấn luyện trở thành một tu sĩ lãnh đạo Phật Giáo với Pháp danh là Tenzin Gyatso. Năm 15 tuổi (1950) Ngài được tấn phong lãnh đạo thế quyền và giáo quyền Tây Tạng. Không lâu sau đó, Tây Tạng bị Trung Quốc chiếm. Ngài có sang Trung Quốc vận động với chủ tịch Mao Trạch Đông về vấn đề nầy, nhưng không thành công. Năm 1959 Ngài trốn chạy khỏi Tây Tạng, xin tị nạn tại Ấn Độ.

    Chính quyền Ấn Độ đồng ý cho Ngài cư ngụ tại Dharamsala, một vùng đất hoang vu, núi rừng bao phủ, giáp giới với Trung Quốc. Ngày nay, nơi đó đã biến thành một nơi sầm uất, trung tâm du lịch và tu học trên toàn thế giới.

    Năm 1989 Ngài đoạt giải Nobel hòa bình. Trong cuộc trưng cầu ý kiến mới nhất ngày 14-7-2007 của tuần báo nỗi tiếng „der Spiegel“ (tấm gương), Ngài được người dân Đức có cảm tình nhiều nhất (44%), trong khi Giáo Hoàng Benedikt XVI chỉ được 42% (Đây là một sự chấn động, vì Giáo Hoàng là người Đức và Công Giáo là quốc giáo của nước nầy!). Ngài được người dân Đức mến mộ vì Ngài tỏa ra sự chân tình, lôi cuốn, có năng lực, điềm đạm, trầm tỉnh, và đặc biệt là cho họ được những lời khuyên hữu ích…

  12. #12

    Mặc định "học hỏi hòa bình - sự thực hành của bất bạo động“

    Hai ngày đầu Ngài giảng cho tất cả mọi tầng lớp thính chúng bằng tiếng Anh, đề tài "học hỏi hòa bình - sự thực hành của bất bạo động“ (Frieden lehrnen- die Praxis der Gewaltlosigkeit). Thế giới ngày nay bị khủng hoảng trầm trọng, từ cá nhân đến xã hội. Chiến tranh, khủng bố, bạo động, nghèo đói, bất công… lan tràn. Con người sống trong hoang mang, sợ hãi, đau khổ, thất vọng…

    Làm sao để đối phó? Làm sao để thực tập bất bạo động? Câu trả lời là: phải kết hợp giữa Trí tuệ và bất bạo động. Hòa bình bên trong (nội tâm) là điều kiện cho hòa bình bên ngoài (thế giới)“ (innerer Frieden ist die Voraussetzung für äußeren Frieden). Nếu mỗi người biết sống an lạc, hòa bình thế giới sẽ được thiết lập. Cá nhân Ngài là một điển hình: một ông thầy tu, người lãnh giải Nobel hòa bình, nhà lãnh đạo tinh thần đáng tôn kính. Ngài là tấm gương sáng cho sự đồng cảm và bất bạo động .

    Buổi chiều chủ nhật 22-7 Ngài giảng về "Sự đồng cảm trong một thế giới toàn cầu hóa“ (Mitgefühl in der globalisierten Welt). Trong thời đại mới, mọi người, mọi quốc gia đều liên hệ với nhau một cách chặt chẽ.

    Trong tinh thần đó, làm sao để phát huy tình người, hạn chế những tiêu cực như bất bình đẳng, hủy hoại môi sinh, cạnh tranh bất chính? Ngài dạy, mỗi hành động của chúng ta, dù nhỏ nhặc, đều ảnh hưởng đến toàn thể vũ trụ. Sự phúc lợi của đại đa số phải được đưa lên hàng đầu. Mọi người đều có quyền sống hạnh phúc, nhưng điều đó có thực hiện được hay không là do thái độ của mỗi người chúng ta. Tây phương ngày nay thừa mứa vật chất, nhưng đồng thời cũng lắm khổ đau. Phải tập phát triển lòng thương yêu, sự đồng cảm, khoan dung để trấn áp những cảm nhận tiêu cực, sự giận dữ, lòng căm thù... Thái độ tinh thần (mentale Einstellung) tích cực đó ảnh hưởng tốt đến sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta…

    Sau mỗi phần thuyết giảng Ngài trả lời những câu hỏi (gạn lọc) của thính chúng, và trao đổi với những vị quan khách được mời lên khán đài.

    Mỗi lần mời độ 4 vị, lên ngồi hai bên Ngài (hình chữ V rộng). Các vị được hân hạnh mời là: BS giáo sư tâm thần Prof. Manfred Cierpka, đại học Heidelberg, người sáng lập chương trình "không gây hấn“ (Faustlos) ngăn ngừa sự bạo động trong giới thanh thiếu niên; nhà văn thiền sư Niklaus Brantschen; Prof. Weiße, giáo sư khoa giáo dục đại hoc Hamburg, giám đốc trung tâm "đối thoại giữa các tôn giáo“; nữ ký giả Beate Strenge; nữ mục sư Annegrethe Stoltenberg, chủ bút tạp chí "Hinz und Kuntz“; ông Jakob von Uexküll, sáng lập ủy ban "cố vấn thế giới tương lai" (Weltzukunftsrats); bà Bosiljka Schedlich, đồng sáng lập hội „Văn Hóa Đông Tây giúp đở nạn nhân chiến tranh, người đã được đề cử giải Nobel hòa bình năm 2005; và nữ danh ca Judith Holofernes. Trong những lần trao đổi nầy, ngài luôn luôn kêu gọi sự thương yêu, đoàn kết, phát tâm từ. Ngài kêu gọi thành lập một Ủy Ban phi chính phủ, không có mặt các chính quyền, chỉ gồm toàn những người có đạo đức, không thành kiến, để cố vấn cho thế giới, giải quyết những xung đột hiện nay (ghi chú: đây là một đề nghị rất đáng lưu tâm!)…

    Trong 2 ngày giảng công cọng đó, khán giả ngồi chật kín cả khán đài không còn chỗ trống (có sức chứa 13.000 người), và ngồi cả trên mặt sân đánh tennis (dành cho Tăng Ni và người bảo trợ, mua vé với giá cao hơn ấn định). Ước tính tổng cọng khoảng độ 17.000 người (theo lời của một nhân viên người Việt thuộc ban tổ chức).

    Năm ngày kế tiếp trong tuần Ngài giảng bằng tiếng Tây Tạng sâu vào giáo lý, qua 400 bài kệ của ngài Thánh Thiên Aryadeva. Ngày cuối cùng là lễ Điểm Đạo (Quán Đảnh) Văn Thù Sư Lợi (rất tiếc ngày nầy tôi không tham dự được, vì phải theo xe buýt đi dự khóa Phật Pháp Châu Âu kỳ thứ 19 tại Thụy Điển)

  13. #13

    Mặc định Tiếng gọi của sự kinh sợ.“

    Những câu kệ đầu, Ngài Thánh Thiên nhắc ta về sự vô thường.

    Trong 25 câu đầu, ngài dạy làm thế nào để chấm dứt quan niệm về sự thường hằng. „Quá khứ hình như ngắn ngủi, nhưng bạn sẽ nhìn tương lai hoàn toàn khác:

    Cái mà ta cho là giống hoặc không giống, chính là một tiếng gọi của sự kinh sợ.“ (Die Vergangenheit scheint dir kurz, doch die Zukunft siehst du ganz anders: Dass du Gleiches als ungleich betrachtest, gleicht deutlich einem Ruf des Schreckens).

    „Nếu sự gặp gỡ làm bạn vui sướng, vậy tại sao lại không vui sướng khi chia lìa? Bạn không nhận thấy rằng sự gặp gỡ và chia lìa cùng sánh vai nhau tay trong tay đó sao?“…

  14. #14

    Mặc định Sự chết. Từng sát-na một… Chỉ có Nghiệp đi theo mà thôi"p01

    Khi mới sanh ra thì cái chết cũng đã có mặt.

    Nếu chỉ sống với vật chất hưởng thụ, tạo ra những ác nghiệp… là một sự sai lầm rất lớn.

    Phải luôn luôn nghĩ đến vô thường,

    Đế thứ I: Khổ Đế. Có 3 điểm cần chú ý:

    1.- Chết là điều chắc chắn xảy ra.

    2.- Thời gian, lúc nào chết?.

    3.- Chết không mang theo được gì cả, tài sản, vợ con….

    Chỉ có Nghiệp đi theo mà thôi. Nếu mỗi mười năm nhìn lại thân ta, sẽ thấy sự khác biệt lớn (còn nếu cứ nhìn hoài sẽ không thấy).

    Sự thay đổi diễn ra từng sát-na.

    Thay đổi nầy không do yếu tố bên ngoài tác động, mà chính là bản chất của nó.

    Một vật được tạo ra, kèm theo sự vô thường, thay đổi, nên nó cũng chính là sự hủy diệt.

    Phải nhận ra, đừng quên.

    Sự chết. Từng sát-na một… Ai sống lâu cũng có lúc già.

    Phải chấp nhận sự già nua bệnh tật.

    Tại sao ta buồn khổ khi người thân ta chết?

    Ta buồn đau người thân, còn sự vô thường của chính ta thì sao?

    Sự ra đi của người thân là một dấu hiệu cho chính chúng ta.

    Đó là một điều đương nhiên, tại sao lại bất ngờ?

    Vì vô minh nên không thấy thôi.

    Sự chết đi và sự sinh ra của mọi người đều do nghiệp cả.

    Bởi vậy ta không nên buồn khổ.

    Chính ta cũng là nạn nhân của vô thường mà.

    Có sự buồn khổ đó là do bởi sự chấp thủ.

    Nếu sự chết xảy ra với người ta ghét, ta có buồn không?. Cha mẹ thương con nhiều hơn con thương cha mẹ.

    Tình thương ta nhận được của một người nào đó làm ta thích thú.

    Nhưng đó chỉ là tương đối. Nếu chấp thủ vào đó, sẽ đau khổ.

    Đó chỉ là một sự trao đổi… Sự chia lìa làm ta khổ, và thời gian là liều thuốc tốt nhất xóa nhòa tất cả.

    Tất cả mọi người, ai cũng khổ đau. Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Gặp gỡ thì vui, xa cách thì buồn? Không đúng! vì gặp là chia tay rồi. Gặp gỡ là nhân của chia lìa…

  15. #15

    Mặc định Sự chết. Từng sát-na một… Chỉ có Nghiệp đi theo mà thôi"p02

    Quá khứ vô thỉ, tương lai vô chung.

    Chúng ta xuất hiện như một điểm nhỏ trong vô tận đó, không nghĩa lý gì.

    Thời gian là sat-na đến đi, được nhận biết qua bốn mùa.

    Thời gian là kẻ thù. Đừng nên chấp thủ, thích thú.

    Sự chia tay là điều chắc chắn. Nên hướng trí tuệ về những điều đó. Đức Thế Tôn đã chỉ ra Khổ Đế.

    Ai trong chúng ta cũng đều muốn thoát khổ, muốn có được hạnh phúc.

    Nhưng điều nầy không thể đương nhiên mà có.

    Trước hết phải nhận thức ra nguyên nhân của khổ, rồi tìm cách chuyển hóa nó.

    Phải từ bỏ các ác pháp (tham, sân, si, mạn, nghi, biên kiến, tà kiến, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo…). Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.

    Nếu tu theo thập thiện (10 điều thiện) sẽ đoạn được khổ-khổ trong tương lai. Vô thường đưa đến hoại diệt, là nguyên nhân của hoại khổ. Hành khổ rất vi tế, vì có nghiệp dẫn dắt, được hướng dẫn bởi tham sân si, biên kiến, tà kiến….

    Phải từ bỏ quan niệm cố chấp về sự hiện hữu của chúng ta. Phải vượt qua mọi tri kiến sai lầm về các pháp. Khổ đau. Phải luôn luôn ý thức điều đó, nhận rõ nguyên nhân, sẽ tìm ra cách giải thoát. Như người bị bịnh, phải tìm ra nguyên nhân của bệnh thì mới trị được.

    Đức Phật đã chỉ ra con đường để vượt qua khổ đau. Đệ Tứ Đế, Đạo Đế.
    Tam bảo quy y là để vượt khổ đau, dùng Phật pháp để đối trị.

    Sự chấp thủ là một nguyên nhân (của khổ đau), dùng Trí Tuệ để phá.

    Chỉ có Phật giáo mới hướng dẫn ta đi vào vô ngã.

    Chúng ta cần Phật, cần Pháp, và cũng cần Thiện hữu tri thức.

    Quy y là bước ban đầu. Nghiên cứu, kiến giải, tinh tấn… là những bước theo sau.

    Bốn trăm bài kệ nầy là bổ sung cho những tác phẩm của ngài Long Thọ, nghiên cứu nó, ta sẽ dễ dàng hiểu được Ngài Long Thọ hơn…

    Ngài ngừng lại, và kể một câu chuyện:

    Vào khoảng thập niên 1960, có một người đàn bà Tây phương trẻ đẹp nói với Ngài rằng "người Tây Tạng không có tôn giáo!“. Ngài rất giận, nhưng không giận được, vì bà ta rất đẹp (cười). Cũng vậy, một ông Giám Mục bên Mỹ nói: "Giáo lý của chúng tôi rất thực tế, còn những người Tây Tạng rất là đáng thương!...“. Đó, như thế đó. Những người đó không hiểu.

  16. #16

    Mặc định Sự chết. Từng sát-na một… Chỉ có Nghiệp đi theo mà thôi"p03

    Đức Đạt La Lạt Ma khả kính dạy:

    Sự tu tập Phật pháp không cần có chùa chiền, mà do nơi mỗi người chúng ta, tự tu tập, tự chuyển hóa lấy. Trong sự tu tập Phật pháp, điều quan trọng là phải học hỏi giáo lý (vỗ tay rất lâu!).

    Tất cả khổ đau đều nằm sâu trong tâm thức, mặc dầu là khổ do thân thể đi chăng nữa.

    Một cuộc sống thiếu đạo đức sẽ bị nhiều khổ đau.

    Do vậy, nên tập sống một đời sống có đạo đức. Không phải chỉ để tránh tù tội…

    Nên tu tập Bồ đề tâm. Khi bị khổ đau, ta nguyện rằng, tôi sẽ chịu tất cả khổ đau cho mọi người.

    Khi sung sướng, ta nguyện cho tất cả đều được sung sướng. Không nên chờ đợi, phải bắt đầu tu tập ngay.

    Sự chết không có chờ đợi ai.

    Thân tâm ta đang bị hoại diệt từng sát-na!

  17. #17

    Mặc định Sự chết. Từng sát-na một… Chỉ có Nghiệp đi theo mà thôi"p04

    Một câu hỏi của thính giả được ngài trả lời:

    "Chúng tôi có thể tu tập các Pháp môn nầy không, khi tôi là người theo đạo Công giáo?“. Ngài trả lời rằng: „Nếu mới vô thì không thấy gì khác, vì hai tôn giáo hầu như giống nhau, đều dạy về thương yêu, nhân từ, bác ái…

    Nhưng nếu đi sâu hơn, thì có sự khác biệt, như tánh không, giải thoát, bồ tát hạnh… hầu như không thích ứng với nhau, nên rất khó khăn. Vậy nửa Chúa, nửa Phật được không? Tốt nhất là nên đi sâu vào một cái thôi“…

    Có thân nầy là có sự đau khổ. Ngay từ trong bụng mẹ, chịu nóng, chịu lạnh (nếu mẹ uống lạnh, ăn nóng).

    Khi sinh ra đau đớn, khổ. Lớn lên khổ… Triền miên. Nhưng nếu ta biết xử dụng thân nầy một cách có ích, biết tu tập, sẽ tạo nên nhiều công đức… Thường thường người ta hay chạy theo trụy lạc.

    Sự vui sướng đó tốn rất nhiều công sức, và luôn luôn kèm theo sự nguy hiểm, và qua đi rất mau!. Trong khi đó cái khổ đến rất tự nhiên, ngay cả trong lúc ta đang tận hưởng dục lạc.

    Người thông thái thì bị khổ vì tâm thức dày vò, người phàm phu thì bị thân xác. Khổ đau đầy rẩy, vui sướng chỉ thoáng qua như tia chớp.

    Trong vui sướng có khổ đau, nhưng trong khổ đau không có sự vui sướng… Cuộc sống bắt đầu bằng một tâm niệm vô minh. Nên tu tập Tứ Niệm Xứ, trong đó Thân thể được quán niệm một cách kỹ lưỡng, rất tốt cho việc tu tập…

    Tất cả ngoại duyên, các đối tượng… sẽ không bao giờ làm cho ta thỏa mãn. Chỉ khi chúng ta biết tự đủ thì mới đủ (ghi chú: tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc!).

    Thấy một người đàn bà đẹp ta mê đắm? Tất cả sự thương, ghét… đều do nhận thức sai lầm của tâm thức mà ra. "Nàng là của tôi“ là một sự sai lầm lớn! Khi mình có mụn nhọt ngứa, gãi cho là sướng.

    Nhưng tốt hơn là không có mụn nhọt mới thật là sướng (mọi người vỗ tay cười). Cũng vậy, khi thỏa mãn được dục lạc, ta cho là sướng, nhưng tốt hơn là không nên có sự tham dục đó.

    Dù chúng ta có xức bao nhiêu dầu thơm, có rửa sạch mấy đi chăng nữa, cũng không thể làm cho thân thể nầy sạch được (mọi người cười ồ!). Nên quán Bất tịnh để đối trị tham dục…

    Muốn đi vào thiền định, phải có một sự an lạc nào đó (ghi chú: phải trừ bỏ ngũ cái: trạo cử, hôn trầm, dục, sân, nghi). Còn vướng ngã chấp thì không thể giải thoát được.

    Nếu chỉ thiền định, không phá ngã, thì không thể thành công, đạt tới niết bàn. (ghi chú: Chỉ và Quán phải luôn luôn song hành)…

  18. #18

    Mặc định Sự chết. Từng sát-na một… Chỉ có Nghiệp đi theo mà thôi"p05

    Phải tích tụ công đức, trau dồi trí tuệ. Kinh Lăng Già:

    Tất cả điều chúng ta nhận biết được, đều không thật có (ghi chú: là „tiếng gọi của sự kinh sợ“).

    Ngã mạn sẽ tạo ra ác nghiệp. Không ngã mạn sẽ tạo ra công đức.

    Phải biết khiêm nhường.

    Người có trí không bao giờ nghĩ rằng mình hơn người.

    Nghĩ đến tương lai thì đừng tạo ác nghiệp.

    Có bốn quan niệm sai lầm thường mắc phải:

    Thế gian nầy thường còn.

    Cuộc đời là vui thú.

    Có một cái ngã chắc chắn.

    Các Pháp là thanh tịnh…

    Do vậy

    Giữ giới là một việc rất quan trọng, và luôn luôn tỉnh thức chánh niệm, phát triển trí tuệ qua thiền định…

    Đó là những bước đầu căn bản. Dần dần tiến lên những bước cao

    hơn, như phát bồ đề tâm, tu bồ tát hạnh…v...v

  19. #19

    Mặc định

    THẦY TÔI là ĐẠI SƯ GARCHEN RINPOCHE thuộc giòng Drikung Kagyu sinh năm 1936 ở Tây Tạng, nhưng khi Ngài vừa tròn 22 tuổi thì Ngài bị Trung Cộng giam cầm trong suốt 20 năm, trải qua cái gọi là cuộc "Cách Mạng Văn Hóa của Cộng sản Trung hoa" trong lao tù. Trong thời gian 20 năm trong lao tù đó, Ngài đã tiếp tục thọ pháp từ bổn sư của Ngài cũng ở trong lao tù Cộng sản Trung hoa là ĐẠI TÔN SƯ KHENPO MUNSEL thuộc giòng Nyingma. Trải qua bao gian khổ trong lao tù Cộng sản và không sờn lòng tu tập, Ngài đã chứng đắc trí huệ viên mãn.
    Thành tâm kính lậy Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh
    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực

  20. #20

    Mặc định

    Hoan Hỷ , Con nguyện xin Drubwang Rinpoche sớm trở lại cõi ta bà để hóa độ chúng sanh.
    Thành tâm kính lậy Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh
    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •