Trang 1 trong 9 1234567 ... Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 177

Ðề tài: DÒNG CHẢY MIÊN VIỄN CỦA THIỀN

  1. #1

    Mặc định DÒNG CHẢY MIÊN VIỄN CỦA THIỀN

    DÒNG CHẢY MIÊN VIỄN CỦA THIỀN.


    Có thể nói cái gốc của Thiền đã có từ khi loài người xuất hiện và biết suy nghĩ . Thiền chính là sự văn minh của tư tưởng nhân loại, tức tập trung tư tưởng, suy nghĩ những điều cao siêu. Những suy nghĩ của con người về những dữ kiện bên ngoài được gọi là tri thức thông thường. nhưng những suy nghĩ trong tỉnh thức, không có đối tượng hửu hình, mà tập trung suy nghĩ về những gì diễn tiến trong vô hình, trong Phật giáo thường gọi là thật tướng của các pháp : đó là Thiền.

    Trước khi Đức Phật ra đời, ở Ấn Độ đã có pháp tu Yoga, theo đó người ta luyện tập cơ thể khỏe mạnh và luyện tập sự tập trung tinh thần.. Khi Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời. Ngài có cái nhìn sâu hơn và hiểu biết rộng hơn. Vì thế, cái thấy của Phật về mọi việc hửu hình và vô hình chính xác hơn. Điều này đã được chứng minh qua sự kiện thực tế là Đức Phật đã tập trung được các đạo sĩ đương thời với Ngài..

    Nhưng sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, hàng đệ tử của Phật, mỗi người có cách suy nghĩ và thực tập riêng biệt và cũng đạt được những kết quả khác nhau. Vì thế mới nãy sinh nhiều dòng Thiền khác nhau được phát triển ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật bản, Việt Nam,.v.v...

    Thiền theo Nam truyền Phật giáo sử dụng pháp Tứ Niệm Xứ làm đối tượng tu tập.Hành giả quán sát cuộc đời của con người trên thế gian này là vô thường để sanh tâm nhàm chán và mang ý niệm thoát ly.

    Nhưng Thiền theo Phật giáo Tây Tạng thì nổ lực phát huy năng lực con người để đạt đươc lực siêu tự nhiên, làm được những việc mà người bình thường không làm nổi. Đó là tinh thần Thiền mang tính thần bí hay Mật tông mà các hành giả Tây Tạng luyện tập để thâm nhập thế giới thần bí mà ngoài họ ra không ai biết được.

    Đến Nhật Bản, người Nhật dã khai thác triệt để tinh ba của Thiền vào thực tế cuộc sống, bằng cách phát triển Thiền trong lãnh vực nghệ thuật nhiều hơn. Vì thế người Nhật sử dụng Thiền để vẽ tranh, cắm hoa, uống trà, bắn cung, v.v...Và sau đó sự ứng dụng Thiền được người Nhật nâng lên một bực, tiếp tục đóng vai trò chủ chốt trong lĩnh vực võ thuật, mới phát sinh ra Võ sĩ đạo,
    ......


    ( bài này còn nửa, nhưng có việc..., mình sẽ tiếp tục gõ sau, mong các bạn thông cảm. )
    ...
    :rose: ---------------------- :rose:
    Hài hòa chỉ và quán,
    Trí tuệ tràn hư không...
    :rose: ---------------------- :rose:

  2. #2

    Mặc định

    Nghe sách nói: Hạnh phúc trong ta

    http://m.tuoitre.vn/book/list?id=15262

    Thiền trong cuộc sống

    Nghe toàn bộ sách
    Con đường trở thành một nữ thần hạnh phúc
    Bạn có phải là một nữ thần hạnh phúc?
    1- Sống thật với bản chất
    2- Sống với hiện tại
    3- Sống vui
    4- Loại bỏ áp lực
    5- Phút giây tĩnh lặng
    6- Trân trọng tự do
    7- Tôn trọng sự khác biệt của mỗi con người
    8- Trải nghiệm cuộc đời
    9- Suy nghĩ lạc quan
    10- Sống theo sở thích
    11- Sống với niềm đam mê
    12- Mở rộng quan điểm để cảm thông
    13- Sống khiêm nhường
    14- Điểm tô cuộc sống
    15- Cư xử hòa nhã
    16- Rèn luyện thể chất
    17- Đừng từ chối sự giúp đỡ
    18- Một chút phiêu lưu
    19- Vui với những chuyến hành trình
    20- Biết tha thứ và quên đi
    21- Hãy vui lên!
    22- Làm giàu
    23- Vượt qua nỗi sợ hãi
    24- Chọn lựa dứt khoát
    25- Hãy vui chơi
    26- Xây dựng mối quan hệ
    27- Tạo cân bằng cho cuộc sống
    28- Đẩy lùi chiến tranh, mang lại hòa bình
    29- Ban tặng cho người khác
    30- Tỏ lòng biết ơn
    31- Niềm tin
    32- Đơn giản hóa cuộc sống
    33- Từ bỏ mặc cảm tội lỗi
    34- Củng cố nền tảng của cuộc sống
    35- Biết kiên nhẫn
    36- Biết yêu thương
    37- Đừng đòi hỏi sự hoàn hảo
    38- Thể hiện tình cảm bằng cử chỉ âu yếm
    39- Đừng so sánh
    40- Thích nghi với những đổi thay của cuộc đời
    41- Sống chậm lại
    42- Chấp nhận thử thách
    43- Tôn trọng bản thân
    44- Tin vào trực giác

  3. #3

    Mặc định

    DÒNG CHẢY MIÊN VIỄN CỦA THIỀN. (tiếp theo )

    Có thể thấy rõ Thiền thời bấy giờ chỉ mang tính tập trung tư tưởng để quan sát một việc nào đó và làm một việc nào đó để đạt năng suất cao nhất.

    Ngày nay người ta biết nhiều về Thiền qua triết học Zen; theo đó Thiền được đưa vào các sinh hoạt của mọi ngành nghề. Mọi thành phần trong xã hội, đều có thể áp dụng tinh thần Thiền để lành mạnh hóa tư tưởng và làm việc tốt hơn,

    Riêng ở Việt Nam là một nước nhỏ bên cạnh nước Trung Hoa to lớn. Các Thiền sư chúng ta cũng đã ứng dụng được tinh ba của Thiền thích hợp với hoàn cảnh xã hội, nhất là trong việc trị nước an dân và chống giặc ngoại xâm, giử vững được sự vẹn toàn lãnh thổ.

    Sử sách còn ghi đậm dấu ấn sắc son của các thiền sư, ...nhất lá đức vua Trần Nhân Tông đã từ bỏ ngai vàng, ung dung tự tại lên núi Yên Tử, thực hiện đời sống tâm linh trầm mặc ở cái tuổi 41 tràn đầy sinh lực. Và chính từ trí tuệ tuyệt vời của đức vua mới hình thành dòng Thiền Trúc Lâm tiêu biểu cho dòng Thiền nhập thế tích cực, vừa làm vua vừa làm nhà sư .

    Hắn chúng ta còn nhớ câu nói bất hủ của Phù Vân quốc sư đã khuyên vua Trần Thái Tông rằng trong non không có Phật, Phật ở trong tâm, Nếu bệ hạ làm vua mà nghĩ đến Phật, trí tuệ sáng suốt và làm được việc tốt cho trăm họ, thì đó là Phật.
    Tinh thần Thiền nghĩa là định tĩnh và sáng suốt cũng phù hợp yếu nghĩa của kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng :" Nếu hiểu ý nghĩa thọ lượng Như Lai thì có thể được phát sinh Phật huệ Nhứt thiết chủng trí, lại có thể thấy Thích Ca Như Lai ở Kỳ Xà Quật thuyết pháp giáo hóa chúng Đại Bồ Tát và thấy thế giới thật báo của Tỳ Lô Xá Na. Nếu thấy như thế..., trong thân của họ có sẳn Đức Phật. Ông bảo trời người phải nên cúng dường như cúng dường Phật. "

    Tóm lại , tinh thần Thiền học thể hiện tâm an định và trí huệ sáng suốt, có được đáp số cho mọi vấn đề nan giải ở mọi lĩnh vực, Nếu áp dụng Thiền một cách đúng đắn như vậy, thiết nghĩ Thiền pháp mãi mãi là chất liệu cần thiết và quý báu cho mọi người ở mọi thời đại...


    ( bài này bt sưu tầm năm 2005 , xin gửi các bạn cùng tham khảo )
    :rose: ---------------------- :rose:
    Hài hòa chỉ và quán,
    Trí tuệ tràn hư không...
    :rose: ---------------------- :rose:

  4. #4

    Mặc định

    NÚI KHÔNG CÓ PHẬT.
    ( Trích giai thoại Thiền của Viên Đức, NXB Thuận Hòa )

    Vì muốn đảm bảo cho sự liên tục của ngôi vua, Thái sư Trần Thủ Độ đã ép buột vua Trần Thái Tông phải bỏ Chiêu Hoàng lấy người chị dâu của mình là Thuận Thiên công chúa, lúc bấy giờ đang có mang 3 tháng. Đứng trước cảnh trớ trêu đầy ngang trái, muốn chống lại sự áp đặt vô lý của Trần Thủ Độ, nhưng Trần Thái Tông không thể cưởng lại được. Vì Trần Thủ Độ là người rất độc đoán, lại có quá nhiều uy quyền.

    Đêm mồng 3 tháng 4 năm 1236, ông vua trẻ tuổi đã trốn triều đình, bỏ ngôi báu lên núi Yên Tử với hy vọng tìm đến đạo giác ngộ, hầu giải thoát mình và báo đáp thâm ơn cha mẹ. Lặn lội vất vả, vượt bao núi hiểm, hố sâu mới đến được chùa Hoa Yên, trên đỉnh Yên Tử.

    Trông thấy Trần Thái Tông, Quốc sư ung dung bảo:

    " Lão tăng ở chốn núi rừng đã lâu, xương cứng, mặt gầy, ăn rau, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh rừng, lòng nhẹ như mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ, nghĩ đến cảnh quê mùa núi rừng, chẳng hay muốn tìm vật gì mà lặn lội đến đây ? "

    Vua đáp :

    " Trẩm còn thơ ấu, sớm mất mẹ cha, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nương tựa. Lại nghĩ đến sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên trẩm mới vào đây, chí cầu thành Phật , chẳng mong gì khác. "

    Quốc sư bảo :

    " Trong núi vốn không có Phật. Phật ở ngay tâm ta. Nếu tâm thanh tịnh trí huệ xuất hiện, thì đó chính là Phật, khỏi phải cực khổ tìm kiếm bên ngoài. "

    ....
    :rose: ---------------------- :rose:
    Hài hòa chỉ và quán,
    Trí tuệ tràn hư không...
    :rose: ---------------------- :rose:

  5. #5

    Mặc định

    bichthuybt có câu chuyện rất hay.... phật tại tâm ta ....

  6. #6

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi fengshen Xem Bài Gởi
    bichthuybt có câu chuyện rất hay.... phật tại tâm ta ....
    Tâm ta là cái gì vậy ta?

  7. #7

    Wink

    Trích dẫn Nguyên văn bởi chienkhud Xem Bài Gởi
    Tâm ta là cái gì vậy ta?
    Chào bạn chienkhud,

    Bichthuy mời bạn tham khảo bài này :

    CHỮ TÂM TRONG ĐẠO PHẬT

    Nương theo giáo pháp Phật Đà
    Chữ Tâm Phật dạy giúp ta độ đời.
    Đến bờ giác ngộ thảnh thơi
    Thoát ly phiền não cuộc đời an vui.
    TK Thích-Chân-Tuệ
    ---o0o---

    Trong nhà Phật, tam tạng kinh điển ghi lại lời dạy của chư Phật, chư Bồ Tát và chư vị Tổ Sư. Đó là thiền lâm bảo huấn, nghĩa là: các lời dạy quí giá trong rừng thiền. Người phát tâm tu theo Phật thật khó khăn khi phải chọn lựa kinh sách nào để đọc trước, sao cho có thể hiểu biết chánh pháp rõ ràng và áp dụng được vào đời sống hằng ngày.

    Trong khi đọc tụng kinh sách, người tu học Phật cũng gặp khó khăn với các từ ngữ chuyên môn, dù là tiếng Việt, tiếng Hán Việt, hay các ngôn ngữ khác, cần phải tìm hiểu thấu đáo, qua tự điển, hay nhờ các bậc thiện tri thức giảng giải, giúp đỡ. Sau khi cố gắng lắm mới tạm vượt qua được sự khó khăn này, người tu tập thường gặp phải ngưỡng cửa: dù đã học hiểu rành rẽ giáo lý, nhưng vẫn chưa vào được đạo! Thế nào là: vẫn chưa vào được đạo?

    Người tu hành nhiều năm, dù tại gia hay xuất gia, nếu chưa đủ duyên, nếu chưa gặp được hoàn cảnh để sáng đạo, ngộ đạo, thấy đạo, vào được đạo, thì người đó vẫn lòng vòng bên ngoài cửa đạo, vẫn dậm chân tại chỗ ban đầu, vẫn công phu tu tập chậm chạp, vì các nghi lễ nặng phần hình thức. Vì các việc làm mong cầu phước báo, vì tâm chấp chặt nhị biên những định kiến đúng sai phải quấy, vì tâm mong cầu bình yên sung sướng, vì tâm chưa thanh tịnh, còn quá lăng xăn lộn xộn bên trong, còn bị trần duyên bên ngoài chi phối.

    Thực ra, dù đạo Phật có một rừng kinh điển, sách vở, thích ứng cho đủ mọi căn cơ, trình độ, giới thiệu tất cả các pháp môn tu tập tự cổ chí kim, trình bày các kinh nghiệm tu hành từ xưa đến nay, nhưng tất cả những kinh điển, sách vở đó đều nhằm mục đích duy nhất là: khai mở và chỉ bày cho tất cả mọi người thấy rõ cái bản tâm thanh tịnh của chính mình. Còn bổn phận của chúng ta là: ngộ và nhập được bản tâm thanh tịnh đó.

    Nếu không ngộ được điều này, tức là không sống được với bản tâm thanh tịnh, người tu tập dụng công phu nhiều, nhưng thu lượm kết quả chẳng được bao nhiêu. Người nào ngộ và nhập được bản tâm thanh tịnh, tức là giữ được tâm bình thường, là người thấy đạo, vào được đạo.

    Cho nên, Thiền sư Phổ Nguyện Nam Tuyền có dạy: "Bình Thường Tâm Thị Đạo", chính là nghĩa như vậy.

    Nói một cách khác, tất cả kinh điển giáo lý của đạo Phật có thể tóm gọn vào một chữ, đó là chữ TÂM, mà thôi. Nắm vững được chìa khóa quan trọng này rồi, người tu học Phật có thể mở toang được tất cả các cánh cửa của nhà Phật, thấu hiểu những lời dạy của chư Phật, chư vị Tổ sư trong các kinh điển, sách vở, mục đích thấy được con đường giác ngộ và giải thoát, để xây dựng đời sống hiện tại được an lạc và hạnh phúc.

    Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu chữ Tâm qua các kinh điển và kinh nghiệm tu tập thực tế của các bậc tôn túc cổ kim. Mỗi đề mục đều có công năng giải bày bản tâm thanh tịnh, hay tóm gọn vào một chữ, chỉ rõ đó là: chữ TÂM trong Đạo Phật.


    A - Chữ TÂM qua lời dạy của chư Phật:

    1) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:

    "Nhứt thiết duy tâm tạo".


    Nghĩa là: Mọi sự mọi việc đều do tâm tạo ra tất cả. Công đức cũng do tâm tạo, nghiệp chướng cũng bởi tại tâm. Đó chính là tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phối, thúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghiệp thiện.

    Chúng ta đã thấu hiểu lý lẽ chân thật của cuộc đời là: vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn, không có gì là tự nhiên sanh mà không có nguyên nhân. Luật nhân quả áp dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Sanh sự thì sự sanh. Nhân nào thì quả nấy. Gieo gió thì gặt bão. Có lửa thì có khói.

    Cầu nguyện với tâm lăng xăng lộn xộn, chỉ đem lại sự bình an tâm trí tạm thời. Bình an thực sự chỉ có cho người thiện tâm. Thiên đàng, địa ngục, tuy là hai tâm trạng khác nhau, nhưng thực sự, tất cả chỉ là các trạng thái ở trong tâm của chúng ta mà thôi.

    Bởi vậy cho nên, có bài kệ như sau:

    Tội tùng tâm khởi tương tâm sám
    Tâm nhược diệt thời tội diệc vong
    Tội vong tâm diệt lưỡng câu không
    Thị tắc danh vi giai sám hối.


    *dịch là:
    Tội từ tâm khởi đem tâm sám
    Tâm đã diệt rồi tội cũng vong
    Tội vong tâm diệt cả hai không
    Đó chính thực là chân sám hối.


    Nghĩa là: Tất cả những tội lỗi gây ra, đều do tâm chúng ta chủ động, thì phải thành tâm mà sám hối, tự trong thâm tâm. Từ đó, chúng ta phát nguyện không tái phạm, cho nên mỗi khi tâm tham, tâm sân, tâm si khởi lên, chúng ta liền biết ngay, dừng lại, không làm theo sự điều khiển, sai khiến của tham sân si, thì tội lỗi sẽ không còn tái phạm nữa. Khi tội lỗi không còn, tâm sanh diệt cũng lặng mất, con người sống trong trạng thái tịch tịnh, bình yên của tâm trí. Đó mới thực là sự sám hối chân chánh.

    2) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy:

    "Tùy tâm biến hiện".


    Nghĩa là: Mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay quấy, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả. Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không thời nào giống với thời nào, không nơi nào giống với nơi nào.

    Trong sách có câu:
    "Tâm buồn cảnh được vui sao"
    "Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an".


    Nghĩa là: Cùng một cảnh vật như vậy, nếu có tâm sự buồn phiền áo não, chúng ta không thấy cảnh vui chút nào. Còn nếu chúng ta có tâm trạng hân hoan vui vẻ, dù cây khô trụi lá, cảnh vẫn đẹp vui như thường. Cái tâm hân hoan vui vẻ là chúng ta, hay cái tâm buồn thảm lê thê là chúng ta? Cùng một câu nói như vậy, nếu tâm an ổn, vui vẻ mát mẻ, chúng ta cũng cho là: nói đúng nói phải, nói sao cũng được, nói ngược cũng xong.

    Trái lại, tâm đang bực bội, ai nói câu nào, chúng ta cũng cho là: nói sai nói bậy, nói xiên nói xỏ, nói bóng nói gió, nói hành nói tỏi, nói quấy nói quá.

    3) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:

    "Tam giới tâm tận, tức thị niết bàn".



    Vậy, hãy thử nghĩ xem, chúng ta là người: có tâm thực tốt, hay tâm không tốt? Cái tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi bất thường như vậy, thực không phải là chúng ta.

    Nghĩa là: Khi nào dứt sạch tâm trong ba cõi, lúc đó chúng ta mới thấy được niết bàn. Ba cõi, còn gọi là tam giới, đó là: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Khi tâm tham nổi lên, chúng ta sống trong dục giới, tức là cảnh giới đắm nhiễm tham dục, cảm thấy đau khổ triền miên vì lòng tham của con người không đáy, không bao giờ thỏa mãn được.

    Con người sống trong dục giới lúc nào cũng cảm thấy khao khát, thiếu thốn, được bao nhiêu cũng không thấy đủ, cho nên luôn luôn chạy đôn chạy đáo, tìm kiếm ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.

    Khi tâm sân nổi lên, ngay lúc đó, chúng ta sống trong sắc giới, tức là cảnh giới chấp chặt sắc tướng, lòng như thiêu đốt, sắc mặt tái xanh, vì sự tức giận, vì sự bất mãn. Dù tâm tham không còn, tâm sân cũng tai hại vô cùng.

    4) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:

    "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai".


    Nghĩa là: Một khi tâm niệm tức giận, sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục, thì biết bao nhiêu, trăm ngàn vạn chuyện khó khăn, đau khổ, chướng ngại tiếp nối theo sau đó.

    Khi tâm si nổi lên, chúng ta sống trong vô sắc giới, tức là cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẽo, mê tín dị đoan, rất dễ dàng tạo tội tạo nghiệp bằng cách: hãm hại trả thù, lập mưu tính kế, vu khống cáo gian, thưa gửi kiện tụng, không cần biết hậu quả khổ đau đối với các người khác và gia đình họ.

    Những giây phút ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời.
    Bởi vậy cho nên, phải dẹp trừ tận gốc các tâm tham sân si, trong kinh sách gọi đó là: tam độc, chúng ta thoát ly tam giới gia, cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc.

    5) Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy:

    "Người nào giữ được nhứt tâm bất loạn, trong một ngày cho đến bảy ngày, khi lâm chung giữ tâm không điên đảo, thì người đó được vãng sanh tây phương".

    6) Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật có dạy:

    "Nếu thường xuyên giữ được chánh niệm, tâm không loạn động,
    dứt trừ được phiền não, thì chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề".

    Nghĩa là: Người tu tập phải luôn luôn quán sát tâm chính mình, luôn luôn giữ gìn chánh niệm, luôn luôn niệm Phật, khi vọng tâm vọng tưởng vọng thức vọng niệm khởi lên, liền biết, không theo.

    Nhờ đó tâm được an nhiên tự tại, không loạn động, dứt trừ được phiền não, gọi là: nhứt tâm bất loạn. Nhờ công phu tu tập đó, chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề. Khi lâm chung giữ được tâm không điên đảo, cho nên được vãng sanh cảnh giới tịnh độ.

    Muốn làm được điều này, muốn giữ được tâm trí nhứt như không loạn động, con người phải thấu hiểu và thực hành quán tứ niệm xứ, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp.

    7) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy:

    "Căn bản của sanh tử luân hồi là: Vọng tâm".
    "Căn bản của bồ đề niết bàn là: Chân tâm".

    Nghĩa là: Chúng sanh sở dĩ bị trầm luân sanh tử, bởi vì suốt ngày này qua ngày nọ, luôn luôn sống với vọng tâm, tức là tâm lăng xăn lộn xộn, luôn luôn thay đổi, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét, khi khen khi chê, khi tán thán khi phê phán.

    Muốn tâm trí sáng suốt thanh tịnh, an nhiên tự tại, chúng ta cần quán sát tâm chính mình: Khi các vọng tâm nổi lên, chúng ta liền biết, không theo, như vậy vọng tâm lắng xuống, diệt mất, chân tâm hiện ra rõ ràng.

    Muốn làm được điều này, muốn chân tâm hiển hiện, chúng ta cần phải thấu hiểu và tu tập bốn tâm rộng lớn, trong kinh sách gọi là tứ vô lượng tâm, đó chính là: từ, bi, hỷ, xả.

    Khi có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ dễ cảm thông với muôn loài, nhứt là với loài người, với những người chung quanh, gần như cha mẹ, vợ chồng, con cháu, xa hơn như bà con, láng giềng, bạn bè.

    Do đó tâm giận tức, tâm sân hận có thể giảm bớt, nhẹ bớt đi. Khi có tâm hỷ và tâm xả, chúng ta sẽ bớt được các tâm ganh tị, tâm đố kỵ, tâm hơn thua, tâm cố chấp. Cho đến khi nào tứ vô lượng tâm tròn đầy, vọng tâm tan biến, tâm ý trở nên an nhiên tự tại, chân tâm hiển hiện.

    Đây mới chính là ý nghĩa thiết yếu của việc tu tâm dưỡng tánh theo đạo Phật: Trong tâm khởi niệm, nếu giác kịp thời, liền biết không theo, đó là: chân tâm. Trong tâm khởi niệm, nếu còn mê muội, không giác kịp thời, liền theo niệm đó, trở thành: vọng tâm.

    Cũng ví như là: Khi có gió thổi, mặt biển nổi sóng, gọi là biển động, ví như tâm lăng xăng lộn xộn. Mặc dù có gió thổi, mặt biển vẫn bình yên, đó là biển thái bình, ví như bản tâm thanh tịnh, hay tâm bình thường.

    8) Trong Kinh Tịnh Danh, Đức Phật có dạy:

    "Mặt trời mặt trăng vẫn thường sáng tỏ, tại sao người mù lạichẳng thấy?



    Cũng vậy, bởi vì nghiệp thức che đậy, chúng sanh thường biết mà cố phạm, cho nên chẳng thấy thế giới Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chẳng nhận ra bản tâm thanh tịnh thường hằng".

    9) Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy:

    "Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh".
    "Chúng sinh chẳng nhận thấy được, vì bị vô minh che lấp".

    Nghĩa là: Con người ai ai cũng có bản tâm thanh tịnh, cũng như mặt trời mặt trăng luôn luôn sáng tỏ. Chỉ vì tâm tham lam của cải tiền bạc, hoặc vì tâm sân hận tự ái cao độ, hoặc vì tâm si mê cố chấp, ví như mây đen che lấp mặt trời mặt trăng, cho nên con người mới tạo tội tạo nghiệp, làm cho tâm trí loạn động, thường xuyên bất an, điên đảo loạn cuồng, để rồi trôi lăn vào vòng sanh tử luân hồi, đã muôn kiếp trước, và sẽ tiếp tục trôi lăn, muôn kiếp về sau. Nếu như không chịu dừng nghiệp và chuyển nghiệp

    Với số tiền nho nhỏ, quyền lợi không đáng kể, con người còn có thể tỉnh thức, dừng được nghiệp, dẹp tâm tham, không thưa kiện người khác, không gây não loạn cho người, và gia đình của họ. Nhưng khi kiện thưa đòi tiền bồi thường vài triệu đô la, con người thành ma, tối tăm mặt mũi, liều mạng đưa chân, hết biết lẽ phải, nhắm mắt làm càng, tới đâu cũng được.

    Mãnh lực của đồng đô la quả thực là vạn năng, thượng đế chẳng bằng, đã lôi kéo không biết bao nhiêu chúng sanh u mê, vào vòng tội nghiệp, từ xưa đến nay! Chính vì biết mà cố phạm, nghiệp thức che đậy, vô minh che lấp, con người chẳng thấy được thế giới Như Lai trang nghiêm, bản tâm thanh tịnh.

    Chúng ta là người tỉnh thức, đang tu học chánh pháp, đang muốn trở về nguồn cội, đang muốn chuyển hóa cuộc đời của mình, đang muốn thoát ly sanh tử luân hồi, càng phải nên hết sức cẩn trọng, cẩn trọng và cẩn trọng!

    10) Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:

    "Quá khứ tâm bất khả đắc. Hiện tại tâm bất khả đắc. Vị lai tâm bất khả đắc".



    Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Muốn làm được điều này, ở trong gia đình hay ngoài xã hội, chúng ta cần phải có tâm vị tha, độ lượng, biết tha thứ, biết cảm thông, nói chung là tâm từ bi.

    Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không?

    Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Đó chính là nghiệp quả, nghiệp báo, còn gọi là: quả báo. Hiểu sâu được luật nhân quả, chúng ta sẽ bình tĩnh thản nhiên chấp nhận quả báo xảy đến. Nếu không muốn có quả báo xấu, chúng ta phải chấm dứt gây nghiệp nhân xấu, tức là chấm dứt tâm tham sân si, tức là dừng ba nghiệp thân khẩu ý bất thiện. Trong kinh sách gọi là: dừng nghiệp và chuyển nghiệp.

    11) Trong Kinh Tịnh Danh và Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật có dạy:

    "Tâm tịnh thì độ tịnh. Tâm địa bình thì thế giới bình".


    Nghĩa là: Khi những vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm đã dứt sạch, người tu tập không còn tham, không còn sân, không còn si. Đến đây, người tu tập đạt được cảnh giới bất nhị, tức là không còn kẹt hai bên, không còn thị phi, không còn phải quấy, không còn tranh chấp, không còn hơn thua, không còn tạo tội, không còn tạo nghiệp, không còn cố chấp.

    Trong kinh sách gọi đó là cảnh giới: vô tâm vô niệm, hay là cảnh giới: nhứt tâm bất loạn. Lúc đó, tâm tịnh, tâm địa bình, tâm vô quái ngại, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, tức là tâm an nhiên tự tại, không còn điều gì có thể ngăn ngại được, gây lo sợ khủng khiếp được.

    Do đó, chúng ta xa rời những thứ điên đảo, lìa bỏ được mộng tuởng, đạt được cứu kính niết bàn. Mọi người chung quanh cảm thấy an ổn, yên tâm, khi sống gần người tu tập có tâm tịnh, tâm địa bình. Thế giới chung quanh thanh bình, quốc độ an ninh, chính là nghĩa như vậy.

    12) Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

    "Tự thắng tâm mình là điều cao quí nhứt. Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình".

    Thắng được vạn quân, con người tóm thu được quyền lực, danh vọng, tiền tài, của cải vật chất, đủ mọi thứ trên trần đời. Nhưng tâm người đó vẫn sống trong tam giới: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, cho nên vẫn còn phiền não khổ đau, vẫn còn sanh tử luân hồi.

    Muốn xuất được tam giới gia, chúng ta phải luôn luôn quán sát tâm chính mình: Khi nào tâm tham, tâm sân, tâm si nổi lên liền biết, không theo. Lúc đó chúng ta đã tự thắng mình:tức là tự kềm chế hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của chính mình.

    Người ta công kích, khích bác, vu khống, phỉ báng, phê phán, mạ lỵ, sỉ nhục, mắng nhiếc, người nào phản ứng nhanh, trả đũa nặng nề thì dễ quá, thường quá. Người nào tự thắng tâm mình, nhẫn nhịn được mà không thấy nhục nhằn, nhịn mà không nhục, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, mới đáng kính phục, mới là điều cao quí nhứt.

    13) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:

    "Tâm khẩu nhứt như". Nghĩa là: "Tâm khẩu không khác".

    Tâm nghĩ sao, miệng nói vậy. Miệng thường nói tốt, tâm nên nghĩ tốt. Như vậy, cuộc sống mới được an lạc. Ngược lại, tâm nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo, miệng nói như vậy, tâm không như vậy, nên sách có câu: Miệng thì nói tiếng nam mô. Trong lòng chứa cả một bồ dao găm.

    Ở trên đời này, đố ai lấy thước để đo lòng người. Trong sách có câu: Tri nhân tri diện bất tri tâm, nghĩa là: biết người chỉ biết mặt, không biết được tâm địa. Cho nên chư Tổ có dạy: Phản quan tự kỷ, nghĩa là: hãy quay lại, quán sát tâm chính mình, để giữ tâm khẩu nhứt như.

    14) Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy:

    "Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện".


    Nghĩa là: Khi khắc chế được tâm ý, trụ tâm ở một chỗ, bằng cách tụng kinh, niệm Phật, thiền quán, qua sự hiểu biết chánh pháp, tâm trí bình tĩnh thản nhiên, không còn chuyện gì để cãi vã nữa, để tranh chấp nữa, cho nên không có sự việc gì người tu tập không hiểu biết sáng tỏ, rõ ràng, không biện luận được một cách thông suốt. Điều này giải thích rằng: không có vị Phật nào không biết thuyết pháp độ sanh.

    B .- Chữ TÂM qua lời dạy của chư Tổ:

    1) Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy:

    "Tâm thông thì thuyết thông".


    Hành giả nào thực tâm tu học, không phân biệt tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, tâm trí thông suốt, đạt được đến đâu, thuyết giảng thông suốt, đến mức độ đó, lợi ích chúng sanh. Ví như trước có học hành nghiêm túc, chân tu thực học, sau đó mới có thể làm thầy chỉ dạy người khác.

    2) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:

    "Tâm địa nhược không, tuệ nhựt tự chiếu".

    Nghĩa là: Khi tâm địa, hay tâm thức, hoàn toàn trống rỗng, lặng lẽ, lẵng lặng, thanh tịnh, không còn chứa chấp những vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm nào cả, thì trí tuệ bát nhã tự bừng sáng. Cũng như mây đen tan biến hết, tức là phiền não không còn nữa, tâm thức không tịch, thì mặt trời trí tuệ tự chiếu sáng. Tâm được thanh tịnh thì cảnh vật cũng thanh tịnh, chúng sanh chung quanh cũng được bình yên.

    Một căn phòng tăm tối ngàn đời, nhưng chỉ cần bật điện một cái, hay đem vào một ngọn đèn, thì liền sáng tỏ ngay, đâu cần đợi ngàn năm sau nữa, mới chịu sáng lại. Cũng vậy, khi con người chịu mồi ngọn đuốc trí tuệ của mình với ngọn đuốc chánh pháp của chư Phật, chư Tổ, thì ngọn đuốc trí tuệ của mình cũng bừng sáng lên ngay. Giây phút bừng sáng đó, trong thiền tông, gọi là: ngộ đạo, nhập đạo, vào đạo.

    3) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:

    "Tâm cảnh không dính nhau là giải thoát".

    Nghĩa là: Chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, trong kinh điển gọi là: kiến văn giác tri, nếu tâm không dính mắc, thì không phiền não. Không phiền não tức là giải thoát. Thật là hết sức đơn giản! Lý lẽ tuy cao siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế.

    Bất cứ ai cũng có thể làm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang hèn. Tâm không phan duyên chạy theo cảnh trần là: giải thoát!

    4) Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông có dạy:

    "Đối cảnh vô tâm, mạc vấn thiền".



    Nghĩa là: Khi nào đối trước cảnh trần, tâm không còn dính mắc, không khởi bất cứ tâm niệm gì, trong kinh sách gọi là: vô tâm vô niệm, tức là không còn khởi tâm tham sân si, thản nhiên trước sự thịnh suy, thăng trầm của đời sống, bình thản trước những lời khen tiếng chê, vượt qua được sóng gió của cuộc đời, tức nhiên tâm sẽ được khinh an, tự tại, đó là: thiền định niết bàn.

    Con người sống trên đời, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thường xuyên tiếp xúc với các cảnh trần: hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm và ký ức. Khi con người tiếp xúc với các trần cảnh, mà bị dính mắc, tức là: trong tâm khởi niệm thương hay ghét, khen hay chê, ưa thích hay tức giận, đều gọi là: loạn tâm vọng tâm. Không khởi bất cứ tâm niệm nào cả, gọi là: định tâm, hay: tâm thiền định. Đây chính là cốt tủy, là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.

    5) Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất có dạy:

    "Tức Tâm thị Phật" hay "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật".


    Nghĩa là: Tâm của chúng ta chính là Phật, Phật chính là tâm của chúng ta. Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ bất thiện, lợi mình hại người, tức là tam nghiệp không thanh tịnh, tâm Phật ẩn mất. Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ hiền thiện, lợi mình lợi người, tức là tam nghiệp thanh tịnh, tâm Phật hiển hiện. Thực là đơn giản!

    Vì không chịu học hiểu giáo lý, biết bao nhiêu người gọi là Phật Tử, tại gia hay xuất gia, tin theo đạo Phật, không khác gì ngoại đạo. Ngoại đạo nghĩa là: tuy vẫn thờ tượng Phật, tại gia hay là tại chùa, nhưng vẫn thường ngày ngoài tâm cầu đạo, chỉ biết lo chuyện cúng kiến lễ nghi, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, cầu khẩn van xin, cầu nguyện khấn vái, đủ thứ mọi điều, nhưng không hiểu không biết Phật ở nơi đâu?

    Ngoài tâm không có Phật, cầu Phật ngoài tâm, là nghĩa lý gì? Phật không ở trong chùa, không ở trong các pho tượng, bằng vàng hay bạc, bằng đồng hay cây. Phật không ở trên mây, trên non hay trên núi. Phật không ở dưới suối, dưới sông hay dưới biển. Chúng ta không cần phải đi đến xứ Ấn Độ xa xôi, hay bất cứ nơi đâu, mới thấy được Phật. Phật đang ở ngay trong tâm của chúng ta.

    Tóm lại, trên cuộc đời này, dù giàu sang hay nghèo khó, dù trí thức hay bình dân, dù nam phụ lão ấu, dù da trắng da đen hay da màu, dù vua chúa hay dân chúng, nói chung, bất cứ người nào cũng có hai thứ bệnh: thân bệnh và tâm bệnh.

    Đối với thân bệnh, chẳng hạn như đau răng, nhức đầu, sổ mũi, cảm cúm, đau tim gan tì phế thận, con người cần tới khả năng trị bệnh của các vị thầy thuốc, dù đông y hay tây y. Để phòng ngừa thân bệnh, có những phương pháp tập thể dục, những cách dưỡng sinh khoa học, những chế độ ăn uống thích ứng với từng lứa tuổi, và tình trạng sức khỏe cá nhân.

    Còn đối với tâm bệnh, chẳng hạn như tâm tham sân si, tâm ganh tị đố kỵ, tâm hơn thua phải quấy, tâm thành kiến cố chấp, tâm lo âu sợ sệt, tâm loạn động bất an, con người cần phải tìm hiểu chánh pháp và áp dụng trong đời sống hằng ngày.

    Ngay đến Đức Phật là bậc toàn giác, trí tuệ sáng ngời, phước báu vô biên, vẫn CÓ thân bệnh, nhưng KHÔNG phiền não và khổ đau, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, trong mọi hoàn cảnh. Nói một cách khác: Đức Phật không có tâm bệnh. Bất cứ ai sống trên đời này, còn mang thân xác con người, là còn khổ vì thân bệnh, nếu không giác ngộ được chân lý vi diệu nhiệm mầu. Các vị giáo chủ của các tôn giáo cũng có thân bệnh và rồi cũng chết như mọi người mà thôi.

    Khi đứng trong một căn phòng, cầm đèn rọi ra bên ngoài, thì mình sẽ thấy rõ, biết rõ cảnh vật bên ngoài, còn bên trong căn phòng thì tối thui. Ngược lại, khi xoay ngọn đèn vào bên trong căn phòng, dĩ nhiên căn phòng sáng tỏ, một cách rõ ràng, con người có thể thấy mọi thứ đồ đạc và đi đứng không bị vấp ngã. Cũng vậy, khi phóng tâm quán sát bên ngoài, con người có thể phê phán người này đúng, người kia sai, chuyện này phải, chuyện kia quấy.

    Con người có thể biết chuyện khắp năm châu bốn biển, chuyện thời sự khắp thế giới, chuyện văn chương kim cổ đông tây, muôn sự mọi việc bên ngoài đều biết rõ ràng rành mạch.

    Trái lại, chuyện bên trong tâm trí của chính mình thì mù tịt, chẳng biết tí gì cả! Mình thực sự là ai, chẳng biết! Mình thực sự đang muốn gì, chẳng biết! Mình thực sự đang làm thiện hay bất thiện, chẳng biết! Mình thực sự đang nghĩ thiện hay bất thiện, chẳng biết! Mình thực sự sống trên đời để làm gì, chẳng biết! Mình sau này sẽ đi về đâu, nếu vẫn cứ tạo tội tạo nghiệp hằng ngày, chẳng biết! Chuyện gì thuộc về bên trong, thuộc về nội tâm, chúng ta cũng đều chẳng biết!

    Cái tâm ý điên đảo đảo điên, cái vọng tưởng lăng xăng lộn xộn, tạo tội tạo nghiệp này, là nguyên nhân chính dẫn chúng ta vào vòng sanh tử luân hồi. Làm sao hàng phục và an trụ được cái tâm ý này chính là trọng tâm của đạo Phật.

    Điều quan trọng trong đạo Phật chính là:
    Tâm trí có dính mắc hay không dính mắc cảnh trần.
    Nếu tâm dính mắc, gọi là: tâm phan duyên, tâm loạn động.
    Nếu tâm không dính mắc, chính là: bản tâm thanh tịnh vậy.

    TK Thích Chân Tuệ
    (cutranlacdao@yahoo.com)


    Bạn ơi ! tâm ta là cái gì, bạn phải tự định đoạt , phải không bạn ?
    ....

    Thân !
    Last edited by bichthuybt; 06-10-2011 at 08:55 PM.
    :rose: ---------------------- :rose:
    Hài hòa chỉ và quán,
    Trí tuệ tràn hư không...
    :rose: ---------------------- :rose:

  8. #8
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi chienkhud Xem Bài Gởi
    Tâm ta là cái gì vậy ta?
    Chào bạn chienkhud và Cô Bích Thủy,

    Chỉ một câu hỏi ngắn gọn : "Tâm là cái gì vậy ta ?",mà cô BT. đã tìm tòi những đoạn kinh sách ,những điều về Phật dạy nói về chữ Tâm và đọc xong ,khá mệt !( điều này tôi nói thật đó BT,tôi phải in lại bài này của BT,để khi rảnh tôi sẽ nhâm nhi từng đoạn với li Cafe ,đọc và suy niệm ,rất là hay ,nhưng phải tìm hết cái hay trong đó mới được ,để xem trong cái hiểu, mỉnh hiểu thêm cái hiểu nào không? ). Tôi cũng xin được gởi thêm một đoạn bài giãng của Đức Phật với Anan,nói về cái "Tâm" ,cũng tương đối dài ,để chia sẽ riêng với chienkhud,cũng như BT,cùng với các anhchiem có quan tâm trong topic này .

    Thật tình mà nói ,tôi chẵng biết một cuốn kinh nào của Nhà Phật ,ngoại trừ cuốn Lịch sữ của Phật và Kinh Bát Cú .Hiện tôi có thành lập một nhóm nhỏ của Googlegroups,để cùng nhau thảo luận Phật pháp ,chỉ là nhóm nhỏ không phổ biến rộng rãi trong Google ,và được một bạn trong đó gởi đến một bài của Đức Phật giãng về Tâm cho ông Anan ,thuộc bộ Kinh Lăng Già ( do Thích Thiện Hoa trình bày ).Xin gởi đến các bạn cùng tìm hiểu ,vì cãm thấy phải gởi lên đây .Để các bạn rộng đường thảo luận.

    Phật đối thoại với A-nan về Tâm

    • Phật kêu A-Nan hỏi rằng: "Trong giáo pháp ta, ông ngưỡng mộ cái gì mà phát tâm xuất gia?"

    • A-nan thưa: "Vì thấy Phật có 32 tướng tốt đẹp lạ thường, con sanh lòng hâm mộ và phát tâm xuất gia."

    • Phật hỏi: "Ông nói: Vì thấy 32 tướng tốt của Phật, sanh lòng hâm mộ; vậy ông lấy cái gì để thấy, và lấy cái gì để hâm mộ?"

    • A-Nan thưa: "Con lấy mắt để thấy và dùng tâm hâm mộ."

    • Phật hỏi: "Ông nói: lấy con mắt để thấy và cái tâm hâm mộ, vậy ông có biết cái tâm và con mắt ở chỗ nào không?

    • Ông từ hồi nào đến giờ, nhiều kiếp sanh tử luân hồi, cũng vì tâm và mắt! Nếu ông không biết nó ở chỗ nào, thì không bao giờ hàng phục được phiền não và trần lao. Cũng như vị quốc vương, bị giặc đến xâm chiếm, đem binh dẹp trừ, nếu không biết giặc trú ngụ ở chỗ nào thì không bao giờ dẹp được giặc."

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế tôn, không những một mình con hiểu, mà tất cả chúng sanh cũng đều cho con mắt ở trên mặt, còn tâm ở trong thân."

    • Phật hỏi: "Ông ngồi trong giảng đường này, trước hết ông thấy cái gì? Và vì sao ông thấy được cây cối ngoài vườn?"

    • A-Nan thưa: "Bạch thế tôn, con ngồi trong giảng đường, trước thấy Phật cùng chư tăng, và nhờ mở các cửa, nên con nhìn ra ngoài, thấy được cây cối, cảnh vật bên ngoài."

    • Phật hỏi: "Có ai ngồi trong nhà, không thấy các vật trong nhà, mà lại thấy được cảnh vật bên ngoài không?"

    • A-Nan thưa: "Bạch thế tôn, người ngồi trong nhà, mà không thấy các vật trong nhà, lại thấy cảnh vật bên ngoài là không có lý."

    • Phật nói: "Tâm ông cũng thế, nếu thật ở trong thân ông, thì trước hết nó phải thấy tim, gan, ruột, phổi hoặc móng tay ra, tóc dài, gân chuyển, mạch động ở trong, rồi sau do mở mắt, ông mới thấy đặng các cảnh vật bên ngoài. Cũng như người ngồi trong giảng đường này, trước hết phải thấy Phật cùng chúng tăng và những vật trong giảng đường, rồi sau dòm ra ngoài, mới thấy núi sông cây rừng v.v. Vậy có ai trước thấy tim, gan, ruột, phổi ở trong thân, rồi sau mới thấy các vật ở bên ngoài không? Nếu không, thì ông nói: tâm ở trong thân là phi lý."

    • A-nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, cứ theo lý luận trên thì con hiểu: Tâm ở ngoài thân. Vì nếu ở trong thân, sao không thấy được các vật ở bên trong, mà chỉ thấy cảnh vật bên ngoài. Vậy nên con biết tâm ở ngoài thân. Cũng như cái đèn đốt ngoài nhà, nên chẳng sáng được trong nhà. Nghĩa này đúng rồi, chắc không còn lầm lạc nữa."

    • Phật hỏi A-nan: "Cái tâm của ông, nếu ở ngoài thân, thì thân và tâm ông không dính dấp với nhau. Vậy trong lúc tâm biết, thân phải không biết; còn khi thân biết, thì tâm phải không biết. Cũng như ta với các thầy Tỳ kheo, vì thân thể khác nhau, nên khi ta thọ trai, các thầy không no được. Vậy ông thử xem cánh tay của ta đây, trong lúc mắt (thân) ông vừa thấy, tâm ông có biết liền không?"

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, trong lúc con mắt vừa thấy, thì tâm con liền phân biệt."

    • Phật hỏi: "Nếu mắt ông vừa thấy, tâm ông liền biết, thì thân ông và tâm không thể rời nhau được. Như thế thì ông nói: Tâm ở ngoài thân cũng không phải."

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, theo lời Phật bác: tâm không phải ở trong thân, vì nó chẳng thấy được bên trong; cũng không phải ở ngoài thân, vì mắt vừa thấy, tâm liền biết, rõ ràng tâm thân không rời nhau. Cứ theo lý luận này, thì con hiểu: Tâm núp trong con mắt; cũng như con mắt của người mang kiếng, nên chỉ thấy các cảnh vật bên ngoài, mà không thấy được vật bên trong."

    • Phật hỏi A-nan: "Nếu tâm con núp trong con mắt, cũng như con mắt người mang kiếng; vậy tôi hỏi:Người mang kiếng trong khi họ thấy cảnh vật, họ có thấy được cái kiếng mang đó không?"

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, thấy được."

    • Phật hỏi: "Nếu tâm ông cũng như con mắt người mang kiếng, thì vậy sao người mang kiếng có thể thấy được cái kiếng mang, còn tâm ông sao không thấy được con mắt của ông? Nếu tâm ông thấy được con mắt của ông, thì con mắt của ông thành ra cảnh bị thấy, nó phải ở ngoài thân ông mới phải. Nếu thân, tâm ngoài nhau, thì làm sao mắt ông vừa thấy, tâm ông liền phân biệt được? Nếu tâm ông không thấy được con mắt của ông, thì sao ông tỷ dụ như con mắt người mang kiếng? Thế nên ông nói:Tâm núp trong con mắt, như con mắt người mang kiếng núp sau cái kiếng cũng không phải."

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, bây giờ con nghĩ: Nhắm mắt thấy tối, là tâm thấy trong thân (gan ruột); nhờ cửu khiếu, thất huyệt (các giác quan) trống hở, nên mở mắt thấy sáng là tâm thấy các cảnh vật ngoài thân. Chẳng biết nghĩa này có đúng không?"

    • Phật hỏi Anan: "Ông nói: Nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân vậy thì khi ông thấy tối, cảnh tối đó có đối trước mắt ông hay không? Nếu cái tối không đối trước mắt thì không thành cái nghĩa thấy. Còn có đối trước mắt, thì thấy tối là thấy trước, sao ông lại nói thấy trong? Nếu ông cho thấy tối là thấy trong thân (gan ruột) thì khi ở trong nhà tối không có ánh sáng, ông thấy tối đó, cũng là thấy gan ruột của ông sao? Lại nữa, nếu nhắm mắt thấy tối, ông cho là thấy trong thân, mở mắt thấy sáng là thấy ngoài thân, vậy sao ông không thấy được cái mặt? Cái mặt ở ngoài, ông mở mắt còn không thấy, thì khi nhắm mắt thấy tối, làm sao chắc là thấy trong thân? Nếu ông thấy được cái mặt ông, thì con mắt với tâm hiểu biết của ông, phải ở ngoài thân ông. Nếu tâm và mắt ở ngoài thân, thì nó không phải là tâm mắt của ông rồi. Nếu ông cho tâm, mắt (ngoài thân ông) đó cũng là ông, vậy thì nay ta thấy được mặt ông, thế thì ta đây cũng là tâm, mắt của ông sao? Lại nữa, trong lúc con mắt ông biết, thì thân ông cũng phải không biết, khi thân ông biết, thì con mắt ông phải không biết (vì ông chấp nó rời nhau). Nếu ông cho cả hai đều biết, thì một mình ông phải có hai cái biết (tâm), vậy khi tu hành chứng quả, ông sẽ thành hai vị Phật sao? Thế nên phải biết: Ông nói: thấy tối là thấy trong thân cũng không phải."

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, con thường nghe Phật dạy tứ chúng: Do tâm sanh, nên các pháp mới sanh. Do các pháp sanh, cho nên tâm mới sanh. Nay con suy nghĩ, thì cái suy nghĩ đó là tâm của con; tùy hòa hiệp chỗ nào, thì tâm liền theo đó mà có, không phải ở trong, ngoài và chính giữa."

    • Phật hỏi A-nan: "Ông nói tùy hòa hiệp chỗ nào, thì tâm liền theo đó mà có như thế thì cái tâm của ông không có thật thể. Nếu tâm ông không có hình thể (tức là không có) thì lấy cái gì mà hòa hiệp? còn nó có hình thể, thì ông thử lấy tay mặt đánh qua tay trái, ông liền biết đau. Vậy cái tâm biết đau này, là từ trong thân chạy ra hay từ bên ngoài chạy vào? Nếu ông nói: nó từ trong thân chạy ra, thì trước hết nó phải thấy gan ruột trong thân của ông. Còn nếu nó từ ngoài hư không chạy vào, thì trước hết nó phải thấy cái mặt của ông."

    • A-Nan thưa: "Con mắt thì thấy, còn cái tâm thì biết;"

    • Phật nói: "con mắt thì thấy, nghĩa đó không phải."

    • Phật hỏi: "Nếu con mắt thấy thì những người chết, con mắt vẫn còn, sao họ không thấy vật? Nếu người chết, mà vẫn còn thấy vật, thì sao gọi là người chết? Lại nữa, nếu cái tâm hiểu biết của ông có thật thể, thì có một thể hay nhiều thể, ở khắp cả thân ông, hay không khắp cả thân? Nếu tâm ông có một thể, và ở khắp cả thân, thì khi ông lấy tay đánh thử một chỗ trên thân ông, đáng lẽ ra thân đều biết đau hết, vì tâm ở khắp cả thân và đồng một thể. Nếu cả thân đều biết đau, thì cái đau đó lẽ ra không có ở nhứt định chỗ nào. Nếu cái đau có chỗ ở nhứt định, thì ông nói: cái tâm một thể và ở khắp cả thân cũng không phải. Còn nói tâm ông có nhiều thể thì thành ra nhiều người; vậy cái nào là tâm của ông? Nếu tâm ông không ở khắp thân thể, vậy ông đồng thời vừa đụng trên đầu, và cũng vừa đụng dưới chân, khi ấy nếu đầu biết đau, thì chân phải không biết, còn chân biết đau, thì đầu phải không biết. Nhưng thật tế thì, đầu và chân của ông cả hai đều biết đau. Thế nên ông nói: tùy hòa hiệp chỗ nào, thì tâm tùy theo đó mà có cũng không phải."

    • Anan bạch Phật: "Con nghe Phật cùng với ngài Văn Thù ...khi luận về thật tướng (chơn tâm), Phật dạy rằng: Tâm chẳng ở trong và cũng chẳng ở ngoài. Nay con suy nghĩ: Nếu tâm ở trong thân, sao chẳng biết được bên trong? Còn nói tâm ở ngoài, thì sao tâm lại biết đau? Như thế thì tâm chắc ở chính giữa."

    • Phật hỏi: "Ông nói tâm ở chính giữa, vậy cái chính giữa là giữa thân hay cảnh; nếu ở chính giữa thân, thì đồng thời với ở trong thân, như đã nói trước. Nghĩa là: tâm phải thấy trước tim, gan, ruột, phổi ở bên trong. Còn như ở về cảnh, thì có thể nêu (cái giữa) ra được, hay không nêu ra được? Nếu không nêu ra được, thì đồng như không có; còn nếu ra được, thì không thể nhứt định chỗ nào là chính giữa. Vì sao? Như người lấy cái cây cắm chính giữa, nếu người ở phía đông thì xem thấy cây ấy cắm ở phía tây; còn người ở phía nam, thì xem thấy cây ở phía bắc. Cái cây cắm nêu đó đã không nhứt định chỗ nào là chính giữa, thì cái tâm của ông cũng phải lôn lạo không định."

    • A-Nan thưa: "Con nói chính giữa không phải hai chỗ ấy. Như Phật thường nói: con mắt đối với sắc trần, sanh ra nhãn thức. Một bên con mắt thì có phân biệt, một bên sắc trần lại không phân biệt, cái thức sanh chính giữa, đó là chỗ của tâm ở."

    • Phật hỏi: Ông nói: Tâm ông sanh chính giữa căn và trần cảnh hay không gồm cả hai. Nếu gồm cả hai, thì căn với cảnh lộn lạo (căn không thành căn, cảnh không thành cảnh; vì vừa biết mà cũng là không biết). Song trần cảnh thì không có tri giác, còn căn lại có tri giác, hai bên đối lập riêng khác, vậy lấy chỗ nào làm giữa. Còn như không gồm cả căn và cảnh, thì tâm không thật thể. Vậy lấy cái gì làm chính giữa? Thế nên phải biết: Ông nói tâm ở chính giữa cũng không phải."

    • A-Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, ngày trước con thấy khi Phật cùng với ông Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ đềv.v. nói pháp, Phật có dạy rằng: Cái tâm hiểu biết phân biệt, không ở trong thân, không ở ngoài thân, không ở chính giữa, không ở chỗ nào cả; không dính mắc (vô trước) tất cả đó gọi là tâm. Vậy nay con lấy cái không dính mắc đó làm tâm, chẳng biết có hay được không?"

    • Phật hỏi: "Ông nói: lấy cái không dính mắc tất cả làm tâm. Vậy tôi hỏi ông: tất cả các vật tượng trong thế gian này, nào là hư-không, thế-giới, chim bay trên trời, cá lội dưới nước v.v. Vậy các vật tượng ấy có mà ông không dính mắc (trước) hay là không, mà ông không dính mắc? Nếu các vật tượng ấy không có, thì cũng như lông rùa, sừng thỏ: nó đã không, thời có gì mà dính mắc. Nếu còn có cái không dính mắc thì ông không thể nói rằng không dính mắc được. Vì cái gì không có hình tướng thì không, còn cái gì có hình tướng là có. Nếu có hình tướng thì phải bị dính mắc. Thế nên ông nói: không dính mắc tất cả làm tâm cũng không phải."

    – Kinh Lăng Nghiêm đoạn Phật giảng về tâm, lời trình bày của Thích Thiện Hoa

    Đọc xong các bạn nghĩ sao ? Xin cho biết cãm nhận .
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  9. #9

    Mặc định

    Nhắm mắt lại, thấy hay không thấy?
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

  10. #10

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TVXQ Xem Bài Gởi
    Nhắm mắt lại, thấy hay không thấy?
    Đất nào thấy với chẳng thấy !

    :rose:
    chúc các bạn cuối tuần vui vẻ.Tịnh tấn trong tu học.

  11. #11

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TVXQ Xem Bài Gởi
    Nhắm mắt lại, thấy hay không thấy?

    Bạn ơi ! Nhắm mắt lại thì ta vẫn thấy , tức thấy cái tối, thấy 1 màu đen. Phải không bạn ?

    ...
    :rose: ---------------------- :rose:
    Hài hòa chỉ và quán,
    Trí tuệ tràn hư không...
    :rose: ---------------------- :rose:

  12. #12

    Mặc định

    Bản kiến bất nhị, động tịnh đều chẳng nhiễm ( Kinh Lăng nghiêm)

    Bình thường tâm thị đạo ^^.

    Bất lập văn tự
    Giáo ngoại biệt truyền.
    Last edited by TVXQ; 07-10-2011 at 01:22 PM.
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

  13. #13

    Mặc định

    [QUOTE=Qin ShiHuang;467333][SIZE="2"]Chào bạn chienkhud và Cô Bích Thủy,

    Chỉ một câu hỏi ngắn gọn : "Tâm là cái gì vậy ta ?",mà cô BT. đã tìm tòi những đoạn kinh sách ,những điều về Phật dạy nói về chữ Tâm và đọc xong ,khá mệt !( điều này tôi nói thật đó BT,tôi phải in lại bài này của BT,để khi rảnh tôi sẽ nhâm nhi từng đoạn với li Cafe ,đọc và suy niệm ,rất là hay ,nhưng phải tìm hết cái hay trong đó mới được ,để xem trong cái hiểu, mỉnh hiểu thêm cái hiểu nào không? ). Tôi cũng xin được gởi thêm một đoạn bài giãng của Đức Phật với Anan,nói về cái "Tâm" ,cũng tương đối dài ,để chia sẽ riêng với chienkhud,cũng như BT,cùng với các anhchiem có quan tâm trong topic này



    Chào huynh Qin ShiHuang.

    BT nói lời cảm ơn huynh đã chia sẽ,

    Và do từ hôm trò chuyện tu học, bt có bị xáo trộn, tâm bt tự cần chấn chỉnh...nên bài post dài nầy... bt cũng tự ôn tập lai và muốn chia sẽ cùng các bạn và cả huynh nữa ,
    Cho nên nghe huynh nói là hay,có lưu ý... bt rất cảm ơn huynh! BT chỉ mong có góp chút tài liệu thêm phong phú sự thảo luận Phật pháp của nhóm google groups mà huynh có đề cập hôm nọ.

    Bây giờ BT có việc, khi khác sẽ trao đổi cùng huynh , ,...

    Thân chào !
    :rose: ---------------------- :rose:
    Hài hòa chỉ và quán,
    Trí tuệ tràn hư không...
    :rose: ---------------------- :rose:

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TVXQ Xem Bài Gởi
    Nhắm mắt lại, thấy hay không thấy?
    Đây là thoại đầu xuất phát từ kinh Pháp Bảo Đàn.

  15. #15

    Mặc định

    Sư thăng toà bảo đại chúng rằng: Cần phải tĩnh tâm niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða. Lại nói: Thiện tri thức, trí bồ đề Bát Nhã của chúng sanh vốn tự có, chỉ vì tâm mê chẳng thể tự ngộ, phải nhờ đại thiện tri thức khai thị dẫn dắt để đi đến kiến tánh. Phải biết Phật tánh của kẻ ngu người trí vốn chẳng sai biệt, chỉ vì mê ngộ chẳng đồng, nên mới có kẻ ngu người trí. Nay ta thuyết Pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, khiến cho mọi người đều được trí huệ, hãy chú tâm nghe: Thiện tri thức, người đời suốt ngày miệng niệm BÁT NHÃ, chẳng nhận được TỰ TÁNH BÁT NHÃ, cũng như nói ăn mà chẳng no, miệng chỉ thuyết KHÔNG, muôn kiếp chẳng được KIẾN TÁNH, rốt cuộc vô ích.

    Thiện tri thức, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật là tiếng Phạn, dịch là đại trí huệ đến bờ bên kia, đây cần phải tâm hành, chẳng ở miệng niệm, miệng niệm tâm chẳng hành thì cũng như huyễn hoá. Miệng niệm tâm hành, thì tâm và miệng tương ưng. Bản tánh là Phật, lià tánh chẳng có Phật.

    Sao gọi là Ma Ha? Ma Ha là đại, tâm lượng quảng đại như hư không, chẳng có biên giới, cũng chẳng vuông tròn lớn nhỏ, cũng chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, cũng chẳng trên dưới dài ngắn, cũng chẳng giận, chẳng vui, chẳng phải chẳng quấy, chẳng thiện chẳng ác, chẳng đầu chẳng đuôi. Các cõi Phật đều đồng như hư không, diệu tánh con người vốn không, chẳng có một pháp có thể đắc, tự tánh chơn không cũng như thế. Thiện tri thức, chớ nên nghe ta nói KHÔNG mà liền chấp KHÔNG. Trước nhất chớ chấp KHÔNG, nếu để tâm KHÔNG tĩnh tọa là lọt vào VÔ KÝ KHÔNG. Thiện tri thức, thế giới hư không bao hàm sắc tướng vạn vật, mặt trời mặt trăng, núi sông đất đai, cây cối, biển lớn, kẻ dữ người lành, pháp ác pháp thiện, thiên đàng địa ngục, tất cả đều ở trong hư không, TÁNH KHÔNG của con người cũng vậy. Thiện tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp là ЀI,muôn pháp đều ở trong tự tánh của con người. Nếu thấy điều dữ điều lành của người, tất cả đều chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng chấp chẳng nhiễm, tâm như hư không gọi là ЀI, nên nói là MA HA. Thiện tri thức, kẻ mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có kẻ mê để tâm không mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng nghĩ, tự xưng là đại, với bọn người này không thể nói gì được, vì họ bị rơi vào tà kiến. Thiện tri thức, tâm lượng quảng đại cùng khắp pháp giới, dùng thì liễu liễu rõ ràng, ứng dụng liền biết tất cả. Tất cả tức một, một tức tất cả, tới lui tự do, tâm thể vô ngại tức là BÁT NHÃ.

    Thiện tri thức, tất cả TRÍ BÁT NHÃ đều từ tự tánh mà sanh, chẳng từ bên ngoài vào, chớ lầm dùng ý thức, gọi là chơn tánh tự dụng. Nhất chơn nhất thiết chơn, tâm lượng là việc lớn, chẳng nên hành đạo nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như thường dân tự xưng là vua thì không được, hạng người này chẳng phải đệ tử của ta.

    Thiện tri thức, sao gọi là BÁT NHÃ? BÁT NHÃ dịch là trí huệ. Bất cứ nơi nào lúc nào, niệm niệm chẳng ngu muội (chẳng chấp thật), thường hành đúng trí huệ, tức là hạnh BÁT NHÃ. Một niệm ngu muội (chấp thật) thì BÁT NHÃ tuyệt, một niệm trí huệ thì BÁT NHÃ sanh. Con người ngu mê chẳng thấy BÁT NHÃ, miệng nói BÁT NHÃ mà trong tâm thường ngu muội, tự nói ta tu BÁT NHÃ, niệm niệm nói KHÔNG mà chẳng biết CHƠN KHÔNG. BÁT NHÃ không hình tướng, ấy là tâm trí huệ, nếu hiểu thấu như thế gọi là TRÍ BÁT NHÃ.

    Sao gọi Ba La Mật? Ba La Mật là tiếng Ấn Ðộ, dịch là đến bờ bên kia, nghiã là lià sanh diệt. Chấp cảnh thì sanh diệt dấy lên như nước nổi làn sóng, tức gọi bờ bên này, lìa cảnh thì chẳng sanh diệt như nước chảy im lìm, tức là bờ bên kia, nên gọi Ba La Mật. Thiện tri thức, kẻ mê miệng niệm, đang trong lúc niệm có vọng có sai, niệm niệm nếu hành, gọi là chơn tánh. Kẻ ngộ pháp này là PHÁP BÁT NHÃ, kẻ tu hạnh này là H€NH BÁT NHÃ, chẳng tu tức là phàm phu, một niệm tu hành, tự thân bằng Phật. Thiện tri thức, phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ Ðề; niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật. Niệm trước chấp cảnh tức phiền não, niệm sau lià cảnh tức Bồ Ðề.

    Thiện tri thức! MA HA BÁT NHà BA LA MẬT, tối cao tối thượng tối đệ nhất, không trụ không đi cũng không đến, tam thế chư Phật từ đó ra. Cần phải dùng ЀI TRÍ HUỆ, phá ngũ uẩn phiền não trần lao, tu hành như thế, nhất định thành Phật, đổi TAM ÐỘC thành GIỚI, ÐỊNH, HUỆ. Thiện tri thức, pháp môn này từ một BÁT NHà mà sanh ra tám mươi bốn ngàn trí huệ. Tại sao vậy? Vì con người có tám mươi bốn ngàn trần lao, nếu không có trần lao thì trí huệ luôn luôn hiển hiện, chẳng lià tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm, vô ức (không ghi nhớ), vô nhiễm trước, chẳng khởi cuồng vọng. Ðối với tất cả pháp, dùng trí huệ của chơn như tự tánh chiếu soi, chẳng lấy chẳng bỏ, tức là KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT. Thiện tri thức, muốn đi vào pháp giới thâm sâu và BÁT NHà TAM MUỘI, phải tu hạnh BÁT NHÃ, thực hành theo Kinh Kim Cang thì sẽ được KIẾN TÁNH. Phải biết cái công đức của Kinh này vô lượng vô biên, trong Kinh rõ ràng tán thán, chẳng thể kể xiết. Pháp môn này là TỐI THƯỢNG THỪA, vì người đại trí mà thuyết, vì người thượng căn mà thuyết, kẻ căn khí nhỏ nghe được khó tin. Tại sao vậy? Ví như trận mưa bão lụt, thành thị nông thôn đều bị cuốn trôi như cỏ lá, nếu mưa bão trong biển lớn thì chẳng thêm chẳng bớt; như người thượng thừa, người tối thượng thừa nghe được Kinh Kim Cang, tâm liền khai ngộ. Nên biết tự tánh vốn có cái TRÍ BÁT NHÃ, trí huệ tự tánh thường chiếu soi nên chẳng nhờ văn tự, ví như nước mưa, chẳng do trời có mà do khí trời làm nên, khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cây cối, hữu tình vô tình, đều được thấm nhuần, tất cả sông ngòi đều chảy về biển lớn, hợp thành nhất thể. Cái TRÍ TỰ TÁNH BÁT NHà của chúng sanh cũng vậy. Thiện tri thức, kẻ tiểu căn nghe được PHÁP MÔN ÐỐN GIÁO này, cũng như cây cỏ mà gặp mưa bão, đều tự gãy đổ chẳng sanh trưởng được, kẻ tiểu căn thì cũng như vậy: họ vốn có cái TRÍ BÁT NHà đồng với người đại trí, chẳng có khác biệt, tại sao nghe Pháp mà chẳng được tự ngộ? Ðó là do tà kiến chướng nặng, phiền não căn sâu, cũng như mây lớn che khuất mặt trời, chẳng được gió thổi nên chẳng hiện ánh sáng. CÁI TRÍ của BÁT NHà vốn chẳng lớn nhỏ, chỉ vì tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ chẳng đồng, tâm mê tu hành hướng ngoại tìm Phật mà chưa ngộ tự tánh, tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo, chẳng chấp lấy hình tướng bên ngoài, chỉ ở trong tự tâm thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao thường chẳng ô nhiễm, tức là KIẾN TÁNH. Thiện tri thức, trong ngoài chẳng trụ, đi lại tự do, nếu trừ được chấp tâm thì thông đạt vô ngại. Nếu tu được hạnh này, với Kinh BÁT NHà vốn chẳng sai biệt. Thiện tri thức, tất cả Kinh điển và văn tự, đại tiểu nhị thừa, mười hai bộ Kinh đều do người đặt ra, vì có tánh trí huệ mới được kiến lập; nếu chẳng có con người thì vạn pháp vốn chẳng tự có. Nên biết vạn pháp vốn do tâm người kiến tạo, tất cả Kinh sách là vì con người mà nói. Vì trong con người có kẻ ngu người trí, ngu là tiểu nhơn, trí là đại nhơn,kẻ ngu hỏi pháp với người trí, người trí thuyết pháp cho kẻ ngu, kẻ ngu đốn ngộ tự tâm thì chẳng khác với người trí vậy.

    Thiện tri thức, khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm khai ngộ, chúng sanh tức Phật. Nên biết vạn pháp đều ở nơi tự tâm, vậy sao chẳng ở trong tự tâm đốn thấy chơn như bản tánh? Kinh Phạm Võng nói: Tự tánh vốn thanh tịnh, nếu nhận được tự tâm, thấy được bản tánh, tức thành Phật đạo. Kinh Duy Ma Cật nói: Ngay lúc đó hoát nhiên đốn ngộ, liền được bổn tâm. Thiện tri thức, ta ở nơi Hoà Thượng Hoằng Nhẫn vừa nghe câu nói liền ngộ, đốn thấy chơn như bản tánh, cho nên hoằng dương giáo pháp này, khiến hành giả đốn ngộ Bồ Ðề, mọi người tự thấy bổn tâm, tự kiến bản tánh, nếu chẳng tự ngộ, phải tìm người đã khai ngộ pháp tối thượng thừa, chỉ ngay đường lối CHÁNH PHÁP, vì thiện tri thức có nhân duyên lớn giáo hoá dẫn dắt, khiến hành giả được KIẾN TÁNH, tất cả thiện pháp đều do thiện tri thức mà được kiến lập. Tam thế chư Phật, mười hai bộ Kinh ở trong tự tánh vốn đã đầy đủ, vì tự ngộ chẳng được, nên phải nhờ thiện tri thức chỉ ra mới thấy, kẻ tự ngộ thì chẳng phải nhờ đến người khác. Nếu cố chấp rằng phải luôn luôn ỷ lại thiện tri thức mới mong được giải thoát thì không bao giờ được. Tại sao vậy? Vì ở trong tự tâm sẵn có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà kiến mê chấp vọng tưởng điên đảo, dẫu cho gặp thiện tri thức dạy bảo cũng chẳng cứu được. Nếu khởi chơn chánh BÁT NHÃ tham cứu, trong một sát na vọng tưởng đều tiêu, nhận được tự tánh, đốn siêu Phật địa. Thiện tri thức, dùng trí huệ chiếu soi, trong ngoài sáng tỏ rõ ràng thì nhận được bổn tâm. Nếu nhận được bổn tâm tức vốn là giải thoát, được giải thoát tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI, BÁT NHÃ TAM MUỘI tức là VÔ NIỆM.

    Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn, đối với lục trần mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI, tự tại giải thoát, gọi là hạnh VÔ NIỆM. Chứ chẳng phải như người lầm tưởng cho là trăm điều chẳng nghĩ, chỉ cho niệm tuyệt diệt, ấy là pháp trói buộc, tức là biên kiến. Thiện tri thức, kẻ ngộ pháp VÔ NIỆM thông đạt vạn pháp, ngộ pháp VÔ NIỆM thấy được cảnh giới chư Phật, ngộ pháp VÔ NIỆM được đến địa vị Phật. Thiện tri thức, nếu người đời sau ngộ được pháp này, đem pháp môn đốn giáo này với những người đồng một chánh kiến chánh hạnh phát nguyện cùng tu, như cúng dường Phật mà suốt đời chẳng thối lui, người ấy nhất định được vào Thánh vị.( Đây giải thích vô niệm là không bị vướng mắc trói buộc chứ không phải là không có niệm)

    Nhưng phải truyền thọ, từ trước đến nay các Tổ đều mặc truyền tâm ấn, chẳng được ẩn giấu Chánh Pháp. Nếu chẳng phải đồng một chánh kiến, chánh hạnh, là người đã ở trong pháp khác thì chẳng được truyền thọ, vì sợ kẻ ngu chẳng hiểu, lại sanh phỉ báng pháp môn này, phá hoại truyền thống CHÁNH PHÁP của Cổ Ðức, làm cho muôn ngàn kiếp sau đoạn dứt Phật chủng, cuối cùng vô ích.

    Thiện tri thức, nay ta có một bài VÔ TƯỚNG TỤNG, mọi người hãy tự giữ lấy, không kể xuất gia, tại gia, nên y theo bài tụng mà tu hành, nếu chẳng tự tu mà chỉ ghi nhớ lời ta cũng chẳng ích lợi gì. Bài tụng rằng:

    Thuyết thông cập tâm thông,
    Như nhựt xử hư không,
    Duy truyền kiến tánh pháp,
    Xuất thế phá tà tông.
    Pháp tức vô đốn tiệm,
    Mê ngộ hữu trì tật,
    Chỉ thử kiến tánh môn,
    Ngu nhơn bất khả tất.
    Thuyết tức tuy vạn ban,
    Hợp lý hườn quy nhất.
    Phiền não ám trạch trung,
    Thường tu sanh huệ nhựt,
    Tà lai phiền não chí.
    Chánh lai phiền não trừ,
    Tà chánh câu bất dụng,
    Thanh tịnh chí vô dư.
    Bồ đề bổn tự tánh,
    Khởi tâm tức thị vọng,
    Tịnh tâm tại vọng trung,
    Ðản chánh vô tam chướng,
    Thế nhơn nhược tu đạo,
    Nhất thiết tận bất phương.
    Thường kiến tự kỷ quá,
    Dữ đạo tất tương đương.
    Sắc loại tự hữu đạo,
    Các bất tương phương não,
    Ly đạo biệt mích đạo,
    Chung thân bất kiến đạo.
    Ba ba độ nhất sanh,
    Ðáo đầu hườn tự áo.
    Dục đắc kiến chơn đạo,
    Hạnh chánh tức thị đạo.
    Tự nhược vô đạo tâm,
    Ám hành bất kiến đạo.
    Nhược chơn tu đạo nhơn,
    Bất kiến thế gian quá,
    Nhược kiến tha nhơn phi,
    Tự phi khước thị tả,
    Tha phi ngã bất phi,
    Ngã phi tự hữu quá,
    Ðản tự khước phi tâm,
    Ðả trừ phiền não phá.
    Tắng ái bất quan tâm,
    Trường thân lưỡng cước ngọa.
    Dục nghĩ hoá tha nhơn,
    Tự tu hữu phương tiện.
    Vật linh bỉ hữu nghi,
    Tức thị tự tánh hiện.
    Phật pháp tại thế gian,
    Bất ly thế gian giác,
    Ly thế mích bồ đề,
    Cáp như cầu thố giác.
    Chánh kiến danh xuất thế,
    Tà kiến danh thế gian,
    Tà chánh tận đả khước,
    Bồ đề tánh uyển nhiên.
    Thử tụng thị đốn giáo,
    Diệc danh đại pháp thuyền,
    Mê văn kinh lũy kiếp.
    Ngộ tắc sát na gian.
    Dịch nghiã:
    Thuyết thông lại tâm thông (1),
    Như mặt trời giữa không,
    Chỉ truyền pháp kiến tánh,
    Hoằng pháp phá tà tông.
    Pháp vốn chẳng đốn tiệm,
    Mê ngộ có nhanh chậm,
    Pháp môn kiến tánh này,
    Kẻ ngu chẳng thể tri.
    Thuyết tuy muôn ngàn lối,
    Ðúng lý chỉ là một,
    Nhà phiền não đen tối,
    Thường nên sanh huệ nhựt,
    Tà khởi phiền não tới,
    Chánh đến phiền não trừ,
    Tà chánh đều chẳng chấp,
    Thanh tịnh đến cùng tột.
    Tự tánh vốn bồ đề,
    Khởi tâm tức là vọng,
    Tịnh tâm ở trong vọng,
    Niệm chánh chẳng tam chướng,
    Người đời muốn tu đạo,
    Tất cả đều chẳng ngại,
    Thường tự thấy lỗi mình,
    Với đạo tức tương ưng.
    Muôn loài tự có đạo,
    Mỗi mỗi chẳng ngại nhau,
    Ngoài tâm đi tìm đạo,
    Suốt đời chẳng thấy đạo.
    Bôn ba qua một đời,
    Sau cùng tự áo não.
    Muốn được thấy chơn đạo,
    Hạnh chánh tức là đạo,
    Nếu tự chẳng đạo tâm,
    Ðen tối chẳng thấy đạo.
    Nếu là người chơn tu,
    Chẳng thấy lỗi thế gian,
    Nếu thấy lỗi của người,
    Trái lại thành tự quấy.
    Người quấy ta chẳng quấy,
    Thấy quấy thành tự lỗi.
    Hễ bỏ tâm chấp quấy,
    Phiền não tự tan rã.
    Thương ghét chẳng quan tâm,
    Duỗi thẳng hai chân nằm.
    Muốn hoá độ chúng sanh, (2)
    Tự phải có phương tiện,
    Khiến họ hết nghi ngờ,
    Tức là tự tánh hiện.
    Phật pháp tại thế gian,
    Chẳng rời thế gian giác,
    Lià thế tìm bồ đề,
    Cũng như tìm sừng thỏ.
    Chánh kiến gọi xuất thế,
    Tà kiến gọi thế gian,
    Tà chánh đều quét sạch,
    Tánh bồ đề rõ ràng.
    Tụng này là đốn giáo,
    Cũng gọi đại pháp thuyền.
    Lúc mê tu nhiều kiếp,
    Ngộ chỉ một sát na.

    Sư lại nói: Nay ta ở chùa Ðại Phạn thuyết pháp đốn giáo này, nguyện cho pháp giới chúng sanh nghe được pháp này liền kiến tánh thành Phật.

  16. #16

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi luckyboy624 Xem Bài Gởi

    Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn, đối với lục trần mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI, tự tại giải thoát, gọi là hạnh VÔ NIỆM. Chứ chẳng phải như người lầm tưởng cho là trăm điều chẳng nghĩ, chỉ cho niệm tuyệt diệt, ấy là pháp trói buộc, tức là biên kiến. Thiện tri thức, kẻ ngộ pháp VÔ NIỆM thông đạt vạn pháp, ngộ pháp VÔ NIỆM thấy được cảnh giới chư Phật, ngộ pháp VÔ NIỆM được đến địa vị Phật. Thiện tri thức, nếu người đời sau ngộ được pháp này, đem pháp môn đốn giáo này với những người đồng một chánh kiến chánh hạnh phát nguyện cùng tu, như cúng dường Phật mà suốt đời chẳng thối lui, người ấy nhất định được vào Thánh vị.( Đây giải thích vô niệm là không bị vướng mắc trói buộc chứ không phải là không có niệm)

    Lục tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay trong lúc ấy, bản lai diện mục của ngài là gì?”. Đây là ý gì? Khéo dùng Trí Huệ Bát Nhã quán xét thì biết “ Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” không phải là không nghĩ, không phải không có niệm thiện, ác mà là không dính mắc vào niệm thiện, ác ấy. Chân tâm thường tịch tĩnh mà rõ biết, không phải không có niệm thiện, ác mà rõ biết niệm thiện, ác và không dính mắc. Rõ biết và không dính mắc đó là Trí Huệ Bát Nhã, là bản lai diện mục.

    Vọng niệm khởi liền biết, biết vọng liền buông, tức là rõ biết mà không dính mắc đó là Trí Huệ Bát Nhã. Biết vọng liền buông là sao? Là chánh niệm hiện tiền, là cừa vào Tam Muội.

    Vọng niệm khởi rõ biết
    Liền A Di Đà Phật
    Ngày ngày giữ chánh niệm
    Phật kia hiện toàn thân ( Chân tâm tự hiển hiện)

    A Di Đà Phật là chánh niệm hiện tiền, lâu ngày sẽ xuất sanh Tam Muội, thấy rõ Chân Tâm. Nam Mô A Di Đà Phật chính là “ Vô thượng thậm thâm vi diệu thiền”. Vọng niệm khởi, liền quay trở về với Nam Mô A Di Đà Phật ( Chánh niệm). Dụng công như thế các tổ bảo là “ Dễ hành mà công cao”, Đại Thế Chí Bồ Tát dạy là không cần dùng nhiều công sức mà mau chứng Vô Sanh Nhẫn.

    Nay vì nói Pháp thiền mà nói như vậy chứ ý nghĩa Nam Mô A Di Đà Phật không chỉ như vậy. Có người sẽ hỏi nếu nói như trên là “ Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” vậy cõi nước Tây Phương chỉ là ví dụ thôi ư? Xin đáp: Đừng nghi! Chớ bao giờ nghĩ như vậy. Cõi ấy ngàn lần thật có! Một câu Nam Mô A Di Đà Phật là tánh mạng của Bồ Tát, là chỗ biết của chư Phật, đó thật là tâm tủy của chư Phật ba đời, mười phương.

    Lý ấy rất sâu, sự ấy cực dễ.
    Last edited by TVXQ; 07-10-2011 at 09:54 PM.
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

  17. #17

    Mặc định

    Cảm ơn TVXQ, bi giờ tôi mới thấy không chấp vào cái gì dù tốt hay xấu, đúng hay sai..., mình cứ làm tốt việc của mình là OK, là nhẹ nhàng, là happy...


    ...rose4 tặngTVXQ

    ,,

  18. #18

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TVXQ Xem Bài Gởi
    Lục tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay trong lúc ấy, bản lai diện mục của ngài là gì?”. Đây là ý gì? Khéo dùng Trí Huệ Bát Nhã quán xét thì biết “ Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” không phải là không nghĩ, không phải không có niệm thiện, ác mà là không dính mắc vào niệm thiện, ác ấy. Chân tâm thường tịch tĩnh mà rõ biết, không phải không có niệm thiện, ác mà rõ biết niệm thiện, ác và không dính mắc. Rõ biết và không dính mắc đó là Trí Huệ Bát Nhã, là bản lai diện mục.
    Bó tay cho cái kiểu giải thích công án chư Tổ!

  19. #19

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi chienkhud Xem Bài Gởi
    Bó tay cho cái kiểu giải thích công án chư Tổ!

    Nầy bạn chienkhud, xin mời bạn hãy giải thích đi, tôi chờ mong đó !
    ,,,

  20. #20

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi
    Đất nào thấy với chẳng thấy !
    Vác tượng đá này ra ngoài đi!
    Last edited by TVXQ; 09-10-2011 at 09:13 PM.
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 2 users browsing this thread. (0 members and 2 guests)

Similar Threads

  1. Bí ẩn cuộc sống sau khi chết!!! (Tổng hợp)
    By dc_bac in forum Chuyện Ma, Quỉ
    Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 17-12-2012, 11:36 AM
  2. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 11-11-2012, 11:52 PM
  3. Dành cho người hữu duyên
    By nguoi_mu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 101
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 07:54 PM
  4. KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN M.E.L
    By tuanvu_quynh1949 in forum Luân xa, Nhân điện, Cảm Xạ, Yoga, Thôi miên học.
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-04-2011, 03:26 PM
  5. YOGA GIẤC MỘNG VÀ SỰ THỰC HÀNH VỀ ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN
    By ÁNH SÁNG -T2- ÚC CHÂU in forum Mật Tông
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 21-01-2011, 01:35 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •