Trang 4 trong 6 Đầu tiênĐầu tiên 123456 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 61 tới 80 trên 115

Ðề tài: đạo Mẫu

  1. #61

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TranThinhQuang Xem Bài Gởi
    những cậu nào mà thập nhị cậu???? có cả cậu meo à???
    tôi xin tham gia là
    THập nhị quan hoang , thập nhị tiên cô , thập nhị thánh cậu
    Cũng chính là tứ phủ quan , cô , cậu
    Nhưng bởi vì theo hệ thống sắp đặt của tứ phủ đều có sự phân chia đều từ trên xuống dưới nên có một số vị thánh (thiên thần) sắp đặt theo sự tưởng tượng để phù hợp với sự phân bố triều đình tư phủ chứ không có gốc tích rõ ràng và không có ghi chép trong lịch sử
    TÔI LÀ NGƯỜI ĐI TÌM CHÍNH TÔI

    rose4 rose4 rose4

  2. #62

    Mặc định

    Dạ theo nhà em đc biết thì hàng Tứ Phủ Thánh Hòang có 10 vị ( Thập vị Thủy Tế )

  3. #63

    Mặc định

    mô phật tôi nhầm( thập vi)
    TÔI LÀ NGƯỜI ĐI TÌM CHÍNH TÔI

    rose4 rose4 rose4

  4. #64

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi manbro Xem Bài Gởi
    tôi xin tham gia là
    THập nhị quan hoang , thập nhị tiên cô , thập nhị thánh cậu
    Cũng chính là tứ phủ quan , cô , cậu
    Nhưng bởi vì theo hệ thống sắp đặt của tứ phủ đều có sự phân chia đều từ trên xuống dưới nên có một số vị thánh (thiên thần) sắp đặt theo sự tưởng tượng để phù hợp với sự phân bố triều đình tư phủ chứ không có gốc tích rõ ràng và không có ghi chép trong lịch sử
    đúng vậy vì là tưởng tượng nên có tính tương đối, ví dụ trong tứ phủ thánh cô , đâu chỉ có thập nhị tiên cô đâu
    trần gian đục lắm cô ơi.................

  5. #65

    Mặc định

    đúng là đạo mẫu muôn màu thật nhỉ,đọc hoa cả mắt mà không hiểu nổi @.@

  6. #66

    Mặc định

    cái này em No. Být
    bác nào sành chỉ dùm em vs nha

  7. #67

    Mặc định

    Bài Giáng Bút của Thánh Mẫu


    Vân Hương Thánh Mẫu

    Sắc Dậy Quần Sanh

    Mẹ khuyên con, con phải làm lành

    Để tránh thoát trăm vành tai nạn

    Thương con Mẹ phán, con phải nên nghe

    Cơn hiểm nguy trời đát chở che

    Khi hoạn nạn Phật Thần ủng hộ

    Lưu truyền thiên cổ: thiện giả thiện lai

    Giữa trần ai ai cũng như ai

    Chia giai cấp vì tài vì đức

    Không nên đổ tật, chớ có sầu bi

    Cuộc phù sinh nào có khác gì

    Ai thoát khỏi hoạt qui vân tán ?

    Giàu trăm ngàn vạn, chết khó đem đi

    Duy thiện can ác quả tương tuỳ

    Con nên phải nghĩ suy cho kĩ

    Thị phi, phi thị: gian trá, trá gian

    Của bất lương của ấy đừng tham

    Điều phi nghĩa điều kia chớ học

    Nợ duyên tơ tóc, tình nghĩa xương da

    Lo báo đền công đức mẹ cha

    Phải trọn vẹn tình ân nghĩa ái

    Dại khôn, khôn dại: hư thiệt, thiệt hư

    Đức cù lao lòng dữ khư khư

    Tình vàng đá thường lo đau đáu

    Trong đời gì báu bằng nghĩa với tình

    Giữ vẹn tuyền quỷ sợ thần kinh

    Lo đầy đủ trời bênh đất đỡ

    Trong nhà ngoài chợ, cử chỉ đoan trang

    Cuộc giao du nên tránh người gian

    Khi bàn luận nên bàn việc thiện

    Không nên bày chuyện chớ khá thêm lời

    Sợ vì ta lá rụng hoa rơi

    Hoặc từ đó, nhà tan cửa hại

    Con nên nghĩ lại, ai cũng như mình

    Việc của người chớ phách đừng banh

    Con tự xét lấy mình con trước

    Gặp ai lỡ bước, con chớ khinh khi

    Cuộc vần xoay giữ thế chắc gì

    Bần giữ phú khác gì dán tịch !

    Những lời công kích câu nói mỉa mai

    Con không ưa chớ có nói ai

    Con ưng trách thì người cũng trách

    Con nên tu tỉnh cười nói lựa lời

    Khi toại đàm chớ có nói chơi

    Rủi thiệt hại cho người trong cuộc

    Nghìn vàng khó chuộc, lời đã lỡ lời

    Mẹ khuyên con suy nghĩ đến nơi

    Đừng tự phụ có tài có đức

    Chinh Nam, phạt Bắc: Hạng võ anh hùng

    Khi hết thời trở lại Giang Đông

    Đem thủ cấp dâng ông đình trưởng

    Không nên tơ tưởng phú quý phù vân

    Giàu Thạch Sùng tiếng nổi xa gần

    Khi vận hết cơ cầu dói khổ

    Tục truyền tỏ rõ: duy hiếu là hơn

    Vua Thuấn xưa cày núi Lịch Sơn

    Vì tận hiếu mà hơn thiên hạ

    Nàng Ban Ả Tạ: tiết rạng nghìn thu

    Bà Chiêu Quân vì Hán cống Hồ

    Tình chăn gối hằng lo đầy đủ

    Quỷ thần ủng hộ, tiên thánh phù trì

    Ở Hồ lâu mà chẳng can gì

    Được tiết rạng, hồn qui cố thổ

    Sử xanh chép rõ: Phiếu Mẫu ngày xưa

    Giúp Hàn gia một bữa cơm trưa

    Sau Hàn tương đền ơn muôn lạng

    Hết tình vì bạn: Dương Lễ, Lưu Bình

    Thấy bạn nghèo con chớ nên khinh

    Bạn đói rách ấy mình đói rách

    Rèn lòng thanh bạch, giữ đạo hiền lương

    Con khỏi lo quỷ mị vấn vương

    Cũng không sợ tà ma gây hại

    Gái trai, trai gái, già trẻ nên nghe

    Lời khuyên người: Thánh Mẫu châu phê

    Rủi làm hại trời che đát đỡ

    Nghe lời nên nhớ - nhớ phải nên theo

    Thời khỏi lo phận đói kiếp nghèo

    Thuyền tế độ mẹ sẵn đưa chèo trăm họ.

  8. #68

    Mặc định

    Đạo Mẫu Việt Nam
    Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ các nữ thần (thường gọi là các Thánh Mẫu). Đạo Mẫu là một phần quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian và bản sắc dân tộc của Việt Nam. Đạo Mẫu được thờ tại các đền, phủ. Ở miền Bắc Việt Nam, hầu hết các chùa cũng có bàn thờ Mẫu (Tiền Phật, hậu Mẫu).

    Lịch sử và phát triển

    Nguồn gốc lịch sử của đạo Mẫu không được ghi lại rõ ràng trong sách vở. Có người cho rằng nó có nguồn gốc từ thời tiền sử, khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu hay Nữ thần Mẹ. Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng để bao hàm cả các nữ anh hùng trong dân gian - những người phụ nữ có thật nổi lên trong lịch sử với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ, và cuối cùng được thần thánh hóa để thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu.
    Ngô Đức Thịnh phân chia sự phát triển của đạo Mẫu thành các giai đoạn:
    1. Thờ các nữ thần thiên nhiên riêng biệt. Các nữ thần này là các tinh thần thiên nhiên và không có đặc điểm của con người, đặc biệt là đặc điểm của người mẹ.
    2. Thờ các Thánh Mẫu. Các nữ thần này đã có đặc điểm của người mẹ. Ví dụ Mẹ Âu Cơ, mẹ của dân tộc Việt.
    3. Thờ Thánh Mẫu tam phủ-tứ phủ. 3 hay 4 "Phủ" ở đây không phải là số đơn vị xây dựng như "đền", "phủ", mà là 3 hay 4 thành tố của vũ trụ: Trời (Thiên phủ), Đất (Địa phủ), Nước (Thủy phủ/ Thoải phủ), Núi rừng (Nhạc phủ).

    Nghi lễ thờ cúng

    Các vị thần trong đạo Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người Mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Đạo Mẫu không chú trọng vào cuộc sống sau khi chết, nó quan tâm đến cuộc sống hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ trên trần gian.
    Điều đó thể hiện trong các cầu nguyện và kinh lễ. Các bài kinh lễ là các bài hát về nhiều điều mà người ta mong muốn trong cuộc sống hàng ngày: thời tiết tốt cho mùa màng, sức khỏe cho mọi người, hạnh phúc, tiền tài, v.v.. Nội dung của các bài kinh lễ đơn giản và dễ hiểu, điều này rất khác so với nội dung kinh lễ các tôn giáo khác như Phật giáo hay Kitô giáo.
    Đạo Mẫu có các nghi lễ tổ chức theo Âm lịch với các tín đồ và nhiều người đi lễ tham gia. Các nghi thức hành lễ không được đào tạo chính thức mà chủ yếu được truyền khẩu từ đời này qua đời khác. Nghi lễ phổ biến nhất là lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng). Trong nghi lễ này, người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, linh hồn này được vời đến để nghe lời cầu nguyện của người đi lễ. Trong các nghi lễ, phụ nữ thường đóng vai trò chính, người lên đồng cũng thường là phụ nữ (bà cốt), đôi khi mới do nam giới đảm nhận (ông đồng).
    Các giá đồng (các điệu múa linh thiêng) là một phần quan trọng của nghi lễ. Có 72 giá đồng, bao gồm giá các quan lớn, giá các cậu, giá chầu bà, giá các cô,... Trong buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát văn (hay chầu văn). Hát văn là một thể loại hát nói (vừa hát vừa nói). Hát văn do người đồng biểu diễn cùng với dàn nhạc cung văn. Người ta nói rằng, chầu văn tạo nên một khung cảnh và âm nhạc tâm linh để giúp cho người đồng nhập vào vai mới và gắn kết với những con người và nơi chốn ở bên ngoài thế giới địa phương của họ.
    Đạo Mẫu có hai dịp lễ hội quan trọng: "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ", kỷ niệm ngày mất của Đức thánh Trần (Cha) và Liễu Hạnh Công chúa (Mẹ). Ngoài ra, người đi lễ có thể đến các phủ đền vào các ngày mùng Một hoặc ngày Rằm (âm lịch) hàng tháng, dâng đồ cúng lễ để tạ ơn và cầu khấn.

    Thánh Mẫu Liễu Hạnh

    Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cho là công chúa của Ngọc Hoàng Thượng đế, do lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần làm con gái nhà họ Lê (ở nơi ngày nay thuộc tỉnh Nam Định) vào năm 1557. Dưới trần, bà có cuộc sống ngắn ngủi, lấy chồng và sinh con năm 18 tuổi và chết năm 21 tuổi. Do bà yêu cuộc sống trần tục nên Ngọc Hoàng cho bà tái sinh lần nữa. Trong kiếp mới, bà du ngoạn khắp đất nước, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, gặp gỡ nhiều người. Bà thực hiện nhiều phép mầu, giúp dân chống quân xâm lược. Bà trở thành một lãnh tụ của nhân dân và thậm chí bà còn tranh đấu với vua chúa. Do đức hạnh của bà, nhân dân đã lập đền thờ bà (Đền Sòng tỉnh Thanh Hóa). Bà đã được thánh hóa và trở thành một vị Thánh Mẫu quan trọng nhất và một hình ảnh mẫu mực cho phụ nữ Việt Nam.
    Cho dù cuộc đời của bà được giải nghĩa theo cách nào, Liễu Hạnh đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh của phụ nữ. Bà tách mình ra khỏi Khổng giáo với quan niệm trọng nam khinh nữ. Bà nhấn mạnh vào hạnh phúc, quyền tự do đi lại và độc lập tư tưởng. Vừa được kính sợ vừa được yêu mến, các nguyên tắc của bà về trừng phạt kẻ xấu và ban thưởng người tốt cũng đã gửi một thông điệp về sự bảo vệ và hy vọng vào công bằng xã hội cho nhân dân trong thời loạn lạc của các thế kỷ 17-19. Vừa là thần tiên vừa là người (con gái, vợ, mẹ), Liễu Hạnh chia sẻ vui buồn với những người trần tục. Bà được coi là vị thần cảm thông và độ lượng nhất. Bà trở thành một trong các vị thần của Đạo Mẫu và nhanh chóng được nâng lên vị trí quan trọng nhất, cai trị các vị thần ở dưới và thế giới con người.

    Các vị thần khác của đạo Mẫu

    Trong các đền thờ của Đạo Mẫu có nhiều vị thần được sắp xếp theo các thứ bậc. Đầu tiên là Ngọc Hoàng. Đây là vị thần tối cao và được đặt ở vị trí danh dự, nhưng lại ít được thờ cúng. Vị thần cao nhất của Đạo Mẫu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Các vị khác được đặt tại các ban thờ tam phủ hoặc tứ phủ. Các Chư Linh của ban Tứ Phủ được phân chia như dưới đây:

    Bảo Dân Hộ Quốc Thánh Mẫu (越國聖母)

    Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
    Mẫu Đệ Nhất (Thiên Phủ). Danh hiệu: Mẫu Liễu Hạnh
    Mẫu Đệ Nhị (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Mẫu Thượng Ngàn
    Mẫu Đệ Tam (Thoải Phủ). Danh hiệu: Mẫu Thoải
    Mẫu Đệ Tứ (Địa Phủ). Danh hiệu: Lê Mại Đại Vương

    Phụ Vương Đại Thánh (越國聖父)

    Lạc Long Quân (Thoải Phủ)
    Bát Hải Long Vương (Thoải Phủ). Danh hiệu: Vua Cha

    Trần Triều Hiển Thánh (陳朝顯聖)

    Đức Thánh Trần. Danh hiệu: Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo - Tiết chế quốc công Hưng Đạo Đại vương)
    Đệ Tam Ông Cửa Suốt - Con trai thứ ba của Hưng Đạo Vương
    Đệ Nhất Vuong Cô - Con gái thứ nhất của Hưng Đạo Vương
    Đệ Nhị Vương Cô - Con gái thứ hai của Hưng Đạo Vương
    Đức Thánh Phạm Danh hiệu: Phạm Ngũ Lão - Con rể của Hưng Đạo Vương
    Cô Bé Cửa Suốt -cháu gái của Hưng Đạo Vương
    Cậu Bé Cửa Đông-cháu trai của Hưng Đạo Vương

    Các Vị Chúa Mường (山林嶽府占卜神婆)
    là các vị Chúa Bà chuyên về đáp giải bói bốc. Nếu chỉ tính ba vị Chúa Bói thì gọi là "Tam Toà Chúa Bói."

    Chúa Đệ Nhất Tây Thiên(Thiên Phủ)&(Nhạc Phủ)
    Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ(Nhạc Phủ)
    Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Thoải Phủ)&(Nhạc Phủ)
    Chúa Cà Phê(Địa Phủ)&(Nhạc Phủ)
    Chúa Ngũ Hành Ngũ Phương(Nhạc Phủ)
    Chúa Long Giao(Nhạc Phủ)
    Chúa Thác Bờ (Thoải Phủ)&(Nhạc Phủ)
    Chúa Mọi(Nhạc Phủ)

    Ngũ Vị Tôn Quan (五位神威尊官皇太子)
    Trách nhiệm của ngũ vị này là giáng vào thanh đồng để bắt đầu "mở phủ" cho các giá đồng sau được theo vào người đồng.

    Quan Đệ Nhất quyền cai Thiên Phủ trên trời, theo thần thoại là thần làm mưa làm gió, và cũng là Quan Lớn ở trong cung điện Ngọc Hoàng. Mặc bào mầu đỏ.
    Quan Đệ Nhị (Quan Giám Sát) ngày cúng của Đức Giám Sát là Âm Lịch mùng Ba tháng Ba. Châu văn ràng: Quyền cai rừng núi Lâm Cung, lên rừng suống biển tâu về Bát Hải Long Vương. Lúc đánh trận cho nhà vua thánh, Ông Quan là vị giám sát trước để đánh thuận xông pha. Mặc bào mầu xanh lá cây. Lúc lên giá này, ông cầm khăn phủ diện để minh giám hoàn cảnh.
    Quan Đệ Tam (Quan Tam Phủ) là con vua Bát Hải Long Vương, ra trận cầm đối đao vệ dân hộ quốc. Mặc bào mầu trắng. Lúc lên giá này, ông cầm đôi bạch kiếm đi xông pha quỉ thế tà giới.
    Quan Đệ Tứ (Quan Khâm Sai) là một ông quan Địa Linh quyền cai đất bằng. Ông có trách nhiệm đi khâm sai các vùng các dân, giữ an lành của nước Việt. Mặc bào mầu vàng.
    Quan Đệ Ngũ (Quan Tuần Tranh) là một ông Quan anh hùng hào kiệt có kể là tướng đi tuần ở Sông Tranh. Mặc bào mầu xanh biển. Lúc lên giá này, ông cầm cái thanh long đao to như của ông Quan Công của thời Tam Quốc.

    Lục Phủ Tôn Ông (六府特臣尊官聖靈)

    Đệ Nhất Vương Quan. Danh hiệu: Quan Điều Thất
    Đệ Nhị Vương Quan. Danh hiệu: Quan Hoàng Triệu

    Tứ Phủ Chầu Bà (四府十二位英靈公主)

    Chầu Đệ Nhất (Thiên Phủ)
    Chầu Đệ Nhị (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Ngôi Kiều Công Chúa
    Chầu Đệ Tam (Thoải Phủ). Danh hiệu: Thuỷ Điện Công Chúa
    Chầu Thác Bờ (Thoải Phủ & Nhạc Phủ) Có người hầu là giá thứ ba, tức là Chầu Đệ Tam, Bà chúa Thác Bờ
    Chầu Đệ Tứ (Địa Phủ). Danh hiệu: Chiêu Dung Công Chúa

    Đình Cốc Thượng là nơi tôn thờ Chiêu Dung công chúa Lý Thị Ngọc Ba, đã có công với dân, với nước. Bà đã cùng Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh tan quân xâm lược Nam Hán phương Bắc, đem lại thái bình cho dân tộc vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên (năm 40)

    Chầu Năm (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Suối Lân Công Chúa
    Chầu Ngũ Phương Có người hầu giá này thay vao Chầu Năm, tức là Chúa Ngũ Hành Ngũ Phương
    Chầu Lục (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Lục Cung Công Chúa
    Chầu Bẩy (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Tân La Công Chúa
    Chầu Tám (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Nữ Tướng Bát Nàn

    Bà họ Vũ, ở làng Phượng Lâu, huyện Kim Động, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Thân phụ của bà là thầy thuốc làm nhiều việc phước đức. Bà nổi tiếng là phụ nữ xinh đẹp và giỏi võ nghệ.

    Chầu Chín Cửu Tỉnh ở Bỉm Sơn Thanh Hoá
    Chầu Mười(Nhạc Phủ). Danh hiệu: Nữ Tướng Đồng Mỏ Chi Lăng
    Chầu Mười Một
    Chầu Bé (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Bắc Lệ Công Chúa

    Chầu Bà Ngũ Hành (五行聖婆神女)

    Đệ Nhất Chầu Bà Kim Tinh Thần Nữ
    Đệ Nhị Chầu Bà Mộc Tinh Thần Nữ
    Đệ Tam Chầu Bà Thuỷ Tinh Thần Nữ
    Đệ Tứ Chầu Bà Hoả Phong Thần Nữ
    Đệ Ngũ Chầu Bà Thổ Đức Thần Nữ

    Thập Vị Thủy Tế (十位八海龍兒皇子王爺)

    Ông Hoàng Cả (Thiên Phủ). Danh hiệu: Ông Hoàng Quận/ Lê Lợi
    Ông Hoàng Đôi (Nhạc Phủ)
    Ông Hoàng Bơ (Thoải Phủ)
    Ông Hoàng Đệ Tứ (Địa Phủ). Danh hiệu: Ông Hoàng Khâm Sai
    Ông Hoàng Năm
    Ông Hoàng Sáu
    Ông Hoàng Bảy (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Ông Bảo Hà
    Ông Hoàng Bát (Nhạc Phủ). Danh hiệu:Ông Bát Quốc, là một ông quan gốc người Hán đóng quân ở Lào Cai
    Ông Hoàng Chín (Thiên Phủ). Danh hiệu: Ông Cờn Môn
    Ông Chín Thượng(Nhạc Phủ)
    Ông Hoàng Mười (Địa Phủ). Danh hiệu: Ông Nghệ An, có công chống giặc Thanh từ bên TQ

    Tứ Phủ Tiên Cô (四府山莊神領聖姑)

    Cô Đệ Nhất Thượng Thiên (Thiên Phủ)
    Cô Đệ Nhất Thượng Ngàn(Nhạc Phủ)
    Cô Đôi Thượng(Nhạc Phủ)
    Cô Đôi Cam Đường(Nhạc Phủ) quê cô ỏ Đình Bảng Bắc Ninh nhưng cô Hiển Thánh ở Cam Đường Lào Cai
    Cô Bơ Hàn Sơn (Thoải Phủ) tức là Cô Ba Bông & Cô Ba Tây Hồ
    Cô Tư (Địa Phủ)
    Cô năm Suối Lân(Nhạc Phủ)
    Cô sáu Sơn Trang(Nhạc Phủ)
    Cô bảy Tiên la(Nhạc Phủ)
    Cô Tám đồi chè(Nhạc Phủ) ở đền Phong Mục
    Cô Chín Sòng Sơn(Thiên Phủ)
    Cô Chín Thượng(Nhạc Phủ)
    Cô Chín Thoải (Thoải Phủ)
    Cô Mười Đồng Mỏ(Nhạc Phủ)
    Cô Bé Đông Cuông(Nhạc Phủ)
    Cô Bé Suối Ngang (Nhạc Phủ)
    Cô Bé Thác Bờ (Thoải Phủ)
    Cô Bé Thoải(Thoải Phủ)
    Cô Bé Đen(Nhạc Phủ) tức là Cô Bé Sóc

    Thập Vị Triều Cậu (十位超靈少聖舅)

    Cậu Hoàng Cả (Thiên Phủ)
    Cậu Hoàng Đôi (Nhạc Phủ)
    Cậu Hoàng Bơ (Thoải Phủ)
    Cậu Hoàng Bé(Nhạc Phủ)

    Quan Ngũ Hổ (五方神虎威靈)

    Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan (東方甲乙木德青虎威靈)
    Nam Phuong Bính Đinh Hoả Đức Xích Hổ Thần Quan (南方丙丁火德赤虎威靈)
    Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (中央戊已土德黃虎威靈)
    Tay Phuong Canh Thân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan (西方庚辛金德白虎威靈)
    Bắc Phuong Nhâm Quý Thuỷ Đức Hắc Hổ Thần Quan (北方壬癸水德黑虎威靈)

    Ông Lốt (兩位青蛇白蛇大神將軍)

    Thanh Xà Đại Tướng Quân
    Bạch Xà Đại Tướng Quân
    Giải thích về sự có mặt của cả nam thần lẫn nữ thần trong các vị thần của Đạo Mẫu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng: Do xã hội Việt Nam cổ xưa theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có vị thế quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên, người phụ nữ chỉ có được quyền lực khi họ đã kết hôn. Do đó, nam giới cũng được xem là có vai trò quan trọng trong cuộc sống, và họ cũng được thờ cúng.
    http://daomau.com/Home/gioithieu/dao...09/08/216.aspx
    Last edited by trustone; 08-08-2011 at 12:40 PM.

  9. #69

    Mặc định

    BẠN meomeo90 mến.mình ko am hiểu cho lắm,nhưng những gì bạn vừa viết ở trên,nhìn như là lời của bài văn ý.gọi là cốt lõi thì đúng hơn.vì mình đi đền,phủ mình cũng chỉ khấn như chi lhDH thôi.chứ khấn tỉ mỉ ra co mà....hết chỗ cho người khác à.HIHI.

  10. #70

    Mặc định

    xin mạo muội huynh đệ.thế cho T hoi...Mẫu thi nhin già hay trẻ,xinh hay s=xấu.vì T đã có duyên được găp mẫu mấy lần rồi.hii

  11. #71

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi anhtuan7384 Xem Bài Gởi
    xin mạo muội huynh đệ.thế cho T hoi...Mẫu thi nhin già hay trẻ,xinh hay s=xấu.vì T đã có duyên được găp mẫu mấy lần rồi.hii
    Bạn gặp Mẫu rồi thì nói cho mọi ng biết với !

  12. #72

  13. #73

    Mặc định

    -Ngày 20/2:Tiệc Mẫu Mẹ đệ nhị Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương,sơn trang công chúa.Ngày này muôn dân tưng bừng mở hội chủ yếu là ở đền Đông Cuông Tuần Quán và trên Tuyên Quang.

    Mình vừa đi lễ ở đền Đông Cuông thì được hướng dẫn trong năm có 2 ngày lễ lớn:
    - Thứ nhất là: ngày mão đầu tiên của tháng giêng
    - Thứ hai là : ngày mãu đầu tiền của tháng chín
    Các bạn bổ sung thêm nhé

  14. #74

    Mặc định

    Có ai biết mục đích đạo Mẫu là gì và đạo Mẫu có giới luật gì không?
    Nếu không có mục đích giải thoát đưa con người phản bổn quy chân và con người muốn vậy trước hết phải giữ đúng một số giới điều (tôn giáo lớn nào cũng có giới điều). Nếu không có những tiên đề ấy, không thể gọi là đạo mà chỉ là thứ hoạt động tín ngưỡng dân gian, đáp ứng những nhu cầu ngay trong cõi ta bà của con người tầm thường mà thôi.

  15. #75

    Mặc định

    Một bài báo nào đó có nói đến gọi hồn một thanh niên lên. Thanh niên này khai: Em đang làm lính của ông Hoàng Mười!
    Cầu cúng lễ bái xin thọ xin lộc làm gì, nếu ở cõi đời đã làm kiếp chịu sai khiến, chết đi lại làm nô lệ cho một con Ma to hơn khác! Biết bao giờ mới giải thoát được.

    Đã theo thì theo Phật hoặc theo một tôn giáo lớn.

  16. #76

    Mặc định

    hai chữ thần quan viết nhầm thành uy linh trong mục quan ngũ hổ thần tướng rồi tiên sinh ơi

  17. #77

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi erzwombat Xem Bài Gởi
    Có ai biết mục đích đạo Mẫu là gì và đạo Mẫu có giới luật gì không?
    Nếu không có mục đích giải thoát đưa con người phản bổn quy chân và con người muốn vậy trước hết phải giữ đúng một số giới điều (tôn giáo lớn nào cũng có giới điều). Nếu không có những tiên đề ấy, không thể gọi là đạo mà chỉ là thứ hoạt động tín ngưỡng dân gian, đáp ứng những nhu cầu ngay trong cõi ta bà của con người tầm thường mà thôi.
    HI HI
    ĐẠO MÀ NÓI RA ĐƯỢC NHƯ VẬY THÌ KO PHẢI LÀ ĐẠO RỒI .
    NGẪM NHA BẠN
    HI HI
    Úm Lam, Úm xỉ Lâm. Úm mani pad me hum, Nam mô tát đa nẫm , tam miệu tam bồ đề, câu chi nẫm, đát điệt tha.Úm chiết lệ .Chủ lệ .Chuẩn đề .Ta bà ha.Bộ lâm

  18. #78

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi erzwombat Xem Bài Gởi
    Một bài báo nào đó có nói đến gọi hồn một thanh niên lên. Thanh niên này khai: Em đang làm lính của ông Hoàng Mười!
    Cầu cúng lễ bái xin thọ xin lộc làm gì, nếu ở cõi đời đã làm kiếp chịu sai khiến, chết đi lại làm nô lệ cho một con Ma to hơn khác! Biết bao giờ mới giải thoát được.

    Đã theo thì theo Phật hoặc theo một tôn giáo lớn.
    HI HI
    Í BẠN NÈ LÀ ĐÃ CHƠI THÌ CHƠI VỚI HẲN ĐẠI GIA , KO CHƠI VỚI 3 CÁI LOẠI LÉP NHÉP HẢ .
    ÁC THIỆT
    HI HI
    ĐẠO THÌ SAO CÓ THỂ HIỂU THEO LÝ PHÀM .
    HI HI
    Úm Lam, Úm xỉ Lâm. Úm mani pad me hum, Nam mô tát đa nẫm , tam miệu tam bồ đề, câu chi nẫm, đát điệt tha.Úm chiết lệ .Chủ lệ .Chuẩn đề .Ta bà ha.Bộ lâm

  19. #79

    Mặc định

    Mười hai giá đồng hầu Mẫu

    Từ những đời rất xa xưa, người Việt chúng ta tôn thờ các Mẫu. Mẫu đại phủ mặc áo vàng cai quản miền đất. Mẫu Thượng Ngàn mặc áo xanh cai quản miền núi rừng. Mẫu Thoải mặc áo trắng cai quản các miền sông nước. Về sau, Mẫu địa hóa thân vào Mẫu Liễu Hạnh mặc áo đỏ. Đó là đạo thờ Tứ phủ. Dưới các Mẫu là các hàng quan, chầu, các ông hoàng, các cô và các cậu. Họ là những vị vừa là người, vừa là thần thánh giúp việc cho các Mẫu để phù hộ, giúp đỡ và săn sóc cuộc sống trần gian.

    Người ta ngưỡng mộ, đặt niềm tin vào các Mẫu và những vị giúp việc cho Mẫu, khẩn cầu xin Mẫu vạn năng che trở, giúp đỡ mỗi khi gặp những điều không may hoặc khó khăn. Người ta đặt những bàn thờ, xây dựng đền, phủ, miếu để tôn vinh, thờ các Mẫu ở khắp nơi.

    Tục thờ Mẫu đã trở thành một nét văn hóa giầu giá trị nhân văn và độc đáo trong nền văn hóa Việt. Từ đó, người ta sáng tác ra điệu hát chầu văn kèm với nhạc, múa và nghi lễ lên đồng nhập hồn để thể hiện niềm tôn kính với các Mẫu. Họ trình bày nguyện vọng của họ với các Mẫu như kiểu người xon xin điều gì với mẹ mình. Lễ lên đồng, chầu văn được tiến hành qua sự nhập hồn của thần linh vào người ngồi đồng với nhiều yếu tố tổng hợp trợ giúp như: âm nhạc, phục trang, diễn tấu, ánh sáng, hương khói, trang hoàng rực rỡ, những lời khấn cầu của cung văn và các đệ tử v.v… Tất cả, cộng lại dâng trào lên một sự thăng hoa, thoát tục.

    Giá ông Hoàng Bơ bắt đầu. Ông Hoàng ngồi giữa xung quanh là sáu cô gái hầu hạ ăn mặc thướt tha. Bốn cô múa quạt (múa trang trí phía ngoài) để hai cô chỉnh lý trang phục đúng vai ông Hoàng. Các cô lại phủ lên mặt ngài bằng một tấn khăn đỏ. Lúc này, hai bên nổi nhạc (mõ, phách, cảnh, đàn nguyệt, thanh la, trống con…). Các cô hầu và đệ tử xung quanh khấn vái, xin Ngài Hoàng Bơ về răn dậy và ban phước cho các con công đệ tử. Trong khói hương nghi ngút và đền nến lung linh, đầu ông Hoàng đảo mấy vòng. Đó là lúc Ngài đã về nhập đồng.

    Ngài Hoàng chít khăn thêu, mặc áo trăng đai vàng, chân đi hài võ, vai khoác cung, tay cầm kiếm. Ngài Hoàng cầm lấy 3 nén hương từ tay một cô hầu, đi mấy bước lên cắm vào bát hương để kính các Mẫu. Trong lúc này, cung văn hát chầu, ca ngợi tài năng và công lao to lớn của Ngài đã dẹp giặc, giữ quê hương, giúp đỡ dân lành. Ngài là vị thánh văn võ kiêm toàn, tài hoa rất mực. Ban nhạc đi làm điệu lưu thủy, phá rồn. Ngài Hoàng đi một vài đường kiếm hào hoa với những nét múa rất đẹp. Rồi Ngài được các cô gái hầu mời uống rượu, ăn trầu, hút thuốc lá. Các cô gái hầu và các đệ tử xung quanh xin Ngài Hoàng Bơ phù hộ độ trì cho mọi người. Ngài Hoàng cũng phán bảo đôi điều. Ngài nhìn ra xung quanh với dáng vẻ yên lòng và lắng nghe mọi lời thỉnh cầu. Ngài sai cô hầu mang đến cho Ngài một cái tráp đổ đựng nhiều quà tặng và tiền để Ngài tự tay phát lộc cho các cô hầu, các cung văn và các đệ tử xung quanh. Dĩ nhiên Ngài đi vòng quanh để ban lộc cho mọi người bằng những bước đi như múa. Cuối cùng, Ngài ngồi nghỉ, ngả người về phía sau một chút, giang hai tay ra tỏ ý Ngài muốn trở về cung của Ngài. Cung văn hát bài “xa giá hồi cung”… Như vậy là kết thúc một giá đồng. Tiếp theo là giá đồng thứ hai, giá này là giá cô Chín đền Sòng. Để đón cô và hoan nghênh cô, dàn nhạc nhỏ và cung văn có những làn điệu riêng để ca ngợi cô cùng những lời thơ kèm nhạc tả về cô và tả cảnh, tả tình. Trước tiên, cô là một trong nhan sắc lớn. Cô hay đi rong chơi mọi nẻo hái thuốc chữa bệnh cho mọi người. Cô ăn bận rực rỡ với bộ trang phục màu xanh núi rừng, thắt lưng hoa đào, tết khăn thêu và luôn có nụ cười hoa nở. Cô là tiên nữ giáng trần, có phép thần thông và thương người trần thế. Các đệ tử và cung văn nguyện cầu, xin cô ban cho sức khỏe dồi dào, buôn may bán đắt. Cô còn múa hái hoa, múa khăn, múa quạt. Lúc này, cung văn chầu điệu xá thượng, xá lệnh rất sôi nổi, lôi cuốn mà xa vắng, tâm linh. Có lúc cô tỏ vẻ chưa hài lòng về một điều gì đó thì các đệ tử xin cô tha thứ và hứa sẽ tuân theo những lời khuyên bảo của cô. Cô liền tỏ ra hài lòng, khoan dung và sai ban lộc và thuốc men cho các đệ tử và mọi người xung quanh. Lời ca và tiếng nhạc không hề rứt, rất đa dạng và phong phú.

    Trên đây là giá đồng thứ hai. Tiếp sau là giá thứ ba, thứ tư đến giá thứ 12 hoặc 15. Còn có giá ông Hoàng Mười, Hoàng Bảy, cậy Hoàng Bơ, cô Ba Thoải, cô Thượng, cô Cam Đường v.v... Mỗi giá đồng ứng vào một vị thần thánh với những thành tích, tính cách, sở thích, phục trang, dáng điệu khác nhau.

    Trong nghi lễ chầu văn lên đồng, hát văn là hát chầu văn giữ một địa vị quan trọng. Có chừng 70 làn điệu và biến thể của chúng để phục vụ riêng cho từng giá đồng cho những điệu Bỉ, Riều, Dọc, Còn, Xá, Thổng, Sai v.v…

    Trong âm nhạc hát văn và chầu văn, tính chất dân gian được thể hiện rất rõ. Loại âm nhạc này thu hút vào mình nhiều âm hưởng của các loại dân ca ở rất nhiều địa phương trong cả nước. Nhịp điệu và tiết tấu của nó rất độc đáo, phong phú, hấp dẫn, đầy kịch tính.

    Trong chầu văn lên đồng có cả kịch, cả nghệ thuật múa. Đó là một loại sân khấu tâm linh, có sự giao lưu giữa người với đấng thần linh. Đây là một hình thức diễn xướng tổng hợp có nhiều nét nguyên sơ của sinh hoạt tín ngưỡng. Nhưng người ta lại thấy các vị thần linh huyền thoại lại được ứng vào với các vị anh hùng dân tộc có công lớn với đất nước và cũng được thờ phungj như các vị thánh thần có lòng yêu đất nước, yêu nhân dân và khẳng định sự trường tồn của dân tộc. Ở đây, chủ nghĩa yêu nước được tín ngưỡng hóa. Các giá đồng như Chầu Bát Nàn được là hóa thêm của nữ tướng đời bà Trưng, chầu Mười được gán vào ông tướng trấn thủ Nghệ An. Ông Hoàng Bơ ứng với Ngài Trần Hưng Đạo. Ông Hoàng Năm ứng với đức Phạm Ngũ Lão. Ông Hoàng Mười ứng với tướng quân Lê Sỹ. Cô Cam Đường ứng với bà Ỷ Lan khi còn nhỏ v.v…

    Chầu văn lên đồng là bảo tàng văn hóa Việt Nam. Nó có mặt tín ngưỡng tôn thờ Mẫu (mẹ) quyền năng cội nguồn, gắn bố với quê hương, đất nước, tôn thờ những vị anh hùng có công với đất nước. Riêng về văn hóa, nó là hình thức ca, múa, nhạc, kịch tổng hợp mà dân gian. Nó làm giầu cho vốn văn hóa truyền thống của Việt Nam và đóng góp vào vườn hoa sân khấu thế giới.

    (Tạp chí Văn Hiến)

  20. #80

    Mặc định Cho tôi hỏi

    Thưa các quí vị.
    Tôi muốn các quí vị giải thích giùm một vấn đề như sau : Trên ban Công Đồng chúng ta đều thấy Tam Tòa Tánh Mẫu ngồi trên Ngũ Vị Tôn Ông. Tam Tòa Thánh Mẫu thì ai cũng hiểu đó là hóa thân của Mẫu Liễu Hạnh, còn Ngũ vị Tôn Ông đều là con Đức Vua Cha Bát Hải. Nói về lịch sử thì Mẫu Liễu Hạnh mới có 500 năm nay, còn Ngũ Vị Tôn Ông thì có 4000 năm nay. Vậy vấn đề này nên hiểu thế nào ?
    Last edited by huongtinh; 14-12-2012 at 09:53 AM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •