Trang 3 trong 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 41 tới 60 trên 61

Ðề tài: Những Vần Thơ Ngoại Cảm

  1. #41

    Mặc định

    TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ NHỮNG VẦN THƠ NGOẠI CẢM

    Ngày 02/09/2007 vừa qua chúng tôi có chuyến đi tìm hiểu về tác giả của Những Vần Thơ Ngoại Cảm.

    Tiếp chúng tôi là một người phụ nữ 60 tuổi, rất khiêm cung nhã nhặn, giọng nói còn rất trong như thời con gái. Cô tên là Nguyễn Thị Lạc.

    Chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe cô kể rằng bắt đầu xuất hiện khả năng viết thơ ngoại cảm từ năm 12 tuổi đến nay, và đã có trên 2000 tập thơ đã hoàn thành. Như vậy trung bình mỗi tuần cô viết được một tập thơ đều đặn trong 50 năm qua.

    Những Vần Thơ Ngoại Cảm chúng tôi đang giới thiệu trên TGVH là những câu chuyện lịch sử bằng thơ, giai đoạn Vua Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, thuộc thế kỷ 16, gắn với những nhân vật lịch sử nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hoàng Đình Ái, Mạc Đăng Dung, Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng v.v…

    Chúng tôi được biết rằng những tập thơ ngoại cảm khác của cô Nguyễn Thị Lạc, sẽ còn có những câu chuyện lịch sử về Trưng Trắc, Trưng Nhị (thế kỷ thứ Nhất), về Nhuỵ Kiều Tướng Quân (thế kỷ thứ Hai), Lý Thường Kiệt (thế kỷ 10), và đặc biệt là các câu chuyện về thời vua Hùng Vương cách đây 4000 năm. Những câu chuyện lịch sử này sẽ là nguồn tư liệu qúy giá, là những câu chuyện người thật, việc thật, bổ sung cho nguồn tư liệu lịch sử chính thống hiện nay của chúng ta còn rất ít. Chúng ta biết rằng trải qua các biến đổi thăng trầm của lịch sử Việt Nam, kho tư liệu lịch sử chính thống của nước ta đã từng bị đốt bỏ, bị mai một khá nhiều qua các thời kỳ bị đô hộ.



    Một điều khá thú vị chúng tôi ghi nhận được, có rất nhiều chi tiết trong cuộc đời cô Nguyễn Thị Lạc rất giống với công chúa Oanh Vàng. Cô cũng là người vợ thứ năm, và người chồng đã ra đi về cõi vĩnh hằng khi cô mới 19 tuổi. Hiện nay cô cũng ngày ngày dâng hương niệm Phật tại ngôi chùa ngay tại nhà.
    Last edited by Love_Tamlinh; 20-04-2009 at 09:35 PM.

  2. #42

    Mặc định

    VỤ ÁN QUAN THỪA TƯỚNG LÝ HÙNG

    Thong dong tôi chúa luận bàn
    6820. Đăng Doanh (1) kể chuyện Oanh Vàng (2) thủy chung:
    Muội nương dám giết Lý Hùng (3)
    Thượng Hoàng (4) nghiệm thử có dung tội này
    Còn cha còn có con đây
    Còn hàng văn võ đông đầy luận phân
    Dù sao Lý cũng Đại thần
    Đang tay hành hạ tướng quân Mạc trào.
    Thượng Hoàng thủng thỉnh rỉ rao (5):
    Gái mà như vậy anh hào còn thua
    Oanh Vàng mới thật em Vua
    6830. Đáng con gái lão (6) lo vùa giúp dân,
    Lý Hùng là đứa gian thần
    Không gian sao lại đến gần nữ nhân
    Lão đà nghĩ rõ nguồn cơn
    Làm quan phải biết thiệt hơn ở đời
    Nếu mà lòng dạ lưng vơi
    Làm điều trái phép người đời mỉa mai,
    Con lão mới thật đại tài
    Lý Hùng mới thật là tay bợm già,
    Truyền quân mau đến môn nha
    6840. Đem thây họ Lý trào ca khui hài
    Đặng cho văn võ biết hay
    Chồng người đi vắng vãng lai rơi đầu.
    Đình Ái (7) nghe phán liền tâu:
    Muôn tâu Hoàng Thượng xét âu tội này
    Dù cho họ Lý có gây
    Sai người đến tấu cung Tây <8> lãm tường
    Có đâu ỷ chức công nương
    Mà coi mạng tướng quá thường vậy đa!
    Lý Hùng dầu có dại tà
    6850. Phải tâu với lệnh Vua cho biết rành,
    Oanh Vàng tự ý sát sanh
    Thế là nàng vẫn tung hoành rồi đa!
    Thượng Hoàng ông mới phán ra:
    Oanh Vàng con lão thiệt là liệt oanh
    Nếu nàng chẳng có tài lành
    Thì là Thừa tướng tung hoành trong dinh
    Nhờ con của lão xảo tinh
    Nếu như gái khác tiết trinh đâu còn!
    Khanh đừng tâu cáo e tròn
    6860. Một lần lầm lỗi lão còn tha cho
    Từ rày đừng tấu nhỏ to
    Chuyện con gái lão lão cho lăng trì (9),
    Từ rày khắp cả trào nghi
    Nếu ai còn nói xầm xì con ta
    Xử liền trăm trượng (10) trào ca
    Có khi đao võ dẫn ra pháp tràng (11).
    Đăng Doanh tâu với Thượng Hoàng:
    Ấy là Thái uý (12) luận bàn chút thôi
    Con nhìn tường tận đã rồi
    6870. Lý Hùng cũng phải xử thôi pháp tràng,
    Đã là Thừa tướng đường đường
    Còn đi làm chuyện phi thường xấu xa
    Làm cho văn võ trào ca
    Nhơ danh nam tử xấu đà biết bao!
    Chúa tôi bàn tính rỉ rao
    Thứ phi đâu lại bước vào thở than
    Nghiêng mình làm lễ Thượng Hoàng
    Lại sang Chúa Mạc hai hàng lụy rơi:
    Muôn tâu với lệnh ngôi Trời
    6880. Chánh cung, Công chúa (13) truyền lời phán ra
    Ngự lâm khắp cả trào ca
    Bao quanh vây phủ môn nha Oanh Vàng,
    Thêm quân thiện xạ hai ngàn
    Buông tên như bão Oanh Vàng chắc tiêu!
    Ắt là sắp loạn Mạc triều
    Con hay chuyện ấy đánh liều tới đây
    Đặng mà tâu rõ chuyện này
    Thượng Hoàng bệ hạ đó đây lãm tường
    Bốn nàng lại với công nương
    6890. Phen này tiêu hết thịt xương chẳng còn.
    Thượng Hoàng nghe tấu cười dòn:
    Vương nhi dạy vợ dạy con thế à
    Chữ rằng tiên trị kỳ gia
    Hậu trị kỳ quốc lẽ đà xưa nay
    Con ngồi chễm chệ trên ngai
    Mà con với vợ làm tay côn đồ
    Khi không đàn áp Hoàng cô
    Chẳng tâu chẳng rổi chẳng phô nửa lời
    Ngự lâm ta đặt binh Trời
    6900. Còn quân thiện xạ tuyệt vời của ta
    Khi nào binh biến can qua
    Thì hai quân ấy đem ra mà dùng,
    Khi không giữa chốn trào trung
    Mà con dâu trẫm dám dùng ngự lâm,
    Trăm dâu thì đổ đầu tằm
    Con làm cha chịu tội thâm với Trời,
    Nhuyễn tiên ông lấy tức thời
    Chúa Mạc xem thấy rụng rời tay chân,
    Ra tay Hoàng Thượng trị trừng
    6910. Hai trăm roi đủ mới ngừng phán ra
    Đây là lão vị tạm tha
    Vì còn bận chuyện môn nha Oanh Vàng,
    Vương nhi, Đình Ái phải sang
    Phải đi với lão xem toan thế nào
    OanhVàng có mệnh hệ nào
    Thì là Vương tuất máu đào phải rơi,
    Vương nhi Ngọc Điệp nữa thời
    Ba người này nữa ra nơi pháp trường.
    Phán xong tôi Chúa vội vàng
    6920. Lên yên giục ngựa thẳng đàng môn nha,
    Đến nơi xem thấy hằng hà
    Nào quân thiện xạ nào là ngự lâm
    Hoàng Hậu gương mặt hằm hằm
    Ngọc Điệp thì lại tay cầm đoản đao,
    Xua quân cứ việc lướt vào
    Ba người phi ngựa thẳng vào trong dinh,
    Chánh cung Ngọc Điệp vô tình
    Ngỡ là ba gã cứu tinh Oanh Vàng
    Truyền quân xạ tiễn thí càng
    6930. Phúc đâu tên trúng Thượng Hoàng ngang vai,
    Đình Ái vốn thiệt lẹ tay
    Liền cõng Hoàng Thượng vào rày môn nha
    Chúa Mạc hoảng sợ liền la
    Ngự lâm đình thủ kẻo mà mạng vong
    Quân nhìn thấy mão Cửu Long
    Quăng gươm quăng giáo chạy dong về trào.
    Ngọc Điệp cứ xách đoản đao
    Oanh Vàng ngồi ngó có mà sợ ai
    Bốn nàng run rẩy khóc ngay
    6940. Chánh cung bước tới ra tay nắm đầu

    Hôm nay ắt phải rơi đầu hết năm,
    Oanh Vàng chúm chím cười thầm
    Ngọc Điệp bước đến mới đâm Oanh Vàng
    Bốn nàng ôm xiết Oanh Vàng,
    Oanh Vàng rất thiệt lẹ làng hai tay
    Bắt gươm Ngọc Điệp nói rày:
    Chiêu vương tẩu tẩu nương tay với nào
    Bốn nàng này gái má đào
    6950. Có tôi vốn thiệt hùng hào gan to
    Mong ơn Hoàng Hậu tha cho
    Bốn nàng này thật nhà nho hiền lành
    Có tôi mới thật hùng anh
    Đứng lên dựng lũy xây thành Thăng long,
    Liền đem bốn ả vào phòng
    Ngọc Điệp đâm thí vào hông Oanh Vàng,
    Oanh Vàng vừa mới đỡ ngang
    Ngọc Điệp té xuống máu tràng nằm co,
    Thượng Hoàng xem thấy nguyên do
    6960. Chúa Mạc lòng dạ đắn đo ưu sầu
    Hoàng hậu thì lại câu mâu (15)
    Oanh Vàng thong thả đứng hầu Hoàng huynh (16)
    Hoàng Thượng xem thấy thương tình
    Nhưng tên tẩm thuốc thấm mình quá đau
    Phúc đâu máu họng tuôn trào
    Thượng Hoàng chết xỉu hồi nào không hay,
    Đình ái liền mới nói rày:
    Thị oai tức bị thậm tai đã rồi!
    Oanh Vàng rằng: Tẩu Tẩu ơi!
    6970. Thượng Hoàng người đã chết rồi còn chi!
    Vừa nói nàng lại vừa đi
    Vào phòng lấy thuốc nàng thì đem ra
    Phần uống phần để dùng thoa
    Loại tên tẩm độc thật là đáng ghê,
    Rút tên máu chảy dầm dề
    Chúa Mạc xem thấy đứng kề một bên.
    Hoàng hậu hết biết tuổi tên
    Lại gần Ngọc Điệp đỡ lên coi là,
    Đụng đâu Ngọc Điệp cũng la
    6980. Oanh Vàng đỡ mạnh nàng đà gãy xương.
    Đình Ái xem thấy chán chường:
    Oanh Vàng hãy khá cứu thương dùm nào!
    Oanh Vàng lật đật bước vào
    Chúa Mạc cản lại thì thào phán ra:
    Muội nương cứu Thượng hoàng gia
    Ngọc Điệp để nó ra ma cho rồi!
    Thượng Hoàng uống thuốc một hồi
    Chống tay ngồi dậy khúc nôi phân tường:
    Vương nhi nhìn thử ra đường
    6990. Thây nằm la liệt khôn tường giặc chi?
    Phải chăng giặc của Vương nhi
    Trong dinh năm đứa a tỳ chết luôn
    Ai gây ra tích ra tuồng
    Vương nhi có phải cội nguồn hay chăng,
    Cưới vợ cưới thứ vô căn
    Không tường luân lý đạo hằng nghĩa nhân
    Phong cho lớn chức cao quyền
    Còn thua sinh vật dã nhân trong rừng!
    Nói rồi truyền ngự lâm quân
    7000. Trói Hoàng hậu lại mà trừng luật Vua.
    Chúa Mạc lòng dạ chát chua
    Làm thinh nào dám động khua Thượng Hoàng.
    Đình Ái quỳ xuống vội vàng:
    Muôn tâu Đại đức Thượng Hoàng xét ra
    Ngọc Điệp nàng mãi khóc la
    Muôn tâu Hoàng Thượng bước mà lại coi!
    Thượng Hoàng rằng thứ tiểu đòi
    Truyền đem Ngọc Điệp cho voi xé hình!
    Oanh Vàng quỳ xuống tâu xin:
    7010. Muôn tâu Hoàng Thượng niệm tình thứ tha
    Để con dùng thuốc ngoại khoa
    Trị cho Ngọc Điệp đặng mà liền xương.
    Thượng Hoàng hỏi lại cho tường
    Khi không nữ điệt hùng cường chuyện chi
    Thượng Hoàng ông mới phán thì
    Lão đây phán lệnh con đi trị lành.
    Oanh Vàng được lệnh chạy nhanh
    Hồi lâu đem đến một nhành ráng bay
    Một con chim chích nhỏ rày
    7020. Vây rùa với củ gạc nai chung vào,
    Lẹ tay quết thuốc mau mau
    Chút gừng chút muối dấm tàu đun sôi (17)
    Làm xong bó rịt một hồi
    Thì là Ngọc Điệp nàng ngồi tự nhiên.
    Đình Ái giấy viết chép biên
    Thượng Hoàng ông mới hỏi liền khẩu cung,
    Năm nàng, Hoàng hậu ngồi chung
    Lại thêm Ngọc Điệp khai cung rõ ràng
    Bốn nàng <18> tâu với Thượng Hoàng
    7030. Muôn tâu Hoàng Thượng hoàn toàn sạ duyên
    Hằng đêm con có chú nguyền
    Cuối Dần đầu Mẹo (19) thường xuyên tụng trì,
    Oanh Vàng đang niệm A Di (20)
    Trên lầu tịnh thất thường khi mỗi ngày,
    Bốn tôi vừa tỉnh giấc ngay
    Phải đi tắm rửa để rày niệm kinh
    Cửa phòng vừa mở giựt mình
    Thấy quan Thừa Tướng đến nhìn bốn tôi
    Nhỏ nhăn ve vãn một hồi
    7040. Bốn tôi cứ mãi ỷ ôi lời lành,
    Nhưng quan Thừa tướng vô danh
    Đã tà lại dại chẳng thành danh chi
    Nếu người có mạng đơn trì
    Có danh là tướng tu mi anh hùng
    Thì đâu làm chuyện lạ lùng,
    Oanh Vàng lắng dịu tiếng chuông tịnh phòng
    Vội vàng đi xuống lầu hồng
    Dùng lời ngon ngọt mời ông ra về,
    Lý Hùng người mới trổ nghề
    7050. Oanh Vàng đưa tiễn người về Diêm La
    Định đem tâu trước trào ca
    Tội ai nấy chịu chẳng mà từ nan,
    Bốn tôi lại với Oanh Vàng
    Vốn người có tội giết quan Mạc trào,
    Định chầu tâu hết trước sau
    Chưa chi Ngọc Điệp đã vào hung hăng
    Đến đây nói nói rằng rằng
    Oanh Vàng định đuổi đi phăng trở về
    Quân đâu vây phủ bốn bề
    7060. Đao thương chớm chở thấy ghê lạnh mình,
    Tên bay nườm nượp vào dinh
    Oanh Vàng vừa múa vừa nhìn vừa la
    Nữ tỳ cả bọn chạy ra
    Trúng tên nên mới ngã ra chết liền,
    Đầu đuôi Đình Ái cứ biên
    Năm tôi vốn có lời nguyền núi sông
    Sống thì thủ tiết thờ chồng
    Chết thì một lượt cho đồng hồn ma.
    Thượng Hoàng nghe tấu cười xòa:
    7070. Còn điều chi nữa nói mà ta nghe
    Nếu mà còn chút đậy che
    Truy ra thì tội răn đe gấp mười.
    Hoàng Hậu nghe nói liền cười:
    Muôn tâu Hoàng Thượng con người từ bi
    Thượng Hoàng bảo trói làm chi!
    Chúa Mạc liền phán: im đi nghe nàng
    Mẹ con thiệt tội dẫy tràng
    Nếu còn nói nữa nát tan bây giờ,
    Chính ta còn phải ngẩn ngơ
    7080. Hai tay rờ cổ hiện giờ đang run.
    Oanh Vàng tâu hết thủy chung:
    Con ngồi viết sớ văn trung giãi bày
    Đầu đuôi tự sự cung khai
    Chưa chi Ngọc Điệp đến ngay la rày,
    Nữ điệt (21) rằng tại con đây
    Vốn là cháu gái vua này Thánh Tông (22)
    Họ Mạc lên trị Thăng Long
    Nên con mới loạn giết hòng tướng quân,
    Nữ điệt quá đỗi lẫy lừng
    7090. Chém con rách áo rách quần hết trơn
    Thịt dai như đá Thái Sơn (23)
    Lưỡi gươm Ngọc Điệp đã khờn (24) đã cong,
    Chánh cung (25) binh phủ giáp vòng
    Con đây thưa thiệt con không ưu phiền
    Niệm xong đúng bảy chú quyền
    Tên bay mượp mượp dinh tiền rơi rơi,
    Thoạt trông thấy lính ngôi Trời
    Thượng Hoàng, Thái Uý đến nơi đã rồi,
    Định đem đôn ỷ (26) mời ngồi
    7100. Chánh cung, Ngọc Điệp kéo lôi con hoài
    Nên con mới có chậm tay
    Phụ Hoàng tên trúng vào vai thế này
    Tội con chậm bước ra đây
    Muôn tâu Hoàng Thượng tội này trị ngay!
    Thượng Hoàng ông mới phán rày:
    Thật con gái lão là tài thần y
    Lão truyền Đình Ái, Vương nhi (27)
    Khẩu cung đem lại đơn trì cho ta,
    Chánh cung, Ngọc Điệp vào tòa
    7110. Còn thây lính ngự kiểm mà mấy tên.
    Kiểm xong thì phải tâu lên
    Chúa Mạc ra kiểm từng tên lính trào
    Kiểm từ ngõ trước vườn sau
    Hai ngàn bảy đứa đứa nào cũng tiêu,
    Chúa Mạc rằng: chẳng có nhiều
    Ngự lâm chết có bao nhiêu thôi mà!
    Thượng Hoàng mới hỏi bốn bà:
    Lính này Hoàng Hậu đem mà tới đây
    Nhân sao mà chết như vầy
    7120. Mình không tì vết nằm đầy vậy đa!
    Bốn nàng run rẩy khóc òa:
    Chúng tôi đây chẳng biết mà nguyên nhân
    Oanh Vàng tâu lệnh Hoàng ân:
    Cái cây dùi mõ dạo sân dinh tiền

    Để con chỉ rõ đường quyền của con,
    Đây là một cái dấu tròn
    Ở ngay Giáp Cốt <28> do con điểm vào
    Ngự lâm nó quá hùng hào
    7130. Nên con điểm huyệt nó nhào hết luôn,
    Thằng nào nhát nhát ra tuồng
    Thì là thằng đó đi luôn ra ngoài
    Thằng nào tiến thẳng tới hoài
    Thì là thằng đó chết ngay bên đường,
    Con thương nữ điệt Chiêu vương
    Chị cùng với cháu con nhường đó thôi.
    Thượng Hoàng nghe rõ khúc nôi
    Đình Ái, Chúa Mạc mồ hôi ròng ròng
    Oanh Vàng tả đột hữu xông
    7140. Mạc trào năm tướng chắc không qua nàng.
    Thượng Hoàng ông lại cười khan:
    Thật con gái lão vừa ngoan vừa tài!
    Liền ra Ngự chốn bệ giai,
    Đình Ái, Chúa Mạc với nay Oanh Vàng,
    Bốn nàng ở lại dinh đàng,
    Trống hồi ba tiếng bá quan tựu về
    Hai hàng văn võ chỉnh tề
    Thượng Hoàng mới xuống lệnh phê như vầy:
    Võ văn tụ hội đủ đầy
    7150. Hãy xem cung trạng (29) chuyện này xử sao
    Bá quan đồng thảy xem vào
    Ngẩn ngơ ai có biết nào chi chi
    Kính Điển (30) tâu trước đơn trì:
    Tôi làm nguyên soái tài thì chưa qua
    Đáng khen những gái tài ba
    Phong Vũ, Nguyên Bá (31) mới là đáng cho
    Oanh Vàng xã tắc nương phò
    Giang san bình trị chẳng lo giặc Tàu,
    Ngọc Điệp thật quá hỗn hào
    7160. Tam ban triều điển (32) phải mau gia hình,
    Hoàng Hậu là kẻ bất minh
    Bắt vô cung giải muôn nghìn năm luôn.
    Võ văn cả thảy lòng buồn
    Không mưu bào chữa rõ nguồn tội kia
    Chúa Mạc nước mắt đầm đìa
    Thượng Hoàng mới nói: coi kìa Vương nhi
    Vương nhi nước mắt li bì
    Năm trăm trượng nữa phải thì đánh luôn,
    Làm Vua mà chẳng nên tuồng
    7170. Vợ nhà loạn pháp ngọn nguồn chưa hay!
    Bá quan quỳ xuống tâu rày:
    Muôn tâu Hoàng Thượng xét nay như hà
    Oanh Vàng vốn thiệt tài ba
    Đáng làm gương để đàn bà soi chung,
    Muôn tâu Hoàng Thượng nhiêu dung (33)
    Cứ đem Hoàng Hậu lãnh cung giam vào,
    Ngọc Điệp công chúa Mạc trào
    Tam ban triều điển xử mau mới là.
    Thượng Hoàng ông mới phán ra:
    7180. Truyền đem Ngọc Điệp dẫn ra pháp tràng
    Loạn thần nào xử tam ban
    Võ đao mau phải pháp tràng dẫn ra,
    Hoàng hậu cũng chẳng vị tha
    Võ đao (34) cắt cổ lột da tức thì
    To gan lớn mật thế ni
    Pháp tràng xử tội mới thì đúng cho,
    Thứ đồ lòng dạ dày vò
    Võ đao mài kiếm đang lo gia hình
    Mẹ con Hoàng hậu hãi kinh
    7190. Bá quan nào dám tâu xin nửa lời,
    Chúa Mạc thì đã rụng rời
    Thượng Hoàng truyền lệnh dám thời cãi đâu.
    Quân đem Hoàng hậu đi nhầu (35)
    Điểm ba trống lệnh thì đầu lìa thân.
    Oanh Vàng nhìn mãi trân trân
    Hồi lâu nàng mới nhanh chân chạy liền
    Trống hồi ba tiếng liên miên
    Pháp tràng đã đến nàng liền ra tay,
    Võ đao tất cả nói rằng:
    7200. Thượng Hoàng đã định không ai quấy rầy!
    Oanh Vàng rằng: có ta đây
    Võ đao mở trói người này cho ta!
    Vừa nói nàng lại vừa la
    Mở trói Ngọc Điệp với mà Chánh cung
    Võ đao xúm lại hành hung
    Thượng Hoàng đã định có dung được nào
    Cùng nhau lẻng kẻng gươm đao
    Oanh Vàng đương cự có nào sợ ai,
    Võ đao té ngửa nằm dài
    7210. Oanh Vàng mới dẫn cả hai về trào
    Hoàng hậu, Ngọc Điệp cùng nhau
    Theo chân Ngự muội thẳng vào bệ giai,
    Cùng nhau quỳ xuống lạy dài
    Oanh Vàng tâu rỗi luận bày phép khuôn:
    Muôn tâu Thượng phụ rõ nguồn
    Chánh cung tội đã dư muôn hằng hà
    Dù chết chẳng hết tội đa
    Muôn tâu Hoàng Thượng thứ tha lần này,
    Còn phần tội của con đây
    7220. Pháp tràng can tội như vầy cũng to
    Muôn tâu Hoàng Thượng xử cho
    Nghĩ thương Hoàng hậu mới lo dẫn về
    Võ đao binh phủ tứ bề
    Chị cùng với cháu đồng về với con,
    Biết rằng tội lớn bằng non
    Một lần vì lỡ nên còn nhiêu dung
    Con đà suy nghĩ thủy chung
    Luật Vua phép nước phải tùng phải răn
    Thương cho Hoàng hậu vô năng
    7230. Thương cho Ngọc Điệp ngày hằng nào thông,
    Lý Hùng (36) không xứng là chồng
    Thế mà Ngọc Điệp đem lòng mến thương
    Con vì giòng máu Lê vương
    Cho nên Ngọc Điệp có thương con nào
    Bênh chồng nên mới hỗn hào
    Chẳng tầm rõ lý tại sao thế à,
    Muôn tâu hoàng thượng thứ tha
    Cũng vì Ngọc Điệp tánh mà nhỏ nhen
    Chung tình gẫm cũng đáng khen
    7240. Thượng Hoàng tha thứ một phen lỗi lầm
    Từ đây cho đến ngàn năm
    Chẳng còn sái quấy lỗi lầm nữa đâu!
    Thượng Hoàng ông mới phán âu:
    Thật là cả bọn tội đâu có vừa
    Oanh Vàng tội đáng hay chưa
    Pháp tràng dám đến ngăn ngừa võ đao
    Bắt du cung giải giam vào
    Quân nhân nghe lệnh mau mau thi hành,
    Tội này giam giữ đã đành
    7250. Lãnh cung đến đó buồn tanh đêm ngày
    Oanh Vàng hiếu thảo lắm thay
    Nghiêng mình thọ tội vô rày lãnh cung,
    Thượng Hoàng phán trước trào trung:
    Ngọc Điệp lại với Chánh cung hai người
    Thật là quá đỗi dễ ngươi
    Tội nhà không trị trị người được đâu,
    Vương nhi xã tắc gồm thâu
    Mà con với vợ phạm âu quyền hành
    Nếu mà mở lượng phóng sanh
    7260. Thì là văn võ trong thành dễ khi
    Muôn dân trong nước tôn ti
    Nghiêm hình phải trị trước khi người nhà
    Sái ít thì quở thì la
    Sái nhiều thì phải đem ra hành hình
    Nếu con vị nghĩa vị tình
    Thì là cái luật công bình ở đâu
    Võ văn trào sĩ đồng chầu
    Chuyện quấy chuyện phải đứng đầu làm gương,
    Vương nhi đừng có nhung nhương
    7270. Vì con vì vợ không tường nghĩa nhân
    Con làm chúa tể muôn dân
    Kỳ gia trị trước phải cần con a
    Lỗi nhà đừng có thứ tha
    Lỗi nhà cứ trị đúng là luật Vua,
    Vương nhi đừng có quê mùa
    Vợ vua lại với con Vua ngang tàng
    Thẩm quyền cả nước quá gan
    Lão đây còn sống mà nàng chẳng kiên
    Đem quân thiện xạ tự chuyên
    7280. Buông tên loạn đả dinh tiền môn nha,
    Tội này khó nổi thứ tha
    Nếu lão chết sớm thành ra loạn trào
    Có ai biết phải đâu nào
    Vương nhi truyền lịnh mau mau coi là
    Xử xong tiên trị kỳ gia
    Hậu trị kỳ quốc nước nhà mới yên.
    Chúa mạc ông mới phán liền:
    Tam ban triều điển bệ tiền luận ra
    Mẹ con mi phạm pháp nhà
    7290. Phải cam chịu chết khó tha tội tình!
    Quân đem vải lụa ra trình
    Hai thanh bảo kiếm, hai bình rượu đây,
    Ngọc Điệp liền lãnh rượu này
    Hoàng hậu vải lụa liều thây giữa trào.
    Hai người tự vận chết mau
    Bá quan định cất thây vào hoàng lăng
    Chúa Mạc ông mới phán rằng:
    Bá quan đừng có làm nhăng giữa triều
    Chánh cung tội đã quá nhiều
    7300. Hai thây đem bỏ thủy triều cho ta
    Quân đem bỏ xuống dòng hà
    Thượng hoàng vui dạ cười xòa ngỏa nguê:
    Vương nhi mới thật vẹn bề
    Làm vua làm tướng nặng nề con a,
    Quấy phải hảy ráng nhìn ra
    Dùng binh đừng vị ruột rà chân tay
    Chuyện quấy chuyện phải nói ngay
    Đừng bào đừng chữa những ai lỗi nghì,
    Làm vua đừng có vị chi
    7310. Nếu con tư vị chẳng thì phải Vua
    Cũng đừng kiếm chuyện chát chua
    Cũng đừng dùng tiếng hơn thua xiểm dèm
    Tránh đừng nhiễm thói ố lem
    Chuyện nào cũng phải xét xem chánh tà
    Cứ điều mực thước soi ra
    Cho ngay cho thẳng mới là đế vương,
    Làm vua đừng có thiếu lường
    Trọng con trọng vợ coi thường bá quan
    Muốn cho xã tắc vững an
    7320. Trọng tôi lương đống (37), trọng quan trung thần <38>
    Ngăn ngừa những kẻ tranh ranh
    Miệng đường lưỡi mật dâng thành ngoại bang.
    Kính Điển tâu lệnh Thượng hoàng:
    Vì sao giam giữ Oanh Vàng lãnh cung
    Nàng người hiền đức nhiêu dung
    Văn hay võ giỏi nên dùng lắm đa
    Chẳng phong xuyên bá (39) trào ca
    Cũng nên phong chức sang qua xuyên hầu (40).
    Thượng hoàng ông mới phán âu:
    7330. Xuyên bá, xuyên hầu là chức của ta
    Thưở xưa rất thiệt xưa xa
    Xuyên bá Uy Mục (41) phong ta trước ngày,
    Sau khi Tương Dực (42) lên ngai
    Mới phong ta đến chức nay xuyên hầu,
    Bá quan nhớ kỹ xem âu
    Cái chức xuyên hầu là kế long ngai
    Nên ta chẳng có phong rày
    Phong thì chẳng mốt thì mai nguy nàn,
    Trong hàng văn võ bá quan
    7340. Công hầu bá tước (43) ngai vàng lăm le.
    Chúa Mạc nghe phán buồn hoe
    Quốc công Trạng Nguyễn (44) lập lòe cao sang
    Mà còn treo ấn từ quan
    Xuyên hầu con sợ Oanh Vàng chẳng ham
    Giết nàng thì cũng chẳng kham
    Lãnh cung dù có cầm giam lâu ngày
    Nếu dân bốn phía đều hay
    Biên thùy ba cõi đều rày nổi lên
    Anh hùng đột pháo xông tên
    7350. Thăng Long con sợ điện đền tiêu tan,
    Đuổi nàng ra khỏi trào đàng
    Nguyễn Kim (45), Trịnh Kiểm (46) binh sang tức thời,
    Cho nàng dinh nội thảnh thơi
    Thì là văn võ nhiều nơi thèm thuồng,
    Nỉ năn ve vãn đủ tuồng
    Lý Hùng tội trước dư muôn tội tình
    Một người làm chuyện bất minh
    Khiến hai ngàn kẻ lụy mình vô can,
    Muôn tâu Đại đức Thượng hoàng
    7360. Nghiệm suy coi chuyện Oanh Vàng ra sao?
    Bá quan đặt gối tâu vào:
    Muôn tâu Hoàng thượng chuyện nào phân minh
    Kẻo e dân chúng rõ tình
    Loạn lên thì cả triều đình nguy tai,
    Đuổi đi cũng chẳng được rày
    Đuổi đi chẳng khác thêm tay biên thùy
    Vì người võ nghệ cao kỳ
    Võ đao thì chẳng cự thì nổi đa,
    Còn quân thiện xạ của ta
    7370. Buông tên như bão môn nha Oanh Vàng
    Thế sao dinh nội năm nàng
    Thảy đều vô sự bình an như thường,
    Thượng hoàng còn phải bị thương
    Lính trào nằm chết đầy đường làn khang
    Đều do tay của Oanh Vàng
    Ấy là võ nghệ của nàng quá cao,
    Nhắm xem văn võ trong trào
    Ai làm giám sát thủ đao đâu là,
    Vậy nên cần phải suy ra
    7380. Mạc trào thua kém phải mà bó tay
    Nên đem áo mão cân đai
    Xuyên hầu chức ấy ban ngay cho nàng,
    Nàng vì quyền thế buộc ràng
    Sáng chầu tối chực bệ vàng long ngai,
    Võ trường thao luyện ngày ngày
    Đặng cho võ tướng học tài lượt thao
    Mới thêm chánh sách Mạc trào
    Buộc ràng mà chẳng ai nào biết ta.
    Thượng hoàng liền nói: hay a
    7390. Chức làm công chúa nay qua xuyên hầu
    Truyền quân hãy khá mau âu
    Lãnh cung đến đó thỉnh hầu công nương
    Kiệu nào lộng bạc phô trương
    Hai bên văn võ đều nhường Lê gia
    Lãnh cung vào đến thưa qua
    Thượng hoàng truyền lệnh thỉnh ra Bệ rồng (47)
    Đây là chiếu chỉ sắc phong
    Thượng hoàng đã dạy Bệ rồng phải vâng
    Oanh Vàng rằng: đấng minh quân
    7400. Những lời dạy phải tôi mừng biết bao
    Bất du <48> mới được đi vào
    Lại đòi trở lại nơi trào làm chi,
    Lịnh truyền tôi cũng ráng đi
    Nói rồi lên kiệu phi ngay về đền.
    Võ văn lớn nhỏ hai bên
    Nhạc mừng tấn tước trỗi lên rập rình
    Ngự trù (49) dâng yến linh đình
    Chúa tôi mừng rỡ thỏa tình hân hoan
    Liền đem đai ngọc mão vàng
    7410. Xuyên hầu ấn tín mới ban tức thì,
    Oanh Vàng quỳ trước đơn trì (50):
    Cám ơn Hoàng Thượng đoái vì đến con.
    Đưa nàng về ở lầu son
    Lại gần chánh điện oai còn ai qua.
    Chúa Mạc truyền lệnh quân gia
    Bốn nàng vợ Trạng đòi qua tức thì
    Liền phong bốn chức Vương phi (51)
    Vào gần chánh điện ở thì một nơi,
    Bốn nàng nghe lệnh vâng lời
    7420. Cùng nhau an hưởng thảnh thơi Mạc trào,
    Chúa tôi hoan hỷ cùng nhau
    Chén thù chén tạc cả trào vui say.

  3. #43

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Đăng Doanh: Mạc Đăng Doanh (1503-1540), nối ngôi Mạc Đăng Dung, trị vì từ năm 1530 đến 1540.

    2. Oanh Vàng: Công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông, là vợ thứ năm của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    3. Lý Hùng: quan Đại thần.

    4. Thượng Hoàng: Mạc Đăng Dung lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530 để lui về làm Thái Thượng hoàng.

    5. Rỉ rao: nói chậm, vừa nói vừa suy nghĩ.

    6. Vua Mạc Đăng Doanh kết tình huynh đệ với công chúa Lê Oanh Vàng, nên được Thái Thượng hoàng yêu qúy như con gái.

    7. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    8. Cung Tây: Nơi hoàng cung dành cho hoàng hậu, các phi tần, mỹ nữ.

    9. Lăng trì: hình phạt tàn khốc thời phong kiến, giết phạm nhân bằng cách cắt chân tay, xẻo từng miếng thịt cho chết đau đớn dần dần.

    10. Trăm trượng: hình phạt dùng roi đánh.

    11. Pháp tràng: pháp trường, nơi xử chém.

    12. Thái uý: chức quan của Hoàng Đình Ái.

    13. Công chúa: công chúa Ngọc Điệp, con gái vua Mạc Đăng Doanh.

    14. Nhuyễn tiên: một loại binh khí.

    15. Câu mâu: nóng giận, lời qua tiếng lại.

    16. Hoàng huynh: vua Mạc Đăng Doanh, anh kết nghĩa của Oanh Vàng.

    17. Bài thuốc chữa gãy xương.

    18. Bốn nàng: bốn người vợ trước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    19. Cuối Dần đầu Mẹo: Khoảng 4g đến 6g sáng. Giờ Dần (3g – 5g sáng), giờ Mẹo (5g – 7g sáng).

    20. Niệm A Di: đọc kinh Adiđà.

    21. Nữ điệt: người phụ nữ.

    22. Lê Oanh Vàng là cháu năm đời của vua Lê Thánh Tông.

    23. Thái Sơn: núi cao 1545m so với mặt biển và kéo dài 400m, ở đồng bằng sông Hoàng Hà, cái nôi của đất nước Trung Hoa. Các Hoàng đế, các nhà quý tộc, và những người sùng đạo đã dựng lên rất nhiều đền thờ, tượng Thánh và những nghi thức tế lễ trời đất đã được tổ chức tại nơi đây.

    24. Khờn: cũ, sứt mẻ.

    25. Chánh cung: Hoàng hậu. Ngôi vợ thứ nhất của Vua.

    26. Đôn ỷ: ghế nhỏ trong bộ ghế tràng kỷ.

    27. Vương nhi: tiếng xưng hộ Mạc Đăng Dung gọi Mạc Đăng Doanh.

    28. Giáp cốt: mai rùa dùng để bói.

    29. Cung trạng: bản hỏi cung.

    30. Kính Điển: Mạc Kính Điển (? - 1580): là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh, cháu Mạc Đăng Dung, là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương.

    31. Phong Vũ, Nguyên Bá: hai vị tướng tài giỏi, võ công thượng thừa của Trung Hoa.

    32. Tam ban triều điển: xử tội theo cách triều đình xưa, nếu người phạm tội là người hoàng tộc, hoặc có công lớn với triều đình, khi phạm tội chết, vua sẽ cho phạm nhân tự chọn một trong ba cách chết, trong đó có: 1 con dao (tự đâm), 1 dải lụa (tự thắt cổ), và 1 ly rượu độc (tự uống).

    33. Nhiêu dung: bao dung.

    34. Võ đao: người thừa hành án tử tại pháp trường ngày xưa.

    35. Đi nhầu: đi vội vã.

    36. Lý Hùng: quan Thừa tướng nhà Mạc.

    37. Tôi lương đống: quân lính nhiều công lao.

    38. Quan trung thần: quan trung thành.

    39. Xuyên bá: bá tước.

    40. Xuyên hầu: hầu tước.

    41. Uy Mục: vua Lê Uy Mục (1488–1509), lên ngôi vua 1505 – 1509.

    42. Tương Dực: vua Lê Tương Dực (1495–1516), lên ngôi vua 1509 – 1516.

    43. Công hầu bá tước: Tước vị do vua ban trong hàng quý tộc phong kiến Việt Nam, gồm các tước Thân vương, Tự thân vương (dành cho dòng họ nhà vua), tước Công, tước Hầu, tước Bá.

    44. Quốc công Trạng Nguyễn: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    45. Nguyễn Kim (1468-1545), tướng giỏi nhà Hậu Lê. Năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), chuẩn bị chiêu quân mãi mã chờ thời cơ đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    46. Trịnh Kiểm (1503–1570) là người có tài, được Nguyễn Kim gả con gái là tiểu thơ Ngọc Bảo và giao cho Trịnh Kiểm nhiều trọng trách. Về sau, Trịnh Kiểm là người đầu tiên lập nên các dòng Chúa Trịnh, thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh.

    47. Bệ rồng: vua.

    48. Bất du: làm việc xấu.

    49. Ngự trù: bộ phận phục vụ ăn uống trong triều.

    50. Đơn trì: ngai vua.

    51. Vương phi: tương đương như các cung phi của nhà vua.

  4. #44

    Mặc định

    CÔNG CHÚA OANH VÀNG TỰ VẪN HỒ SEN THÁI MIẾU

    Đoạn này nói chuyện cõi ngoài
    Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm (1) hăng say binh tình
    Trịnh Cối (2) là kẻ xảo tinh
    Cho nên tướng sĩ đồng tình tuân theo
    Trịnh Tùng (2) là đứa ngặt nghèo
    Đủ bề rắc rối cong queo trong lòng,
    Một hôm chiến lược định công
    7430. Luyện binh lập trận nội công nhập thành
    Trịnh Cối quân sĩ tuân hành
    Trịnh Tùng xem thấy ghét ganh ngày ngày
    Dợt binh Châu (3) cũng ra tay
    Cối khen Châu thật gái tài đáng kinh
    Tùng ghen sanh sự bất bình
    Lập mưu giết Cối chẳng nhìn tay chân.
    Trịnh Kiểm nào tỏ xa gần
    Ngỡ là có lỗi việc quân phải trừ
    Nguyễn Hoàng (4) xem thấy ưu tư
    7440. Nguyễn Uông (5) lòng rất hiền từ thở than.
    Nguyễn Kim, Trang Tông (6) luận bàn
    Cho quân thám thính trào đàng Thăng Long
    Quân về tâu rõ đục trong
    Oanh Vàng (7) nay được chức phong Xuyên Hầu.
    Trang Tông nghe tấu buồn rầu
    Chức vũ Xuyên Hầu võ nghệ thật cao
    Quân nghe có rõ chăng nào
    Oanh Vàng là gái má đào nữ nhi
    Đăng Dung <8> phong chức làm chi
    7450. Lạ tai chẳng hiểu ý gì vậy đa?
    Chức này võ nghệ gồm ba
    Lại thêm dõng lực cao xa oai hùng.
    Nguyễn Kim rằng chẳng lạ lùng
    Lắm khi công chúa kiếm cung đủ tài
    Đăng Dung nó mới thương rày
    Nếu không có trí có tài tột cao
    Thì là nó có phong nào
    Tôi e công chúa Mạc trào đứng trên.
    Thám tử quỳ xuống tâu lên
    7460. Thăng Long công chúa tuổi tên lẫy lừng
    Một mình giết mấy ngàn quân
    Chém Lý thừa tướng (9) trị trừng tà dâm
    Ngọc Điệp Hoàng Hậu (10) ác tâm
    Tam ban triều điển thây nằm dòng sông
    Oanh Vàng nay tại Thăng Long
    Cha con họ Mạc thảy đều kính yêu.
    Trang Tông nghe tấu buồn hiu
    Oanh Vàng tài trí quá nhiều vậy đa
    Thế sao không chịu thoát ra
    7470. Về đây với trẫm một nhà bằng an
    Để theo họ Mạc làm quan
    Trẫm làm sao chẳng ngó ngàng vậy đa?
    Nguyễn Kim liền mới tâu qua:
    Công nương còn ở Mạc tòa mới yên
    Thần xin bệ hạ đừng phiền
    Chấp kinh ngộ biến tùng quyền là xong
    Khi nào binh đến Thăng Long
    Xuyên Hầu ắt chẳng phụ lòng hoàng huynh
    Những câu thủ túc chi tình
    7480. Càng cao thế lực càng gìn nết xưa
    Thần e mưu gái có thừa
    Bệ hạ an nghỉ sáng trưa khỏe lòng.

    Đoạn này kể chuyện Thăng Long
    Xuyên Hầu ngồi chốn lầu hồng thở than,
    Liền đòi tiểu tử bốn nàng
    Đến hầu nghe lịnh chỉ tràng hôm nay.
    Tiểu tử cúi đầu thưa rày:
    Từ ngày mẹ lãnh cân đai ấn vàng
    Không ai dạy sách cẩm nang
    7490. Thang danh tánh dược đầu thang bịnh tình,
    Nên con đọc sách sân trình
    Đã quên mạch lý mẫu sinh dạy truyền.
    Oanh Vàng rằng trẻ tự nhiên
    Hôm nay cô kể sự duyên con tường
    Con là con của Lê vương
    Hiệu Lê Chiêu Tông (11) trào đường Thăng Long
    Cô là cô ruột thật lòng
    Bởi vì họ Mạc Thăng Long chiếm quyền
    Cố con Mạc giết đã yên
    7500. Cha con đã chạy ra miền ải quan
    Con còn nhỏ dại chưa toàn
    Mẹ con đem gửi dinh đàng cho cô.
    Đây là bức xã tắc đồ
    Quốc vương ấn tín do cô giữ gìn
    Con nay khôn lớn nên hình
    Ráng cần học tập thông minh mới là
    Hầu sau đòi lại sơn hà
    Tên con trong chữ gọi là Duy Bang
    Dượng con nuôi ở dinh đàng
    7510. Đặt tên là Nguyễn Ngọc Hoan trai tài (12)
    Con nghe cô kể hậu lai
    Từ đây cho tới mốt mai giữ lòng
    Con nên lìa khỏi Thăng Long
    Để cô cậy tướng thật lòng hiền lương
    Đưa con ra tận Hải Dương
    Vừa tu vừa học văn chương dượng truyền
    Sau nhờ ân đức hoàng thiên
    Cha con đòi lại mối giềng nước non
    Chừng nào truyền lịnh tầm con
    7520. Con mang ấn tín rồi con về trào,
    Loạn quân bất cứ nơi nào
    Con nên xa lánh đừng vào lụy thân
    Lời cô dạy bảo ân cần
    Con nên nhớ kỹ đừng phần sai ngoa.
    Con cầm lịnh tiễn sang qua
    Đến dinh Đình Ái (14) rằng ta truyền đòi
    Đừng cho ai ngó ai coi
    Phải đi cho lẹ phải đòi cho mau
    Bất kỳ văn võ tướng trào
    7530. Đòi coi lịnh tiễn con gào la lên
    Nhớ lời cô dặn đừng quên
    Vũ Xuyên Hầu vốn người trên quan trào
    Tiểu tử vâng lệnh đi mau
    Đến dinh Đình Ái thẳng vào vô trong
    Quân canh nhìn mão lưỡng long
    Biết là cháu chúa thì lòng kinh mang
    Đình Ái chưa biết Ngọc Hoan
    Là con nuôi của Oanh Vàng công nương
    Nhưng nhìn thấy mão nhà vương
    7540. Hỏi rằng thế tử phủ đường sang chơi
    Chẳng hay thế tử thảnh thơi
    Tôi xin thế tử cạn lời phân qua
    Công hầu bá tước nhiều nhà
    Chẳng hay thế tử con mà của ai
    Tiểu tử cười khẽ nói rày
    Tôi đây vốn thiệt con nay Oanh Vàng
    Nay đem lịnh tiễn bước sang
    Mẹ tôi truyền gọi mời quan đến hầu.
    Đình Ái vội vã mau âu
    7550. Nay Vũ Xuyên Hầu lịnh dạy phải vâng
    Lòng ta rất đỗi là mừng
    Ngày nay hội kiến mạng quân tại trào
    Thật là vui biết là bao
    Nói rồi vội vã đi mau tới đền
    Tay cầm lịnh tiễn bước lên
    Ngự lâm đứng gác hai bên cúi đầu
    Ái vào liền xá Xuyên Hầu
    Oanh Vàng xem thấy lắc đầu nói ngay:
    Thái uý thật khéo mỉa mai!
    7560. Ái rằng tôi phải giữ rày chấp kinh
    Xuyên Hầu áo mão sang vinh
    Nên tôi bái mạng triều đình đấy thôi,
    Người đà phẩm tước cao ngôi
    Dĩ nhiên bái lạy phận tôi làm tròn.
    Oanh Vàng rằng việc nước non
    Nên toan phải tính cho tròn mới xong
    Ngài nên lìa khỏi Thăng Long
    Dẫn chàng tiểu tử thẳng xông lên đường
    Sắc đồ với ấn quốc vương
    7570. Vàng ròng trăm nén liệu phương bảo tồn
    Ngài dùm dẫn dắt Duy Bang
    Hải Dương đến đó giao chàng Bỉnh Khiêm
    Mai danh ẩn tích êm đềm
    Hầu sau phục nghiệp trọn niềm quân vương.
    Đình Ái liền mới phân tường
    Xuyên Hầu ở lại trào đường Thăng Long
    Ra đi tôi chẳng an lòng
    Sợ điều trắc ẩn ai hòng báo tin.
    Oanh Vàng rằng hỡi Ái huynh
    7580. Vừa rồi mọi chuyện một mình tôi toan
    Ái huynh mau khá lên đàng
    Đây là quần áo cải trang đây này,
    Nghe lời đừng có trễ chày
    Lãnh vàng trăm nén đủ đầy ra đi,
    Ái làm thượng khách tức thì
    Ngọc Hoan làm kẻ tuỳ tùng tay chân
    Nếu ai gạn hỏi thiệt hơn
    Bảo rằng tôi kẻ thương nhân buôn vàng.
    Đình Ái tiểu tử lên đàng
    7590. Mang theo ấn tín bạc vàng mênh mông
    Hai người thượng lộ thẳng xông
    Giả làm thượng khách thong dong ngày ngày.
    Đình Ái liền mới giãi bày
    Trá hình như thế nào ai biết mình
    Tôi luôn nghi ngại hãi kinh
    Xuyên Hầu ắt có ẩn tình chi đây
    Tôi quen một cái quán này
    Giả làm thượng khách đến đây đã thường
    Hiệu đề là quán Cao Lương
    7600. Tôi cùng thế tử vào nương ít ngày,
    Định rồi vào quán mướn ngay
    Một phòng thượng khách trong ngoài trang nghiêm
    Chủ quán biết khách huỳnh kim
    Cho nên hớn hở tỏ niềm kính yêu
    Ái rằng trong việc chi tiêu
    Tôi cần đạm bạc ít nhiều đỡ hao
    Phòng tôi riêng biệt trước sau
    Không cho ai đến ồn ào bên tai
    Thầy trò tôi nghỉ mười ngày
    7610. Chẳng hay tiền quán tính rày bao nhiêu?
    Quán rằng chẳng tính chi nhiều
    Vàng ròng hai lượng chi tiêu đủ dùng
    Thầy trò ông cứ thung dung
    Vào ra khóa cửa đi cùng dạo chơi.
    Tiểu tử giao bạc tức thời
    Chủ quán mừng rỡ tỏ lời cám ơn
    Vội vàng chủ quán tách chân
    Đình Ái mới kể thiệt hơn rõ ràng
    Thái tử hãy khá tâm an
    7620. Ngồi đây đọc sách mở mang trí tài
    Đừng quên lời dặn hôm nay
    Dùng cơm đạm bạc hằng ngày cho qua
    Chẳng nên uống rượu uống trà
    Rượu vào e nỗi lời ra bất kỳ
    Để tôi trở lại trào nghi
    Oanh Vàng chắc có kế chi sắp bày
    Nói rồi từ giã lui hài
    Tiểu tử ở lại ôn bài tâm kinh.
    Đình Ái thong thả về dinh
    7630. Oanh Vàng nào rõ sự tình là chi
    Bốn nàng bàn tính vân vi
    Cớ sao chúa Mạc trọng thì năm ta
    Oanh Vàng rằng thật kế a
    Đăng Dung nó sợ là ta bỏ trào,
    Lòng ta đã quyết từ nào
    Quyết tu dứt nghiệp trần lao cho rồi.
    Ngày qua tháng lại dập dồi
    Nay thêm áo mão cao ngôi thế này
    Nên ta tính gấp chẳng chày
    7640. Dần già e nỗi sau này nguy tai
    Bốn nàng liền mới hỏi rày
    Tính sau rằng gấp bày khai tôi tường
    Oanh Vàng rằng chốn miễu đường
    Đền thờ Thái tổ (15) mùi hương nặc nồng,
    Liên trì hồ rộng mênh mông
    Năm ta đến đó nhảy hồng xuống ngay!
    Bốn bà nghe nói hỏi rày
    Xuống hồ thì phải chết ngay nàng à,
    Khi không ta lại giết ta
    7650. Bỏ vàng bỏ bạc bỏ tòa cho ai
    Kiệu vàng lộng bạc cân đai
    Xuyên Hầu cao chức để ai thế nàng,
    Bốn tôi ý muốn tạm an
    Khi không mà chết thật oan thân hình.
    Oanh Vàng rằng nghiệp chúng sinh
    Danh danh lợi lợi khiến mình say mê
    Ý tôi đã quyết một bề
    Quyết tìm cõi Phật mà về Ma Ha
    Chúng ta là phận đàn bà
    7660. Băng rừng lội núi có mà nổi đâu
    Nhược bằng tu tại ngọc lầu
    Làm sao khỏi chuyện lo rầu vẩn vơ
    Lại thêm họ Mạc hiện giờ
    Đang trông đang cậy đang chờ tài tôi
    Vũ Xuyên Hầu chức cao ngôi
    Tức là bổn phận của tôi thi hành
    Bốn nàng nào có mà rành
    Ngày nào tôi cũng nhọc nhằn lắm đa
    Luận điều trị quốc gần xa
    7670. Dạy cho văn võ Mạc tòa vâng theo,
    Lòng tôi luôn mãi buồn teo
    Bốn nàng nếu muốn làm theo thi hành
    Bằng không cứ ở long thành
    Một tôi liều chết cho danh sáng lòa
    Sống mà phụ chúa quên cha
    Vì tôi nòi giống của nhà họ lê
    Nay theo cùng Mạc một bề
    Cửu huyền thất tổ họ Lê phiền hà
    Sống không trả oán mẹ cha
    7680. Làm cho chín suối ông bà oán than
    Nhược bằng trả oán cho an
    Thì kinh Bát Nhã niết bàn dạy ta
    Sát sanh tội nặng thế a
    Lại thêm họ Mạc trọng ta hơn vàng
    Ơn người ta vẫn còn mang
    Lẽ nào ta lại phụ phàng Mạc gia
    Nên ta dự liệu thân ta
    Ơn này hiếu nọ gồm ba tính tròn.
    Bốn nàng nghe nói khóc ngon
    7690. Có cần tâu với bệ son (16) không nào
    Người cho ta sẽ nhảy nhào
    Không cho ta biết liệu sao bây giờ!
    Oanh Vàng rằng: quá ngẩn ngơ
    Bốn nàng sao quá dại khờ chưa thông,
    Trước kia tâu lệnh bệ rồng
    Xin đi điền điệp tìm chồng phương xa
    Chúa Mạc còn chẳng cho a
    Nay xin tự tử ai mà lại cho
    Khéo ngơ ngẩn đấy bày trò
    7700. Ra tâu trào sĩ cười cho cả ngày
    Còn thêm nhiều chuyện không hay
    Thượng hoàng sai kẻ giữ rày bên ta
    Đứng đi lắm kẻ lân la
    Buộc ràng chăm sóc làm ta bực mình.
    Bốn nàng nghe quở làm thinh
    Oanh Vàng sửa soạn tiền đình dâng hương
    Bốn nàng y lịnh thẳng đường
    Cùng vào thái miếu dâng hương lạy dài
    Oanh Vàng đứng giữa vái ngay
    7710. Cửu huyền thất tổ chứng rày con đây
    Sống không báo hiếu đủ đầy
    Con liều một chết thân này mới yên
    Cầu trên thất tổ cửu huyền
    Chứng lòng con trẻ lương hiền thảo ngay
    Nếu con sống mãi ngày ngày
    Làm quan nhà Mạc lỗi rày nhà Lê,
    Ra đi cũng chẳng an bề
    Nẻo xa không biết, đường về không thông
    Nếu con ra sức má hồng
    7720. Tiêu trừ họ Mạc cũng không được nào
    Vì là họ Mạc ngọt ngào
    Nên ơn họ Mạc con nào dám quên
    Mong nhờ thất tổ bề trên
    Vớt hồn con trẻ được lên non bồng.
    Nắm tay năm ả một lòng
    Liên trì nhảy xuống mênh mông nước trào.
    Quan coi thái miếu ngạt ngào
    Tri hô vang dội ạt ào quân la
    Xuyên hầu cùng với bốn bà
    7730. Đã dầm mình xuống dòng hà còn chi,
    Tiếng quân la hét ầm ì
    Chúa Mạc kinh động chạy thì tới nơi,
    Thượng hoàng xem thấy rụng rời
    Chắc con gái lão chết nơi liên trì
    Võ văn nhảy xuống tức thì
    Tầm hoài không thấy thây thi năm người,
    Hoa liên tay đỏ nhị vàng
    Hương thơm ngào ngạt vua man mát sầu,
    Mạc trào vắng bóng Xuyên Hầu
    7740. Còn ai thưa thớt bẩm tâu việc trào
    Võ văn lớn nhỏ cùng nhau
    Thảy đều thương xót lệ trào rớt rơi.
    Đình Ái cũng chạy đến nơi
    Tay chưng thôi đã rụng rời còn chi
    Liền nhào xuống thủy kim trì
    Vớt lên đã được bốn vì phu nhân
    Ái đà mệt thở từng cơn
    Ngự y đổ thuốc phu nhân bốn bà,
    Thượng hoàng ông mới phán ra:
    7750. Thái uý nào giúp con ta với nào
    Đem lên cứu chữa mau mau
    Không thôi chết ngộp còn gì con ta!
    Ái liền nhảy xuống dòng hà
    Võ văn mò giúp con ta với nào
    Đình thần văn võ cùng nhau
    Quyết mò cho được công cao Mạc triều
    Mò hoài cũng vẫn đìu hiu
    Sớm mai cho đến buổi chiều chưa xong
    Vua truyền tát cạn ao hồng
    7760. Võ văn lớn nhỏ thảy đồng tâu qua
    Ao sâu lại rộng chả cha
    Dù cho tát cạn mất ba bốn ngày
    Xuyên hầu người cũng chết rày
    Bốn nàng vớt trước nằm ngay chết rồi!
    Thượng hoàng nghe tấu hỡi ôi
    Vậy là con lão chết rồi còn đâu
    Đền Cần Chánh, điện Xuyên Hầu
    Từ rày lão có thấy đâu Oanh Vàng
    Mất rồi con quý con ngoan
    7770. Chúa Mạc nước mắt hai hàng tuôn sa,
    Nhắm xem trong nước non nhà
    Tài này có một chẳng mà có hai,
    Võ văn ai cũng mến tài
    Thoạt xem Đình Ái nắm tay Oanh Vàng
    Đưa lên mặt nước rõ ràng
    Võ văn tiếp đón đưa nàng lên trên
    Giường chương mới để nằm lên
    Thay xiêm đổi áo hai bên quan hầu
    Thượng hoàng, chúa Mạc xúm âu
    7780. Vào đền tông miếu mà cầu Thánh tông
    Các cung thì nhóm lửa hồng
    Kẻ hơ giò cẳng người xông mặt mày
    Oanh Vàng liền tỉnh lại ngay
    Giã từ văn võ đền đài vua quan:
    Tôi đà hết nghiệp thế gian
    Hoàng huynh, thượng phụ lòng an đừng buồn!
    Nói rồi nhắm mắt đi luôn
    Võ văn thấy rõ ngọn nguồn kinh mang,
    Nhìn lên xoáy ngọ đầu nàng
    7790. Ba lằn chớp nhoáng ánh quang đỏ hồng
    Chúa Mạc xem thấy mủi lòng
    Thượng hoàng sắc ấn mới phong cho nàng
    Võ văn lớn nhỏ trào đàng
    Quỳ nghe sắc ấn phong nàng ngôi tiên.
    Sắc rằng Giáp Tý là niên (17)
    Ngày rằm tháng tám thượng huyền trung thu
    Giờ thìn, ngày mẹo sắc phù
    Lục niên mạc thị danh nhu long thành
    Nguơn niên hoàng đế Đăng Doanh
    7800. Ban cho năm ả sắc thành ngũ tiên
    Lập đền tông miếu thờ riêng
    Các quan cung phụng hằng niên bái quỳ,
    Còn phần năm cái thây thi
    Hoàng lăng an táng tôn ty nữ tài
    Võ văn trào sĩ hôm nay
    Ba năm tế lễ trăm ngày đại tang.
    Võ văn y lịnh Thượng hoàng
    Hoàng lăng an táng năm nàng vừa xong
    Lập đền thủ tự ngũ lòng
    7810. Đình Ái xong việc thẳng xông lên đường
    Vội vàng đến quán Cao Lương
    Thuật cho tiểu tử tỏ tường nguyên do
    Tiểu tử nghe kể buồn so
    Hai người cất bước lần dò bôn ba
    Bạch Vân Am <18> đã đến mà
    Bỉnh Khiêm hớn hở liền ra đón chào:
    Năm nàng về được động đào
    Tôi mang xác thịt biết bao nặng nề
    Nay ra đón thái tử về
    7820. Mai danh ẩn tích lo bề văn chương
    Thương cho Thái uý đoạn trường
    Ơn nhà nợ nước bước đường còn xa
    Vào đây ngơi nghỉ cùng ta
    Vài năm rồi sẽ ra đi ải ngoài.
    Đình Ái vui vẻ cười dài
    Đem vàng mua đất ruộng ngoài của dân
    Bổ sung am tự dần dần
    Sắm mua đủ các vật cần trong am
    Cùng nhau ngồi lại luận đàm
    7830. Chẳng cho các tiểu trong am nghe rày.
    Last edited by Love_Tamlinh; 01-11-2007 at 03:50 PM.

  5. #45

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Nguyễn Kim mong muốn chiêu tập binh tướng khởi nghĩa chống nhà Mạc tái lập lại nhà Lê. Trịnh Kiểm là người có tài, được Nguyễn Kim gả con gái là tiểu thơ Ngọc Bảo cho và giao cho Trịnh Kiểm nhiều trọng trách về sau.

    2. Trịnh Cối là con cả của Trịnh Kiểm, anh cùng cha khác mẹ của Trịnh Tùng.

    3. Phạm Bảo Châu: vợ Trịnh Cối

    4. Nguyễn Hoàng (1525–1613): con trai thứ của Nguyễn Kim.

    5. Nguyễn Uông: con trai lớn của Nguyễn Kim.

    6. Trang Tông: vua Lê Trang Tông, con vua Lê Chiêu Tông. Năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), chuẩn bị chiêu quân mãi mã đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    7. Oanh Vàng: em gái vua Lê Chiêu Tông, sau trở thành vợ thứ năm của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    8. Đăng Dung: Mạc Đăng Dung lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530 để lui về làm Thái Thượng hoàng.

    9. Lý thừa tướng: quan Thừa tường Lý Hùng nhà Mạc. Vì hành động sàm sỡ tại dinh các bà vợ Nguyễn Bỉnh Khiêm, nên Lý Hùng bị Oanh Vàng chém rơi đầu.

    10. Ngọc Điệp Hoàng Hậu: hoàng hậu của vua Mạc Đăng Doanh.

    11. Lê Chiêu Tông (1506-1526) lên ngôi từ 1516 đến 1522. Về sau Mạc Đăng Dung phản bội, phế truất vua Chiêu Tông, đưa em của vua là Lê Cung Hoàng lên ngôi.
    Vua Chiêu Tông được các tướng đưa vào Thanh Hoá, đến năm 1526, Mạc Đăng Dung bắt được vua Chiêu Tông mang về Thăng Long giết chết.

    13. Thái tử Lê Duy Bang, con vua Lê Chiêu Tông, được công chúa Oanh Vàng và Nguyễn Bỉnh Khiêm bí mật đem về nuôi dưỡng chờ thời cơ phục hưng nhà Lê, tránh bị nhà Mạc giết hại, và được Nguyễn Bỉnh Khiêm đổi theo họ Nguyễn.

    14. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607), quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    15. Thái tổ: tức là vua Lê Thái tổ, Lê Lợi (1385-1433), khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh, lên ngôi hoàng đế năm 1428, chính thức dựng lên vương triều Lê.

    16. Bệ son: bệ hạ, vua.

    17. Năm Giáp Tý: theo lịch Vạn niên, ứng với năm 1564.

    18. Bạch Vân Am: Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan cho nhà Mạc được 7 năm, sau đó ông xin cáo quan năm 1542. Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật.
    Last edited by Love_Tamlinh; 01-11-2007 at 03:48 PM.

  6. #46

    Mặc định

    Một hay nhiều trí tuệ đã chết đang ẩn nấp đâu đó trong những người này!
    BX

  7. #47

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Love_Tamlinh Xem Bài Gởi
    Cám ơn huynh Ballx đã có chung một ý nhận xét nói trên.

    Còn những ý kiến khác của huynh thì LTL đang còn nghiên cứu tiếp, và sẽ trao đổi với huynh khi có kết quả.

    Thân ái chào huynh.
    Tôi nghĩ bạn thử nghiên cứu Cao Đài là hay nhất vì Đạo này dùng kiểu "chắp bút" để viết Kinh Kệ của họ nghĩa là họ cho cốt nhập vào rồi bắt đầu "chắp bút" thơ ca.

    Như đạo của Tây tạng cũng vậy, mất ông Lạt-ma đầu thai chẳng qua là họ cầu nguyện để linh hồn ông Lạt-ma trước đã chết nhập vào người mới mà thôi.

    Trong nhưng lần đuổi quỉ của anh em chúng tôi, có người nhìn bình thường nhưng có tới 7-8 vong hồn trong đó.

    BX

  8. #48

    Mặc định

    HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI
    VẠN ĐẠI DUNG THÂN


    Đoạn này nhắc chuyện cõi ngoài
    Nguyễn Kim (1), Trang Tông (2) luận bày nước non,
    Trang Tông ngồi cứ khóc ngon
    Thám quân về báo hết còn cậy trông
    Vẳng nghe tin ở Thăng Long
    Oanh Vàng (3) đã chết hết mong sống còn,
    Bấy lâu Trẫm luống héo don
    Vì cô của Trẫm đang còn trào ca,
    Nay cô của Trẫm ra ma
    7840. Cứ đem binh bộ về mà Thăng Long
    Tướng binh ai cũng vui lòng
    Cùng nhau kéo đến Thăng Long tức thời.
    Chúa Mạc (4) nghe báo rụng rời
    Kính Điển (5) nguyên soái ra nơi trận tiền
    Mười ngày sáp chiến giao liên
    Nguyễn Kim tử trận chết liền trong quân
    Mạc trào đắc thắng ăn mừng
    Trang Tông, Trịnh Kiểm (6) thâu quân trở về.
    Trịnh Kiểm văn võ đủ bề
    7850. Trang Tông giao hết binh về Trịnh gia,
    Nguyễn Uông (7) là kẻ hiền hòa
    Cho nên chư tướng theo mà Nguyễn Uông
    Trịnh Kiểm xem thấy lòng buồn
    Lập mưu giết chết Nguyễn Uông tức thì.
    Nguyễn Hoàng (8) than khóc ai bi
    Anh ta là đấng tu mi hiền hòa
    Trịnh Kiểm nó giết chẳng tha
    Huống chi thân phận của ta thấp hèn
    Chẳng may gặp phải thời đen
    7860. Thân này sống chết bao phen nào tường
    Thượng (9) rằng: Chàng chớ tư lương
    Tôi nghe người nói Hải Dương có thầy
    Bạch Vân Cư Sĩ ông này
    Tên Khiêm họ Nguyễn (10) đủ đầy lục thông,
    Phu quân chớ có ngại lòng
    Đích thân đến đó hỏi ông thì tường.
    Nguyễn Hoàng rằng đến Hải Dương
    Từ đây đến đó thì đường chẳng xa,
    Nếu tôi mà bước đi ra
    7870. Thì là phải có quân gia theo hầu
    Trịnh Kiểm nó hỏi đi đâu
    Kiếm điều gây sự cũng âu khó lòng.
    Thượng rằng: tôi muốn thẳng xông
    Vì non vì nước vì chồng tôi đi,
    Trịnh Kiểm nào có biết chi
    Nói rồi mới giả nữ tỳ lịch xinh.
    Hoàng khen cải dạng tài tình
    Thượng cùng hai đứa trá hình ra đi,
    Hải Dương đến đó tức thì
    7880. Còn đang dạo khắp am ni bên ngoài
    Nhìn xem nắm đất nằm ngay
    Bảo Ngọc (11) thọ táng đắng cay trăm bề
    Thế Thượng nước mắt dầm dề
    Sụp ngồi xuống lạy bốn bề xung quanh
    Từ ta nên nghĩa yến anh
    Bác ta đi biệt chết đành mồ hoang
    Nghĩ công của bác muôn ngàn
    Nuôi ta khôn lớn gian nan đủ bề
    Nay người tiên cảnh hồn về
    7890. Nắm mồ trơ trọi ai hề vãng lai
    Thở than đầu cúi lạy dài
    Tùy tùng hai đứa cũng rày lại theo.
    Cành cao gió thổi thông reo
    Biển khơi sóng vỗ trên đèo chim ca,
    Thượng ngồi nước mặt chan hòa
    Ngọc Hoan (12) đâu bỗng chạy ra tươi cười:
    Dì ơi dì quỷ hay người
    Trông xem gương mặt tốt tươi như vàng
    Mẹ tôi tột phẩm thượng quan (13)
    7900. Chết đi đã mấy tháng tràng rồi đa,
    Trông dì giống mẹ tôi mà
    Hay là mẹ hiện hồn ma đi về.
    Ngọc Hoan han hỏi đủ bề
    Thế Thượng nước mắt dầm dề tuôn sa,
    Hỏi gì cũng chẳng nói ra
    Tùy tùng hai đứa cũng mà nín thinh.
    Ngọc Hoan xem thấy nghi tình
    Chắc là hồn mẹ hiện hình chẳng sai
    Từ chân đến chí mặt mày
    7910. Khác chi là mẹ trong ngày tụng kinh,
    Ngọc Hoan ôm Thượng vào mình:
    Nay sao mẹ lại chẳng nhìn con thơ!
    Thượng nghe gượng rạo ỡm ờ:
    Này này chú tiểu có mơ chăng là!
    Dì đây người ở xứ xa
    Đến tầm cư sĩ thông qua việc này
    Chắc dì giống mẹ con đây
    Mẹ con hồn gió hồn mây dật dờ,
    Dì người sang cả tiểu thơ
    7920. Đến đây dì có cậy nhờ Bạch Vân.
    Tiểu tử nghe nói nhìn trân:
    Trông dì có vẻ văn nhân thiên tài.
    Thượng xem vui vẻ nắm tay
    Ngọc Hoan mới dẫn vô rày am mây.
    Bỉnh Khiêm xem thấy nói dầy:
    Muôn tâu hoàng hậu đến đây việc gì?
    Lão bá từ đến am ni
    Ba năm soạn sách tiếp thì với tôi,
    Đêm thu mưa bão một hồi
    7930. Trông xem lão bá chết rồi đã lâu
    Sấm vang sét dậy bưng đầu
    Ngoài thì bão tố mưa ngâu ạt ào
    Tư bề vắng vẻ biết bao
    Lão bá bỏ xác tôi đau đớn lòng,
    Nên đàng tống táng cho xong
    Đàng xa diệu vợi khó lòng thông tin
    Phần thì hoàng hậu cầm binh
    Tới lui ngại nỗi quân tình nghi nan,
    Mong ơn Chúa thượng Nguyễn Hoàng
    7940. Thứ tha tội lỗi vẩy tràng am mây,
    Lão bá bỏ xác am này
    Mà tôi tự ý cất thây của người.
    Thế Thượng nghe nói liền cười:
    Tôi nghe bạch sĩ ông người thần thông
    Đùa chơi chi vậy hỡi ông!
    Bác tôi đến ở nhờ ông am thiền
    Mộ phần an táng đã yên
    Ơn thâm chưa trả oán riêng dám nào,
    Đàng xa viễn vọng biết bao
    7950. Tôi đâu biết bác tôi vào am ni
    Bác nay tiên cảnh hồi quy
    Mồ êm mả đẹp tôi thì cám ơn,
    Vợ chồng tôi luống phiền hờn
    Ngày ngày nghĩ ngợi từng cơn rối lòng
    Trận tiền sáp chiến Thăng Long
    Anh chồng cũng chết, cha chồng cũng tiêu
    Tướng binh tuy hỡi còn nhiều
    Nhưng lòng luống những buồn hiu ngại ngùng
    Vẩn lo Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng (15)
    7960. Binh quyền nó đoạt hành hung ngày ngày
    Vợ chồng tôi luống đắng cay
    Sợ chưa ra trận có ngày đầu rơi,
    Như ông người biết cơ trời (16)
    Làm ơn chỉ thế chỉ thời cho tôi
    Sau ngày non nước quy khôi
    Sùng tu am tự đáo bồi lại cho.
    Khiêm rằng: nhân nguyện nhân lo
    Trời sanh đặt để là trò hóa công,
    Hoành Sơn (17) một dải mênh mông
    7970. Dung thân vạn đại tại lòng biết bao!
    Nói rồi đứng dậy đi mau
    Đi vào tịnh thất am sau thanh nhàn.
    Thượng ngồi lơ láo ngỡ ngàng
    Hai nữ bất mãn hối mau đi về.
    Ngọc Hoan xem thấy cười hề,
    Đình Ái (18) bước đến vỗ về khuyên lơn:
    Xin thưa với Nguyễn phu nhân
    Tôi là Đình Ái tạm chân am này
    Từ tôi đến ở am mây
    7980. Đã hay cư sĩ là thầy thiên văn,
    Nhưng vì ông ít nói năng
    Ra tay dội tiếng, tầm phân thì tường
    Chớ ông đâu nói chán chường
    Những lời ông nói nghiệm tường thì hay,
    “Hoành Sơn dãy núi thiệt dài
    Dung thân vạn đại ngày ngày ấm no”,
    Tôi xin bàn kỹ dùm cho
    Phu về về hãy toan lo với chồng,
    Làm sao kéo bộ binh rồng
    7990. Tách riêng họ Trịnh thì lòng mới yên,
    Bạch vân là kẻ thần tiên
    Nào đâu phải kẻ hạ niềm như ta,
    Nói thì người nói xa xa
    Bàn gần thì biết chúng ta thi hành.
    Thượng nghe tỉ mỉ đã rành
    Giã từ Đình Ái bôn hành lui chân,
    Về nhà kể rõ thiệt hơn
    Bạch vân chỉ dạy Hoành Sơn kia cà,
    Là nhà cơm áo của ta
    8000. Dung thân vạn đại chẳng mà chi hơn!
    Nguyễn Hoàng nghe rõ nguồn cơn
    Bàn cùng Ngọc Bảo (19) sạ dơn như vầy:
    Chị còn nghĩ đến em đây
    Xin giúp Trịnh Kiểm việc này đặng chăng?
    Cha con Tùng quá hung hăng
    Gây ra án mạng ăn năn muộn rồi,
    Binh này em muốn chia đôi
    Chị nửa em nửa lo bồi giúp vua,
    Em thời chẳng muốn hơn thua
    8010. Binh cha lại với binh vua cũng nhiều
    Tiền quân chồng chị làm kiêu
    Một ngày anh Kiểm một nhiều kiêu căng.
    Ngọc Bảo bà mới nói rằng:
    Biết vua Trang Tông ông bằng lòng không?
    Nguyễn Hoàng rằng: chị cuồng ngông
    Hành quân do lịnh của chồng chị đây,
    Nhà vua như cốt tượng cây
    Em xin chị nói như vầy giúp em:
    Tại nơi Thuận Hóa quân đem
    8020. Để riêng cho vợ chồng em giữ gìn
    Vợ em cũng biết cầm binh
    Trấn nơi Thuận Hóa nước mình chị ơi,
    Nếu nhiều lương thảo thảnh thơi
    Vợ chồng em sẽ dẹp nơi Chiêm Thành,
    Nếu như anh Kiểm lòng đành
    Lấy nước Chiêm Thành (20) em đoạt đầu công.
    Ngọc Bảo nghe nói vui lòng
    Truyền quân thưa lại với chồng sạ duyên,
    Kiểm nghe vui vẻ cho liền
    8030. Chia quân cậu nó về miền Nghệ An.
    Kiểm kêu: Thế Thượng, Nguyễn Hoàng
    Hai em vào trấn Nghệ An biên thùy
    Khai hoang lập hóa dân di
    Đồn lương tích thảo kính vì lão phu,
    Em làm cho rạng danh nhu
    Nhà ta danh tướng thiên thu em à!
    Nguyễn Hoàng dạ dạ lui ra
    Điểm quân chiến tướng kéo qua ải ngoài
    Thẳng đường trực chỉ mười ngày
    8040. Nguyễn Hoàng, Thế Thượng tới rày Nghệ An,
    Cho quân hạ trại sửa sang
    Chiêu hiền đãi sĩ tiếng vang khắp cùng.
    Trịnh Kiểm lại với Trịnh Tùng
    Quyền hành có sẵn hành hung khắp trời,
    Trang Tông nhỏ nhẹ luận lời:
    Trịnh khanh ngang dọc người đời chê bai
    Thăng Long đánh chẳng mấy ngày
    Mà Nguyễn nguyên soái (21) đầu bay trận tiền,
    Trịnh khanh nay đã thế quyền
    8050. Trẫm xem khanh chẳng lương hiền chút nao!
    E cho phật ý đồng bào
    Ra quân khó thắng Mạc trào lắm đa
    Khanh cần nhỏ nhẹ hiền hòa
    Sĩ quân mến đức bá gia mến tài
    Trịnh khanh lừng lẫy làm oai
    Kẻ gần ghét bỏ, người ngoài không thương
    Còn ai cống hiến quân lương
    Sẽ đưa tôi chúa lên đường hưng long?
    Trịnh khanh tua khá hiền lòng
    8060. Phải thương dân dại Lạc Hồng như con!
    Trịnh Kiểm nghe nói cười dòn:
    Ông vua này thật ông còn quá mê!
    Tướng binh mình đã thâu về
    Thì dân trong nước xuôi bề kính vâng
    Nếu người nào trái mạng quân
    Đầu lâu phải rớt xuống chân tức thì
    Hơi nào lo ngại tứ di
    Dân quan ngỗ nghịch chém thì chẳng tha
    Nếu lòng bác ái từ hòa
    8070. Trị binh tướng sĩ nó mà chẳng kiêng!
    Làm tướng ra vẻ lương hiền
    Từ bi bác ái như tiên nhà trời
    Làm sao sống nổi nước đời
    Nhất hô bá ứng tại nơi trận đồ,
    Hung hăng tay chém miệng hô
    Mà còn thất trận huống hồ từ bi.
    Trang Tông ông mới nói thì:
    Nguyễn khanh đảm lược cao kỳ võ văn
    Trịnh khanh còn kém tài năng
    8080. Cha con khanh quá hung hăng ngang tàng,
    Biết rằng khanh thật soái quan
    Nhưng dân là quý vô vàn khanh a!
    Lòng dân khắp hết gần xa
    Mến ta thì chắc là ta an toàn,
    Lòng dân ghét bỏ oán than
    Là đưa ta đến con đường tuyệt ly.
    Trịnh Kiểm nổi giận sân si
    Chém vua Trang Tông hồn quy thiên đàng,
    Làm vua mà quá nhát gan
    8090. Ta thâu xã tắc giang san Lạc Hồng
    Thu hồi bờ cõi Thăng Long
    Làm vua cai trị ngôi rồng an dân,
    Trang Tông chẳng có tinh thần
    Cứ lo lòn cúi quan dân ngày ngày
    Chết thì ta được rảnh tay
    Sống chi mà bận mỗi ngày dâng cơm!
    Tánh nên hèn nhát thấy nhờm
    Vua không đảm lược sớm hôm hạ hầu
    Mất công bận trí lo âu
    8100. Sĩ binh la việc, hạ hầu không ngơi.
    Truyền quân sắm sửa tức thời
    Thăng Long quyết chiến binh trời phục quy,
    Chúa Mạc trấn thủ biên thùy
    Cha con Trịnh Kiểm gia quy chiến trường
    Mạc thua mười trận đau thương
    Trận đồ sông máu núi xương chất chồng,
    Trịnh cùng với Mạc chiến công
    Con dân trong nước Lạc Hồng kinh man
    Chiến trường chết mấy trăm ngàn
    8110. Cha con họ Trịnh ngang tàng nên ghê
    Cứ điều diệt Mạc phò Lê
    Dân lâm chước quỷ lo bề nạp lương
    Anh hùng chẳng tiếc máu xương
    Nên cha con Trịnh lên đường thành công,
    Chúa Mạc đành bỏ Thăng Long
    Vua tôi họ Mạc thẳng xông Cao Bằng.
    Trịnh Tùng Trịnh Kiểm hung hăng
    Ỷ mình đắc thắng vào Thăng Long thành
    Cho nên cứ việc tung hoành
    8120. Say mê tửu sắc Long Thành giết dân
    Tướng binh lén trốn lần lần
    Sang đầu họ Mạc có phần hiền lương,
    Mạc thêm vi cánh hùng cường
    Hội binh kéo thẳng đến đường Thăng Long
    Mười ngày chiến sĩ tiến công
    Mạc dành lại được Thăng Long cả cười
    Trịnh thua nên phải hổ ngươi
    Chọn quan biện thuyết, chọn người văn cao
    Kiếp dưng hàng biểu sang Tàu
    8130. Vua tàu cho sứ được vào kim giai,
    Vua Tàu liền mới phán rày:
    Xem lời hàng biểu còn sai lẽ bằng
    Tuy là họ Mạc làm nhăn
    Nhưng mà Lê đã tuyệt căn nào còn,
    Mạc lên gìn giữ nước non
    An Nam thống sứ ta còn sắc ban
    Hôm nay họ Trịnh ngang tàng
    Bảo ta phong chức đế hoàng được đâu?
    Ngươi về bổn quốc mà tâu
    8140. Nước Nam như kẻ cầm đầu họ Lê,
    Cho ta xã tắc thâu về
    An nam ấn cũ ngự phê mới là
    Nếu không ấn tín đưa ra
    An Nam vương quốc ta mà chẳng phong,
    Chớ như họ Mạc Thăng Long
    Chức Đô Thống Sứ ta phong hẳn hòi,
    Các ngươi về nước mà coi
    Ta khuyên họ Trịnh đừng đòi sắc ban,
    Chừng nào tầm giống Lê hoàng
    8150. Thì đem ra Hội Tam Quan (22) với Tàu,
    Bằng không đừng có chào rào
    Các người rằng dễ gạt Tàu lắm đa
    Nên dùng biện thuyết nói ngoa
    Họ Trịnh chắc chắn khi ta là thường
    Muốn lên làm chức đế vương
    Người về bảo Trịnh rằng đường tuyệt ly.
    Sứ nghe vội vã hồi quy
    Về thưa Trịnh Kiểm vân vi lãm tường,
    Kiểm lui vào chốn hậu đường
    8160. Thở than hai giọt mắt hường chảy sa.
    Bảo Châu (23) rằng: bẩm gia gia
    Nhân sao cha lại chan hòa lệ tuôn?
    Trịnh Kiểm nghe hỏi lòng buồn
    Đầu đuôi kể hết ngọn nguồn nguyên nhân.
    Bảo Châu nghe rõ xa gần:
    Bẩm gia gia nghĩ xem phần nào hay
    Con nghe người nói lâu nay
    Hải Dương vốn có thầy hay cha à
    Nếu cha muốn biết do hà
    8170. Sai người đến hỏi gần xa thì tường.
    Trịnh Kiểm sửa soạn lên đường
    Đặng tìm đến chốn Hải Dương gặp thầy
    Bỗng nhiên lâm bịnh nặng thay
    Tinh sương ngọa bịnh, trưa ngày chi chung.
    Quyền binh giao lại Trịnh Tùng
    Tùng thêm thế lực hành hung quá nhiều
    Khiến sai Châu phải chuộng chìu
    Tùng rằng tôi muốn Minh triều phong vương
    Vua Tàu như nó lương khương
    8180. Đem quân xâm loạn biên cương sông Hồng
    Chiến thuyền đi ngõ Cửu Long
    Quảng Đông thì có con sông Hồng Hà
    Đất này xưa của nước ta
    Con sông hợp phố tỉnh mà Quảng Đông
    Nếu vua Tàu chẳng tùy lòng
    Thì ta chiếm tỉnh Quảng Đông tức thì!
    Châu rằng: chẳng có dễ chi
    Chàng còn chưa chiếm biên thùy Thăng Long
    Làm sao lấy tỉnh Quảng Đông
    8190. Đường năm ngàn dặm xa trông tít mù.
    Tùng rằng nàng hãy viễn du
    Hải Dương đến đó thỉnh phù Bỉnh Khiêm.
    Châu nghe vội vã đi tìm
    Bạch Vân Am đến Bỉnh khiêm nói vầy:
    Trong chùa các tiểu nghe đây
    Mùa màng thất bát đông tây đói dần,
    Chúng bây cố gắng lo mần
    Hãy tầm giống cũ ân cần trồng gieo,
    Lời ta bây hãy nghe theo
    8200. Giữ chùa ăn quả, đói nghèo được qua.
    Tiểu nghe dạ dạ lui ra
    Bạch sĩ nằm ngủ chẳng mà nói năng.
    Châu buồn vội vã đi phăng
    Về nhà thuật lại rõ căn với Tùng:
    Cái ông Khiêm quá lạ lùng
    Hỏi chi chẳng nói vô mùng ngủ yên.
    Tùng rằng: ông đã thành tiên
    Lợi danh đeo đẳng làm phiền được đâu
    Lắm khi ông thốt đôi câu
    8210. Nàng nghe chẳng hiểu mới âu giận hờn.
    Châu rằng tôi mới đặt chân
    Lại nghe ông kể nguồn cơn mùa màng,
    Bảo cho các tiểu sửa sang
    Tầm gieo giống cũ bằng an ruộng nhà
    Giữ chùa ăn oản thế à.
    Tùng cười nói thế ấy là câu thay
    Giống cũ Lê Lợi, Lê Lai
    Ta tầm con cháu của rày nhà Lê
    Thì là việc cả an bề
    8220. Tầm đâu cho có giống Lê bây giờ.
    Châu rằng: tôi chẳng nghi ngờ
    Cho người dạm hỏi cõi bờ khắp nơi
    Họ Lê đông lắm chàng ơi
    Hoàng thân quốc thích nhiều nơi nương mình
    Cách đây chừng bảy lộ trình
    Có Lê cao lão gia đình hàn vi
    Ông này đây cũng tông chi
    Của Lê Thái tổ trước khi đó chàng,
    Hồi tôi mới thọ thai mang
    8230. Dạo chơi trong xóm tìm tàng vật chua
    Lê lão mới kể chuyện vua
    Ông rằng ông kẻ quê mùa lâu nay
    Họ hàng vua chúa sang thay
    Nhưng ông cứ việc cuốc rày ruộng sâu.
    Tùng nghe vội vã tới âu
    Thỉnh Lê cao lão tỏ câu tôn thờ
    Bấy lâu tôi có nào ngờ
    Nay tôi tìm đến binh cơ trình bày,
    Quyết lòng thỉnh được ông rày
    8240. Tùy ông quyền thế định rày việc quân.
    Cao lão nghe nói lòng mừng:
    Lòng ông nhân đức ba quân bái quỳ
    Lúc nào ông cũng nhu mì
    Ba quân tướng sĩ tội gì cũng tha
    Trị quân được bảy tháng qua
    Trịnh Tùng chém bỏ lão già họ Lê.
    Ít lâu Tùng rước đi về
    Một chàng mười tuổi là Lê Duy Bình
    Con Lê Tương Dực hậu sanh
    8250. Mẹ làm thứ hậu tánh tình hiền lương
    Duy Bình về ở dinh đường
    Tùng tôn làm đức tân vương tức thời,
    Vua này nhỏ tuổi thảnh thơi
    Việc quân chẳng biết luận thời phui pha
    Làm vua ngồi chốn môn nha
    Tùng nuôi lấy cớ chẳng mà kính thương,
    Một hôm trông thấy tân vương
    Quỳ mà cúng lạy dâng hương cầu trời
    Cầu cho dân chúng nơi nơi
    8260. Khỏi lâm nước lửa khỏi thời đao binh
    Cầu dân thoát khỏi chiến chinh
    Trịnh Tùng đã lén đến rình một hơi
    Trẻ con mà chẳng ăn chơi
    Quỳ mà lạy Phật, lạy Trời làm chi?
    Nhỏ còn bác ái từ bi
    Lớn lên thì tánh nhu mì khó ưa,
    Mấy vua hồi xửa hồi xưa
    Vua nào nhu nhược tiễn vua về trời,
    Tùng liền đá hất tức thời
    8270. Tân vương hồn đã về nơi suối vàng.
    Bảo Châu xem thấy rõ ràng
    Trách Tùng sao quá ngang tàng khi quân.
    Tùng rằng vợ quý vợ cưng
    Cái thằng vua ấy chẳng từng lễ nghi
    Bậu còn kính trọng làm chi
    Mai này nàng hãy khá thì đi xa
    Đem quân kéo thẳng sang qua
    Truyền cho chị Thượng phải mà nạp lương
    Bảo rằng lịnh của tân vương
    8280. Truyền cho chị Thượng quân lương đủ đầy
    Lương hai ngàn hộc nạp đây
    Nếu không ta kéo binh này đem sang
    Địch binh ta với cậu Hoàng
    Thì là hai chị em nàng hết thân.
    Châu nghe Tùng nói sượng sần:
    Phu quân nói thế có phần kém suy
    Chị em nào có lạ gì
    Mà chàng bảo thiếp đi thì đòi lương!
    Tùng rằng: nàng thật thiếu lường
    8290. Nguyễn Hoàng riêng chốn biên cương nàng à
    Chia quân hơn một năm qua
    Hoàng vào Thuận Hóa thật là vững an
    Dân nhiều vườn ruộng giàu sang
    Từ Hoàng vào chốn Nghệ An đến giờ
    Lòng dân mãi mãi tôn thờ
    Không sai quân viếng không tờ thơ thăm,
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng mưu thầm
    Hoành Sơn phú hộ ngắm ngầm giang san
    Nên ta muốn trị Nguyễn Hoàng
    8300. Sai nàng gây sự sau toan quân tình,
    Nếu Hoàng còn yếu thế binh
    Thì lương nạp đủ lòng mình tạm vui.
    Châu nghe Tùng nói tạm lui
    Sắm đồ hành lý đi xuôi lên đường.
    Tùng truyền tướng sĩ hùng cường
    Theo Châu đặng có đem lương đi về
    Ba ngàn binh sĩ đề huề
    Châu đi đường bộ thẳng về Nghệ An.

  9. #49

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Nguyễn Kim: (1468-1545), vào năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay). Nguyễn Kim được vua phong làm Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự, chức quan cao nhất.

    2. Trang Tông: vua Lê Trang Tông, con vua Lê Chiêu Tông.

    3. Oanh Vàng: công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông, vợ thứ năm của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    4. Chúa Mạc: vua Mạc.

    5. Kính Điển: Mạc Kính Điển (? - 1580): là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh, cháu Mạc Đăng Dung, là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương.

    6. Trịnh Kiểm: (1503–1570), là người có tài, được Nguyễn Kim gả con gái là tiểu thơ Ngọc Bảo cho và giao cho Trịnh Kiểm nhiều trọng trách trong việc phục hưng nhà Lê. Người đầu tiên lập nên các dòng Chúa Trịnh, thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh.

    7. Nguyễn Uông: con trai Nguyễn Kim, anh của Nguyễn Hoàng.

    8. Nguyễn Hoàng: (1525–1613), con trai thứ của Nguyễn Kim. Về sau trở thành người đầu tiên của chín dòng Chúa Nguyễn.

    9. Thượng: tiểu thơ Phạm Thế Thượng, vợ Nguyễn Hoàng, cháu gái của quan Phạm Bảo Ngọc.

    10. Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau khi cáo quan năm 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật.

    11. Bảo Ngọc: quan Phạm Bảo Ngọc, bác của tiểu thư Phạm Thế Thượng.

    12. Ngọc Hoan: Nguyễn Bỉnh Khiêm và công chúa Oanh Vàng bí mật đưa con trai của vua Lê Chiêu Tông là thái tử Lê Duy Bang về nhận là con mình, để dễ bề chăm sóc, và đổi tên thành Nguyễn Ngọc Hoan.

    13. Công chúa Oanh Vàng nhận làm mẹ của Ngọc Hoan. Khi Oanh Vàng tự vẫn chết tại hồ sen Thái Miếu đang được nhà Mạc phong tước Vũ Xuyên Hầu.

    14. Lão bá: Phạm Bảo Ngọc, bác của tiểu thơ Thế Thượng, đến tu cùng với Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    15. Trịnh Tùng (1550-1623): con trai thứ của Trịnh Kiểm.

    16. Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiên cứu Sách Thái Ất Thần, có thể dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh, đói rét, bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn, có thể dự đoán trong khoảng thời gian 100 năm.

    17. Hoành Sơn: Một nhánh núi của dải Trường Sơn Bắc chạy ngang ra phía bờ biển, dài 100 km, độ cao 1000 m, cấu tạo bằng granit và đá phun trào, như bức tường thành ngăn cách đồng bằng Hà Tĩnh ở phía Bắc với đồng bằng Quảng Bình ỏ phía Nam. Đây là một chiến luỹ tự nhiên, nơi đã diễn ra cuộc Nam - Bắc phân tranh giữa hai dòng họ Trịnh - Nguyễn kéo dài hàng thế kỉ.

    Trong sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn viết: "Núi Hoành Sơn, châu Bố Chính, xã Sơn Tiêu, cõi Nghệ An, từ xa xưa mà đến, gò núi chập chùng, dăng ngang đến biển… Một dãy Hoành Sơn có ngọn như hổ ngồi, phượng múa…".

    18. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607), quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    19. Ngọc Bảo: con gái của Nguyễn Kim, gả cho Trịnh Kiểm.

    20. Chiêm Thành: tên gọi của vương quốc Chăm Pa (tiếng Phạn: Campanagara), hình thành từ cuối thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 17.
    Chiêm Thành bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế), Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Quảng Ngãi, Bình Định), Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa) và Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận).

    21. Nguyễn nguyên soái: Nguyễn Kim.

    22. Hội Tam Quan: nơi các sứ giả trình quốc thư.

    23. Bảo Châu: tiểu thơ Phạm Bảo Châu, vợ của Trịnh Tùng, con dâu Trịnh Kiểm.
    Last edited by Love_Tamlinh; 01-11-2007 at 03:47 PM.

  10. #50

    Mặc định

    NỮ SỨ GIẢ HÒA BÌNH AN NAM - XIÊM LA

    Đoạn này nhắc chuyện Nguyễn Hoàng (1)
    8310. Thế Thượng (2) đón được một nàng nước Xiêm (3)
    Mặt mày nên vẻ trang nghiêm
    Thế Thượng rằng: gái nước Xiêm đẹp hình
    Tên chi em hãy khá trình
    Ta ghi vào sổ bộ binh nữ tài.
    Gái Xiêm đầu cúi thưa rày:
    Tôi người nghèo khổ tối ngày ruộng nương
    Vì đi gánh mạ lạc đường
    Cho nên tôi phải vào nương xứ này,
    Nghe bà văn võ đủ đầy
    8320. Xin làm tỳ nữ sau này nương thân
    Chánh tên là Thạch mỹ nhân
    Thân tôi trôi dạt lắm lần truân chuyên.
    Thượng rằng mỹ nữ lương hiền
    Mỹ nhân hảy khá ở yên nơi này
    Thương nàng nhan sắc đủ đầy
    Chẳng hay có được theo thầy hay chăng?
    Mỹ nhân đầu cúi thưa rằng:
    Phận nghèo nhưng cũng siêng năng sách đèn
    Trong ba mặt chữ đã quen
    8330. Chữ Xiêm, chữ Việt lại thêm Tây Tàu
    Không ràng ba lược sáu thao
    Nhưng mà chữ nghĩa làu làu đỡ lay.
    Thượng rằng: âu thật là may
    Trong quân ít kẻ văn hay nàng à,
    Một mình hai vợ chồng ta
    Phần văn phần võ vào ra nhọc nhằn
    Nếu nàng giỏi chữ tài năng
    Đủ ba mặt chữ rành căn thật tài,
    Chồng ta văn võ vẹn hai
    8340. Đã xinh lại đẹp có tài lược thao
    Mỹ nhân vui vẻ đi nào
    Ưng chồng ta đấy ngày sau cậy nhờ,
    Chồng ta chiến lược binh thơ
    Định thâu cho hết cõi bờ nước Chiêm
    Thấy nàng có vẻ trang nghiêm
    Cùng chồng ta hãy kết niềm phu thê
    Sau này non nước thâu về
    Thì ta nhường chức chánh thê cho nàng.
    Mỹ nhân thưa thốt dịu dàng:
    8350. Phận hèn đâu dám leo thang tột vời
    Bà thương cho ở yên nơi
    Xin làm tỳ tất không rời bà đây,
    Lược đầu, khăn mặt đủ đầy
    Bà thương cho ở nơi đây đủ rồi,
    Tướng quân là kẻ cao ngôi
    Lạy bà tha lỗi cho tôi chối từ.
    Thế Thượng nghe nói liền cười:
    Bấy lâu tôi đã chọn người lịch xinh
    Đặng cho phu tướng giao tình
    8360. Sanh con nối nghiệp gia đình lửa hương
    Mà không gặp gái hiền lương
    Cưới nàng nàng khá toan đường từ nan.
    Mỹ nhân Thế Thượng luận bàn
    Phúc đâu lại thấy Nguyễn Hoàng bước vô.
    Thế Thượng chào hỏi liền phô
    Mỹ nhân thì lại bước vô kẹt phòng.
    Hoàng rằng: ngày đói tháng đông
    Ba năm cưới vợ động phòng thì chưa,
    Rồi đây sương sớm nắng trưa
    8370. Mây đưa hồn bướm gió đưa thân già
    Vợ thì gương mặt như hoa
    Lại gần thì ngán bảy ba đường quyền!
    Thân này không phải thần tiên
    Mà tình lục dục lắng yên tới già.
    Thượng rằng: ơn nước nợ nhà
    Chừng nào bình trị sơn hà đó đây
    Hai ta thỏa dạ mưa mây
    Năm qua tháng lại chẳng chày bao lăm,
    Lúc này binh lửa ù ầm
    8380. Nếu hai ta gấp ăn nằm với nhau
    Tức là phải có thai bào
    Trong khi thai sản binh đao vẩy tràng,
    Con còn nhỏ dại khó toan
    Chẳng may mạng bạc tôi chàng chết đi
    Ai ra đùm bọc ấu nhi
    Gây thêm khốn khổ ít chi chàng à!
    Nguyễn Hoàng rằng khéo lo xa
    Rồi đây tuổi lớn sức già làm sao
    Trong thời chiến lửa binh đao
    8390. Cần nên sinh sản cho mau cho nhiều,
    Nếu e một sớm một chiều
    Chết đi cũng được ít nhiều lửa hương
    Có con nối nghiệp từ đường
    Sau dù mạng bạc chiến trường cũng ưng,
    Nàng ham ra trận cầm quân
    Thâu thành đoạt ải danh lừng bốn phang
    Không con nối nghiệp tông đàng
    Chết đi ai giữ đèn nhang tôn thờ
    Cần sanh con gấp bây giờ
    8400. Vợ chồng ta chết con thờ lửa hương.
    Nói rồi kéo Thượng lên giường
    Thượng rằng phu tướng nên nhường chút thôi,
    Mỹ nhân trong kẹt đang ngồi
    Nàng này mặt tợ phấn dồi chàng a,
    Gái Nam thua gái Xiêm La!
    Nguyễn Hoàng nhìn lại lòng đà hổ ngươi
    Nên đành gượng gạo tươi cười:
    Mỹ nhân này vốn là người nước xa
    Đi đâu lạc đến nước ta
    8410. Chuyện chi mà lại ngồi a nơi phòng!
    Thượng rằng: nàng thiệt giỏi thông
    Biết ba mặt chữ biết phong chức gì,
    Nàng xin làm phận nữ tỳ
    Thiếp thương nên mới nằn nì từ câu
    Thương chàng vắng vẻ canh thâu
    Tầm người hiền đức kết câu chung tình
    Mỹ nhân này thật lịch xinh
    Mặt trong như ánh trăng in trong hồ,
    Ngón tay quản viết thế mô
    8420. Tóc mây đà đuột nói phô dịu dàng,
    Thiếp luôn năn nỉ với nàng
    Xin thay mặt thiếp để chàng ái ân.
    Nguyễn Hoàng nhìn rõ mỹ nhân:
    Nàng này gương mặt sáng ngần như trăng
    Vốn không phải gái mần ăn
    E mỹ nhân kế quan văn Chiêm Thành
    Vào đây thám thính quân hành
    Nàng nên lục xét cho rành thể nao!
    Xưa nay nhiều gái má đào
    8430. Thường làm lụy mạng anh hào lắm đa
    Nàng thì văn võ gồm ba
    Người này là nước Xiêm La má hồng
    E quân thám thính biên phòng
    Hiền thê chậm chậm đừng lòng vội tin!
    Thượng rằng: phu tướng nghi tình
    Lẽ đâu nhiều gái lịch xinh đủ tài
    Thế gian ngẫm chẳng mấy ai
    Gái đâu mà gái đủ tài vầy đa!
    Mỹ nhân đầu cúi thưa qua:
    8440. Tuy tôi là gái Xiêm La mặc dầu
    Mạc Cửu tiên trấn đòi hầu
    Vì tôi tuyệt sắc đứng đầu giai nhân
    Từ đường tiên tổ là dân
    Nên tôi cũng muốn giữ thân trọn đời,
    Cha ông quần tả áo tơi
    Phận hèn đâu dám ngôi trời lăm le
    Luôn luôn trinh tiết dặt dè
    Từ bên biên trấn lội te chốn này
    Nghe người biên trấn đủ đầy
    8450. Nhân tình đức hạnh đông tây bái quỳ
    Tôi xin làm phận nữ tỳ
    Cho thì tôi ở không đi ra liền
    Tôi không ham chức ham quyền
    Nhưng ham sống kế ngoài hiên trong phòng
    Xin theo hầu hạ bà ông
    Ông bà như có vui lòng dưỡng nuôi
    Không thì nhẹ gót xin lui,
    Nguyễn Hoàng nghe nói lòng vui cười xòa:
    Lạ này con gái Xiêm La
    8460. Làm dân thì chịu làm bà thì chê!
    Mặt xem không phải dốt quê
    Nhân sao nàng lại vụng về tính toan,
    Không ham chồng tướng chồng quan
    Ham làm tỷ tất nhà sang nhà giàu?
    Thượng rằng: nàng vốn ý cao
    Yên thân mà chẳng ai nào nói chi
    Xảy ra binh lửa biên thùy
    Nào ai giết bọn nữ tỳ quản gia?
    Làm dân cày cấy khổ a
    8470. Dầm sương giang nắng phồng da nhức đầu
    Con làm tỳ tất nữ hầu
    Nhẹ nhàng mát mẻ có đâu nặng nề!
    Hoàng rằng: này Phạm hiền thê
    Coi chừng kẻo chẳng vẹn bề nàng a
    E lầm mưu gái Xiêm La
    Tùy nàng liệu định dùng mà hay không,
    Chúng ta là nghĩa vợ chồng
    Nhưng tình ân ái mặn nồng chẳng chi
    Lòng ta luôn mãi hồ nghi
    8480. Sợ e chết trẻ chẳng thì có con
    Anh ta đã chết đâu còn
    Một ta còn sống thon von giữa dời
    Nếu không có trẻ nối đời
    Hậu lai vắng lặng chẳng thời lửa hương,
    Chúng ta giữa cuộc chiến trường
    Chẳng hay tuổi thọ chẳng tường tử sanh
    Ba năm cưới vợ để dành
    Lòng ta đây luống buồn tanh nàng à!
    Dù ai cá lặn chim sa
    8490. Vợ ta ta mến duyên ta ta gìn.
    Thượng rằng: phu phụ chi tình
    Khuyên chàng nghĩ thiếp tạm đình gió trăng,
    Thăng Long thành lũy đạp bằng
    Trừ xong họ Mạc, diệt căn Trịnh Tùng (4)
    Cho dân ba cõi thung dung
    Chiêm Thành (5) thâu đoạt, hết dùng nước Chiêm,
    Chàng coi từ cổ chí kim
    Phải tri nghĩa lý, phải tìm nguyên nhân
    Mình là cha mẹ muôn dân
    8500. Cần chi mà phải lo phần lửa hương
    Chúng ta bạc mạng sa trường
    Thì dân trong nước dầu hương phụng thờ,
    Chàng nên xét rõ tri cơ
    Cháu con nguồn cội phụng thờ tổ tiên
    Mấy nhà cư sĩ tu hiền
    Thì thờ tam bảo cửu huyền xưa xa
    Sao bằng đình miễu làng nha
    Đền thờ tông miếu gần xa bái sùng.
    Hoàng rằng: hiền phụ suy cùng
    8510. Có con có cháu tôn sùng ngàn năm
    Không con không cháu vắng tăm
    Hồn hoang ngày bạc khóc thầm bơ vơ,
    Chết đi ai có phụng thờ
    Không con nào biết cậy nhờ vào đâu?
    Thượng rằng: chàng chớ lo âu
    Công bình chánh trực dân đâu cũng thờ
    Khuyên chàng đừng có ngẩn ngơ
    Cháu con dù có kính thờ đèn nhang
    Cha ông còn hởi tọa bàn
    8520. Đến tiên cố tổ đèn nhang lu lờ,
    Nhiều nơi cư sĩ phượng thờ
    Ông nội ông cố ông sơ là nhiều
    Cố sơ xem cũng đìu hiu
    Cha cùng ông nội thì nhiều quảy đơm,
    Cố sơ lai vãng đêm hôm
    Cháu chiu cháu chít có dòm đến đâu,
    Những nhà hiếu đạo giữ câu
    Ông cố ông nội chết lâu còn thờ
    Nào ai cung phụng tiên sơ,
    8530. Nguyễn Hoàng nghe nói ngẩn ngơ đáp rằng:
    Hiền thê nào có rõ căn
    Tôi thường vào xóm hương đăng mỗi nhà
    Trông lên giữa chốn cư gia
    Nhà nào cũng có hương hoa nhang đèn
    Lòng dân hiếu thảo đáng khen
    Cửu huyền thất tổ nhang đèn luôn luôn.
    Thượng rằng: phu tướng đừng buồn
    Cửu huyền thất tổ cội nguồn rất hay
    Người thờ từ bấy xưa nay
    8540. Ngỡ thờ tiên giải từ thời xưa xa
    Nhưng không phải thế chàng à
    Ấy là thiên hạ thờ mà quân vương
    Cửu huyền chàng hãy nhìn tường
    Ấy là thờ chín đời vương trị vì.
    Hoàng rằng: Thượng nói thế ni
    Còn ông thất tổ là gì của dân
    Cứ suy trong sách thánh nhân
    Nội ngoại tông tổ nàng mà nhớ chưa,
    Người thờ người phải tính thừa
    8550. Chữ thất là bảy tính vừa bảy ông
    Ấy phần nội tổ ngoại tông
    Nhiều con nhiều cháu xúm đông mà thờ
    Nhang đèn chẳng để lu lờ
    Cửu huyền thất tổ phụng thờ quanh năm,
    Tôi luôn lo nghĩ buồn thầm
    Không con nếu chết bặt tăm nhang đèn.
    Thượng rằng: sách thánh từng quen
    Cửu huyền thất tổ như sen trong hồ
    Chàng nên nghe thiếp bày phô
    8560. Chữ thất là bảy thế mô đúng rồi
    Chữ tổ thầy đấy chàng ơi
    Cửu huyền thất tổ khúc nôi là vầy,
    Thất tổ là bảy ông thầy
    Chàng nên nghe rõ đoạn này tầm ra,
    Chữ cửu là chín thế a
    Chữ huyền là chúa, chúa là vị vua.
    Hoàng rằng: Thượng quá quê mùa
    Tại sao nàng gọi thờ vua thờ thầy?
    Thế Thượng mới nói như vầy:
    8570. Thầy vua đâu phải là thầy của dân
    Quân sư tài trí vẹn phần
    Định dân trị quốc an dân chàng à,
    Chàng coi lịch sử xưa xa
    Những vua khai quốc nước ta nước Tàu
    Vua thì đức cả quyền cao
    Quân sư thì đủ lược thao văn thần
    Định mưu lập quốc an dân
    Quân sư tài trí thêm phần thông minh,
    Biết tri tấn thối cơ binh
    8580. Biết tri đồ trận biết nhìn thiên cơ
    Biết xem mạng tướng hướng cờ
    Thầy vua dân phải tôn thờ chàng a.
    Hoàng rằng: nàng nói trật xa
    Chín vua sao lại bảy mà quân sư?
    Thế Thượng nghe hỏi liền cười:
    Thật chàng xem thiếp là người chẳng thông
    Quan cọp, vua thiệt là rồng
    Suy đi nghĩ lại thì thông lối đường
    Làm vua lên ngự trào cương
    8590. Thường hay mất đức nên thường chết non
    Suy đi nghĩ lại cho tròn
    Quân sư giỏi chước chịu lòn lắm đa
    Cho nên thường chết tuổi già
    Phò vua cha đến phò mà vua con,
    Chàng nên tính rõ cho tròn
    Hai mươi thế kỷ tính còn bao năm,
    Nước Nam hơn đã ngàn năm
    Bảy ông thầy giải cơ thâm nhiệm mầu
    Vua quan tướng sĩ đâu đâu
    8600. Chết rồi hồn xác đất thâu đã rồi,
    Từ năm thứ một định ngôi
    Đến nay sang kỷ rõ rồi nguyên nhân
    Quân sư bảy vị thành thần
    Chín vua hiển thánh ta cần xét tri,
    Thờ là thờ kẻ nhu mì
    Thờ người đại đức thông tri đất trời,
    Chúa vua hằng mấy trăm đời
    Say mê tửu sắc ai thời sùng tu
    Tính ra hơn cả nghìn thu
    8610. Vua quan trăm kiếp danh nhu cũng nhiều
    Lòng dân nào có mến yêu
    Cần suy cho kỹ, rõ điều thiên cơ
    Nên tôi từ bấy đến giờ
    Vẫn lo chém tướng đoạt cờ mà thôi
    Chừng nào non nước quy khôi
    Dân đen tông miếu thờ tôi muôn đời,
    Con nhiều e lắm mệt hơi
    Sẽ gây phiền não cho đời mỉa mai
    Những con quan tướng xưa nay
    8620. Cha hiền mẹ hạnh con nay ngang tàng
    Suy cùng nghĩ tận luận bàn
    Sợ e sanh thứ vô gian hổ lòng,
    Vì ta việc nước gánh gồng
    Xua quân chém tướng máu hồng tuôn sa
    Sợ sanh phải thứ oan gia
    Theo đòi nợ máu khiến ta ưu phiền,
    Phải sanh con thảo con hiền
    Dù bao nhiêu đứa cũng yên được lòng
    Cha thông sanh thứ cuồng ngông
    8630. Thiếp e thiếp sợ uổng công sanh thành.
    Hoàng rằng: ngại chuyện bất lành
    Thì duyên hiền phụ để dành chung thân
    Không cho tôi được ái ân
    Thì tôi ắt phải chẳng phần nào xong.
    Hai người to nhỏ trong phòng
    Quân đâu vào bảo: thưa ông việc này
    Bảo Châu (6) bà đã đến đây
    Xin vào yết kiến năm chày quá xa!
    Thượng mừng liền mới nói ra:
    8640. Gọi Châu vào gấp đặng ta mừng nàng.
    Thế Thượng lại với Nguyễn Hoàng
    Tiền dinh bước đến mừng nàng Bảo Châu
    Châu rằng: đã tự bấy lâu
    Em xa anh chị lòng rầu nhớ thương,
    Lão gia Trịnh Kiểm oai cường
    Người đà ngọa bịnh tầm đường quy tiên,
    Em xem nhà Trịnh chẳng hiền
    Kiểm chém Trang Tông (7) binh quyền tóm thâu
    Tùng càng ngang dọc thấy rầu
    8650. Mới đây nó đã chém đầu hai vua,
    Định đem binh mã động khua
    Ngại anh với chị chát chua trong lòng
    Sai em mau khá thẳng xông
    Đến thâu lương phạn góp công nước nhà,
    Nạp lương thì nó rằng hòa
    Anh chị không nạp nó mà đánh ngay!
    Nguyễn Hoàng rằng thật khổ thay
    Nghệ An dân chúng cuốc cày ruộng nương
    Anh còn thiếu kém quân lương
    8660. Dù sao cũng phải nhịn nhường mà thôi,
    Tính điều vở trách vở nồi
    Thì anh với chị xin ngồi bó tay.
    Thế Thượng nghe nói châu mày:
    Thứ đồ loạn nghịch nào ai sợ gì
    Tùng sai Châu kéo binh đi
    Được bao nhiêu đứa kể thì ta nghe!
    Châu rằng: chẳng có mấy ngoe
    Có ba ngàn đứa nửa què nửa câm.
    Thượng rằng: em hãy an tâm
    8670. Hiệp binh cùng chị an nằm nơi đây
    Tùng đem binh mã phủ vây
    Chị ra oai chị giặc này trừ xong
    Chị em ta hãy hiệp công
    Đứng lên gầy dựng non sông mới là,
    Trịnh yên ta chẳng đánh mà
    Nếu Trịnh gây loạn thì ta tảo trừ,
    Lòng ta từ bấy đến chừ
    Ý ta muốn đoạt nước người làm vua
    Nước ta ta chẳng chạm khua
    8680. Đánh vua Chân Lạp với vua Chiêm Thành
    Mới là phải chí hùng anh
    Bờ cõi Chiêm Thành ta muốn tóm thâu
    Trịnh Tùng theo cứ câu mâu
    Thì ta đánh lại đáp câu oán hờn
    Ta đà yên cõi giang sơn
    Động mồ chi nó nó hờn đến ta!
    Lương hai ngàn hộc thế a
    Ta thừa dâng nạp nhưng ta chẳng cần
    Họ Trịnh là đứa bất nhân
    8690. Giết vua chém tướng xa gần đều kinh!
    Châu rằng: em cũng bực mình
    Lời em dịu ngọt phân minh ngày ngày
    Trịnh Tùng nào có nghe rày
    Hung hăng chém giết những ai trái lòng,
    Em đây hết kế vô song
    Ngày đên hai giọt mặt hồng rớt rơi.
    Thượng rằng: Châu tệ Châu ơi!
    Võ văn em cũng tuyệt vời lâu nay
    Tại sao em chẳng ra tay
    8700. Giết Tùng báo oán cho mà vua Lê
    Tại sao em quá vụng về
    Lại cam bụng chịu một bề tùng phu
    Nào hay em quá dại ngu
    Đủ văn đủ võ, mờ lu tâm tình
    Nó đà giết hại vua mình
    Thì em giết nó tỏ lòng hiếu trung,
    Võ em hơn hẳn Trịnh Tùng
    Đành lòng ngơ ngáo chữ trung Lê hoàng
    Nay còn bụng chửa dạ mang
    8710. Tội này đáng xuống suối vàng hay chưa?
    Trịnh đà độc ác quá thừa
    Mà sao em nỡ mến ưa Trịnh Tùng?
    Phải chi Tùng có chí trung
    Thì em với nó hiệp cùng tính toan
    Đàng này Tùng quá dọc ngang
    Mà em với nó vào tràng mộng xuân!
    Bảo Châu nước mắt rưng rưng:
    Em nào biết được dửng dưng sau này
    Thấy Trịnh trung hiếu đủ đầy
    8720. Phò vua Trang Tông hiệp vầy với ta,
    Bại binh chết Nguyễn gia gia (9)
    Kể từ ngày đó Trịnh gia lẫy lừng
    Thất thân trước đã mấy tuần
    Dù nhiều mưu chước bảo đừng được đâu,
    Hiếu trung muốn giữ vẹn câu
    Nhưng lo nhưng sợ lòng đâu yên lòng,
    Vì vua Trang Tông Lạc Hồng
    Giết Tùng thì được mà lòng sao yên
    Em đà thai dựng hai niên
    8730. Vẫn chưa nở nhị còn phiền trong tâm
    Đêm đêm lo nghĩ khóc thầm
    Bầu thai oan nghiệt hai năm bên mình.
    Nguyễn Hoàng nghe nói giật mình
    Hoài thai thập ngoại thì sinh đã rồi
    Hai năm mệt nhọc hỡi ôi
    Tùng còn sai khiến bắt hồi Nghệ An
    Đường đi viễn vọng quan san
    Sầm Nghi (10) cho đến Nghệ An tít vời
    Thật là độc ác trong đời
    8740. Vợ mang bụng chửa nó thời chẳng thương
    Sai đi viễn vọng xa đường
    Thật là Tùng ác hơn phường sói lang
    Vợ nhà bụng chửa dạ mang
    Hung hăng sai khiến gian nan dãi dầu.
    Châu rằng: anh chị biết đâu
    Ngang nhiên Tùng ác thật âu quá nhiều
    Duy Bình là kẻ đáng yêu
    Mới nên mười tuổi mà nhiều thiện lương
    Thông minh hiền hậu đáng thương
    8750. Vua mà nhơn đức bốn phương hài lòng,
    Trịnh Tùng độc ác vô song
    Ghét người lương thiện ghét lòng từ bi
    Trong lòng tướng sĩ binh quy
    Người nào ác nhất Trịnh thì mến ưa
    Ai hiền thì Trịnh thảy thừa
    Em đây nước mắt như mưa dầm dề
    Pháp trường luận biện đủ bề
    Thường binh tướng sĩ vổ về Trịnh gia.
    Thế Thượng liền mới nói ra:
    8760. Binh em hiệp với binh ta nội ngày!
    Còn điều oan nghiệt bào thai
    Để bà quyết định nội ngày này sanh!
    Con em là giống bất lành
    Mang chi trong dạ nhọc nhằn vậy đa
    Em nên nghe lịnh của ta
    Bắt thai trả lại Trịnh gia tức thì!
    Họ ta là họ nhu mì
    Thứ đồ hung ác mang chi trong lòng
    Em nên sanh phức cho xong
    8770. Trả con cho Trịnh khỏi lòng cưu mang,
    Chị không muốn chuyện phàn nàn
    Sai quân trả lại cho chàng Trịnh gia,
    Lẽ thì vứt bỏ em à
    Sanh xong luyện xuống dòng hà cá ăn,
    Chỉ e miệng thế chê rằng
    Chị là một kẻ vô năng bất tài
    Nên đành giết một bào thai,
    Sai người trả lại vẹn hai ba đường.
    Hoàng rằng: hiền phụ thiếu lường
    8780. Làm sao sanh được toan đường sanh thai?
    Có mang phải đúng tháng ngày
    Dạ đau quằn quại bào thai chào đời,
    Châu nương còn quá thảnh thơi
    Mà nàng rằng phải sanh thời ngày nay?
    Thượng nghe chúm chím cười dài:
    Lấy gươm khui bụng bắt thai tức thời
    Giống hiền thì để chào đời
    Giống ác vứt bỏ tức thời mới xong,
    Trịnh cha cho đến Trịnh ông
    8790. Là quân ác độc vốn lòng hổ lang
    Trịnh con Trịnh cháu một đàng
    Vốn quân độc ác ngang tàng luôn vây,
    Bảo Châu em xích lại đây!
    Châu rằng: em sợ bỏ thây lâm bồn!
    Nguyễn Hoàng nghe nói hết hồn:
    Hiền thê chắc hết trí khôn đây rồi
    Tính nhàm xin Thượng nên thôi
    Bụng Châu mà mổ Châu hồi diêm la.
    Thượng rằng: có thuốc ngoại khoa
    8800. Châu làm nữ tướng chớ mà nhát gan
    Mỗi khi ra chốn chiến tràng
    Bị thương mạng tướng máu loang cả mình
    Thuốc hàn rịt bó thật linh
    Trong hai ba phút nhẹ mình liền thương
    Dù cho trật cổ gãy xương
    Thuốc nhà tự chữa vết thương kia là,
    Sau khi Châu bắt thai ra
    Thì cần dùng thuốc ngoại khoa rịt vào.
    Hoàng rằng: Thượng tính hay sao!
    8810. Nếu Châu mà chết thì đau nỗi niềm
    Chị em thủ túc khó tìm
    Tôi e Châu chết Trịnh hiềm nhà ta
    Còn thêm lỗi với ông bà
    Khác nào ta giết em ta nghe nàng!
    Châu rằng: tôi cũng có gan
    Tính sao chị tính đôi đàng vẹn xong,
    Trịnh Tùng gian ác đầy lòng
    Tôi cùng với nó chung đồng một nơi
    Sẽ lây tánh ác chị ơi
    8820. Hôm nay không nhiễm mốt mai quen dần
    Còn thêm khóc khổ muôn dân,
    Nói rồi vén áo đưa thân bụng bày.
    Cầm gươm Thượng mổ liền tay
    Máu ra lênh láng bắt thai ra liền
    Nguyễn Hoàng xem thấy ngã nghiêng
    Hôn mê bất tỉnh quân khiêng về phòng.
    Thai nhi Thuợng bắt vừa xong
    Mới đem thuốc rịt cho hồng Bảo Châu
    Châu đà thiêm thiếp quá lâu
    8830. Thượng lo săn sóc Bảo Châu ân cần,
    Bảo Châu tỉnh lại lần lần
    Thượng cười chúm chím mười phần đã an,
    Nhìn quanh không thấy Nguyễn Hoàng
    Hỏi quân rằng: Nguyễn phu lang đâu rồi?
    Quân liền bẩm rõ khúc nôi
    Nguyễn quân chết xỉu chúng tôi khiêng vào
    Hiện còn nằm nghỉ phòng đào,
    Thế Thượng nghe nói liền vào xem qua
    Nguyễn Hoàng le lưỡi thở ra
    8840. Nếu Châu mà chết thì ta giết nàng
    Đành tay mổ bụng đoạn tràng
    Thai nhi khó nổi bảo toàn sống sanh!
    Thượng rằng: chàng quá hiền lành
    Họ Trịnh ác quá sống sanh chi nhiều
    Lòng tôi luôn mãi buồn hiu
    Nhưng còn hỉ xả những điều trẻ con
    Nguyễn Uông, Trang Tông không còn
    Đều do họ Trịnh thon don linh hồn,
    Chàng cần thâu lại trí khôn
    8850. Dưỡng nuôi chi đấy cái phồn ác gian!
    Nói rồi liền dắt Nguyễn Hoàng
    Ra coi Châu muội ngọa sàn như nhiên,
    Chàng trai ngã ngửa ngã nghiêng
    Còn Châu hiền muội tự nhiên kia cà.
    Nguyễn Hoàng theo Thượng bước ra
    Vẳng nghe tiếng khóc khổ a vang vầy
    Thai nhi sáng rực mặt mày
    Khôi ngô tuấn tú đáng trai anh hùng,
    Hoàng rằng con của Trịnh Tùng
    8860. Ta nên nuôi lấy mà dùng hậu lai.
    Thượng rằng: thánh dạy xưa nay
    Dưỡng hổ di họa chẳng hay đâu là
    Khéo nuôi chi thứ oan gia
    Gọi Thạch mỹ nữ phải ra tiền đường:
    Mỹ nhân Xiêm quốc văn chương
    Vẽ dùm hàng chiến tỏ tường cho ta!
    Đầu đuôi tự sự thuật qua
    Mỹ nhân nghe hết do hà căn nguyên,
    Tiếng oanh thỏ thẻ hỏi liền:
    8870. Lời trong hàng chiến cần biên chữ nào
    Chữ Âu chữ Á thể nao?
    Thượng rằng: biên thứ chữ Tàu ta xem!
    Văn phòng tứ bửu (11) liền đem
    Gượng ngồi Châu cũng nhìn xem thể nào
    Mỹ nhân đặt viết biên vào
    Vừa hay vừa lẹ thua nào Thượng đâu,
    Văn hay hơn Thượng với Châu
    Tài này làm phận nữ hầu đáng thương.
    Thượng rằng: tôi đã nhìn tường
    8880. Sau này thâu hết biên cương Chiêm Thành
    Chàng lên làm chúa hiền lành
    Chiêu vương hoàng hậu chức dành mỹ nhân!
    Nói rồi truyền gọi gia nhân
    Phải đem hàng chiến mà dâng Trịnh Tùng,
    Lương không có đủ nghìn chung
    Muốn hòa hay chiến tùy Tùng hôm nay,
    Còn đây một đứa nhi hài
    Con Tùng ta phải trả ngay cho Tùng!
    Quân nhân vâng lịnh rỗi dung
    8890. Sầm Nghi đến đó Trịnh Tùng hỏi qua,
    Quân rằng: bẩm Trịnh gia gia
    Bà Châu vừa đến thành mà Nghệ An
    Vợ chồng chủ tướng Nguyễn Hoàng
    Thấy bà Châu có thai mang bên mình
    Bảo rằng ông chẳng niệm tình
    Vợ mang thai nghén lộ trình đàng xa,
    Ác tâm cho Trịnh gia gia
    Nỡ sai dựng phụ (12) xông pha biên thùy
    Bắt Châu mổ bụng tức thì
    8900. Bảo rằng thai dựng nghịch nhi Trịnh Tùng!
    Tùng xem hàng chiến thủy chung
    Mắt nhìn đứa bé ngại ngùng thở ra:
    Con còn bụng mẹ thế a
    Đoạn đành bắt trả cho ta làm gì?
    Vội vàng rờ rẫm thai nhi
    Rõ ràng đứa bé đã thì chết khô.
    Tùng xem liền phát khóc ồ
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng rõ đồ hung hăng!
    Con ta còn hỡi thai măng
    8910. Bắt ra thì chết có hằng sống đâu?
    Chắc là hiền phụ Bảo Châu
    Mạng người cũng chết khó âu sống còn!
    Tùng ngồi ấm ức khóc ngon
    Ngẫm ta hữu dõng vốn còn vô mưu
    Ta - Hoàng chẳng phải phụ cừu
    Sao Hoàng - Thế Thượng lập mưu thế này!
    Truyền quân lương phạn đủ đầy
    Ta cùng với Thượng phen này giao chinh.
    Hung hăng Tùng kéo bộ binh
    8920. Thám quân về thuật sự tình Thượng hay
    Thượng liền treo miễn chiến bài
    Nguyễn Hoàng xem thấy hỏi ngay lời này:
    Trịnh Tùng quân kéo đến đây
    Chuyện này cũng tại nàng gây trận đồ
    Sao không đối địch thế mô
    Lại treo miễn chiến quả đồ nhát gan!
    Thượng rằng tôi sắp mưu ngoan
    Đặng cho binh Trịnh vỡ tan lần mòn,
    Phần nhiều có vợ có con
    8930. Tại nơi Thuận Hoá vẫn còn thiếu chi
    Vì là binh Trịnh trước khi
    Tuổi tên Thuận Hóa với thì Nghệ An
    Nay về quê quán gia đàng
    Dại gì lính chẳng tầm sang về nhà,
    Khi về con vợ mẹ cha
    Tình thương đã mấy năm qua khuất tình
    Lắm nơi tha thiết tâm tình
    Phần nhiều trở lại gia đình vợ con
    Thì là binh Trịnh hao mòn
    8940. Khỏi cần ra đánh Trịnh đành phải thua,
    Thiếp nào phải gái quê mùa
    Dại gì mà thiếp để thua Trịnh Tùng
    Cứ theo binh pháp mà dùng!
    Nguyễn Hoàng nghe kể thủy chung cả cười:
    Hiền thê tài trí vẹn mười
    Giúp tôi ắt được nên người tương lai.
    Thượng rằng: tôi nguyện ngày ngày
    Chồng tôi chắc chắn sau này làm vua
    Tôi không phải gái quê mùa
    8950. Ngai vàng chàng sẽ làm vua sau này.
    Nguyễn Hoàng mới nói như vầy:
    Binh Trịnh đã kéo tới đây lâu ngày
    Dân ta bỏ ruộng không cày
    Luôn luôn kinh sợ lo ngày chiến tranh
    Nàng nên ra trận thối binh
    Không nên chém giết quân tình nước ta,
    Đánh riêng mình Trịnh thôi a
    Còn quân còn tướng vị tha nghe nàng,
    Chiến bài dẹp cất đã an
    8960. Điểm binh Thượng kéo ra đàng ngã ba.
    Tùng xem cờ xí sáng lòa
    Lên yên giục ngựa xông ra hỏi rằng:
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng làm nhăng
    Bắt Châu mổ bụng mà ăn thịt người
    Phen này ta sẽ bắt ngươi
    Đem về tế mộ cho thời con ta!
    Thượng rằng: dượng nó hải hà
    Tại vì cháu bé đi xa bỏ mình
    Quý chi một đứa sơ sinh
    8970. Nỡ lòng dượng nó dứt tình tỷ nương,
    Chị anh là kẻ hiền lương
    Muốn em trở lại con đường hiếu trung
    Chị xin em chớ hành hung
    Chị anh rày đã ra vùng Nghệ An
    Khuyên em đừng có phàn nàn
    Dân cùng một nước chiến tràng làm chi,
    Chị anh thường bữa nghĩ suy
    Khuyên em nhân đức nhu mì hiền lương
    Chị lo những cuộc chiến trường
    8980. Đánh cùng Chiêm quốc lo đường tương lai,
    Với em chị chẳng đánh rày
    Còn điều mổ bụng bắt thai là vầy
    Châu mang thai dựng quá chày
    Hai năm không sản thai này nghịch nhi,
    Con em như thế để chi
    Để chi cái thứ nghịch nhi trên đời!
    Trịnh Tùng nghe nói rụng rời
    Dậm chân xuống đất la trời liên thinh
    Tùng liền lướt tới tiến binh
    8990. Quơ đao chém Thượng, Thượng liền né ngang
    Xua quân Thượng cứ thẳng đàng
    Đẩy xô quân Trịnh bò càn lết la
    Phần nhiều lính trốn về nhà
    Ba phần còn một Trịnh mà thua ngay
    Rút quân lên ngựa chạy dài
    Sầm Châu về đến khoanh tay ngắm nhìn.
    Trận này mới thật bại binh
    Quân không thấy chết lính mình đi đâu?
    Thêm phần nhớ Phạm Bảo Châu
    9000. Tùng ngồi chắc lưỡi lắc đầu thở ra.

    Đoạn này nhắc chuyện Mạc gia
    Đăng Dung (13) nay tuổi quá già chí chung (14)
    Chúa Mạc (15) phán giữa triều trung:
    Thượng hoàng án giá vô cùng thương bi
    Hoàng lăng mai táng tức thì
    Võ văn lớn nhỏ đồng quỳ đưa linh,
    Hai hàng văn võ trào đình
    Ba năm đại chế giữ gìn lễ nghi
    Bảy điều binh bị phòng nghi
    9010. Đại tang hoàng thượng dẹp thì binh đao,
    Võ văn lớn nhỏ cùng nhau
    Vẫn lo tang chế Mạc trào ba năm.
    Chúa Mạc lo nghĩ buồn thầm
    Lương am tang chế ba năm giữ mồ
    Mặc thì đạm bạc vải bô
    Ăn thì dưa muối giữ mồ mả cha,
    Phúc Hải (16) cai trị triều ca
    Đăng Doanh thoái vị tuổi già nghỉ ngơi
    Cho nên nhường lại ngôi trời
    9020. Đông cung Phúc Hải trị nơi Long Thành
    Âu là số hệ trời dành
    Băng hà án giá Đăng Doanh qua đời
    Mạc trào cũng được thảnh thơi
    Phúc Hải gìn giữ ngôi trời an bang.
    Trịnh Tùng là kẻ ác gian
    Có tên dưới trướng lại càng hung hăng,
    Trịnh Tùng liền mới nói rằng:
    Ý ta đây muốn đạp bằng Nghệ An
    Quyết trừ cho được Nguyễn Hoàng
    9030. Nếu không trừ nó lòng càng lo riêng.
    Có tên dưới trướng thưa liền:
    Tên tôi là Nguyễn Hữu Liên thưa ngài
    Từ làm phó tướng đến nay
    Lòng tôi chí muốn đưa ngài làm vua
    Luận điều trái phải hơn thua
    Một nhà ruột thịt đừng mua lấy hờn.
    Kế mẫu Ngọc Bảo (18) phu nhơn
    Hậu dinh người có tước quyền lâu nay,
    Dù không sanh dưỡng chi ngài
    9040. Cũng quyền bà mẹ trong ngoài thông qua,
    Nguyễn Hoàng em vợ lão gia
    Ngài kêu bằng cậu tình nhà phải chăng!
    Luận điều trái phải nói năng
    Bảo Châu thai dựng khó khăn lâu ngày
    Vua quan kỵ nhứt quái thai
    Ông Hoàng bà Thượng giúp ngài thế a,
    Quái thai giết sớm ấy là
    Phòng sau vững đặt quốc gia chủ quyền,
    Nếu sanh con Phật con tiên
    9050. Thì là trong nước mối giềng bằng an,
    Bằng sanh con giặc tôi loàn
    Trung thần ngài phải máng mang lo rầu,
    Thương là thương Phạm Bảo Châu
    Dữ lành tánh mạng biết đâu mà bàn,
    Bỏ qua mối giặc Nguyễn Hoàng
    Vì người ở tỉnh Nghệ An xa vời,
    Lo cho giặc Mạc ngài ơi
    Họ Mạc chiếm cứ tại nơi Long Thành,
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng nhiễu đoanh
    9060. Đánh phá Chiêm Thành chớ chẳng đánh ta
    Mở thêm giềng mối quốc gia
    Ngài nên suy nghĩ đáng ra giúp vào,
    Đăng Dung là gốc người Tàu
    Mà Lê Uy Mục (19) thâu vào đấy thôi
    Nó đà nảy lộc đâm chồi
    Nắm thâu mối nước mà ngồi trị dân
    Nếu ngài là kẻ trí nhân
    Ngài cùng họ Mạc tranh phân sơn hà,
    Ta cùng Thế Thượng một nhà
    9070. Đánh sao cho khỏi nước xa cười mình!
    Ngài nên phòng thủ cơ binh
    Thăng Long đến đó chống kình Mạc gia,
    Vẫn nghe thiên hạ phui pha
    Đăng Dung cũng chết, Doanh mà cũng tiêu (20)
    Đông cung lên thế việc triều
    Tên Mạc Phúc Hải rất nhiều võ văn
    Lê dân nói nói rằng rằng
    Đăng Doanh mực thước công bằng hiền lương
    Còn ông vua mới tân vương
    9080. Mới lên kế vị chưa tường thể nao
    Cho nên lê thứ đồng bào
    Còn trông còn đợi đón chào vua Lê,
    Muốn cho tất cả vẹn bề
    Nên tầm con cháu của Lê mới là
    Rước Lê về để môn nha
    Tôn vua để đó phần ta quyền hành.
    Trịnh Tùng nghe nói chẳng đành
    Họ Lê sao quá hiền lành tông chi,
    Ta đây muốn nắm quyền uy
    9090. Muốn làm vua gấp chẳng thì được sau!
    Hữu Liên ông mới nói mau:
    Làm vua rất khó dễ nào mà ham
    Xin ngài nghe kế luận đàm
    Tìm Lê cho được mà đem về nhà,
    Bốn phương dân trọng họ Lê
    Rước Lê lấy nể bốn bề an khương,
    Ngài xưng Thượng Phụ An Vương
    Ấy là có phải đôi đường vẹn hai,
    Lòng dân chẳng có phục ngài
    9100. Làm vua ngài có trị ai được nào?
    Hơn là lấy nể Lê trào
    Thâu quân bắt lính việc nào cũng ta.
    Trịnh Tùng nghe rõ cười xòa
    Bảo rằng kế đó hay đà quá hay!
    Nên treo yết thị ra ngoài
    Cho dân khắp chốn biết hay sự tình,
    Giống nòi Lê chúa muốn nhìn
    Tìm về để có điều đình nước non.

    Nhắc qua Thế Thượng héo don
    9110. Thâu quân về trại lòng còn ngẩn ngơ
    Bỗng liền bắt được chiến thơ
    Giặc Chiêm là Chế Băng Cơ người này.
    Thượng rằng: Thạch nữ ra đây
    Nàng thì chữ giỏi văn hay đó là
    Nên cần theo sát bên ta
    Phòng khi sai khiến lúc ra trận tiền.
    Mỹ nhân quỳ xuống thưa liền:
    Khi quân giáp trận trống chiêng dậy rền
    Ngựa voi gươm giáo cung tên
    9120. Nữ hầu tôi đứng một bên làm gì?
    Thượng rằng: là phận nữ tỳ
    Thì lời chủ bảo bảo gì cũng vâng,
    Chủ ra giáp trận cầm quân
    Thuốc hàn phận tớ phải bưng theo hoài,
    Phòng khi đứt cổ gãy tay
    Thuốc hàn sẵn có chước hay như thần!
    Mỹ nhân nghe dạy liền vâng
    Về lo thuốc bó với phần vải băng.
    Chiêm Thành giặc quá hung hăng
    9130. Bảo Châu thật mạnh nói rằng: chị a
    Tôi quen trận địa xông pha
    Xin theo cùng chị mà ra trận này
    Thủ dinh anh Nguyễn ở đây
    Hai nàng thong thả hiệp vầy ra binh.
    Mỹ nhân họ Thạch tài tình
    Thuốc hàn đem sẵn hậu binh phòng hờ,
    Hăng say chém tướng đoạt cờ
    Giặc Chiêm như nước vỡ bờ quá hăng,
    Thượng - Châu ra hết tài năng
    9140. Châu đà tử trận đầu văng khỏi mình
    Thế Thượng xem thấy hãi kinh
    Giặc Chiêm vây phủ quanh mình quá đông,
    Mỹ nhân tả đột hữu xông
    Mượn gươm mượn ngựa của hồng Bảo Châu
    Đánh quân Chiêm thật quá lâu
    Tướng Chiêm bại trận mới thâu binh về.
    Thế Thượng thôi quá mải mê
    Nhìn xem tỷ tất thiệt nghề quá cao.
    Châu còn bị một đường đao
    9150. Thân ta cũng bị giặc bao giáp vòng
    Đang còn ngơ ngẩn trong lòng
    Mỹ nhân vội vã lại bồng xác Châu,
    Tướng Chiêm đã cắt lấy đầu
    Cho nên Châu chết cứu đâu được nào.
    Thâu quân về trại giải lao
    Thế Thượng kể lại trước sau Hoàng tường:
    Trận này không có nữ nương
    Đầu tôi rớt trước mũi thương Chiêm Thành
    Xiêm La gái quá hùng anh
    9160. Lại không ham tiếng ham danh để đời!
    Nguyễn Hoàng ông mới nói thời:
    Mỹ nhân hãy khá nghe lời ta đây
    Ta xin nhượng bộ binh này
    Cho nàng làm chủ đủ đầy quyền oai
    Đứng lên thâu đoạt cõi ngoài
    Chiêm Thành, Chân Lạp mở khai ruộng vườn,
    Lòng ta muốn rộng biên cương
    Di dân lập nghiệp ruộng vườn bò trâu
    Chiêm Thành nếu đuợc tóm thâu
    9170. Ta xin dưới trướng đứng hầu mỹ nhân,
    Vợ ta võ dõng mưu thần
    Mà còn thua gái nữ nhân Xiêm trào
    Bất kỳ chủng tộc nước nào
    Hễ lòng yêu nước thâu vào mến thương,
    Vợ chồng ta quý Thạch nương
    Đem Châu về đặng có phương an toàn
    Mộ phần tống táng đã an
    Cũng nhờ Thạch nữ bảo toàn vợ ta.
    Mỹ nhân liền mới thưa qua
    9180. Nay tôi nói thiệt ông bà nới tay:
    Tiếng bà là gái có tài
    Bay ra khắp cả nước ngoài đều thông,
    Xiêm vương lo sợ phập phồng
    Tôi người Xiêm quốc gánh gồng giang san
    Thương cho lòng chúa bất an
    Mới đi thám thính tha bang lạ miền,
    Băng rừng vượt khỏi tam biên
    Gái thường sao dám xa miền viễn du!
    Tôi đi đường bộ chí thu
    9190. Đến đây xem rõ tài bù ra sao?
    Cũng là mặt phấn má đào
    Cũng là võ nghệ anh hào kiêng oai,
    Chiêm Thành đất rộng lắm thay
    Ông bà dù có giỏi tài lấn xâm
    Thoáng qua đã mấy mươi năm
    Kiếp người thấm thoát rồi nằm mồ hoang,
    Nam thành thâu đoạt chưa an
    Tài đâu thừa nữa mà sang Xiêm, Lào,
    Chúa Xiêm lo nghĩ núng nao
    9200. Sợ bà đoạt hết nước Lào, nước Xiêm
    Đường xa viễn vọng tôi tìm
    Chức tôi võ hiển bên Xiêm đó bà
    Vào xem trận thế đấy a
    Định giết ông bà bảo thủ biên cương,
    Thiên văn địa lý tôi tường
    Biết bà tiến bước đoạn đường chẳng xa
    Nửa đêm giờ tý hôm qua
    Vào phòng tôi định giết bà hồi bang,
    Đầu bà có một nhoáng quang (21)
    9210. Vốn người đại đức còn đang đọa đày,
    Tôi liền nằm xuống ngủ ngay
    Biết bà là kẻ bị đày thế gian
    Tôi xem chân mạng Nguyễn Hoàng
    Cũng vua một cõi còn đang thất thời,
    Giặc Chiêm vây đánh tơi bời
    Nên tôi làm nghĩa vào nơi trận tiền
    Giúp bà đắc thắng đã yên
    Từ đây Chiêm Quốc nó kiêng oai rồi,
    Bà nên đao pháp trau dồi
    9220. Ra sân tôi dạy võ tôi cho bà.
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng đồng ra
    Học thêm võ nghệ Xiêm La giữ mình
    Mỹ nhân nàng dạy thật tình
    Dạy Hoàng với Thượng xảo tinh vừa rồi
    Sau này non nước quy khôi
    Cũng nên nhớ chúa, nghĩa tôi nghe bà,
    Đây là toa thuốc ngoại khoa
    Truyền lại cho bà cứu chữa tướng binh.
    Nói rồi lên ngựa lộ trình
    9230. Nguyễn Hoàng, Thế Thượng mắt nhìn ngẩn ngơ
    Thượng rằng: tôi có nào ngờ
    Chức làm võ hiển, lòng hờ thiện tâm
    Vợ chồng ta thiệt đã lầm
    Nay người về nước xa xăm đã rồi!
    Hoàng rằng: tôi nghĩ thế thôi
    Tôi nghi thám thính mà tôi không phòng,
    Cũng nhờ đức cả trời ông
    Chở che phù hộ vợ chồng của ta
    Nếu không thì đã ra ma,
    9240. Người còn dạy võ cho ta ít nhiều
    Cũng nên thờ phụng kính yêu
    Sổ công đứng trước ghi nhiều công to
    Từ nay lịch sử hẹn hò
    Tam biên giáp giới chẳng cho phiền hờn.

  11. #51

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Nguyễn Hoàng (1525–1613): con trai thứ của Nguyễn Kim. Về sau trở thành người đầu tiên của chín dòng Chúa Nguyễn.

    2. Thế Thượng: cháu gái quan Bộ Lễ Phạm Bảo Ngọc, vợ của Nguyễn Hoàng.

    3. Xiêm: Xiêm La, tên gọi chính thức của nước Thái Lan trước năm 1949.

    4. Trịnh Tùng (1550-1623): con trai thứ của Trịnh Kiểm.

    5. Chiêm Thành: tên gọi của vương quốc Chăm Pa (tiếng Phạn: Campanagara), hình thành từ cuối thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 17.
    Chiêm Thành bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế), Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Quảng Ngãi, Bình Định), Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa) và Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận).

    6. Bảo Châu: tiểu thơ Phạm Bảo Châu, cháu quan bộ Lễ Phạm Bảo Ngọc, vợ của Trịnh Tùng.

    7. Trang Tông: vua Lê Trang Tông, con vua Lê Chiêu Tông. Năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), chuẩn bị chiêu quân mãi mã đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    8. Chân Lạp: một vương quốc ở bán đảo Đông Dương, thành lập khoảng từ thế kỉ thứ 6 cho đến thế kỷ 17.

    9. Nguyễn gia gia: Nguyễn Kim.

    10. Sầm Nghi: vùng núi non hiểm trở nước Lào, căn cứ địa của nghĩa quân kháng chiến của Nguyễn Kim, phò vua Lê Trang Tông đang ẩn náu nơi đây.

    11. Văn phòng tứ bửu: bộ dụng cụ viết chữ Hán ngày xưa.

    12. Dựng phụ: phụ nữ mang thai.

    13. Đăng Dung: Mạc Đăng Dung (1483 - 1541) lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530 để lui về làm Thái Thượng hoàng.

    14. Chí chung: qua đời.

    15. Chúa Mạc: vua Mạc, lúc bấy giờ là Mạc Đăng Doanh.

    16. Phúc Hải: Mạc Phúc Hải (? – 1546), con trưởng của Mạc Đăng Doanh, nới ngôi từ 1540 – 1546.

    17. Nguyễn Hữu Liên: võ tướng phò nhà Lê, dưới quyền nhà Trịnh.

    18. Ngọc Bảo: con gái Nguyễn Kim, vợ kế của Trịnh Kiểm.

    19. Lê Uy Mục: vua Lê Uy Mục (1488–1509).

    20. Mạc Đăng Doanh mất năm 1540, Mạc Đăng Dung mất năm 1541.

    21. Nhoáng quang: vầng sáng như hào quang, thường chỉ có ở những người có mệnh lớn, và chỉ có nhà ngoại cảm nhhìn thấy đuợc ánh sáng này. Màu sắc của ánh sáng từ trắng tới vàng biểu thị cấp cao của mệnh số.

  12. #52

    Mặc định

    THÁI TỬ DUY BANG LÊN NGÔI VUA LÊ ANH TÔNG

    Đoạn này nhắc chuyện tu nhân
    Bỉnh Khiêm (1), Đình Ái (2) thiệt hơn luận bàn
    Ái rằng: Thái Tử (3) khôn ngoan
    Chắc là đi Hội Tam Quan (4) được rồi!
    Khiêm rằng: theo ý của tôi
    9250. Thì lo kinh kệ trau dồi tu tâm,
    Ngày thì cứ mãi lo thầm
    Nước non vua chúa nên tâm rối bù
    Tu sao cho được mà tu
    Tôi xem họ Trịnh hiềm thù giống Lê
    Nếu đưa hoàng tử trở về
    Ấn An Nam quốc (5) chớ hề đưa ra,
    Ngài nên đến Trịnh coi là
    Ý người xét thử nghiệm ra thể nào
    Đình Ái vội vã mau mau
    9260. Đi xem tánh Trịnh ra sao cho tường!
    Bỉnh Khiêm ở lại Hải Dương
    Nhang đèn cung thỉnh Kỳ Hương (6) trở về
    Bửu Sơn bước đến cười hề:
    Con đà hết nợ trần mê đã rồi,
    Lang Thiên (7) cảnh cũ quy hồi
    Vợ con năm ả về ngôi trước ngày,
    Riêng con đọa đến ngày nay
    Nên thầy đi tới hôm nay rước về,
    Con nên sắm sửa hương huê
    9270. Nhang đèn cung thỉnh Phật về rước con!
    Bỉnh Khiêm nghe lệnh làm tròn
    Ngọc Hoan nghe nói khóc ngon ròng ròng.
    Khiêm rằng: con chớ mủi lòng
    Khi thầu bỏ xác con không than phiền
    Phải nên vui vẻ tự nhiên
    Xác thầy tống táng để yên sau chùa
    Sau này con có làm vua
    Giữ lòng lương thiện bốn mùa nghe con!
    Muốn cho bình trị nước non
    9280. Lánh xa tửu sắc mới còn giang biên,
    Hậu phi chọn kẻ lương hiền
    Chớ đừng chọn sắc ngửa nghiêng đài thành,
    Thầy truyền trăm sách để dành
    Con đừng cho Trịnh tung hoành chi tiêu,
    Thầy cùng Bảo Ngọc (8) công nhiều
    Mười năm biên dịch bao nhiêu sách này
    Khi thầy nhẹ gót về tây
    Đình Ái có trở lại đây hỏi rành
    Con rằng thầy bịnh chẳng lành
    9290. Thuốc thang không giảm mới đành quy tiên.
    Bửu Sơn rằng: hết sự duyên
    Con nằm ngay thẳng thầy liền độ cho
    Nay thầy đi đến rước trò
    Con đà thoát tục lại lo việc trần.
    Bỉnh Khiêm nghe dạy ân cần
    Nghiêng mình nằm thẳng tay chân lên giường
    Cũng nhờ phép của Kỳ Hương
    Xác trần Khiêm bỏ Tây Phương lai hồi
    Lang Thiên đã sẵn vị ngôi,
    9300. Ngọc Hoan nhìn mãi một hồi thở ra:
    Lạ thay chẳng thấy lão già
    Khi không mà lại thầy ta chết rồi,
    Người đời như thế thì thôi
    Nên lo chôn cất cho rồi vẹn xong.
    Ngọc Hoan là kẻ sáng thông
    Khắc bia để Phật Huỳnh Long thoát trần
    Sau này lưu lại muôn dân
    Xác Huỳnh Long Phật về phần thiên thai,
    Cả chùa hương khói thoảng bay
    9310. Ngọc Hoan các tiểu tối ngày dâng hương,
    Mùi hương thấu đến mười phương
    Am mây thoang thoảng mùi hương nực nồng
    Đêm nhìn mộ Nguyễn Huỳnh Long
    Hào quang thoảng nhẹ từ trong đến ngoài.
    Đình Ái trỗi gót như bay
    Đến dinh họ Trịnh đứng ngoài nhìn vô,
    Trịnh Tùng (9) nhìn thấy liền phô:
    Thủ khoa Đình Ái lộ đồ đi đâu
    Nay đà cũng đã quá lâu
    9320. Mừng ngày trở lại luận câu sơn hà!
    Ái rằng vì việc nước nhà
    Nghe ngài yết thị tôi mà đến đây
    Võ văn thao lược đủ đầy
    Sao ngài còn ngại chuyện này ở mô
    Tài dư thâu đoạt cơ đồ
    Sao không đứng thẳng quy mô về mình?
    Tùng rằng: này hỡi Ái huynh
    Mấy năm biền biệt bóng hình thủ khoa
    Trong hai trận chiến vừa qua
    9330. Nam - Tàu đều thảy mến nhà họ Lê,
    Họ Mạc người cũng còn chê
    Huống chi họ Trịnh các bề sao yên!
    Muốn lên nắm giữ mối giềng
    Họ Lê còn đó thì quyền của Lê,
    Tính hoài mà chẳng vẹn bề
    Nên tôi tầm kiếm giống Lê ngài à,
    Ấn An Nam Quốc của ta
    Thiệt Lê mới có đem ra trình Tàu
    Bằng không thì khó biết bao
    9340. Ngôi vua, ngôi chúa hai màu phải chăng?
    Ngài thì sành sỏi nghề văn
    Bấy lâu ngài nỡ đi phăng nơi nào
    Trại binh tổn mạng biết bao
    Trang Tông (10) đã mất đã bao ngài à,
    Còn thêm một Trịnh lão gia (11)
    Cậu Hoàng (12) thì lại về mà Nghệ An
    Làm cho binh bị rối loàn
    Thủ khoa hãy khá ở an chốn này
    Giúp dùm mưu kế tôi đây
    9350. Nếu sau được việc ơn này chẳng quên.
    Đình Ái liền mới nói lên:
    Tôi đi điền điệp bốn bên biên thùy
    Đặng coi dân chúng tứ di
    Sinh nhai sống với nghề chi hằng ngày
    Thong dong non nước hôm nay
    Nhớ ra thì đã lâu ngày rồi âu,
    Ngài vui duyên với Bảo Châu (13)
    Nay đà mấy cháu nói âu tôi mừng.
    Trịnh Tùng nước mắt rưng rưng:
    9360. Chuyện Châu, Đình Ái xin đừng hỏi han!
    Nói rồi thuật lại đủ đàng
    Đình Ái khuyên Trịnh lòng an đừng phiền,
    Người sanh trong cõi hạ miền
    Tránh sao khỏi chuyện ưu phiền đớn đau
    Ngài đây là kẻ anh hào
    Phơi gan bảy lá, dạ nào dám than
    Anh hùng trải mật nằm gan
    Chuyện nhà nhẹ gánh, chiến tràng bay xa
    Trong lòng đừng có thiết tha
    9370. Xem như gió thoảng bay qua vật gì
    Phủi điều lo ngại sầu bi
    Gượng cười sẽ thấy những gì hay hay,
    Làm trai cho phải chí trai
    Đừng như liễu yếu cành mai là đà
    Nếu lâm phải chuyện lo xa
    Đứng lên bỏ thói đàn bà ngài ôi!
    Chuyện rồi cứ để cho rồi
    Công bằng chặt dạ, chúa tôi giữ tròn
    Thân còn còn vợ còn con
    9380. Thân còn còn nước còn non mối giềng,
    Nếu ngài luống mãi ưu phiền
    Vì bào thai nhỏ ngửa nghiêng anh hùng
    Đồng bào dân dại khắp cùng
    Bắt phu bắt lính chí chung (14) muôn người
    Nhà dân thảm chín sầu mười
    Con người chiếu mến đôi mươi tuổi đầu,
    Bắt phu bắt lính lo rầu
    Ông bà cha mẹ đau sầu biết nhiêu
    Con ai thì cũng thương chiều
    9390. Khi không bị bắt buồn hiu họ hàng,
    Con ngài trong trứng còn mang
    Bà Thượng, ông Hoàng (15) lại bắt bỏ ra
    Thương con ngài lại khóc òa
    Còn ngài bắt lính muôn nhà thể nao?
    Con ngài ngài biết khổ đau
    Con người người cũng héo sầu ruột gan,
    Thế nên bà Thượng, ông Hoàng
    Làm cho ngài biết ngài toan việc nhà,
    Con mình mình khổ chả cha
    9400. Con người chết trẻ không già khổ hơn,
    Ngài nên nghĩ rõ nguồn cơn
    Kẻo lòng dân chúng phiền hờn khó thay
    Con người như thể con ngài
    Vì ngài thế lực người rày phải vâng.
    Hai hàng nước mắt rưng rưng
    Trịnh Tùng nghe rõ ngập ngừng phân qua:
    Đồng bào các giới muôn nhà
    Hèn chi lòng vẫn phiền hà tôi đây
    Nay nghe ngài nói chuyện này
    9410. Lòng tôi mới rõ đủ đầy nguyên nhân,
    Nếu ngài mến nước thương dân
    Giúp cho tôi được vẹn phần về sau,
    Chúa con xưa của Lê trào
    Dù cho có ở nơi nào xa xăm
    Nghe tin tôi cũng kiếm tầm
    Đón về bái mạng trăm năm trọn nghì
    Nơi nào ngài cũng có đi
    Có nghe tin tức chi chi không là?
    Ái rằng chẳng kiếm đâu xa
    9420. Hải Dương là tỉnh có nhà Am Vân
    Nếu ngài có mến có cần
    Đem quân đi đến Am Vân rước về
    Người này mới thật giống Lê
    Con Lê Chiêu Tông tên đề Duy Bang,
    Đem người ra Hội Tam Quan
    Thì là trăm việc bằng an tức thời.
    Trịnh Tùng nghe nói y lời
    Xe rồng đem đến rước mời Ngọc Hoan,
    Trịnh Tùng, Đình Ái lên đàng
    9430. Trống chiêng dậy đất, tiếng vang rập rình
    Ngọc Hoan nghe có tiếng binh
    Núp vào bia mộ Trạng Trình im re,
    Các tiểu đồng trốn sau hè
    Đình Ái vào đến trống hoe trong ngoài,
    Ta đi đâu có mấy ngày
    Về am vắng vẻ mới là lạ cho
    Lần đi mấy nẻo quanh co
    Bước vào phương trượng thơm tho nhang đèn,
    Nhìn lên bài vị chữ quen
    9440. Trịnh Tùng xem thấy cũng khen tuyệt vời
    Ái rằng: dòng chữ thảnh thơi
    Của Duy Bang vẽ thơ thờ Bỉnh Khiêm,
    Vì đâu vắng vẻ im lìm
    Để tầm coi mộ Bỉnh Khiêm nơi nào?
    Hai người rảo bước ngõ sau
    Ngọc Hoan thấy Ái ra chào còn run:
    Vẳng nghe dân nói Trịnh Tùng
    Cái thằng vừa ác vừa hung độc tàn
    Thầy tôi ông chết đã an
    9450. Binh đâu phủ phục khắp tràng Am Vân
    Nên tôi lo sợ ẩn thân
    Không ngờ binh của ân nhân đem về,
    Lòng tôi luôn mãi gớm ghê
    Ghê thằng họ Trịnh thảm thê ngài à.
    Trịnh Tùng đầu cúi thưa qua:
    Muôn tâu Thái Tử thứ tha tội tình,
    Tại dân có mắt không nhìn
    Cho nên đồn nhảm nhiều tin lạ đời
    Thấu tai Thế Tử con Trời
    9460. Tội thần muôn thác dám thời chối đâu!
    Nói rồi phủ phục cúi đầu
    Quỳ mà lạy mãi chẳng hầu đứng lên.
    Đình Ái thì đứng một bên:
    Ông đây vốn thiệt là tên Trịnh Tùng
    Nên đem bổn bộ binh hùng
    Rước Hoàng Thái Tử về vùng Tây đô
    Đặng coi các xã tắc đồ
    Binh Tùng xây được Tây đô kinh thầy
    Muôn tâu Thái Tử lòng lành
    9470. Truyền cho miễn lễ phóng sanh tội Tùng.
    Duy Bang vừa phán vừa run:
    Ta gớm Trịnh Tùng, Tùng lại quỳ đây!
    Chúa tôi cười nói vui vầy
    Đi vào phương trượng lạy thầy Bỉnh Khiêm,
    Trịnh Tùng ra vẻ tôn nghiêm,
    Duy Bang quỳ lạy Bỉnh Khiêm khóc òa:
    Nuôi con từ thở lên ba
    Nay con khôn lớn thầy đà quy tiên,
    Nếu con xã tắc giữ yên
    9480. Nhờ thầy hộ độ vĩnh niên ngai vàng.
    Nói rồi tôi chúa lên đàng
    Tây đô về tới luận bàn vân vi.
    Trịnh Tùng sắm sửa binh quy
    Đưa Hoàng Thái Tử sang đi qua Tàu,
    Đình Ái văn giỏi làu làu
    Thêm tài biện thuyết ai nào có ngang,
    Tùng yêu cầu Ái lo toan
    Theo Hoàng Thái Tử, Tam Quan Hội Tàu.
    Đi ra rồi lại đi vào
    9490. Hai lần như thế vua Tàu chưa sang,
    Bảo rằng: ai Hội Tam Quan
    Ấn An Nam Quốc đưa sang cho Tàu
    Thì là Tàu mới đi vào
    Bằng không tôi chúa của Tàu chẳng sang!
    Tây đô trở lại luận bàn
    Trịnh Tùng, Đình Ái, Duy Bang luận đàm
    Hoan rằng: cái ấn An Nam
    Ta còn giữ kỹ nên đem theo mình.
    Tùng xem vui vẻ thỏa tình
    9500. Nên nhờ Đình Ái đăng trình chuyến sau.
    Ba lần Ái đến nước Tàu
    Nhọc công biện thuyết biết bao lời vàng
    Tàu dành phong chức Duy Bang
    Ấn An Nam Quốc, Đế Hoàng Anh Tông (16).
    Tàu về thẳng cửa Đông môn
    Trịnh Tùng, Đình Ái, Anh Tông hồi trào
    Thần dân mừng rỡ biết bao
    Khắp nơi nước mạnh dân giàu âu ca
    Thong dong tự tại muôn nhà
    9510. Vua an nước trị gần xa thanh nhàn
    Kể từ ngày Hội Tam Quan
    Anh Tông lãnh ấn Tàu ban trị đời.
    Non nhàn nước trí thảnh thơi
    Trịnh Tùng, Đình Ái luận lời nước non
    Ba vuông khéo tính bảy tròn
    Làm người trong thế xét còn lưng vơi.
    Ái rằng: nay đã yên nơi
    Trịnh huynh có thể nghỉ ngơi chăng mà
    Cùng tôi dạo khắp sơn hà
    9520. Đặng coi cho biết việc nhà muôn dân.
    Tùng rằng: dạo khắp thôn lân
    Chẳng hay có giúp hương lân việc gì?
    Ái rằng nào giúp được chi
    Nhưng coi cho biết khuynh nguy (17) bao nhà,
    Xem dân khắp chốn gần xa
    Vượt bao đoạn khổ gọi là từ tâm.
    Tùng rằng: bao chuyện ngàn năm
    Ái huynh đi kiếm đi tầm làm chi!
    Nay đà yên lặng biên thùy
    9530. Nhục lâm với ngũ da bì (18) cho xuê
    Hơi nào lo nghĩ đủ bề
    Ái huynh như thế vụng về lắm đa!
    Đình Ái liền mới nói ra:
    Mai đây tôi tính đi xa biên thùy
    Nếu ngài chẳng khứng cùng đi
    Tôi xin Hoàng Đế chiếu tri ban bày.
    Tính rồi vội vã đi ngay
    Đến Văn Minh điện gặp rày Anh Tông,
    Vua còn ngơ ngẩn tâm hồn
    9540. Nửa mê nửa tỉnh long môn tựa mình.
    Đình Ái phủ phục tấu trình:
    Hôm nay long thể thánh minh như hà
    Trông xem ngơ ngáo lơ là
    Không quân túc vệ, cung nga, cung tần
    Chẳng hay mấy vị mỹ nhân
    Nhơn sao mà chẳng hầu gần long nhan!
    Hạ thần định để bước sang
    Trống hồi thỉnh Đức Thánh Hoàng đến đây,
    Nhưng thần vừa đến nơi này
    9550. Thánh hoàng đứng sẵn nơi đây hồi nào
    Trông xem long thể ủ sầu
    Điều chi bệ hạ phán mau thần tường.
    Trung Tông rằng: việc biên cương,
    Việc trào, việc nước đủ đường khanh a!
    Lòng riêng ngại việc xưa xa
    Ngại Mạc Mậu Hợp (19) chưa ra quy hàng,
    Phía nam còn có Nguyễn Hoàng
    Cho nên lòng trẫm chẳng an ngày ngày,
    Trẫm xem bổn điện trong ngoài
    9560. Văn Minh, Cần Chánh với rày Đông Cung
    Riêng phần võ hiển lạ lùng
    Gươm trần khỏi vỏ, kiếm cung hẳn hòi
    Trẫm còn niên thiếu thường coi
    Thăng Long thành nội xăm xoi khanh à,
    Trưng bày đôn ỷ màn hoa
    Long sàng ngọc trướng quả hoa chỉnh tề
    Giữa đền long án ngự phê
    Treo trong truyền kiếm đồ nghề của vua
    Xung quanh tranh vẽ bốn mùa
    9570. Xuân thu tám tiết cho vua ngự tường
    Trước đền treo gấm giá gương
    Để vua lưu ý bốn phương quân hầu,
    Hai hàng đôn ỷ kết châu
    Của quan gián nghị vào chầu riêng vua
    Chẳng cho nhiều chỗ động khua
    Trong trào bốn điện mặc vua ra vào,
    Chọn người văn võ thanh tao
    Vừa thanh vừa lịch lại mau tài tình
    Thăng Long có điện Văn Minh
    9580. Trẫm còn nhớ kỹ, trẫm nhìn từ lâu
    Còn phần Cần Chánh ngọc lầu
    Của cô mẫu ngự màn châu long sàng,
    Ba hôm vua Mạc lại sang
    Xuyên hầu, xuyên bá với hàng bác vương
    Đến bàn việc nước thường thường
    Có bàn tổ quốc, có giường án thư,
    Nơi này trẫm ngắm đã trừ
    Trưng bày khác vẻ do người chủ quy
    Cho nên lòng trẫm ngại nghi
    9590. Có Lê Cập Đệ (20) thông tri thế thời
    Trẫm toan thảo chiếu sang mời
    Khanh cùng Cập Đệ tỏ lời trẫm hay.
    Đình Ái liền mới tấu bày:
    Muôn tâu bệ hạ nghĩ rày lẻ công
    Tây đô lại với Thăng Long
    Vốn hai thế cực khác hồng lắm đa,
    Đều do Công bộ (21) làm ra
    Họa đồ vẽ sẵn khác nhà chủ trương,
    Bệ hạ mới được phong vương
    9600. Võ văn lớn nhỏ chưa tường lễ nghi
    Vua cần sửa trị đơn trì
    Dần dần nề nếp khác gì Thăng Long,
    Nguyễn Hoàng bệ hạ khỏi phòng
    Mậu Hợp bệ hạ cũng không nên phiền
    Nhà ai nấy ở cũng yên
    Bệ hạ đừng có sầu riêng nỗi lòng
    Ngày nào tôi được thong dong
    Tôi cùng Cập Đệ thảy đồng bàn qua,
    Hữu Liên (22) với Trịnh soái gia (23)
    9610. Định xây chánh điện trào ca sân rồng
    Sửa sang cho đẹp ngoài trong
    Sấm vương ngự uyển gieo trồng hoa viên,
    Nay vì xã tắc mới yên
    Nên quan lục bộ đợi quyền long ngai
    Thánh minh an dạ ít ngày
    Hạ thần sẽ liệu sắp bày đẹp xinh.
    Anh Tôn rằng: trẫm mắt nhìn
    Ngại điều bất kính thâm tình các quan,
    Nhìn khanh lòng trẫm tạm an
    9620. Vì khanh vẻ mặt đoan trang từ hòa,
    Nhìn Tùng trẫm ngại chả cha
    Khuôn viên bất nhã lộ ra bên ngoài,
    Cập Đệ trẫm chẳng ngán rày
    Vì quan Cập Đệ chân mày nằm ngang,
    Thiên đình, địa hậu đoan trang
    Đôi hồ thu thủy (24) phản quang dịu hiền,
    Nói năng với vẻ tự nhiên
    Không tôn kính quá, vẫn kiêng phép nhà
    Xem Lê Cập Đệ hiền hòa
    9630. Người này trẫm chắc quốc gia cột rường,
    Khanh thì dáng vẻ văn chương
    Lương thần nhưng cũng đảm đương lộ hình,
    Cô mẫu (25) thường dặn đinh ninh
    Rằng khanh vốn kẻ hy sinh nhứt đời,
    Khanh là cây trụ chống trời
    Trẫm luôn mãi nhớ những lời của cô,
    Nay vì sự nghiệp cơ đồ
    Ông cha tôn miếu mả mồ còn đây
    Khanh thì trung tín đủ đầy
    9640. Tính sao trẫm cũng lòng khuây nghe lời,
    Tây đô từ Trẫm đến nơi
    Thấy Tùng Trẫm sợ, khanh thời hiểu chăng
    Đây là chánh điện nhà văn
    Trẫm xem cung nỏ đăng đăng hằng hà,
    Cứ theo thiên lý luận ra
    Lời cô trẫm dạy trẫm mà còn ghi
    Đông Cung là điện kế vì
    Ai quyền điện ấy thay thì mặt vua,
    Giặc ngoài biên trấn chạm khua
    9650. Thì đền Võ Hiển thay vua chỉ truyền
    Xuất binh lương phạn bạc tiền
    Bộ binh thống lãnh dẹp yên giặc ngoài
    Chừng nào thế giặc hăng say
    Tâu cho vua biết hôm nay thể nào?
    Tùy vua liệu định xem sao?
    Còn Cần Chánh điện quan cao giữ gìn
    Quan coi Cần Chánh thông minh
    Thiên văn địa lý xảo tinh mới là
    Quan này giềng mối nước nhà
    9660. Thường xem luật lệ, thường tra bên ngoài,
    Quan này vốn mực thẳng ngay
    Chuyên cần việc nước đêm ngày chuyên lo
    Trong trào quan nhỏ, quan to
    Hằng ngày nết hạnh biên cho rõ ràng
    Phòng sau sái phép tà gian
    Luận điều phải chẳng mà bàn thẳng ngay
    Nếu người lầm lỡ nới tay
    Như người cố tánh xử ngay pháp tràng
    Khỏi lo xử ức xử oan
    9670. Đền Cần Chánh điện là quan công bình
    Một trăng luận án riêng nhìn
    Tâu cho trẫm rỏ sự tình các quan,
    Trẫm lên ngự chốn ngai vàng
    Đã qua đông chí, xuân sang bao lần
    Xem tường mối nước trị dân
    Giống như quốc chánh chẳng cần tới ta
    Lần hồi tháng lại năm qua
    Thiết triều tiếp xứ thì ta ngự trào
    Còn điều lương phạn thâu vào
    9680. Bắt phu bắt lính hay bao thuế điền
    Ba quân tướng sĩ quan quyền
    Kinh đô làng mạc mối giềng bao xa
    Được bao nhiêu dặm sơn hà
    Trịnh Tùng chẳng tấu để ta lãm tường (26).
    Cô trẫm hồi thưở tại đường
    Thường hay nhắc Trẫm chủ trương cơ đồ
    Phải nay Trẫm có Hoàng cô
    Hỏi xem câu chuyện thế mô là gì,
    Sao lòng trẫm quá ngại nghi
    9690. Hoàng cô có biết chuyện ni giãi bày!
    Đình Ái quỳ xuống tâu rày:
    Muôn tâu Bệ Hạ đừng hoài dạ lo,
    Lòng tôi trung hiếu hẹn hò
    Xuyên hầu bà có dặn dò lắm phen,
    Dù cho mạng bạc thời đen
    Thân tôi nếu sống cũng chen vai vào
    Bất kỳ khói lửa binh đao
    Hạ thần cũng vẫn một màu trung can,
    Thần xin Bệ Hạ lòng an
    9700. Quốc vương ấn tín vua mang bên mình
    Ấy là của báu hồi sinh
    Ngàn năm Bệ Hạ nên gìn hộ thân,
    Tam cung lục viện mỹ nhân
    Bệ hạ dù có thương thân mặn nồng
    Tất đồ ấn tín Tàu phong
    Bệ Hạ đừng để người trong dòm hành
    Mất đi là việc chẳng lành
    Giữ còn mãi mãi mới thành truyền gia
    Sau dù muôn chuyện xảy ra
    9710. Vua còn ấn tín mới là thiệt vua,
    Thần xin hết dạ lo vùa
    Nhớ lời vàng ngọc chát chua đoạn tràng
    Thần đây quý mến Oanh Vàng
    Vẫn còn văng vẳng lời nàng bên tai
    Nàng dù tựa cửa thiên thai
    Lời nàng thần vẫn nhớ hoài chẳng quên,
    Nay phò bệ hạ đứng lên
    Mười điều nàng dặn đã nên bảy điều
    Bệ hạ mà có thiết triều
    9720. Mặt luôn dẹp hết những điều ưu nghi,
    Để thần tự liệu chuyện ni
    Thần cùng Cập Đệ vân vi luận bàn
    Những điều bệ hạ nghi nan
    Mắt thần chưa thấy nhưng bàn cũng y.
    Nói rồi tôi chúa dẫn đi
    Lục xem bốn điện tứ di thể nào
    Năm mười tên lính ra chào
    Chào xong vội chạy nơi nào bặt tin,
    Trịnh Tùng đâu bỗng hiện hình
    9730. Cúi đầu phủ phục tỏ tình kính tôn,
    Quân hầu các cửa tây môn
    Ngự lâm, Vệ uý dập dồn quá đông,
    Tùng quỳ tâu truớc mặt Rồng:
    Muôn tâu Bệ Hạ xét lòng thứ tha
    Không hay bệ hạ dạo tòa
    Tội không hộ giá thật là quá cao!
    Anh Tôn miễn lễ phán mau:
    Trẫm cùng Đình Ái định vào dinh khanh
    Lạ thường trẫm mãi đi quanh
    9740. Lại gặp Đình Ái hỏi khanh dinh nào
    Đình Ái dẫn trẫm đi vào
    Đến đây lại gặp khanh chào quả nhân.
    Trịnh Tùng cười khẽ cám ân
    Mới sai cung nữ dâng phần sâm thang
    Tại đền Võ Hiển ngai vàng
    Anh Tôn ngồi ngự, sâm thang uống vào,
    Trịnh Tùng, Đình Ái ngang nhau
    Đồng ngồi dưới bệ rỉ rao tỏ lời.
    Trịnh Tùng gạn hỏi thế thời
    9750. Đình Ái lanh trí thốt lời xa xôi:
    Từ ngày Bệ Hạ lên ngôi
    Thần dân trong nước an ngồi thảnh thơi.
    Tùng rằng: chỉ sợ ngôi Trời
    Đa nghi nên mới dạo chơi các đền
    Ái cười khe khẽ nói lên
    Trịnh huynh nghĩ quấy lệnh trên đó mà
    Gươm thần khỏi vỏ sáng lòa
    Đúng nơi ngọc điện bửu tòa đấy thôi!
    Những nơi long ỷ vua ngồi
    9760. Giá gươm treo trước là hồi xưa xa
    Còn nay đâu phải thế a
    Mỗi trào mỗi khác mỗi nhà mỗi riêng,
    Bệ hạ nào có lo phiền
    Bệ hạ đã biết lương tiền kém hao
    Của kho là của đồng bào
    Chi tiêu bệ hạ dám nào lố lăng
    Xuất kho cũng phải có ngăn
    Trưng bày chi quá cao thăng lương tiền,
    Vô tình Tùng phải chịu liền
    9770. Quỳ mà chịu tội Bệ Tiền (28) xin tha.
    Ái lanh biện thuyết văn hoa
    Tùng thì hữu dõng vốn mà vô mưu
    Nên Tùng thật chẳng lo ưu
    Tại lời bất cẩn thành mưu lộ hình.
    Tùng rằng: tôi nghĩ hậu dinh
    Nghe quân về báo thánh minh dạo hài
    Ngỡ ngàng tôi mới chạy quay
    Đến đây nhìn thấy cả hai ngại lòng
    Sợ e lỗi với ngai Rồng
    9780. Nay xin chúa thượng sắc phong chức này
    Bình An Vương phụ tôi đây
    Vì tôi công cả đủ đầy lắm đa!
    Anh Tôn luỡng lự thở ra
    Đình Ái tấu rỗi vua mà phong ngay
    Trịnh Tùng cười nói như say.
    Vua rằng: Đình Ái muốn rày chức chi?
    Đình Ái tâu lịnh đơn trì:
    Hạ thần chẳng muốn chức gì nữa đâu
    Chỉ xin bệ hạ cho hầu
    9790. Sớm hôm bên cạnh ngọc lầu long nhan.
    Tùng rằng: Đình Ái gian nan
    Phò vua ra Hội Tam Quan ba lần
    Đáng phong Thượng Phụ ân nhân
    Ái người Khai Quốc Công Thần chẳng sai!
    Anh Tôn nghe tấu phong ngay
    Ái từ nan mãi vẫn nài quân vương
    Xin cho hầu cận thường thường
    Làm quân túc vệ quân vương bên mình.
    Tùng rằng công Ái muôn nghìn
    9800. Lại làm túc vệ hẹp tình lắm đa!
    Ái rằng tôi chẳng muốn xa
    Làm hầu luôn mãi đến già cũng ưng,
    Làm quan cao cấp lẫy lừng
    Ý tôi không muốn ngài đừng phôi pha!
    Cùng nhau đều thảy bỏ qua
    Anh Tôn vào nghỉ, Ái ra đi về,
    Tùng lui dinh nội an bề,
    Ái sang Cập Đệ vào kề hậu dinh
    Cập Đệ chồng vợ mừng tình
    9810. Phu nhân trà nước linh đình mời khuyên,
    Cập Đệ ông mới nói liền:
    Họ Lê tôi thật nối truyền lửa hương
    Nhà tôi hai gái má hường
    Gả về họ Võ nên nương quê chồng
    Nhà còn một trẻ rốt lòng
    Thế Hùng tên đặt vốn giòng võ quan,
    Ái huynh mấy trẻ hậu đàng
    Xin cho tôi biết mà toan việc nhà,
    Ái huynh có gái chăng mà
    9820. Tôi xin kết nghĩa thông gia trọn thề!
    Đình Ái nghe nói cười hề:
    Duyên tôi đã trót gửi về gió bay
    Oanh Vàng vợ cả đầu bài,
    Bảo Châu vốn thiệt vợ hai đậm đà,
    Ngọc Điệp là vợ thứ ba,
    Hai vì công chúa, một bà tiểu thơ (29)
    Con thì gia nội không ngơ
    Mai sau tôi chết ai thờ làm chi!
    Cập Đệ ông mới nói thì:
    9830. Oanh Vàng cô mẫu đơn trì phải chăng?
    Đình Ái liền mới nói rằng:
    Đó là một vợ cao thăng đứng đầu
    Đăng Doanh lại bắt gả âu
    Trạng nguyên họ Nguyễn ngọc lầu xưa xa,
    Ngọc Điệp công chúa Mạc tòa
    Con của chúa Mạc ra ma đã rồi,
    Tôi phò Thái Tử phục hồi
    Vì trong trào Mạc có tôi ra vào
    Những ngày du ngoạn thanh thao
    9840. Gặp nhà họ Phạm mới giao chiếc vòng
    Bảo Châu tài sắc vô song
    Trịnh Tùng cướp mối tơ hồng lâu nay,
    Lại nghe Châu nữ thọ thai
    Đi thâu lương phạn tỉnh ngoài Nghệ An
    Rủi lâm phải giặc Nguyễn Hoàng
    Bắt Châu giam xứ Nghệ An lâu rồi
    Bặt tin cá nhạn hỡi ôi
    Trịnh Tùng quên lãng Châu rồi ngài a,
    Cũng vì nợ nước hằng hà
    9850. Lại thêm muôn gái màu hoa bên mình
    Tùng quên Châu nữ thật tình
    Đêm xuân tôi chạnh nỗi tình nhớ nhung
    Muốn tầm Châu nữ tương phùng
    Nghệ An đến đó thủy chung mới tường,
    Ngặt còn chút nghĩa quân vương
    Oanh Vàng căn dặn đủ đường phải y
    Nếu mà tôi gấp ra đi
    Anh Tôn nếu có chuyện gì xảy ra
    Lỗi tôi bất cẩn khó a
    9860. Thương Oanh Vàng mới phò mà Anh Tôn,
    Nên điều nối hậu gia môn
    Cha già con muộn tâm hồn chẳng yên
    Lòng tôi luống mãi ưu phiền,
    Cập Đệ nghe nói ngạc nhiên cảm tình:
    Ngài là một kẻ hy sinh
    Ích người mà hại cho mình biết nhiêu
    Nghĩ thương ngài thật là nhiều
    Phải hy sinh cũng lựa chiều hy sinh,
    Hay là ngài nghĩ phận mình
    9870. Văn thần nhường đám võ binh ấy là
    Để cho tuổi lớn sức già
    Không con nối nghiệp tức là biết bao
    Ngài thì văn lược tột cao
    Tam quan hội kiến sứ Tàu dễ chi
    Mà ngài cũng vẫn ra đi
    Ngài nào mà có ngán vì chư bang,
    Đứng đi ăn nói đàng hoàng
    Nhân sao nhượng bộ ba nàng hết đa
    Tức tôi lắm đấy ngài à
    9880. Để tôi dạy võ ngài mà hộ thân
    Nếu ngài là bực văn nhân
    Thì điều mưu chước văn thần mà thôi
    Nên toàn võ bá nhã nhồi
    Ra sân tôi dạy võ tôi cho ngài,
    Có văn có võ gồm hai
    Chẳng ai khi thị, chẳng ai riêng cười.
    Ái rằng tôi cũng vẹn mười
    Nếu ra đấu võ tôi người đứng trên
    Nhưng mà tôi dẹp một bên
    9890. Võ ra mũi đạn lằn tên biên thùy
    Trong trào ai kẻ phòng nguy
    Nên tôi mới để người khi thấp hèn
    Nay vì nhấm chút hơi men
    Tôi ngài thí võ một phen thử tài
    Đây là riêng một mình ngài
    Đừng cho một kẻ thứ hai rõ tình.
    Cập Đệ nào có dám tin
    Ngỡ là Đình Ái nhắc tình xưa xa
    Nổi điên trong bụng mà ra
    9900. Cậy mình giết nó cho qua một đời!
    Lẽ nào gương mặt sáng ngời
    Chân tay mềm yếu như thời nữ nhi
    Mà khoe võ nghệ cao kỳ
    Cập Đệ ngồi chẳng nói chi cười dài.
    Đình Ái xem thấy nói rày:
    Nhuyễn tiên (30) tôi thử trình ngài xem qua
    Dây này tôi lấy ném ra
    Trói liền tên giặc phải mà rơi gươm!
    Xin ngài cầm giáo đứng hườm
    9910. Cách tôi mười thước quơ gươm ngang mày,
    Ném dây tôi sẽ trói ngài
    Diễu chơi kẻo để luống tay tuổi già!
    Cập Đệ nghe nói cười xòa
    Vừa cười vừa đứng gọi là giải khuây
    Ái liền cầm ném sợi dây
    Trói Lê Cập Đệ chân tay như mèo
    Phu nhân nhìn chẳng nhái nheo
    Đình Ái lại đỡ cười reo cả nhà,
    Cập Đệ rằng thiệt hay a
    9920. Võ cao như thế tôi mà lại đâu
    Sao đành nhường Điệp, nhường Châu!
    Oanh Vàng cô mẫu cho hầu Bỉnh Khiêm!
    Ái rằng từ cổ chí kim
    Nhắc xưa thêm chạnh nỗi niềm duyên xưa
    Nghĩ điều sương sớm nắng trưa
    Sống đây chết đấy đẩy đưa bao người,
    Tôi còn đi đứng nói cười
    Oanh Vàng, Ngọc Điệp hai người quy tiên,
    Châu nương thì lại xa miền
    9930. Tử sanh chưa rõ căn duyên như hà
    Tranh dành chi cuộc đuốc hoa
    Làm trai như thế xấu xa thẹn lòng,
    Trai vì giềng mối non sông
    Chết trung, chết hiếu thong dong chuỗi ngày
    Chết vì gái sắc khôi hài
    Nhơ danh thanh sử nào ai khen dồi?
    Cho nên tôi xét lòng tôi
    Thương thì khắc cốt, nhưng thôi tranh dành,
    Mình thương liễu yếu tơ mành
    9940. Thì là người khác cũng giành cũng thương
    Mình thương người khác chẳng nhường
    Mình thương người khác đủ đường chê bai,
    Tức lòng đấu lục tranh tài
    Mình thương người ghét cả hai trái lòng,
    Đàng này mình mến má hồng
    Người kia cũng mến thì đồng chữ thương,
    Nghĩ điều chánh lý nên nhường
    Cho người tuyệt sắc tình thương thật nhiều (31),
    Nếu mà có một mình yêu
    9950. Thì là gái đó chẳng nhiều sắc hương,
    Vô duyên cho gái má hường
    Nào ai có mến có thương đâu là
    Quẩn quanh có một chồng nhà
    Tình thương đơn độc thật là quạnh hiu,
    Gái mà hương sắc thật nhiều
    Tài tình đúng đắn tôi yêu tôn thờ,
    Còn điều ghen tỵ không ngơ
    Lòng tôi luôn mãi tôn thờ hai cô,

    9960. Phạm nương Châu nữ, Hoàng cô mới mầu
    Thứ nhì là Phạm Bảo Châu
    Tình chung cũng đáng nhớ lâu ngài à,
    Oanh Vàng thật gái tài hoa
    Chết đi mấy kiếp tôi mà không phai
    Luôn luôn kính mến phục tài
    Lòng tôi chẳng chút sái sai luân thường.
    Cập Đệ nghe rõ chán chường:
    Thật là Đình Ái cột rường nước non!
    Xưa nay danh tướng tiếng còn
    9970. Văn hay võ giỏi chẳng còn chi qua
    Đắm say tửu sắc hê hà
    Quên đi nghĩa cả chúa cha bạn bè,
    Ái huynh thì rất dặt dè
    Nay vui nhắc lại mà nghe chuyện rồi,
    Ấy là duyên vợ chồng tôi
    Được nghe ngài kể khúc nôi nỗi niềm.
    Đình Ái rằng hãy lắng im
    Gợi làm chi nữa nỗi niềm quặn đau
    Tôi ngài hãy khá cùng nhau
    9980. Lén vào cung cấm trước sau tâu bày,
    Lòng vua cảm mến đến ngài
    Trịnh Tùng vua ngán lắm thay thường thường
    Tùng đòi làm chức An Vương
    Quyền làm Thượng Phụ trào đường cả thâu
    Vua còn lưỡng lự lắc đầu
    Tôi phong chín bệ (32) phong âu tức thời
    Cho Tùng đắc chí thảnh thơi
    Tôi ngài lén soạn các thời binh cơ,
    Soạn xem chiến lược sổ cờ,
    9990. Tướng binh lương khóa, cõi bờ thuế nương
    Thuế nào thu hoạch chủ trương
    Thuế nào tạm cậy nhờ nương đất điền,
    Từ vua lên giữ mối giềng
    Mà bao nhiêu mối lợi quyền vô tri
    Như vầy nào có được chi
    Khác nào vua cỏ vua di có chừng,
    Còn điều binh bộ sách quân
    Anh Tôn nào có mà từng mấy tên
    Lại thêm đại điện, bốn đền
    10.000. Đền nào cũng có cung tên chất đầy
    Tôi cùng lại với ngài đây
    Lén tầm lục bộ, sổ này sách kia
    Soạn coi cho biết ghi về
    Tâu điều đại khái nọ kia vua tường,
    Kẻo mà khi đến họa ương
    Chúa tôi mình bít lối đường phòng nguy,
    Thánh hoàng luôn có lòng nghi
    Trịnh Tùng thượng phụ với thì Hữu Liên
    Hai tên này chẳng có hiền
    10.010. E sau trở mặt hại phiền lắm đa!
    Cập Đệ cùng Ái đi ra
    Nửa đêm giờ tý canh ba đi lần
    Các kho lương phạn trào thần
    Kho vàng kho bạc với phần lương khô
    Xem qua các điện thế mô
    Văn bài kho truyện đủ đồ kiểm qua,
    Văn phòng tứ bửu hằng hà
    Án thư khắp chỗ soạn qua đêm dài,
    Mỏi mê vì đã sáng ngày
    10.020. Cập Đệ, Đình Ái về mà nhà riêng
    Mỗi người mỗi chốn ngủ yên
    Đêm về hiệp lại cần chuyên truy tầm,
    Xét lần qua cửa hàn lâm
    Của quan học sĩ mà tầm án thơ,
    Cũng là vắng vẻ không ngơ
    Đến dinh Lại bộ coi tờ sử ghi
    Cũng là chẳng thấy chi chi,
    Đi sang Hình bộ chuyện ni thể nào
    Tầm hoài mệt nhọc biết bao
    10.030. Lục kho sổ sách có nào mà ra
    Ức lòng Cập Đệ sang qua
    Đi cùng Đình Ái đến nhà Đặng Phương
    Phương làm ngự sử trào đường
    Hai người vào đến Đặng Phương ra chào.
    Cập Đệ liền mới nói mau:
    Ái huynh đừng ngại chuyện nào hết đa
    Đặng huynh ngự sử trong tòa
    Vốn tình anh vợ của mà tôi đây,
    Gia huynh trung hiếu đủ đầy
    10.040. Văn thần nhưng cũng năm chày chí cang.
    Ái rằng ngự sử có toàn
    Các kho văn sách trào đàng ở mô?
    Đặng Phương nghe nói liền phô:
    Hữu Liên cất giữ để vô tủ nhà,
    Tôi làm ngự sử biên ra
    Bao nhiêu văn án hay là chi binh
    Phải giao Thái phó giữ gìn
    Chớ tôi chẳng để trong dinh quyển nào,
    Hiện giờ các việc trong trào
    10.050. Hữu Liên sắp đặt, Tùng nào cãi đâu!
    Tôi đà rõ sự bấy lâu
    Định sang dinh dượng tỏ câu tâm tình,
    Dượng làm nguyên soái cầm binh
    Hữu Liên nó muốn gây tình thừa cơ
    Nhưng mà nó chẳng có ngờ
    Tôi đây với dượng tóc tơ chi tình,
    Các đền đều có thám binh
    Của Liên, của Trịnh đặt tin đi điều
    Tôi e họ Trịnh làm liều
    10.060. Giết vua như ở Mạc triều Thăng Long (33).
    Ái rằng: bởi thế bệ Rồng
    Vẩn nghi là phải như phòng cách nao!
    Cập Đệ liền mới nói mau:
    Giết Tùng cho gọn về sau an hòa,
    Hữu Liên thái phó nữa đa,
    Hai tên này chết nước nhà mới yên
    Nam hà còn có Tùng, Liên
    Thì là mỗi nước đảo điên có ngày.
    Đình Ái nghe nói thở dài:
    10.070. Dùng mưu thì được, dùng tài chẳng nên
    Bây giờ tôi tính tâu lên
    Cho vua hay chuyện hớ hênh của Tùng
    Ngại điều lời dặn thủy chung
    Của Hoàng cô mẫu cửu trùng khi kia
    Bảo tôi khóa cửa giữ chìa
    Nay mà như thế chuyện kia chẳng toàn.
    Để tôi đi đến Nghệ An
    Đặng coi Thế Thượng, Nguyễn Hoàng ra sao
    Nếu người còn nhớ nghĩa nhau
    10.080. Tôi xin phò chúa đi vào Nghệ An.
    Cập Đệ rằng: chẳng vẹn toàn
    Thì nên phò chúa ra đàng Thăng Long
    Đặng đầu họ Mạc cho xong
    Ái nên đi gấp ra hòng Nghệ An
    Chuyện vua chuyện nước nguy nan
    Ái huynh đừng có tình tang nơi nào.
    Đình Ái cười khẽ nói mau:
    Tình tôi còn hẹn kiếp sau Oanh Vàng
    Kiếp này nên để thờ nàng
    10.090. Không hề bay bướm mơ màng đến ai
    Tin tôi đi hỡi hai ngài!
    Nói rồi vội vã lui hài ra đi.
    Đặng Phương, Cập Đệ sầu bi
    Cập Đệ rằng: chẳng hại chi đâu là
    Vua về đã mấy năm qua
    Mừng cho non nước sơn hà biết bao,
    Lòng người độc ác ngạt ngào
    Trịnh Tùng như thể tôi nào có hay!
    Đặng Phương rằng: cũng lạ thay
    10.100. Trông cho Đình Ái về rày thể nao,
    Lòng tôi lo ngại biết bao
    Định qua nhà dượng trước sau tỏ tường,
    Dượng thì văn võ đủ đường
    Nên vào trào nội thường thường ngài a
    Cải trang cung điện lân la
    Chờ khi Đình Ái về nhà sẽ hay,
    Chuyện này đừng để lâu ngày
    Anh Tôn tôi sợ có ngày mạng vong.
    Cập Đệ nghe nói nghi lòng
    10.110. Về dinh cải dạng lén hồng vào cung.
    Đình Ái cất bước thung dung
    Đường đi non nước lạ lùng sơn xuyên,
    Dân ta cày cấy đất điền
    Ái vào dạm hỏi các miền dân quê:
    Từ ngày binh Nguyễn (35) đi về
    Đến nay đối với dân quê như hà?
    Dân rằng: binh Nguyễn hiền hòa
    Một năm làm phụ dân mà hai trăng,
    Nơi nào đồng ruộng khó khăn
    10.120. Thì quân phụ lực ba trăng làm mùa
    Đến khi thu hoạch bán mua
    Nạp lương tùy hỉ theo mùa mà thâu,
    Không hề bắt lính bắt xâu
    Tự dân tình nguyện giúp âu nước nhà
    Binh lành nếu xuất trận ra
    Lần nào cũng thắng đứng mà sổ công,
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng tài đồng
    Bình Chiêm gầy dựng non sông đại triều
    Nay thâu thành lũy rất nhiều
    10.130. Được ba ngàn dặm muốn tiêu Chiêm Thành
    Thật là tài đức điều lành!
    Đình Ái nghe nói lòng đành hỏi dân:
    Cách nay cũng độ gần gần
    Đâu qua năm bảy mùa xuân đã rồi
    Có bà Châu nữ (36) cao ngôi
    Đem quân đòi thế khúc nôi thể nào?
    Dân nghe xúm lại cùng nhau
    Kẻ tranh kể chuyện binh đao Trịnh Tùng,
    Người đành thuật hết thủy chung
    10.140. Kể luôn trăm chuyện khắp cùng Ái nghe:
    Khách quan nào có mà dè
    Bà Châu đã chết mùa hè chín năm,
    Còn ba hôm nữa chánh rằm
    Trung thu đại lễ giỗ thăm hồn bà,
    Từ đây đến mộ còn xa
    Chừng năm dặm nữa mộ bà có bia
    Cách mười vuông ruộng bên kia
    Có vườn ăn quả trước kia tít mù
    Bên đàng miễu nhỏ sùng tu
    10.150. Tạm thờ dân chúng xuân thu bái quỳ.
    Ái nghe hột lụy lâm ly
    Dân nhìn thấy rõ xầm xì với nhau:
    Gã này phải mặt anh hào
    Chuyện bà Châu chết can nào gã đây!
    Chúng ta vừa kể chuyện này
    Tại sao gã khóc mắt đầy vậy đa?
    Không ai giòng họ với bà
    Một mình tổng trấn mới là người thân
    Gã này vốn thiệt nam nhân
    10.160. Hay là họ Trịnh đến gần dò la!
    Trịnh Tùng vốn thiệt chồng bà
    Mười năm trước kéo binh qua chốn này
    Nay người còn đến nơi đây
    Chúng ta mau khá kiếm cây đập đầu,
    Nó đi chẳng có quân hầu
    Nó là giống ác hại sầu vua Lê
    Ta dù dân dại dân quê
    Cũng thương cũng mến vua Lê nước mình,
    Nói rồi cả bọn đồng tình
    10.170. Kẻ thoi người đá liên thinh tơi bời,
    Đình Ái chới với kêu trời
    Khi không các cụ đánh chơi hay gì?
    Dân rằng: quả thật mặt mi
    Là thằng họ Trịnh chẳng thì sai ngoa
    Giết mi tế mộ cho bà
    Kẻo Châu nữ tướng chết mà mồ côi!
    Đình Ái chạy thẳng một hồi
    Vào dinh Thế Thượng mà ngồi thở ra.
    Thế Thượng nhìn biết Ái gia
    10.180. Nguyễn Hoàng vội vã liền ra hỏi chào.
    Hoàng rằng: Đình Ái mới vào
    Mặt mày dường bị đòn đau thế à!
    Ái cười liền mới nói ra:
    Chúng dân cày ruộng nó mà đánh tôi,
    Ách cày, gộng trục nó lôi
    Cùng nhau khiêng ném, đánh tôi thế này.
    Hoàng nghe mới nói như vầy:
    Lũ dân mới loạn, nỗi này mới ra
    Quân mau vào xóm hỏi tra
    10.190. Tại sao đánh khách cuả ta ý gì?
    Ái rằng: chẳng có hề chi
    Chúng dân lầm tưởng tôi thì Trịnh gia,
    Vì tôi vào xóm hỏi qua
    Chuyện anh với chị, cùng là Châu nương,
    Dân lầm họ Trịnh hùng cường
    Xúm nhau dân đánh tầm đường tôi lui
    Đau đòn nhưng vẫn lòng vui
    Lòng dân trung hiếu khiến tôi cảm tình.
    Nguyễn Hoàng kể hết đinh ninh
    10.200. Chuyện Châu tử trận chuyện mình xưa nay,
    Quân đem rượu thịt sắp bày
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng ép nài Ái huynh,
    Đến đây là nghĩa gia đình
    Thượng rằng: dượng nó thật tình tửu bôi
    Đến đây với vợ chồng tôi
    Thấy hình dượng nó cũng nguôi lòng này,
    Châu dù cỡi hạc chơi mây
    Mắt nhìn dượng nó đến đây cũng mừng.
    Nguyễn Hoàng mới nói: đừng đừng
    10.210. Nhắc chi chuyện cũ lụy rưng nàng à,
    Phải Châu hiền muội nhà ta
    Nên duyên Đình Ái chưa mà chết đâu!
    Đình Ái rơi giọt lệ sầu,
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng dòng châu chan hòa:
    Đã hơn hàng chục năm qua
    Vợ chồng tôi mới khóc mà ngày nay
    Vì là cám nghĩa với ngài
    Phải duyên gái sắc trai tài biết nhiêu
    Thế mà ông tạo trớ trêu
    10.220. Làm cho lắm kẻ buồn hiu tâm hồn.
    Đình Ái kể chuyện Anh Tôn
    Nguyễn Hoàng, Thế Thượng quốc hồn nổi lên
    Truyền quân xây cất điện đền
    Rước vua về ngự, xây nền tự do.
    Mái Trời tạo hóa chưa cho
    Đình Ái ngọa bịnh ốm o từ trần.
    Quân Chiêm kéo đến rộ rần
    Thượng ra oai võ cầm quân chiến tràng
    Gái tài non nước vẻ vang
    10.230. Đến đây ngừng bút tạm an xác trần.

  13. #53

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Bỉnh Khiêm: Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), đỗ tiến sĩ năm 1535, đời nhà Mạc, được phong làm Tả thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình. Sau khi ông mất được phong tước Trình Quốc công.

    2. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607), quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    3. Thái tử: Nguyễn Bỉnh Khiêm và vợ là công chúa Oanh Vàng bí mật đưa con trai của vua Lê Chiêu Tông là thái tử Lê Duy Bang về nhận là con mình, để dễ bề chăm sóc, chờ thời cơ phục hưng nhà Lê, và đổi tên thành Nguyễn Ngọc Hoan.

    4. Hội Tam Quan: nơi triều đình Trung Hoa dành để đón tiếp các sứ giả khi đi sứ sang Trung Hoa.

    5. Ấn An Nam quốc: khi vua Lê Chiêu Tông trốn chạy khỏi kinh thành Thăng Long có mang theo cả ấn tín, và hiện Thái Tử Lê Duy Bang đang giữ.

    6. Kỳ Hương: hay Bửu Sơn Kỳ Hương, vị sư thầy tu luyện đắc lục thông, là người đỡ đầu cho Nguyễn Bỉnh Khiêm trên đường tu đạo.

    7. Lang Thiên: cảnh Trời, tiên cảnh, ý nói qua đời.

    8. Bảo Ngọc: quan bộ Lễ Phạm Bảo Ngọc, tu tập một thời gian tại Bạch Vân Am cùng với Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    9. Trịnh Tùng (1550-1623): con trai thứ của Trịnh Kiểm.

    10. Trang Tông: vua Lê Trang Tông, con vua Lê Chiêu Tông. Năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), chuẩn bị chiêu quân mãi mã đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    11. Trịnh lão gia: Trịnh Kiểm (1503–1570), là người có tài, được Nguyễn Kim gả con gái là tiểu thơ Ngọc Bảo cho và giao cho Trịnh Kiểm nhiều trọng trách coi giữ binh quyền, chờ thời cơ đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    12. Cậu Hoàng: Nguyễn Hoàng, con trai thứ Nguyễn Kim.

    13. Bảo Châu: Phạm Bảo Châu, vợ Trịnh Tùng.

    14. Chí chung: hy sinh.

    15. Bà Thượng, ông Hoàng: Nguyễn Hoàng và vợ là Phạm Thế Thượng.

    16. Đế Hoàng Anh Tông: vua Lê Anh Tông, tên thật là Lê Duy Bang, con vua Lê Chiêu Tông, lên ngôi vua từ năm 1556 đến 1573.

    17. Khuynh nguy: đói khổ, mất mát do cuộc chiến tranh kéo dài.

    18. Nhục lâm với ngũ da bì: nhục lâm là núi thịt, cùng với rượu ngũ gia bì, ý nói việc ăn chơi, hưởng thụ.

    19. Mạc Mậu Hợp (? – 1592): vua đời thứ 5 của nhà Mạc, lên ngôi vua từ năm 1562 đến 1592.

    20. Lê Cập Đệ: tướng tài nhà Lê.

    21. Công bộ: hay còn gọi là Bộ Công, coi việc xây dựng thành hào, cầu cống đường sá, việc thổ mộc, thợ thuyền, tu sửa xây dựng, thi hành lệnh cấm về núi rừng, vườn tược và sông ngòi.

    Bộ Công là một trong sáu bộ (Lục bộ), sáu cơ quan chức năng cao cấp trong tổ chức triều đình phong kiến Việt Nam, gồm Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư (Bộ trưởng), giúp việc có Tả thị lang, Hữu thị lang, hoặc Tham tri (Thứ trưởng).

    22. Hữu Liên: quan Nguyễn Hữu Liên.

    23. Trịnh soái gia: Trịnh Tùng, người có nhiều chiến công, đang nắm giữ mọi bình quyền sau khi cha là Trịnh Kiểm mất.

    24. Đôi hồ thu thủy: đôi mắt, theo khoa tướng số.

    25. Cô mẫu: công chúa Lê Oanh Vàng, người nuôi vua Lê Anh Tông từ nhỏ.

    26. Đặc điểm của thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh. Vua Lê chỉ có mặt trong những dịp long trọng đặc biệt hoặc tiếp sứ Tàu mà thôi. Trịnh Tùng cho lập phủ riêng gồm đủ cả lục phiên, tương đương với lục bộ của triều vua. Phủ chúa nắm giữ toàn quyền bố trí các chức quan, thu thuế, bắt lính...

    27. Tam cung lục viện: nơi dành cho phái nữ trong triều đình, như mẹ vua, hoàng hậu, cung tần, mỹ nữ …

    28. Bệ Tiền: vua, bệ hạ.

    29. Hai vì công chúa gồm:
    - Công chúa Lê Oanh Vàng, em trai vua Lê Chiêu Tông
    - Công chúa Ngọc Điệp, con vua Mạc Đăng Doanh
    Một bà tiểu thơ là tiểu thơ Phạm Bảo Châu, cháu quan bộ Lễ Phạm Bảo Ngọc.

    Cả ba người đều lỡ duyên với Hoàng Đình Ái.

    30. Nhuyễn tiên: một loại binh khí, được nối bởi sợi dây xích để tấn công được xa.

    31. Đoạn miêu tả tính cách Hoàng Đình Ái rất chính xác với thực tế, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ, đối nhân xử thế chuẩn mực. Mọi người đều phục.

    32. Chín bệ: vua.

    33. Nhắc lại sự kiện năm 1518, Mạc Đăng Dung được vua Lê Chiêu Tông tin cậy giao cầm quân dẹp loạn binh biến ở kinh thành. Lập được công lớn, lại nắm quyền bính trong tay, về sau Mạc Đăng Dung phản bội, phế truất vua Chiêu Tông, đưa em của vua là Lê Cung Hoàng lên ngôi.
    Vua Chiêu Tông được các tướng đưa vào Thanh Hoá, đến năm 1526, Mạc Đăng Dung bắt được vua Chiêu Tông mang về Thăng Long giết chết.
    Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất luôn vua Lê Cung Hoàng, lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức. Nhà Mạc trị vì cho đến năm 1592.

    34. Bệ Rồng: vua.

    35. Binh Nguyễn: quan quân của Chúa Nguyễn Hoàng.

    36. Bà Châu nữ: Phạm Bảo Châu, vợ của Trịnh Tùng.

  14. #54

    Mặc định

    Tôi đang nhập môn về đề tài tâm linh này . Theo tôi , những lời thơ do nhập hồn mà có rất cần cho chúng ta , cho tất cả những ai quan tâm cả về tâm linh cũng như lịch sữ . Những gì qua đã qua nhưng quá khứ luôn làm cho tương lai phát triển . Nếu những điều dẩn nhập trên là chính xác thì chúng ta thực sự vui mừng người đã khuất muốn truyền cho chúng ta những thông điệp về thực tại lịch sử trong thời gian đó và hóa giải những điều nghi kỵ , nghi vấn ( nếu có ) của con cháu về một thời nhiều biến động . Đáng mừng lắm chứ . Nên tích cực thông qua người có khả năng ngoại cảm tìm hiểu thêm về những điếu mà sức học con người chưa hiểu hết .

  15. #55

    Mặc định

    hay lắm thật là hay

  16. #56

    Mặc định

    cháu thấy như vậy thật là tuyệt vời cho những người quan tâm đến tâm linh và lịch sử.

  17. #57

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi tieuphong Xem Bài Gởi
    cháu thấy như vậy thật là tuyệt vời cho những người quan tâm đến tâm linh và lịch sử.
    Mặc dù công việc sưu tầm và hiệu đính chưa hoàn thành, nhưng cũng được một sưu tập nhỏ về câu chuyện lịch sử, bị lãng quên nhiều thế kỷ.

    Vậy mà nhiều người nhân danh khoa học, nhân danh văn hóa, nhân danh tiến bộ, đã gọi những truyện thơ ấy là Những vần thơ Ma Quỷ, và gọi tác giả nông dân ấy là người khùng điên, người tâm thần!

  18. #58

    Mặc định

    Tôi biết THVH 10 tháng nay. Tựa đề này tôi cũng vài lần lướt qua,nhưng đề tài này(thơ) chưa phải là cái mà tôi đang cần tìm đọc.Hôm nay tò mò vào xem thì đã giật mình và choáng ngợp trước một công trình vĩ đại .
    .NHỮNG VẦN THƠ NGOẠI CẢM. Cám ơn bạn LTL đã đưa về đây một công trình đồ sộ.Nhưng theo tôi bạn đặt tựa đề này chưa đúng với tầm cỡ của công trình này, mà nên có tựa là : NHỮNG VẦN THƠ BÁC HỌC mới đúng và chắc nhiều người vào chiêm ngưỡng hơn(Xin lỗi bạn vì đã động chạm đến ngòi viết của bạn)
    Tôi không phải là nhà thơ lại càng không phải là nhà bình luận thơ,nhưng thưc sự xúc động và có cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ trước một THIÊN SỬ THI đồ sộ đã được viết bởi một một người phụ nữ bình thường chốn xa xôi tận cùng Tổ Quốc,thật đáng khâm phục.!Chị đang nhắc cho thế hệ chúng ta vì đâu ngày nay chúng ta có một dải đất từ miền Trung trở vào.Vậy mà không được trân trọng nâng niu còn cho là khùng điên
    Tại sao công trình này không được viết bởi các nhà sử học?Viết làm sao nổi vì nhà sử học chỉ lo tìm mót tài liệu rồi chắp vá lại là xong việc còn đâu mà nghĩ đến ráp cho thành thơ !
    Tại sao công trình này không được viết bởi nhà thơ? Viết làm sao nổi khi thơ và sử không đánh bạn với nhau trong hồn nhà thơ sâu sắc đến như thế,hơn nữa thơ mà viết về sử nó cứng và gượng lắm, khó viết lắm !Và có nghĩ gì về sử mà viết
    “...Vậy mà nhiều người nhân danh khoa học, nhân danh văn hóa, nhân danh tiến bộ, đã gọi những truyện thơ ấy là Những vần thơ Ma Quỷ, và gọi tác giả nông dân ấy là người khùng điên, người tâm thần!”

    “....Những bài thơ trên ghi lại từ đồng cốt, nó chẳng ích gì cho đời mà chỉ mang âm hưởng như ai oán khổ lụy trần gian”
    BX
    Họ đánh giá như vậy ư?Cái đầu của họ làm sao chấp nhận nổi khi một người đàn bà chốn quê mùa đầy thiếu thốn viết một THIÊN SỬ THI mà nằm mơ họ cũng không thể nào viết nổi thì phải chụp cho cái mũ ấy thôi !Thay vì phái áp dụng cái khoa học của họ đi chứng minh. Vô Thần mà chấp nhận có ma quỷ à!Một phường giá áo túi cơm.
    "Khùng điên,tâm thần" Ha!Ha Nếu các vị mà viết được như vậy thì được thăng hoa lên thành THẦN ĐỒNG rồi! Xã hội sẽ tốn giấy mưc lắm !
    Sao không than rằng "Trời đã sinh ra Du sao còn sinh ra Lượng"?
    Không biết Hội Liên Hiệp Phụ Nữ các chị đã nghĩ gì và làm gì khi có một đại điện đáng nâng niu như vậy?
    Ôi! Thật là may khi tôi không phải là nhà ..... Khi đọc 1/2000 bài viết chơi của chị Lạc !(Chị ấy viết không phải để lấy tiền nhuận bút)
    Không biết những công trình về sử của chị Lạc có được công bố rộng rãi không bạn LTL ơi! Để mình tìm viết lại thành văn xuôi thành công trình nghiên cứu của mình.!
    Last edited by trungnguyen0123; 16-04-2009 at 04:29 AM.

  19. #59

    Mặc định

    Hiện nay còn rất nhiều thơ ngoại cảm mà mang tính thời sự rất cao thể hiện thế giới tâm linh đang rất quan tâm tới cõi trần này. Không biết nên vui hay nên buồn đây mời mọi người tham khảo trên web :/www.kynguyentamlinh.com/
    VÔ VI LÀ HỌC NƠI TẤT CẢ VÀ HÒA NƠI TẤT CẢ

  20. #60

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Love_Tamlinh Xem Bài Gởi
    Mặc dù công việc sưu tầm và hiệu đính chưa hoàn thành, nhưng cũng được một sưu tập nhỏ về câu chuyện lịch sử, bị lãng quên nhiều thế kỷ.

    Vậy mà nhiều người nhân danh khoa học, nhân danh văn hóa, nhân danh tiến bộ, đã gọi những truyện thơ ấy là Những vần thơ Ma Quỷ, và gọi tác giả nông dân ấy là người khùng điên, người tâm thần!
    Theo HT những người chê bai các vần thơ này mới là những kẻ khùng điên, tâm thần thật sự à , những bài thơ như thế này phàm nhân khó mà viết ra nổi . Thật đáng tội nghiệp cho những người này , các nhà khoa học "nửa mùa đứt gánh" :(
    Last edited by Ha Trang; 17-10-2009 at 11:21 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Cảnh giác Tà ma ngoại đạo
    By laduykhanh in forum Mật Tông
    Trả lời: 99
    Bài mới gởi: 04-01-2009, 09:57 PM
  2. Mật Tông Nội - Mật Tông Ngoại
    By KHANHLE in forum Mật Tông
    Trả lời: 35
    Bài mới gởi: 08-04-2008, 11:20 AM
  3. Ngoài Thức Không Có Gì Cả
    By NHDV in forum Đạo Phật
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 03-04-2008, 10:08 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 29-02-2008, 09:06 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •