Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 34

Ðề tài: Phong Thủy Của Sông Hồng Với Thăng Long - Hà Nội .

  1. #1
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định Phong Thủy Của Sông Hồng Với Thăng Long - Hà Nội .

    PHONG THỦY CỦA SÔNG HỒNG VỚI THĂNG LONG - HÀ NỘI .
    dienbatn mới đọc được những dòng này - Xin cùng phân tích một vấn đề quan trọng đối với Thủ đô THĂNG LONG - HÀ NỘI .

    BÀI THỨ NHẤT - TÁC GIẢ Tạ Hòa Phương ( Nguồn Tạp chí Tia Sáng ) .

    VẤN ĐỀ TRỊ THỦY SÔNG HỒNG

    Học giả Pháp Pierre Gourou vào đầu thế kỷ 20 từng viết: "Châu thổ sông Hồng đã bị chết trong tuổi vị thành niên của nó". Có thể nói, từ thời Lê đồng bằng châu thổ Sông Hồng đã chấm dứt giai đoạn phát triển tự nhiên của mình. Nó gần như bị cắt đứt liên hệ với chính con sông từng tạo ra và nuôi dưỡng nó. Dòng nước chứa nhiều phù sa của sông Hồng không còn tràn vào đồng bằng mà bị nhốt giữa hai thân đê. Một phần phù sa thoát ra biển, nhưng phần lớn chỉ có thể tích đọng trong lòng sông và những bãi bồi phía ngoài đê. Do vậy đáy sông không ngừng bị nâng cao, nhiều doi cát giữa dòng và bãi bồi được hình thành, đặc biệt trong đoạn từ Sơn Tây đến Nam Định. Từng phần đáy sông và bề mặt các doi cát ở nhiều nơi đã cao hơn mặt ruộng trong đê. Đó là nguyên nhân khiến cho từ đời này qua đời khác các con đê cứ phải được tôn tạo, đắp cao lên mãi.
    Việc đắp đê sông Hồng là quyết định đúng đắn thời kỳ đầu. Năm 1108, vào thời Lý, con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá chỉ có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành Thăng Long. Những con đê thấp được đắp vào đời Trần (1225-1400) chỉ cốt giữ cho nước không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng - một giải pháp có thể chấp nhận được. Nhưng những con đê bề thế được đắp mới và tôn tạo trên hai bờ Nhị Hà (sông Hồng) vào triều Lê Sơ (1428-1527) đã là sự can thiệp vào tự nhiên quá giới hạn cho phép.
    Bị kìm kẹp giữa hai thân đê, sông Hồng càng trở nên hung dữ, đã “giãy giụa”, bứt phá, gây ngập lụt triền miên trong thời Nguyễn. Cũng chính trong thời Nguyễn đã có nhiều ý kiến đề nghị xem xét vấn đề bỏ hay giữ đê. Ví dụ vào thời Minh Mạng, năm 1833 Đoàn Văn Trường, Đặng Văn Thiêm, Trịnh Quang Khanh đã dâng sớ xin khai sông thay vì đắp đê, tạm bỏ đê ở Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định. Vốn có tư chất thông minh, năng động và quyết đoán, sau 10 năm tăng cường tôn tạo và đắp đê, vua Mimh Mạng đã cho áp dụng biện pháp thử bỏ đê và tiến hành đào sông Cửu An để tiêu lũ. Phải thừa nhận đó là một quyết định mang tính cách mạng, tuy việc thực hiện chưa thành công do nhiều khó khăn khách quan. Tiếc rằng không phải ai cũng hiểu như vậy, có người còn đánh giá việc làm kể trên biểu hiện thái độ ươn hèn của triều đình Minh Mạng.
    Vào cuối thời Thiệu Trị, năm 1847, quyền tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Đăng Giai đã dâng sớ nêu 12 điều hại của đê và xin bỏ đê, khai đào một số con sông (ví dụ các sông Nguyệt Đức, Thiên Đức, Nghĩa Trụ) để phân lưu cho sông Hồng, đổ về phía đông, giảm bớt lượng nước tràn vào đồng ruộng.
    Vào thời Tự Đức, Nguyễn Đăng Khải (1857) xin giữ lại đê bên tả ngạn sông Hồng, phá bỏ đê bên hữu ngạn để nước lũ có thể tràn vào đồng ruộng; Vũ Văn Bình (1861) đề nghị bỏ tất cả đê ở các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định; Trần Bình (1875), Hoàng Tá Viêm (1876) cũng cho rằng bỏ đê thì lợi hơn đắp đê.
    Năm 1915, Kinh lược xứ Hoàng Cao Khải đề nghị bỏ đê ở những vùng đất cao, giữ đê ở những vùng đất thấp, tìm cách nâng cao những vùng đất thấp để dần dần phá bỏ đê hoàn toàn. Mở rộng dòng chảy để thoát lũ cũng là vấn đề ông quan tâm.
    Nhưng những đề xuất sáng suốt, giàu tâm huyết kể trên đã không thể thực hiện hoặc được thực hiện không triệt để. Bởi vì sông Hồng là một con sông hung hãn, mà những cụm dân cư và cơ sở hạ tầng kèm theo trên đồng bằng châu thổ sông Hồng từ lâu đời được xây dựng ỷ vào thế đã có đê bảo vệ. Có người cho rằng, một khi đã đắp đê thì không thể bỏ đê được nữa, kiểu “đã đâm lao thì phải theo lao” vậy. Cũng vì thế, mỗi lần vỡ đê, lũ lụt đã gây những tổn thất vô cùng nặng nề.
    Từ trước năm 1837, Nguyễn Công Trứ đề xuất giải pháp nắn chỉnh, khai đào đoạn khởi đầu sông Thiên Đức (sông Đuống), chuyển cửa nhận nước từ sông Hồng dịch về phía thượng nguồn, giúp cho việc phân lũ được thuận lợi. Đó là một đề xuất rất khoa học, nhưng cũng không thể thực hiện vào thời Minh Mạng vì công trình quá lớn. Sang thời Tự Đức ý tưởng đó mới được thực hiện một phần và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc. Nhìn trên tấm bản đồ Hà Nội hôm nay chúng ta có thể thấy đoạn đầu sông Đuống đã được nắn chỉnh để có vị thế thích hợp như thế nào, khiến nó trở thành đường thoát lũ quan trọng nhất của sông Hồng.
    Vẫn còn đó sông Hồng, và vấn đề bỏ hay giữ đê đến nay cũng còn nguyên tính thời sự, nhất là khi chúng ta đã có hồ thuỷ điện Hòa Bình (trong tương lai gần còn có thêm hồ thủy điện Tạ Bú ở Sơn La) giúp điều tiết có hiệu quả lưu lượng nước của hệ thống sông Hồng phía hạ nguồn. Vì thế đã đến lúc cần xem xét lại phương án bỏ đê từng bộ phận, đưa nước vào đồng bằng một cách có điều tiết, có thể kiểm soát mực nước dâng. Làm được điều đó, châu thổ Sông Hồng sẽ được hồi sinh, được phát triển tự nhiên trở lại. Đồng bằng mỗi năm sẽ được bồi đắp thêm một lớp phù sa màu mỡ. Những ô trũng trên đồng bằng sẽ được lấp đầy dần. Có như vậy lòng sông mới không còn bị tiếp tục nâng cao với tốc độ như hiện nay. Nhưng dù phương án này được thực hiện thì những con đê bảo vệ Hà Nội vẫn cần được gia cố tốt hơn để đảm bảo an toàn những giá trị ngàn năm của Thủ Đô văn hiến.
    Tạ Hòa Phương


    BÀI THỨ 2 : Quy hoạch thành phố sông Hồng: TRÁCH NHIỆM TRƯỚC LỊCH SỬ?
    Bài trả lời phỏng vấn: “Qui hoạch cơ bản sông Hồng không khéo sẽ trở thành một qui hoạch treo khổng lồ” của KTS Nguyễn Trực Luyện trên Tia Sáng số 20.10 được sự đồng tình của nhiều bạn đọc. Bài viết của PGS. TẠ HÒA PHƯƠNG, nhà khoa học địa chất là một trong số những ý kiến đó.
    DỰ ÁN QUY HOẠCH SÔNG HỒNG, THÀNH PHỐ SÔNG HỒNG



    Dự án đồ sộ quy hoạch sông Hồng, đoạn qua Hà Nội, thực chất là xây dựng một “Thành phố Sông Hồng” theo motyp của Seoul (Hàn Quốc). Phải công nhận các nhà thiết kế Hàn và Việt đã dựng nên một viễn cảnh thật đẹp, thật hấp dẫn bên sông Hồng, kèm theo những lời thuyết minh dễ siêu lòng.
    Vấn đề chính yếu của Dự án kể trên là chỉnh trị sông Hồng để có thêm 2.500 ha đất xây dựng mới. Dự kiến khu đô thị mới này sẽ cung cấp thêm khoảng 97.000 căn hộ và cơ sở hạ tầng cho quy mô dân số 342.000 người. Để làm được việc đó, vấn đề cốt lõi là cải tạo, gia cố hệ thống đê cũ với nội dung chủ yếu là đẩy đê tiến xa thêm ra phía bờ sông.
    “Xây dựng thêm đê mới để ổn định dòng lũ” là một lập luận mới nghe tưởng có ý xây, nhưng thực chất là phá. Bởi ai cũng biết sông Hồng, đoạn qua Hà Nội, hiện nay đã ở mức độ trì trệ, lòng sông tiếp tục bị nâng cao cùng những bãi bồi. Lưu lượng dòng trong mùa mưa lũ đã vượt quá xa sức chịu tải của nó. Dự án trên có nói đến việc nạo vét lòng sông đoạn qua Hà Nội, nhưng nếu chỉ nạo vét khúc sông này mà không làm được điều đó ra đến tận cửa Ba Lạt ở Nam Định, và phải nạo vét định kỳ (một công việc gần như không tưởng) thì khác nào chỉ tạo ra một cái bẫy phù sa, chẳng bao lâu sau cái bẫy đó sẽ lại bị san bằng và tiếp tục bị nâng cao!
    Đúng ra hướng chỉnh trị sông Hồng đoạn qua Hà Nội là phải rời đê ra xa hơn khỏi lòng sông, hoặc ít nhất cũng giữ nguyên trạng, chứ không được phép đẩy đê về gần nó. Ngoài ra cần phải phá bỏ hết những công trình nằm giữa hai thân đê có thể ngăn cản dòng chảy lũ của sông, chứ không phải làm điều ngược lại. Chính người Pháp sau này lại núi về Hà Nội: “Thành phố đó quay lưng lại với dòng sông của nó”. Thật vậy, với thời gian hai bên bờ sông đoạn qua Hà Nội đã trở thành một chốn “nhôm nhoam”, nhà cửa xây lộn xộn, vừa làm xấu cảnh quan, vừa ngăn cản sự thoát lũ của sông. Đó là sự bung ra quá trớn, gần như vượt qua mọi sự kiểm soát, phép tắc.
    Chúng tôi không cho rằng các nhà thiết kế Hàn Quốc đã am hiểu địa chất Việt Nam, đặc biệt là địa chất lưu vực Sông Hồng. Trong bức thư ngỏ của Thị trưởng thành phố Seoul viết có đoạn: “Thành phố cổ kính ngàn năm Hà Nội có rất nhiều điểm tương đồng với thành phố Seoul của chúng tôi. Từ lịch sử, từ con sông chảy qua thành phố cho tới lối sống của người dân. Mong rằng Hà Nội, nơi lịch sử và truyền thống vẫn chung sống với thời đại hãy cùng bắt tay với Seoul nơi đã tạo dựng thành công kỳ tích sông Hàn để cùng tạo dựng một kỳ tích thứ hai, kỳ tích sông Hồng. Chúc cho dự án quy hoạch sông Hồng thành công tốt đẹp”.

    Vị trí Đập ngầm Jamsil tại phía đông thành phố Seoul



    Viết như thế là chưa hiểu sông Hồng. Trước hết cần khẳng định, sông Hồng dài hơn sông Hàn rất nhiều, nó lại hung dữ, không êm ả như sông Hàn. Chế độ thủy văn cũng như sức tải phù sa của hai con sông này cũng khác nhau một trời một vực. Khác đến độ đối với sông Hàn, đoạn chảy qua thành phố Seoul, thậm chí người Hàn Quốc đã cho đắp 1 con đập ngầm chắn ngang sông (đập ngầm Jamsil) ở phía đông thành phố với mục đích bảo vệ nguồn nước ăn ở phía thượng nguồn khỏi bị ô nhiễm photpho, cũng như một số mục đích khác. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy so với sông Hồng lượng phù sa của sông Hàn là không đáng kể. Nếu làm một việc tương tự, nghĩa là đắp một đập ngầm chắn ngang sông Hồng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn thảm họa sẽ xảy ra. Vì sông Hồng chở nặng phù sa, trung bình khoảng 100 triệu tấn một năm (gần 1,5 kg phù sa trên một mét khối nước). Lượng phù sa lớn như vậy sẽ nhanh chóng đọng đầy lòng sông phía thượng nguồn của đập, và nước dâng mùa lũ sẽ gây lũ lụt thảm khốc.
    Mực nước sông Hàn trong năm nhìn chung thay đổi nhỏ hơn sông Hồng rất nhiều, vì thế các cao ốc ở Seoul mới soi bóng lung linh đáy nước sông Hàn. Chế độ thủy văn của sông Hồng rất biến động, mực nước giữa mùa cạn và mùa lũ có thể chênh nhau tới cả chục mét. Vì thế vào thời kỳ nước kiệt, cảnh quan “thành phố Sông Hồng” hẳn không tránh khỏi tiêu điều, ảm đạm...
    Với lượng phù sa rất lớn, từ hàng triệu năm qua sông Hồng đã đắp bồi nên đồng bằng châu thổ của mình, trong khi sông Hàn không làm nổi điều đó, thậm chí nơi sông Hàn đổ ra Hoàng Hải còn có dạng cửa sông dạng phễu (estuary) khác hẳn kiểu tam giác châu (delta) của sông Hồng. Xét về vị thế cũng dễ thấy giữa Hà Nội và Seoul còn có một khác biệt cơ bản nữa: Hà Nội nằm hoàn toàn trên đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong khi Seoul nằm kẹp giữa hai dải núi cấu tạo chủ yếu từ các loại đá magma và biến chất. Khả năng thoát lũ của sông Hồng đoạn qua Hà Nội rõ ràng kém hơn rất nhiều so với sông Hàn đoạn qua Seoul.

    Nước ngập phố sau mưa



    Lâu nay, người ta thường nhắc tới cụm từ “phát triển bền vững”, theo hướng thân thiện với môi trường. Một dự án thân thiện với sông Hồng không thể là dự án đề xuất giải pháp “thít cổ” nó bằng việc áp đê gần lại lòng sông, dùng bê tông kè cứng, với độ cao cỡ 11,5m (bằng mực nước báo động cấp 3). Hơn ai hết, các nhà địa chất biết rằng kể từ Phú Thọ cho tới cửa Ba Lạt, nghĩa là trong phạm vi đồng bằng Bắc Bộ, sông Hồng đã ở vào thời kỳ già của một con sông. Tại đó, uốn khúc quanh co là quy luật phát triển tự nhiên của nó. Con sông đã trở nên bí bức khi bị hệ thống đê chế ngự, không được tự do uốn khúc. Còn khi khoảng cách giữa hai thân đê ở đoạn qua Hà Nội lại bị thu hẹp thêm theo dự án “Thành phố Sông Hồng”, như con rắn bị thít cổ, chắc chắn con sông sẽ “nổi khùng”, lồng lộn dữ dằn hơn ở cả phía thượng lưu lẫn hạ lưu của nó. Sẽ thêm nhiều vùng đất ven sông bị sạt lở, kiểu như Phúc Thọ (Hà Tây), Tứ Liên, Ngọc Thụy (Hà Nội)... hiện nay.
    Cần lưu ý là trong vòng 60 năm qua, mực nước sông Hồng tại Hà Nội đã dâng cao xấp xỉ 1,0m khiến sức tải lũ của sông bị giảm đáng kể. Việc xây dựng đô thị trên sông Hồng để góp phần giải quyết sự gia tăng dân số Hà Nội, ước tính đến 5-7 triệu người vào năm 2020 là một chủ trương sai lầm. Dự án đó chắc chắn sẽ làm tổn thương nghiêm trọng sông Hồng, can thiệp sâu hơn nữa vào hoạt động tự nhiên của nó. Đó là chưa kể, nếu không được xử lý cẩn thận, nước thải của thành phố sẽ làm ô nhiễm dòng sông, nhất là vào mùa cạn, làm ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư dọc hai bên sông. Điều đó cũng đã xảy ra đối với Seoul, và người Hàn Quốc đã phải xây đập ngầm Jamsil để hạn chế ô nhiễm ngược về thượng nguồn sông Hàn. Nhưng với sông Hồng, việc xây một đập ngầm như thế, như đã phân tích ở trên, là điều không thể.

    Ngôi nhà ở phường Ngọc Thụy, quận Long Biên vừa bị sụt xuống lòng sông



    Những ý kiến nêu trên mới xét đến khía cạnh tự nhiên của vấn đề. Còn nếu nhìn từ góc độ tâm lý xã hội và tâm linh, chắc chắn còn nhiều điều cần bàn đến. Chúng tôi rất trân trọng ý nguyện tốt đẹp và tâm huyết của KTS Trần Thanh Vân. Bà muốn “trên trục không gian đẹp nhất, ý nghĩa nhất” của Hà Nội sẽ xây dựng một công viên mang tên Đại Việt và dựng tượng Đức Thánh Trần ở đấy. Những người làm dự án “Thành phố Sông Hồng” lại chọn chính vị trí đó để xây “Công viên Seoul”. Liệu người Hà Nội và nhân dân cả nước có thể đồng tình với một dự án như thế được không? Chúng ta từng biết có những quyết định không chuẩn từng được thực thi ở Thủ Đô trong các giai đoạn trước. Có cái đã được sửa sai, có cái tới nay còn nguyên trạng. Ví dụ việc đổi tên phố Kỳ Đồng (một người Việt Nam yêu nước nổi tiếng vào đầu thế kỷ trước) thành phố Tống Duy Tân, hay việc đổi tên công viên Chí Linh với vị thế trọng yếu bậc nhất của Thủ Đô, ngay bên cạnh Hồ Gươm, thành công viên mang tên một nguyên thủ nước ngoài, nay đã được sửa lại, làm nơi dựng tượng đài Lý Thái Tổ...
    Còn rất nhiều di tích lịch sử trên dải đất dự định xây “Thành phố Sông Hồng”, nhất là những di tích gắn liền với triều đại nhà Trần - triều đại từng ba lần đại thắng Nguyên Mông, lẫy lừng thế giới. Chúng ta là hậu thế rất xa của những con người từng làm nên chiến công hiển hách, chúng ta không có quyền xóa bỏ những di tích, mà phải tôn tạo di tích cho xứng tầm lịch sử.

    ĐỂ CÓ MỘT THỦ ĐÔ ĐÀNG HOÀNG, TO ĐẸP, XỨNG TẦM THỜI ĐẠI

    Ảnh vệ tinh sông Hàn, đoạn qua thành phố Seoul (phía Bắc và phía Nam thành phố là đồi núi).



    Sắp tới chúng ta sẽ kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long. Chắc chắn trong vòng mươi năm nữa thì Thủ Đô ta vẫn đẹp. Vài chục năm nữa, có thể vẫn còn đẹp. Nhưng với vị trí và mặt bằng của Hà Nội đã phân tích trên đây, nhất là khi vẫn duy trì hệ thống đê sông Hồng, thì khi kỷ niệm 1.200 năm và 1.500 năm Thăng Long, liệu Thủ Đô của chúng ta có còn giữ được vẻ đẹp vốn có không?
    Xét về phương diện mỹ học, tại vị trí của Hà Nội hiện nay về lâu dài không thể xây dựng một Thủ Đô đàng hoàng, to đẹp. Quan niệm xưa nay về cái đẹp, đặc biệt ở xứ nóng như nước ta, là "nhà cao cửa rộng". Điều ấy hiện thời đã không thể thực hiện được với phần lớn số nhà hiện có ở Thủ Đô. Cùng với sự nâng cao đáy sông Hồng, kéo theo là sự nâng cao đỉnh lũ hằng năm, mảnh đất của Thủ Đô ngày nay đã trở thành quá trũng, điều kiện thoát nước ngày càng khó khăn. Dù đã được quan tâm đặc biệt, nhưng sau mỗi đợt mưa dù không lớn lắm đã có nhiều khu vực bị ngập úng trầm trọng, gây ách tắc giao thông. Mỗi lần tôn tạo nền đường phố lại là một lần làm cho độ cao tương đối của nền nhà bị hạ thấp. Trên thực tế nền nhà ở nhiều phố đã nằm thấp hơn mặt phố, tương tự như mặt phố nằm thấp hơn mực nước sông Hồng vậy. Nhiều nhà đã có phần chân như bị chôn dưới mặt đất. Nền móng lâu đài, cung điện trong khu vực Hoàng Thành Thăng Long gần đây được phát lộ dưới độ sâu chừng 2m. Nền đất Hà Nội vẫn đang trong quá trình sụt lún. Theo số liệu quan trắc của Viện Khoa học công nghệ và kinh tế xây dựng Hà Nội thì “nền đất Hà Nội mỗi năm lún vài chục milimet là chuyện bình thường”. Những ví dụ cụ thể cũng được đưa ra: khu vực Thành Công mỗi năm sụt lún 41,42mmm, Ngô Sĩ Liên – sụt 31,52 mm/năm v.v...
    Mặt khác, nếu so với bản đồ vùng kinh thành Thăng Long thời Hồng Đức (1490) thì diện tích các hồ tự nhiên ở Hà Nội còn lại không đáng là bao. Điều đó cũng có nghĩa là những nơi chứa nước mưa tạm thời ấy gần như không còn nữa, làm cho nguy cơ úng lụt càng thêm trầm trọng. Đấy là chưa kể theo tài liệu của tổ chức Ngân hàng thế giới, với đà nóng lên toàn cầu như hiện nay do hiệu ứng nhà kính và nhiều tác nhân khác, trong 100 năm tới mũ băng ở hai địa cực sẽ tan đáng kể, mực nước đại dương thế giới sẽ dâng cao hơn hiện nay khoảng 5m, gần như mấp mé mặt bằng Hà Nội ngày nay. Còn sau 200 năm nữa, điều gì sẽ xảy ra, chưa thể lường trước được.
    “Thành phố Sông Hồng” nếu được xây dựng theo dự án liệu có đẹp lung linh như Seoul soi bóng xuống dòng sông Hàn? Thật khó nói, khi sông Hồng vốn có màu nước thay đổi theo mùa, nhưng đa phần mang sắc phù sa có nguồn đất đỏ terra-rossa, chứ không được trong xanh. Nhất là vào mùa cạn, có khi mực nước sông tại Hà Nội chỉ còn 1,36m (ngày 20-2-2006), nhiều đoạn sông phơi đáy. Lúc ấy những tòa nhà cao ngất ngưởng sẽ soi bóng xuống đâu, khi mà ngay nền nhà đã lừng lững cao hơn mặt nước đến cả chục mét và nằm rất xa mép nước? Hơn nữa, việc xây dựng “Thành phố Sông Hồng” với các khu cao ốc tập trung vào một diện tích rất gần với khu vực phố cổ của Hà Nội sẽ tạo vẻ khập khiễng trong tổng thể cấu trúc. Điều đó còn gây sức ép lớn lên cơ sở hạ tầng của các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, khi mật độ người và phương tiện lưu thông tăng lên đến mức quá tải. Có thể thấy ngay bây giờ tình trạng quá tải về giao thông, điện, nước... ở các khu vực kể trên cũng đã rõ.
    Xét về phương diện phát triển bền vững thì vị trí của Hà Nội hiện nay không phải là nơi lý tưởng để mở mang xây dựng. Hà Nội nằm bên sông Hồng, con sông chảy theo một đới đứt gẫy địa chất lớn - đứt gẫy sâu Sông Hồng, gần như chia Miền Bắc thành hai nửa. Mà đứt gẫy sâu thường là nơi bất ổn của vỏ Trái Đất, nơi chịu các lực nén ép khổng lồ, tiềm ẩn khả năng động đất và chuyển động chờm, trượt... Nếu nhìn từ Lao Cai về phía đông nam ta sẽ thấy dòng sông khá thẳng, đấy là đoạn sông còn chảy theo đứt gẫy, chưa tiến vào đồng bằng châu thổ của nó. Theo hệ thống đứt gãy Sông Hồng, đất đá ở hai bên bị xê dịch. Cự li dịch chuyển hai cánh đứt gẫy Sông Hồng hiện nay khoảng 300 km (cánh tả ngạn bị trượt một cách tương đối về phía Tây Bắc). Một điều đáng lưu tâm hiện nay là đới đứt gẫy Sông Hồng vẫn chưa ngừng hoạt động.

    Sông Hồng khi mới "chảy vào đất Việt"



    Qua những điều trình bày trên đây, có thể thấy Hà Nội đang ở vào một vị thế không thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển một Thủ Đô hiện đại và to đẹp. Đấy là chưa kể đến một điều bất lợi mà không muốn cũng vẫn phải nghĩ tới: Hà Nội nằm không xa hồ thuỷ điện Hòa Bình, có nghĩa là treo trên đầu Thủ Đô ta hiện nay là một vực nước khổng lồ có chiều cao tới trên 100 mét ! Sắp tới sẽ có thêm hồ nước Tạ Bú (Sơn La) với dung lượng tương tự, nằm ở mức cao chừng gấp đôi thế nữa. Nếu một tai biến thiên nhiên bất ngờ, ví dụ một trận động đất có khả năng xâm hại đập nước, thì không thể lường nổi mức độ thiệt hại do sự cố đó gây ra. Cũng cần biết thêm, hai đập nước của các hồ chứa Sơn La và Hòa Bình nằm trong một vùng có nguy cơ động đất mạnh nhất nước ta. Nếu có chấn động mạnh sẽ gây vỡ đập dây chuyền, dẫn tới thảm họa khủng khiếp cho Hà Nội và các trung tâm dân cư vùng đồng bằng Sông Hồng (Trần Tiễn Thanh, Nguyễn Khoa Diệu Lê, 2001). Năm 1995, cả nước Nhật đã kinh hoàng trước một trận động đất xảy ra ở Kobe, chỉ trong vòng vài chục giây đã san bằng cả một thành phố lớn vốn sống thanh bình trong suốt 400 năm trước đó. Mà nước Nhật là nơi từng triển khai những chương trình dự báo động đất trị giá tới nhiều tỉ USD. Chúng ta còn chưa quên trận lụt lịch sử tháng 8-1971 tại đồng bằng Bắc Bộ đã cướp đi 100.000 mạng sống. Khi đó đỉnh lũ tại Hà Nội lên tới 14,13m, cao hơn mức báo động 3 là 2,63m. Theo tính toán của các chuyên gia, giả sử lúc đó đã có hồ thủy điện Hòa Bình giúp hạn chế, thì đỉnh lũ cũng chỉ giảm được chừng 1,5m, tức là còn cao 12,63m. Cũng có nghĩa là nước lũ vẫn dễ dàng tràn qua mặt đê với cao độ 11,5m như các tác giả dự án “Chỉnh trị sông Hồng” đề xuất.


    THAY LỜI KẾT
    Có lẽ đến lúc chúng ta cần dừng lại và suy nghĩ. Không nên tiếp tục xây dựng lớn tại khu vực nội thành Hà Nội hiện nay, không nên can nối và mở rộng Thủ Đô lam nham thêm nữa, nhất là về mạn bắc sông Hồng. Càng không nên thực hiện dự án Thành phố Sông Hồng, bởi làm thế là vĩnh viễn chặn đứng việc thực hiện phương án “bỏ đê” hiện còn bỏ ngỏ. Thay vào đó cần giải tỏa các khu dân cư xây dựng lộn xộn phía ngoài đê, quy hoạch lại dải đất ven sông thành những công viên sinh thái, những công trình vui chơi giải trí có thể “sống chung với lũ” và không ảnh hưởng đến việc thoát lũ của sông. Nếu thực sự cần thiết mới xây dựng tại một số nơi cao, như bãi Phúc Xá chẳng hạn, những chung cư không quá nhiều tầng (cỡ từ 6 đến 10 tầng) để giải quyết chỗ ở cho những hộ dân phải giải tỏa khi giải phóng mặt bằng, tạo thông thoáng cho không gian giữa hai thân đê. Nhưng tốt nhất là tìm một giải pháp khác, không xây dựng nhà ở trong vùng đất nhậy cảm này nữa.
    Nội thành Hà Nội ngày nay đã quá đông đúc và chật chội, cần được lưu giữ, cải tạo và bảo vệ như một “Đặc khu của Thủ Đô tương lai”. Dành phần xây dựng mới một Thủ Đô khang trang, hiện đại tại vùng đất khác, cao ráo và đẹp đẽ, ở khoảng cách vài chục km so với nội thành Hà Nội hiện nay. Giữa “Đặc khu” và khu mới của Thủ Đô sẽ có đường cao tốc đủ rộng, tạo thuận lợi cho giao thông.
    Mọi sự thay đổi đều không dễ dàng. Có những thay đổi nhỏ mang tính điều chỉnh cục bộ, song có những thay đổi lớn mang tính cách mạng triệt để. Một phương án bỏ đê từng bộ phận, đưa nước sông vào cánh đồng một cách có điều tiết, có sự kiểm soát chặt chẽ; một phương án di dân khỏi những ô trũng của đồng bằng, để cho phù sa bồi đắp định kỳ; một phương án xây dựng khu mới của Thủ Đô tại một miền bán sơn địa (ví dụ thuộc tỉnh Hà Tây chẳng hạn) v.v... là những ý tưởng của một cuộc đổi thay mang tính cách mạng.
    Rất cần có một dự án lớn mang tầm chiến lược dành cho quy hoạch và phát triển đồng bằng châu thổ sông Hồng, với sự tham gia của nhiều ngành khoa học khác nhau.
    Chúng ta đã bước sang một thiên niên kỷ mới, được trang bị những kiến thức đủ để thấu hiểu các quy luật của tự nhiên. Chúng ta đang có một nền tảng kinh tế - xã hội thuận lợi để xem xét vấn đề Sông Hồng và Thủ Đô một cách cẩn trọng và nghiêm túc nhất. Nhiều bài học trong quá khứ còn nhắc nhở chúng ta: Với lịch sử, những sai lầm của thế hệ này luôn khiến những thế hệ sau phải trả giá.
    Last edited by dienbatn; 18-02-2008 at 09:37 PM.
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  2. #2
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    BÀI THỨ 3 : Ngày xưa Tam Đảo, Ba Vì... giờ thì Sông Cái . ( NGUỒN Tạp chí Tia Sáng - tiasang.com.vn )



    Gần đây các triển lãm kiến trúc - xây dựng như Nhà Quốc hội, Bảo tàng lịch sử Quốc gia và Quy hoạch cơ bản phát triển sông Hồng đoạn qua Hà Nội đã thu hút khá đông dân chúng và dư luận xã hội của Thủ đô.
    Hai triển lãm trên là về công trình kiến trúc, người dân cần biết và có ý kiến về hình thức của công trình, chứ những nội dung chuyên sâu khác, e khó với họ. Hình thức công trình thì có thể cảm nhận thị giác trong thời gian ngắn được. Triển lãm công trình kiến trúc dựa trên năng lực và thời gian cảm nhận này. Một đồ án, một dự án quy hoạch ở tầm vùng thì chắc là không thể cảm nhận thị giác như vậy, nó cần sự hiểu biết hơn nhận cảm thị giác. Cái triển lãm Quy hoạch cơ bản phát triển sông Hồng đoạn qua Hà Nội khiến dân thủ đô, chủ yếu là cư dân ven sông, đến đông chỉ bởi muốn biết “số phận” của mình trong này thế nào. Một khi chưa hiểu hết các luận cứ, các phương pháp tổ chức và tính toán, các giải pháp vật thể... của đề án thì khó có ý kiến hữu ích. Đây là một đề án tổng hợp, từ trị thủy đến tổ chức quy hoạch không gian vùng nên chắc khó có chuyên gia nào đủ kiến thức để hiểu và có ý kiến hữu ích, huống chi là người dân. Vậy thì mục đích chính của triển lãm này là gì, tôi thực sự chưa hiểu hết?



    Phải đọc hết một số nội dung của đề án, mới có vài ý kiến nhỏ về tổ chức không gian của đề án này.
    Còn nhớ những năm 1970 , Hà Nội được “phát triển hướng về Vĩnh Yên – Tam Đảo”. Những con đường được mở ra để... bỏ. Hàng loạt các trường đại học được di dời ra khỏi Hà Nội để... hối hả trở về Hà Nội. Rồi Hà Nội Bắc sông Hồng của các nhà tư vấn Âu – Mỹ như “món quà” của Daewoo. Đến lượt người Việt tự làm quy hoạch phát triển Thủ đô cho mình hướng về phía Tây, về Ba Vì – núi Tản. Những khu đô thị mới, những Trung tâm thể thao quốc gia, Trung tâm hội nghị quốc gia, đường vành đai III... đều là ý tưởng và tiền bạc của chúng ta. Hướng này xem ra đến nay vẫn “chạy tốt”. Người Hàn không biết có nhiều nước như ta không nhưng “ôm ngay” cái nước “Tây Hồ Tây” và lần này thì cả tuyến sông Hồng qua Thủ đô Hà Nội.
    Đất nước còn nghèo, Hà Nội còn nghèo cần rất nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài. Nhưng như “Lời tự thú của một sát thủ kinh tế” thì lợi nhuận làm cạn kiệt tài nguyên đất nước, mà lợi nhuận thì chúng ta được mấy phần, còn tài nguyên thì tất cả của chúng ta. Nói vậy để thấy rằng vốn đầu tư kêu gọi từ nước ngoài không thể quyết định hình thái phát triển không gian của Thủ đô Hà Nội. “Cô gái Hà Nội” 1000 năm tuổi mà vẫn còn quá “xao xuyến” với những món nữ trang vặt. Cao giá hơn, Hà Nội chắc sẽ đẹp hơn.
    Nếu đã xác định được hướng phát triển thì cần tập trung tài lực để có tấm có món cho hình hài mới của Hà Nội. Nếu chưa thì cần điềm tĩnh để nhận ra hướng đúng cho mình. Thành phố HCM vững tâm với khu đô thị mới phía Nam Sài Gòn. Bây giờ đã là một khu đô thị đáng tự hào nhất nước về hình ảnh phát triển đô thị. Tiếp đến sẽ là Thủ Thiêm. Còn cái hình ảnh đô thị ở khu R2 (Hồ Tây) của Quy hoạch cơ bản phát triển sông Hồng đoạn qua Hà Nội có vẻ bất ổn và khiên cưỡng quá.
    Thực sự Quy hoạch cơ bản phát triển sông Hồng đoạn qua Hà Nội là một đề án (tạm gọi) tốt, có cấu trúc chặt chẽ. Nó gồm 5 nội dung chính:
    - Chỉnh trị sông Hồng và quy hoạch đường thuỷ;
    - Quy hoạch xây dựng công viên ven sông;
    - Quy hoạch xây dựng đường ven sông;
    - Quy hoạch cải tạo và phát triển đô thị ven sông;
    - Đánh giá tính khả thi và kế hoạch chiến lược phát triển.
    Đề án có cấu trúc chặt chẽ, được thực hiện theo công nghệ tư vấn hiện đại. Việc lấy công tác chỉnh trị sông Hồng và quy hoạch đường thuỷ làm yếu tố cơ bản để phát triển các khu chức năng khác là đúng và chính xác. Việc tổ chức các công viên sinh thái ven sông với các tính chất bảo tồn sinh thái, đa dạng hoạt động, giáo dục-giải trí và phục hồi sinh thái là thích ứng với sông Hồng. Nhưng việc phát triển đô thị ven sông, nhất là khu R2 (Hồ Tây ) cần được xem xét cẩn trọng.
    Đấy là nơi hợp lưu của sông Đuống và sông Hồng, là nơi sông Hồng chuyển dòng làm nên Hồ Tây, là cái rốn thuỷ của cảnh quan ven tuyến sông, là mảnh đất đắt giá nhất của toàn đề án Quy hoạch cơ bản phát triển sông Hồng đoạn qua Hà Nội. Với 320 ha, khu vực Hồ Tây (R2) được hoạch định 80,7 ha cho nhà ở và 238,1 ha cho công trình thương mại và công cộng. Điều đó có nghĩa là tạo nên một dòng di chuyển lớn và độ tập trung người rất cao ở vùng này, tiếp tục chất tải dịch vụ đô thị và hạ tầng kỹ thuật nơi đây. Hầu như đề án cố tình giải phóng độ thoáng cảnh quan trên toàn tuyến để tập trung khai thác đậm đặc nơi miếng bánh béo bở này. Chỉ 3,2% (80,7 ha/2462 ha) đất đai toàn tuyến phải gánh 19,32% (66130 người /342180 người) dân cư toàn đề án. Chính điều này làm mất đi vẻ đẹp của các ý tưởng trị thuỷ, của các công viên sinh thái , của ý tưởng cơ bản của tổ dự án “ Red River, Green Riverside”. Còn việc đưa vào đây “Khu phức hợp quốc tế kỹ thuật cao” với các hoạt động “tài chính quốc tế, nghiệp vụ quốc tế..” là lạc dòng sông đỏ – bờ xanh rồi. Khi tiến hành dự án cho Hà Nội, JICA cũng rất thận trọng khi đề xuất tổ chức không gian khu vực này, họ cho rằng nên để phần xanh là chính cho vùng đất này. Hà nội có 2 cái lớn thiên tạo: Hồ Tây và sông Hồng, chỉ ở chổ này mới chứa được hai cái lớn thiên tạo đó, tổ dự án đã nghĩ hết chưa khi tập trung các cao ốc và công trình công cộng nơi đây?
    Tổ dự án đã bắt đầu với một ý tưởng đẹp: “Red River, Green Riverside”, hãy để cái đẹp ấy toả hương. Vùng Hồ Tây – sông Hồng là một chốn thiêng của Hà Nội, hãy điềm tĩnh và thân thiện với mảnh đất này.
    KTS. Nguyễn Luận .


    BÀI THỨ 4 :
    Kết nối sông Hồng trong không gian đô thị . - KTS Nguyễn Phú Đức
    -( NGUỒN Tạp chí Tia Sáng - tiasang.com.vn )

    Khác với nhiều dòng sông khác trên thế giới, tuy vị trí cũng nằm giữa lòng đô thị nhưng sông Hồng lại không phải lúc nào cũng hiền hòa và dễ chế ngự. Chính vì vậy, trong nghiên cứu ý tưởng về quy hoạch cơ bản sông Hồng thì tiêu chí chỉnh trị sông Hồng được đưa lên hàng đầu, mang tính quyết định trước 3 tiêu chí khác là phát huy lợi thế cảnh quan, sắp xếp ổn định dân cư khu vực và khai thác hiệu quả quỹ đất hai bên sông Hồng xây dựng phát triển đô thị bền vững.
    Kinh nghiệm Hàn quốc trong ý tưởng quy hoạch sông Hồng
    Trước đây, đã có những nghiên cứu về sông Hồng. Đặc biệt, để khai thác cảnh quan sông Hồng phục vụ đô thị thì các nghiên cứu đều chú trọng đến việc chỉnh trị sông Hồng, xác định lòng dẫn. Thậm chí, Hà Nội cũng đã chuẩn bị việc thực thi thí điểm 1km sông Hồng tại Tứ Liên. Ở đây xin được bàn về ý tưởng quy hoạch không gian sông Hồng.
    Sự tương đồng và khác biệt: Hai sông Hàn (Seoul) và sông Hồng (Hà Nội) có cùng chế độ lũ (tuy độ dốc và lưu lượng thoát nước sông Hàn lớn hơn), vị trí đều nằm ở trung tâm thành phố, ngăn chia hai phần đô thị Cũ và Mới phát triển (tuy ngược nhau: đô thị cũ nằm ở phía Bắc sông Hàn, còn ở Hà Nội lại nằm phía Nam sông Hồng). Sự tương đồng còn thể hiện ở cùng vị thế Thủ đô và cùng nền văn hóa châu Á. Sự khác nhau lớn nhất là tiềm lực kinh tế tại thời điểm triển khai dự án. Sông Hàn không có dân cư sống bám hai bên sông. Trong khi đó, Thủ đô Hà Nội là đô thị 1000 năm tuổi cần được kế thừa truyền thống lịch sử và văn hóa trong sự phát triển.
    Kinh nghiệm Hàn Quốc trong đồ án cải tạo phục hưng sông Hàn đang nghiên cứu hiện nay khắc phục hạn chế của quy hoạch trước như việc tổ chức giao thông cơ giới sát bờ sông làm cản trở sự tiếp xúc tự nhiên giữa con người và cảnh quan, dòng sông; Các dãy nhà cao tầng với mặt nhà dài bám chạy dọc mặt sông ngăn cản tầm nhìn và án ngữ cảnh quan sông; Triền đê khụng được chia thành nhiều cốt và được tổ chức cây xanh cảnh quan tự nhiên...
    Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu ý tưởng quy hoạch sông Hồng
    Tuy còn ở mức ý tưởng nhưng nghiên cứu đã đặt vấn đề quan trọng trong nghiên cứu tổng thể về phòng chống lũ, thể hiện được mục tiêu chỉnh trị sông.
    Về tổ chức không gian thì ưu điểm nổi bật của nghiên cứu này là ý tưởng đem đến sự tiếp cận thuận lợi giữa con người với cảnh quan tự nhiên của dòng sông Hồng. Tuy nhiên, vấn đề chính là đưa sông Hồng là chủ thể đô thị và kết nối với không gian xung quanh, thì nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế, cần bổ sung sau:
    Xác định không gian sông Hồng: Trong tổng thể không gian Hà Nội với tiêu chí phát triển “Mặt nước - Cây xanh – Văn hóa” thì sông Hồng được coi là Lá phổi xanh – Xương sống đô thị Hà Nội. Nói một cách nôm na rằng: Sông Hồng là không gian TĨNH giữa đô thị phát triển ĐỘNG, tạo nên sự gắn kết, nối hai bờ Bắc – Nam.
    Sự liên kết sông Hồng với không gian Hà Nội:
    - Sự liên kết sông Hồng với Hà Nội cổ: Qua quá trình hình thành và phát triển gần nghìn năm, đô thị Hà Nội đã định hình một hình thái không gian kiến trúc đô thị có dạng lòng chảo, trũng hướng vào khu phố Cổ. Trong nghiên cứu này, các công trình cao tầng tiếp giáp hồ Tây lại có xu thế cao dần về khu trũng đó. Đồng thời tuyến cao tầng dọc sông này lại chỉ hướng tới tận dụng tối đa lợi thế cảnh quan của sông Hồng và hồ Tây mà “quên” không tạo dựng thành trục kết nối từ bán đảo hồ Tây đến sông Hồng.
    Một điều đáng nói là tại vùng hình thái "trũng"– trung tâm linh thiêng của Hà Nội này thì tổ chức cảnh quan tại đây phải gắn với việc xây dựng một khu vực hay tượng đài mang ý nghĩa biểu tượng cao nhất thể hiện khí phách hào hùng của một Thủ đô văn hóa và lịch sử, chứ không thể mang một ý nghĩa khác (trong ý tưởng của Hàn Quốc đề xuất là xây dựng công viên Seoul).
    - Sự liên kết sông Hồng với không gian Hà Nội tương lai: Tại khu Bắc sông Hồng, đặc biệt trung tâm Phương Trạch là không rõ nét. Việc tổ chức không gian các công trình tại Yên Phụ - Nhật Tân (bờ Nam) cũng như Tàm Xá (bờ Bắc) không đạt được mục tiêu tạo thành trục “ảo” kết nối không gian “xuyên tâm” từ đường Láng – Hòa Lạc qua hồ Tây đến Đông Hội, Xuân Canh sang Cổ Loa. Đây là một trục không gian quan trọng và lại dễ dàng nhận biết khi có điểm nhìn từ các công trình cao tầng dọc sông hay quan sát từ trên máy bay.
    - Sự liên kết với không gian các tỉnh thành liền kề: Việc nghiên cứu ý tưởng quy hoạch cơ bản sông Hồng lần này đoạn qua Hà Nội cũng cần được tính đếm đến sự phát triển của các khu vực tỉnh thành đầu nguồn và cuối nguồn, hướng và phạm vi phát triển mở rộng đô thị Thủ đô trong tổng thể mối quan hệ liên vùng. Với nghiên cứu quy hoạch cơ bản sông Hồng đoạn qua Hà Nội này sẽ là kinh nghiệm và là động lực thúc đẩy các tỉnh thành liền kề phát triển.
    Nhìn chung, về tổ chức giao thông thì trong nghiên cứu này mới chỉ khai thác chủ yếu hai tuyến giao thông “xương sống” dọc sông, còn lại các đầu mối giao thông của các tuyến giao thông “xương cá” từ sông Hồng nối ra các tuyến giao thông khu vực kế cận lại chưa được đấu nối.
    Việc khai thác quỹ đất 1500ha vẫn chỉ chú trọng đến việc đầu tư xây dựng khu đô thị mới dọc sông, chưa tạo nên sự kết nối ăn nhập với không gian hình thái tổng thể đô thị Hà Nội cũng như các khu vực phố phường, làng xóm liền kề. Nghiên cứu nên xem xét phân bổ các chức năng trọng yếu, quyết định của bốn khu vực với chức năng công cộng là chủ yếu, tạo cực hút phát triển đô thị.
    Như vậy, có thể lợi nhuận của các nhà đầu tư sẽ giảm hoặc không có, nhưng để bù lại, Thành phố cũng nên có cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư “dũng cảm” đầu tư vào các khu chức năng này bằng cơ chế khuyến khích hoặc đựơc ưu tiên khi đầu tư dự án tại các khu vực khác ngoài sông Hồng.

    dienbatn xin giành thời gian tới sẽ bình luận theo con mắt Phong thủy và Tâm linh vấn đề này .
    Last edited by dienbatn; 18-02-2008 at 09:44 PM.
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  3. #3

    Mặc định

    Việc tuyệt quan trọng kính bác sớm có ý kiến mọi người tham khảo

  4. #4

    Mặc định

    kính bác dienbatn nên có lời đề nghị này ....

  5. #5
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    LOẠT BÀI CỦA XUÂN DIỆN VỀ VIỆC VĨNH QUYẾT XỨ ĐOÀI .

    Hà Nội - 1



    Thưa các Ngài,

    Chỉ còn ít ngày nữa là Hà Nôi sẽ to lên một cách khủng khiếp. Hà Nội to như thế, thì cần có những lời bàn góp, mỗi người góp bàn một tý, để xây dựng Hà Nội ta càng ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

    Những lời a dua bốc giời, những lời phỉnh nịnh, thì đã có khối kẻ khác nói hết mất rồi. Bọn họ quá đông. Bản blog chỉ có những lời bàn thẳng thắn, mộc mạc, tha thiết và thành tâm. Những băn khoăn tâm sự xin giãi cùng bè bạn bốn phương, chứ tôi và những người có bài tuyển trong Blog này chẳng mong lời mình đến tai ai, vì biết rằng sẽ chẳng có ai lắng nghe lại càng không thể thấu hiểu (xem Hà Nội – 1).

    Loạt bài này, được đặt tên là HÀ NỘI, và đánh số thứ tự được duy trì đều đặn từ nay đến ngày 1 tháng 8, là ngày vĩnh quyết của Hà Tây. Tác giả của các bài đều được ghi dưới mỗi bài, với nguồn dẫn thật cụ thể.

    Nếu được bạn bè cổ vũ, thì nó sẽ được duy trì đến đúng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tức là năm 2010, mỗi ngày 1 bài.

    Lâm Khang chủ nhân


    Lời hẹn


    Năm xưa, lúc ông Nguyễn Quốc Triệu còn ngồi ghế Thị trưởng Hà Nội, tôi có đọc thấy trên báo về việc mỗi chiều thứ Tư đầu tiên trong tháng ông Chủ tịch sẽ tiếp: nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sỹ, các nhà đâù tư, doanh nhân.

    Đăng ký: Phòng Tổng hợp UBND thành phố Hà Nội

    hoặc Ông Nguyễn Văn Hoạt, Phó phòng tổng hợp, kiểm tra

    ĐT: 04.8253536

    DD: 0913. 553.XXX

    Email: vpubhn@hn.vnn.vn

    Đọc được tin ấy, tôi đã vội mừng và đăng ký xin gặp Ông Chủ tịch để góp ý, hiến kế về việc tổ chức đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

    Thư thì không được trả lời. Nhưng ông Hoạt có gọi điện thoại cho tôi và cười cười nói rằng nghe giọng nói biết tôi chắc còn trẻ. Tôi nhắc lại việc đăng ký cuộc gặp, thì ông nói: Là để đăng báo thế thôi!


    Nguyễn Xuân Diện
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  6. #6
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 2



    Khi Hà Tây trở thành Hà Nội

    Đỗ Tiến Thuỵ

    Nghe Hà Tây sẽ trở thành Hà Nội
    La hán Tây Phương reo toáng với nhau
    Chúng mình sắp thành người Hà lội!
    Nhưng rất nhanh, mặt các vị lại chau


    Khi Hà Tây trở thành Hà Nội
    Cao ốc trùm bóng Tản Viên sơn
    Nàng Mị Nương rời non xuống phố
    Bỏ Sơn Tinh bó gối ngồi buồn


    Khi Hà Tây trở thành Hà Nội
    Mắt em thơ sông Đáy thôi trong
    Nong kén úa theo màu lúa chết
    Nước sông Tô giặt áo lụa Hà Đông


    Khi Hà Tây trở thành Hà Nội
    Em bỏ ta, bởi ta có gì đâu
    Ngoài cái tên quê ta lấy làm lễ vật
    Dâng tặng em ngày hai đứa yêu nhau


    Đáng đời ta gã nông dân bỏ ruộng
    Đi chín phương cậy còn một mảnh quê
    Khi Hà Tây trở thành Hà Nội
    Kẻ tha hương không còn chốn quay về…

    Làng Bùi 29-3-2008

    Nguồn:

    http://trannhuong.com

    http://lethieunhon.com

    http://gacuadong.vnweblogs.com/post/4227/57923
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  7. #7
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 3


    Băn khoăn của những người nông dân Hà Tây trước khi trở thành người Hà Nội

    NGUYỄN QUANG THIỀU


    Tôi còn nhớ mãi trên chuyến tàu từ Hà Nội đi Sài Gòn gần 30 mươi năm trước, một người bạn chúng tôi người Hà Nội nói thẳng vào mặt đám thanh niên nhà quê chúng tôi như một lời nguyền “Chúng mày đừng bao giờ mơ lấy được con gái Hà Nội” Nhưng bây giờ thì lời nguyền kia đã được giải. Tất cả các cô gái thôn quê Hà Tây chúng tôi đều đã trở thành gái Hà Nội. Kể cả những người không biết chữ.

    Tôi là người gốc Hà Tây nhưng làm việc ở Hà Nội. Tôi trú ngụ ở thị xã Hà Đông. Ngày ngày chạy xe máy ra Hà Nội làm việc, tối lại chạy về. 16 năm nay, tôi không biết hộ khẩu mình ở đâu. Đứng về mặt quản lý hành chính, Hà Đông chỉ là nơi tạm trú của tôi. Còn Hà nội chỉ là nơi tôi ở tạm tám tiếng ban ngày. Bởi thế, 16 năm nay, tôi chẳng được đi bầu cử. Vì thấy không có gì hệ trọng với cuộc đời mình và cũng chẳng ảnh hưởng gì đến xã hội trong cái việc bầu bán ấy, cho nên tôi cũng chẳng có ý tìm xem hộ khẩu mình ở đâu. Nhưng bây giờ, chỉ còn ít ngày nữa thì chạy đâu tôi cũng vẫn là người Hà Nội.

    Bây giờ, những người Hà Tây đang sống trong một tâm trạng lạ lùng trước khi họ phải điền vào mọi văn bản liên quan đến lý lịch của họ : quê quán. Thay vì tỉnh Hà Tây thì họ sẽ viết Hà Nội. Tôi còn nhớ mãi trên chuyến tàu từ Hà Nội đi Sài Gòn gần 30 mươi năm trước, một người bạn chúng tôi người Hà Nội nói thẳng vào mặt đám thanh niên nhà quê chúng tôi như một lời nguyền “Chúng mày đừng bao giờ mơ lấy được con gái Hà Nội” Nhưng bây giờ thì lời nguyền kia đã được giải. Tất cả các cô gái thôn quê Hà Tây chúng tôi đều đã trở thành gái Hà Nội. Kể cả những người không biết chữ.

    Tuần nào tôi cũng về quê và trò chuyện với những người nông dân quê tôi về chuyện hà Tây đang tiến gần đến ngày trở thành Hà Nội. Vì nghĩ tôi làm việc ở Hà Nội biết nhiều chuyện, cho nên họ hỏi tôi rất nhiều điều. Tất cả những gì họ hỏi tôi đều là những băn khoăn của họ. Không ai nói cho họ biết họ sẽ như thế nào ? làng họ sẽ như thế nào ? trâu bò lợn gà hay phân gio của họ sẽ như thế nào khi tất cả thuộc về thủ đô ?

    Điều băn khoăn thứ nhất : Họ lo lắng về việc sẽ phải thay đổi tất cả giấy tờ khi Hà Tây không còn nữa. Giấy khai sinh, chứng minh thư, sổ đỏ, sổ tiết kiệm, sổ vay nợ ngân hàng…Nếu tất cả mọi người cùng đi làm thủ tục để thay đổi giấy tờ thì không biết họ sẽ mất thời gian như thế nào ? Có người còn lo lắng về việc thay đổi tên quê quán trên bia mộ cho những người đã chết. Những người đã chết mai táng ở làng thì hầu như không ai ghi quê quán. Nhưng những người gốc Hà Tây sống ở những nơi khác khi chết bia mộ thường ghi quê quán Hà Tây thì sẽ phải đục khắc lại bia mộ (?). Với người sống thì thay đổi thế này thế nọ đã quá quen rồi. Với người chết thì thân nhân họ chẳng muốn làm chuyện gì động đến mồ yên mả đẹp của họ cả. Thế là, người đang sống phải lo nhiều thứ. Lo cho thân mình và lo cho cả người đã khuất. Cái phiền nhiễu của thủ tục hành chính ở nước ta đã làm cho người dân sợ xanh mặt. Cho nên bây giờ chỉ nghe nói chuyện phải thay đổi mọi giấy tờ đã làm họ mất ăn mất ngủ.

    Điều băn khoăn thứ hai : Được trở thành người Hà Nội nghe thì thật sướng nhưng nhiều người cứ thấy thèn thẹn thế nào ấy. Vì lâu nay, trong cách nhìn của những người thôn quê thì những người Hà Nội là những người hiểu biết, không nói tục, ăn mặc lịch sự, không khạc nhổ lung tung như người nhà quê khi làm ruộng, da dẻ trắng hồng, lịch thiệp…Bây giờ, đứng giữa những người Hà Nội mà những người thôn quê lại xưng là người Hà Nội thì ngượng đến thế nào mà có khi còn xúc phạm những người Hà Nội nữa. Họ nghĩ thế cũng phải. Vì bao đời nay, họ lúc nào cũng chân lấm tay bùn, cũng nheo nhóc, cũng vụng về…Họ không biết khi trở thành người Hà Nội thì họ sẽ phải thay đổi thế nào cho phù hợp. Nhiều người tâm sự : thôi thì cứ ghi trong lý lịch quê quán Hà Nội nhưng nếu có việc phải ra Hà Nội thật thì ai hỏi quê ở đâu cứ nói ở Thái Bình, Nam Định hay Lào Cai, Yên Bái gì đó cho đỡ ngượng. Bởi ngày ngày, họ vẫn đi chân đất, bón phân, chăn bò, nuôi lợn, chăn vịt…thì họ làm sao thay đổi thành người Hà Nội được. Họ cũng chưa hiểu bằng cách nào những người quản lý đô thị có thể biến họ từ một người nông dân gần như khổ nhất thế gian này thành những thị dân của một trong vài thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới ?

    Điều băn khoăn thứ ba : Họ hỏi tôi có phải sau khi trở thành Hà Nội thì mỗi làng sẽ được một tỷ để xây dựng làng xóm không. Tôi không được nghe chủ trương này. Nhiều người nghe số tiền một tỷ thì bàng hoàng. Họ bảo đúng là Hà Nội có khác, cho mỗi làng hẳn một tỷ, tiêu gì cho hết. Nhưng họ đâu biết rằng nếu có một tỷ thật thì khi về đến tay họ thì giỏi lắm cũng chỉ còn dăm bảy trăm triệu thôi. Dăm bảy trăm triệu bây giờ thì làm được gì cho cả một làng? Làng tôi vừa xây xong cái cổng làng khiêm tốn cũng đã hết gần 200 triệu đồng. Nhưng tôi biết một tỷ kia chỉ là lời đồn. Mà nếu có thật thì việc xây dựng một thủ đô trong thế kỷ 21 lại vớ vẩn đến thế sao ? Khi Hà Tây được quyết định trở thành phần mở rộng của Hà Nội thì có lẽ điều duy nhất những người thôn quê mừng là đường sá, điện đóm làng họ sẽ được thay đổi. Một con đường về làng họ mùa khô thì bụi như vốc đất ném vào miệng, mùa mưa thì như là lội trong bùn. Còn điện thì mùa hè lại bị cắt liên miên. Điều kiện làm ruộng của họ khi không có điện thì chẳng khác gì một nửa thế kỷ trước. Bây giờ và mươi mười lăm năm sau, họ chẳng mong gì hơn thế.

    Điều băn khoăn thứ tư : Họ hỏi tôi có phải tất cả các cái tên dân giã có từ thuở lập làng sẽ phải thay đổi không ? Ví dụ làng Chùa đổi thành phường Chùa, làng Sóc đổi thành phường Sóc, xóm Trại đổi thành phường Trại, làng Chèo trở thành phường Chèo…Những cái tên làng, xóm kể trên là những cái tên rất dân giã, thân thuộc và phổ biến ở các làng quê Bắc bộ nói chung và ở Hà Tây nói riêng. Những cái tên làng, tên xóm không chỉ là cái tên mà đó là một phần sự tinh kết của văn hóa. Khi Hà Đông được công nhận là thành phố, rất nhiều người trong đó có tôi thật dửng dưng. Nó chẳng có ý nghĩa gì với nơi này. Chẳng lẽ người ta cứ phải đợi một thị xã được công nhận là thành phố thì nó mới phát triển và có văn hóa hơn hay sao ? Tên một con người cũng vậy. Tôi chơi với một người có tên là Khoai mà vẫn là một tiến sỹ khoa học uy tín. Trong khi đó, có người được đặt tên là Vương mà vẫn suốt ngày đi nhặt rác kiếm ăn. Sự mỹ miều của một cái tên nhiều khi trở thành trò cười và có lúc giết chết cả bản chất vốn tốt đẹp vốn có của con người muốn thay đổi cái tên của mình.

    Điều băn khoăn thứ năm : Với trình độ của cán bộ trong Chính quyền địa phương họ thì khi làng hay xóm họ trở thành Hà Nội, những cán bộ quản lý đô thị cấp “ phường làng” sẽ làm việc như thế nào. Chẳng lẽ cứ gọi là thủ đô nhưng mọi lối sống và lối tư duy vẫn như mấy chục năm nay hay sao ? Mà chẳng lẽ khi trở thành thủ đô rồi mà mấy chục năm sau con người và cảnh vật của thủ đô lớn vẫn chỉ là thêm mấy cái nhà bê tông cốt thép không một chút mỹ quan tí nào như bây giờ sao ? Vì nếu họ cứ làm ruộng như bây giờ thì cuộc sống của họ cũng vẫn chỉ như thế mà thôi. Nhiều người nông dân thấy lo ngại rằng họ phải khoác một cái áo “đại lễ” sang trọng trong khi đó chân lại đi đôi dép nhựa rẻ tiền dính phân bò và đất ? Riêng điều này thì tôi cũng có cùng băn khoăn với những người nông dân. Vì phần lớn Hà Nội cũ ( trước khi mở rộng ) của chúng ta đã được cả nước tập trung phát triển mà đến bây giờ chẳng đâu ra đâu trong nhiều lĩnh vực. Vậy thì khi mở rộng ở vào vị trí một thủ đô rộng lớn như thế so với thế giới thì không biết những gì sẽ xẩy ra ?

    Việc phát triển thủ đô là lẽ tất yếu mà ai cũng đồng ý. Nhưng những băn khoăn của những người nông dân Hà Tây, những người chỉ ít ngày nữa chính thức trở thành thị dân của một thủ đô khổng lồ là sự thật. Tôi không phải là người hoạch định hay quản lý thủ đô mở rộng này, cho nên tôi không trả lời năm điều nhỏ bé trong hàng trăm điều mà những người nông dân Hà Tây đang ngơ ngác hỏi. Câu hỏi này thuộc về những nhà quy hoạch và quản lý thủ đô của chúng ta.

    Nguồn: Báo Phụ nữ thành phố HCM và http://trannhuong.com
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  8. #8
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 4




    Mất hết đất rồi


    Hôm nay, tôi có về thăm quê. Đã lâu chưa về thăm quê. Ngay từ khi trông thấy mặt tôi, bố tôi đã nói: Con ơi, nó lấy hết đất làng mình rồi con ạ. Sắp tới nông dân không còn ruộng để làm nữa. Tôi lặng người đi. Cha con không nói với nhau câu nào nữa.

    Việc lấy đất của nông dân khắp nơi thì tôi đã biết. Đất lấy đi toàn là những bờ xôi ruộng mật. Đất lấy đi, rồi là bỏ hoang bỏ hóa, rồi chuyển đổi mục đích, rồi mua bán sang tên đổi chủ.

    Những làng quê giờ dân không còn đất, tư liệu cuối cùng trong tay họ đã bị giật đi, cũng là bát cơm trên miệng người nông dân - tầng lớp khốn khổ nhất trong xã hội, bị giật đi. Người nông dân không có kiến thức gì ngoài kinh nghiệm canh tác. Tới đây họ làm gì?

    Lúc lấy đất, họ hẹn sẽ cho dân địa phương vào làm ở các doanh nghiệp của họ. Nhưng đã có ai điều tra về lời hẹn của các chủ doanh nghiệp, có ai điều tra xem đất được dùng như thế nào. Có ai xem những người nông dân được đền bù mất đất dùng đồng tiền như thế nào. Có ai xem các tệ nạn xã hội và các giá trị truyền thống của làng xã ấy đã xảy ra như thế nào.

    Tôi lo lắng lắm! Không biết làng tôi nhập vào Hà Nội sẽ như thế nào. Liệu cuộc sống mới có làm lưu manh hoá dân làng tôi?

    Và nếu làng tôi bị lưu manh hoá, thì Hà Nội ta có bao nhiêu làng như thế!

    19h27' (20.07.2008)
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  9. #9
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 5




    Ai nhảy xuống sông Tô Lịch?



    Sông Tô Lịch là một dòng sông lịch sử. Ngày xưa, có câu ca dao thế này:

    Nước sông Tô vừa trong vừa mát

    Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh

    Như thế, nước sông Tô đã trong lại mát, luôn được dùng trong sinh hoạt của nhân dân. Hơn thế, trên con sông đó lại là nơi trên bến dưới thuyền, có hoạt động buôn bán. Có cái tình của đôi trai gái kia (mà cô gái rất chủ động đấy chứ).

    Nhưng sông Tô hôm nay thế nào chắc ai cũng biết. Mặc dù chính quyền thành phố đã rất nỗ lực như cho nạo vét, xây kè đá, trồng cây xanh, mở đường, nhưng đây vẫn cứ là dòng sông hôi thối.

    Sông Tô chảy quanh thành phố Hà Nội. Sông Tô làm cho tôi nhớ đến sông Châu Giang chảy trong lòng thành phố Quảng Châu (tức Dương Thành, Huệ Thành, Trung Quốc) mà tôi vừa có dịp ghé thăm.

    Khi thăm Quảng Châu, người ta cho biết rằng sông Châu Giang ngày trước cũng chẳng kém Tô Lịch của Hà Nội. Nhưng chính quyền và nhân dân thành phố đã kiên quyết cải tạo nó. Kết quả là vào năm 2006, chính quyền đã tổ chức một cuộc thi bơi trên sông Châu Giang, với cự ly 1.000 m, để chứng minh cho sự trong sạch của Châu Giang.

    Khi ấy, có 1 vạn người tham gia cuộc bơi này. Người đầu tiên nhảy xuống bơi là Ông Chủ tịch thành phố. Tiếp theo, người thứ hai là Ông Bí thư thành uỷ.

    Từ đó đến nay, cuộc thi bơi đó đã được duy trì hàng năm. Và cùng với cuộc thi bơi là việc trồng và chăm sóc cây xanh. Cho đến hôm nay, diện tích cây xanh là 10 mét vuông trên một đầu người.

    Trông người lại ngẫm đến ta. Tôi mong chính quyền và nhân dân Hà Nội sẽ hạ quyết tâm làm trong sạch cho sông Tô Lịch và các con sông đang chảy (và đang nghẹn lại) trong thành phố. Và tôi cũng mong rằng sẽ có ngày bè bạn bốn phương sẽ trẩy về hai bên bờ sông Tô đông như hội, để dự cuộc thi bơi trên dòng lịch sử của thủ đô ngàn năm tuổi.
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  10. #10
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 6





    Thương lắm Hà Tây


    TRẦN NHƯƠNG

    Ngày 1-8-2008 này, Hà Tây sẽ mãi mãi không còn. Lòng tôi buồn xao xác, không biết vì sao tôi lại buồn mặc dù nơi đó không phải quê tôi.

    Quê tôi ở Phú Thọ, cái huyện tôi Lâm Thao chỉ cách một quãng đò là sang Sơn Tây. Ngày nhỏ tôi hay theo mẹ qua đò sông Thao là đất Cổ Đô, chùa Mía. Tôi nhớ những trưa tháng Bảy sang chơi bà con bên đó. Buổi trưa nằm khểnh trong ngôi nhà tường đá ong mát rượi. Đi lang thang trong vườn mít ổi treo vướng lối đi. Nhưng tôi nhớ nhất là cái giềng thơi trong vắt trong vườn nhà bác. Thả cái mầu khâu bằng mo cau (dùng để múc nước) xuống giếng rồi kéo lên. Những giọt nước rơi kêu long bong như giọt đàn bầu trong cái tĩnh lặng thanh sạch của đất Sơn Tây. Gầu nước trong veo lọc qua nhiều tầng đá ong có lẽ không thể trong hơn nữa. Uống một ngụm, trời ơi vừa mát, vừa ngọt mà không một vị nào có thể thay thế được, không có hớp nước ở đâu có thể thay thế được.

    Rồi Sơn Tây với tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Ngày cải cách ruộng đất chú ruột tôi vượt sông Thao sang Sơn Tây lánh nạn. Không ngờ bị bắt điệu về làng, đội CCRĐ mở phiên toà tuyên bố tử hình chú tôi. Chú tôi hồi cướp chính quyền năm 1945 là Chủ tịch huyện Lâm Thao. Ông tham gia cách mạng suốt những năm kháng chiến chống Pháp. Khi bị đội CCRĐ gọi về ông đang công tác ở Ty Giáo dục Tuyên Quang.

    Rồi năm 1987 tôi dẫn thằng con lớn lên Sơn Lộc nhập trường Sỹ quan Hậu cần. Ba năm học của cháu tôi đi lại đất Sơn Tây không biết bao nhiêu lần. Có lần cháu bị tai nạn phải cấp cứu ở viện quân y 105 nhiều ngày. Bạn bè anh em Sơn Tây đã cưu mang, giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều.

    Rồi con dâu út của tôi cũng là người quê ngoại Sơn Tây.

    Rồi bao nhiêu anh em, bạn bè ở Hà Tây.

    Bây giờ thì Hà Tây bị xoá sổ, bị “hy sinh”. Tôi cứ nghĩ nay mai trên bản đồ nước Việt sẽ không có địa danh Hà Tây. Hà Nội kéo tít lên Ba Vì, lên giáp Sơn La, Hà Nam, Phú Thọ. Hà Nội rộng mênh mông về diện tích nhưng đất kinh kỳ nào có là bao, thanh lịch của người Tràng An nào có là bao. Hà Tây một vùng văn hoá đậm đà nay thành ra Hà Nội.

    Còn đâu câu thơ Quang Dũng “Đôi mắt người Sơn Tây”. Còn đâu bài hát “Hà Tây quê lụa” của Nhật Lai. Còn đâu “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa…Và bao nhiêu truyền thống văn hoá đã làm nên một cốt cách Hà Tây…

    Một tỉnh lớn bỗng nhiên bị mất tên mất tuổi, mất hết cả bề dày năm tháng. Đành rằng non nước vẫn non nước ấy, con người vẫn con người ấy nhưng quê hương Hà Tây sẽ chẳng còn hiện diện trong các giấy tờ hành chính, trong lòng người kế thế mai sau. Có lẽ khi dùng công cụ tìm kiếm Google khi đánh chữ Hà Tây thì nó không còn cho kết quả tìm kiếm được.

    Tôi cứ chống chếnh như mất đi một quê hương, mất đi một người bạn mà lâu nay tri âm tri kỷ. Không hiểu sao tôi lại thấy thương bà con mình nơi ấy. Có phải họ “hy sinh” cho đất nước, cho Hà Nội ? Họ từ bỏ cả cái tên tuổi quê hương của mình cho sự phát triển của nước Việt hôm nay. Nếu sự “hy sinh” cho nghĩa lớn thì phải cảm ơn họ. Nhưng tôi ngờ cái sự “hy sinh” cao cả của họ là một nỗi buồn, là một cái giá không nhẹ nhàng chút nào. Ai dám chắc tất cả những quyết sách bây giờ là đúng. Thời gian sẽ trả lời, sẽ phán quyết tất cả.

    Cho nên những ngày này tôi đau đáu nỗi lòng: THƯƠNG LẮM HÀ TÂY…!

    Hà Nội, trưa ngày 21-7-2008

    Nhà văn Trần Nhương

    Nguồn: http://trannhuong.com

    Ảnh: Cổng làng Mông Phụ - Đường Lâm. Nguyễn Xuân Diện chụp.
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  11. #11
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 7





    Ông Chủ tịch thành phố sau ngày 1.8.2008


    Ngày 1.8.2008 Hà Nội Mở Rộng sẽ có Chủ tịch mới. Tôi chưa biết ông ấy là ai. Cũng không đoán là ai. Nhưng tôi là một công dân của Hà Nội Mở Rộng ấy, tôi nghĩ đến một ông Chủ tịch như thế này:

    Ông ấy phải là một người có con mắt của một nhà quy hoạch. Nếu ông ấy không phải là một nhà quy hoạch, thì phải có bên mình những cố vấn là những nhà quy hoạch giỏi giang và đặt lợi ích của Thủ đô, của quốc gia lên trên hết thảy. (Mấy ông quy hoạch phát biểu trên VTV hôm trước khi bỏ phiếu ở Quốc hội, theo những gì các ông ấy trình diễn thì là không ổn).
    Tầm nhìn của Ông về tất cả các vấn đề là tầm nhìn cho lâu dài, không phải là tầm nhìn hạn hẹp của một nhiệm kỳ. Và như vậy di sản ông để lại là dùng được cho người kế nhiệm.
    Ông Chủ tịch Hà Nội phải là một người có đầu óc quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Ông sẵn sàng từ chức khi thấy mình không thể gánh vác trách nhiệm nặng nề này.
    Ông luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu tiếng nói của nhân dân lao động, của các nhà khoa học và trí thức chân chính (biết nhận ra nhà khoa học chân chính).
    Ông biết gần gũi báo chí để gửi lên tiếng nói kêu gọi nhân dân đồng cảm và chia sẻ với những khó khăn tạm thời của một thủ đô mênh mông.
    Ông phải hiểu văn hóa và biết chỉ đạo cách làm văn hóa một cách sâu sắc nhất, đặc biệt là hướng các hoạt động của đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội theo chiều sâu và cộng hưởng của tất cả các cư dân thành phố, để ai cũng được hưởng niềm vui và biết nhân niềm vui này.
    Tôi mới nghĩ được thế. Chư vị có ai có đề xuất gì hay ý kiến gì khác, xin cứ nêu ở đây. Tôi thấy thiên hạ đang xôn xao về trường hợp ông Nguyễn Bá Thanh (Đà Nẵng) có thể sẽ ngồi ghế này. Chắc nhiều người mong đợi ông!
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  12. #12
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 8





    Kính gửi: Các cụ thủ từ ở Hà Tây


    Thưa các cụ, như các cụ đã biết, từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, tức ngày mồng 1 tháng 7 năm Mậu Tý, toàn bộ tỉnh Hà Tây của chúng ta sẽ bị xóa sổ để nhập vào Hà Nội. Chuyện này chưa từng xảy ra trong lịch sử. Ngày 1 tháng 7 là ngày ngâu, sẽ có mưa và trên trời sẽ có cầu Ô Thước cho một cuộc gặp ngắn ngủi rồi vĩnh quyết.

    Tất cả các đền – chùa – đình - miếu - am - quán trên đất Hà Tây sẽ thành của Hà Nội. Cùng với đó là tất cả các vị Thần – Phật – Tiên – Thánh – Ma Quỷ đã và đang được thờ cúng từ lâu đời ở Hà Tây sẽ trở thành của Hà Nội. Các vị đó đều đã biết, nhưng đứng trước một cái chuyện hệ trọng như thế này, các cụ cần có lễ cáo yết.

    Nội dung lễ cáo yết, các cụ nên báo cáo tuần tự theo tiến trình rằng: HĐND tp Hà Nội họp, biểu quyết lấy Hà Tây và được tán thành; rồi đến lượt HĐND tỉnh Hà Tây họp biểu quyết nộp toàn bộ đất đai sông núi, thần linh, chùa đền miếu quán ... cho Hà Nội và được tán thành; cuối cùng là Quốc Hội biểu quyết tán thành.

    Từ nay, các bản văn cúng, văn tế trong tất cả các tuần tiết ở tất cả các ngôi đến, chùa, đình, miếu, am, quán ở Hà Tây ...sẽ là: Việt Nam quốc, Hà Nội thành phố (thủ đô), rồi huyện, xã, thôn..

    Riêng với hai thành phố Hà Đông và Sơn Tây, thì nên đọc là: Việt Nam quốc, Hà Nội thủ đô, Sơn Tây/Hà Đông thành phố,..Các cụ không nên đọc: Hà Nội thành phố, Hà Đông/Sơn Tây thành phố...vì nếu đọc như thế, các chư thần linh sẽ không biết thế nào mà giáng về chứng giám lòng thành, hâm hưởng lễ vật và phù hộ độ trì cho trăm họ được. Người thì có thể lạc lối, chứ nếu để thần linh lạc lối thì tai hoạ khôn lường, phải không thưa các cụ.

    Cháu có mấy lời như vậy, xin gửi đến các cụ để các cụ xem xét và quyết định. Việc này ngành văn hóa không dặn dò các cụ bởi họ đang bận vào việc sắp xếp bàn Ghế, văn phòng trụ sở và các việc khác.

    Trân trọng

    Nguyễn Xuân Diện bái thư.
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  13. #13
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 9





    Hà Tây giao nộp cho Hà Nội những gì?


    Cuốn sách Địa chí Hà Tây vừa được Sở VHTT Hà Tây cho ra mắt bạn đọc. Đây là cuốn sách cuối cùng của ngành xuất bản Hà Tây. Sách có một phần, do Ông Đặng Văn Tu, GĐ Sở VHTT viết, nhưng cuối cùng thì ông đã không viết. Vì cái bài đó có đầu đề là: Tương lai của Hà Tây. Ông làm sao mà có lòng bụng nào viết được cái phần đó, mà biết viết gì, viết như thế nào. Thành ra nó vắng mặt trong cuốn sách.

    Hà Tây là tỉnh có những điểm đáng chú ý sau:

    - Hà Tây là đất trăm nghề, là tỉnh có nhiều nghề thủ công mỹ nghệ đứng đầu cả nước (Lụa Vạn Phúc, Khảm Chuyên Mỹ, Quạt Vác, Thêu Quất Động, Mộc Chàng Sơn, Bún Bặt, Bún Cổ Đô, ..).

    - Hà Tây là tỉnh có nhiều di tích nhất cả nước (trong đó có nhiều di tích được liệt hạng đặc biệt quan trọng của quốc gia: Chùa Tây Phương, Chùa Bối Khê, Chùa Thầy, Đình Tây Đằng, Đình Chu Quyến,..).

    - Hà Tây có số lượng tiến sĩ (thời trước từ 1075 - 1919) đông thứ nhì cả nước, chỉ sau Hà Bắc (cũ).

    - Hà Tây có ngọn núi Ba Vì (Tản Viên Sơn) là ngọn núi tổ của nước ta (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi). Núi ấy là nơi ngự trị của Thần Tản Viên Sơn Thánh, đứng đầu Tứ Bất Tử trong điện thần Việt Nam.

    - Hà Tây có nhiều lễ hội nhất cả nước, trong đó có lễ hội Chùa Hương kéo dài hết cả mùa xuân, lộc nhiều vô kể.

    - Hà Tây là tỉnh có nhiều dân ca nhất nước (Ca trù, Hát Dô Liệp Tuyết, Hát Chèo Tàu, Hát Chèo, Hát Tuồng Dương Cốc, Hò Phú Nhiêu, ...).

    Thế mà bây giờ về Hà Nội. Hà Nội giàu to, thảo nào HĐND tp Hà Nội họp biểu quyết nhanh chóng thế!
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  14. #14
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 10





    Đôi mắt người Sơn Tây


    Quang Dũng


    Em ở thành Sơn chạy giặc về
    Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
    Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
    Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

    Vừng trán em vương trời quê hương
    Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
    Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
    Em đã bao ngày em nhớ thương ?

    Mẹ tôi, em có gặp đâu không ?
    Bao xác già nua ngập cánh đồng
    Tôi nhớ một thằng con bé dại
    Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông !

    Từ độ thu về hoang bóng giặc
    Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn !
    Đất đá ong khô nhiều suối lệ
    Em đã bao ngày lệ chứa chan ?

    Đôi mắt người Sơn Tây

    U ẩn chiều lưu lạc
    Buồn viễn xứ khôn khuây
    Tôi gửi niềm nhớ thương
    Em mang giùm tôi nhé
    Ngày trở lại quê hương
    Khúc hoàn ca rớm lệ

    Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
    Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
    Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
    Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

    Bao giờ tôi gặp em lần nữa
    Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
    Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
    Còn có bao giờ em nhớ ta ?

    1949
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  15. #15
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 11




    Làng Việt là nơi cất giữ văn hóa
    Hà Nội Mở Rộng sẽ có rất nhiều làng mạc. Nhiều làng đã đô thị hoá xong. Nhiều làng đang từng giờ thay da đổi thịt. Đây là một làng ven đô, đã đi vào thơ:

    Khói rơm quyện với khói xăng

    Tam quan dường ẩn, mái bằng dường phô

    Sáo diều gióng giọng như mơ

    Có cô hàng xén kẹp thơ trên đùi


    (Trưa Triều Khúc - Nguyễn Hùng Vỹ)

    Chúng ta đều biết là làng Việt đã là nơi cất giữ gần như toàn bộ gia sản văn hóa của tổ tiên chúng ta. Kiến trúc đình, chùa, miếu và các nhà ở dân gian là kết tinh sự hiểu biết của người xưa về môi trường, về kiến trúc và quan niệm về sự ở của tổ tiên chúng ta.

    Lũy tre xanh và cách bố trí dân cư theo hình xương cá hoặc bố trí dọc theo nguồn nước là cách tự vệ và sự tuân thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên - một triết lý của người Việt.

    Tượng ở chùa làng, điêu khắc đình làng thể hiện quan niệm thẩm mỹ của người Việt qua các thời kỳ lịch sử. Đó là một cái đẹp thuần khiết và hồn nhiên.

    Các hội lễ dân gian do các làng quê tổ chức chính là nơi gìn giữ những nét đẹp của một lối trình diễn những tinh hoa nghề nghiệp, các vũ điệu, âm nhạc, nghi thức trong một sự cộng cảm của cả cộng đồng.

    Tín ngưỡng và phong tục dân gian đã được gìn giữ từ đời này qua đời khác duy trì một niềm tin vào điều thiện, điều tốt lành và răn dạy người ta sống có đạo đức, không độc ác và giả dối.

    Ruộng đất làng thẳng cánh cò bay là nơi người dân hai sương một nắng, đổ mồ hôi và đưa hết kinh nghiệm canh tác được truyền đời xuống từng luống cày, từng luống khoai, nương lúa. Mất ruộng là xoá đi những kinh nghiệm canh tác khỏi ký ức của người nông dân.

    Những đêm hội có diễn Chèo, những cuộc hát đối đáp trong những đêm trăng, hay các cuộc hát ghẹo trên nương sắn, nương chè là nơi gìn giữ các làn điệu dân ca đúng trong môi trường của nó.

    Tóm lại, làng Việt chính là nơi cất giữ văn hóa Việt. Chính làng Việt đã bảo vệ văn hóa Việt Nam khỏi cuộc đồng hóa của Tàu của Tây từ hàng ngàn năm nay, làm nên sức mạnh đề kháng của văn hóa Việt Nam, tạo nên bản sắc và bản lĩnh văn hóa Việt Nam.

    Vì thế, trước cơn cuồng phong của đô thị hóa như một quy luật tất yếu của thời đại mới, trong cơn mưa Âu gió Á này, làng Việt cổ truyền đang dần biến mất thì chính là lúc văn hóa Việt bị đe doạ nhất. Nếu chúng ta không giữ được làng Việt thì cũng sẽ không giữ được văn hóa Việt; và đương nhiên nếu không giữ được văn hóa Việt thì chuyện mất sức đề kháng, bị đồng hoá, bị văn hóa ngoại lai đánh gục là một nguy cơ trông thấy.


    Mấy điều suy nghĩ tản mạn đêm cuối tuần, mong được các bạn và các nhà nghiên cứu về văn hóa chiếu cố xem đến rồi cùng nghĩ ngợi.

    21h ngày 25.7.2008

    Nguyễn Xuân Diện
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  16. #16
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 12




    Hà Nội có 8 phó chủ tịch?

    Sắp đến ngày Hà Tây chính thức sáp nhập vào Hà Nội, vấn đề trở nên được quan tâm là chính quyền mới của Thành phố sẽ được sắp xếp nhân lực ra sao. Bộ trưởng Nội vụ Trần Văn Tuấn đã có phát biểu hôm 23/7: "Về cơ bản sẽ giữ gần như nguyên trạng. Một bên đang có 5 đồng chí, một bên 3 đồng chí. Chúng tôi sẽ cân nhắc bố trí để có thể đủ cho các vị trí đó".

    Theo logic dễ hiểu, đã quyết định mở rộng Hà Nội để quy hoạch thì đương nhiên phải mạnh dạn quy hoạch cả nhân lực. Vậy cách sắp xếp "đủ cho các vị trí đó" là một cách để giữ "hòa khí" giữa hai bộ máy cũ, hay lại là một cách cơ cấu cán bộ để cho chẳng mất lòng ai? Sự "cơ cấu", "cân đối" để làm yên lòng và yên vị các cán bộ cũ liệu có phải là bước khởi đầu tốt đẹp, báo hiệu một bộ máy chính quyền được quy hoạch gọn ghẽ, hay lại một công thức cồng kềnh cũ kĩ?

    Như vậy, dư luận vẫn chưa thể hiểu rõ việc gộp Hà Tây và Hà Nội là sự lắp ghép cơ học, hay là sự hợp nhất đúng nghĩa?

    Linh Thủy
    Nguồn: http://tuanvietnam
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  17. #17
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 13





    Từ Hội An đến...Hà Nội


    Nguyên Ngọc

    Anh bí thư Hội An là bạn tâm đắc của tôi. Tôi biết anh từng nhiều đêm mất ngủ, vắt tay lên trán, thao thức đến sáng trắng, đêm này qua đêm khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, lo cứu lấy Hội An, cứu văn hóa Hội An, bởi văn hóa là cái phải lo cứu lấy từng ngày, ở đâu và xưa nay đều vậy. Còn người Tràng An từng rất văn hóa nhất nước giờ đây nghĩ sao về sự mất còn của những cái rất nhỏ nhoi mà trường cửu vô giá của Hà Nội trong những toan tính hẹp rộng nhỏ to của Hà Nội hôm nay.

    Một trong những cái hay nhất của Hội An là nó luôn thấy rằng nó “ có vấn đề ”. Hội An rất đẹp, và giản dị mà thâm thuý nó biết rằng cái đẹp là văn hoá, mà văn hoá thì có một đặc điểm cố hữu là vừa bền vững vừa mong manh, rất mong manh, dễ vỡ, luôn bị uy hiếp bởi chính sự đi tới của cuộc sống, xưa nay vẫn vậy, đầy triển vọng cũng lại đầy thách thức, và thách thức thì ngày mỗi dữ hơn, thậm chí có thể ít văn hoá hơn, ngang nhiên, trắng trợn hơn. Nhất là văn hoá trọc phú đang lấn át bây giờ.

    Tôi vừa có dịp ngồi với anh bí thư Hội An, hai anh em trằn trọc bàn với nhau suốt buổi chiều về một uy hiếp mới Hội An đang phải đối mặt, dường như có thể sẽ là sâu hơn, nguy hiểm hơn tất cả những lần nó từng trải qua : nhiều người, là các đại gia tất nhiên, từ Hà Nội, từ Sài Gòn, giàu lên rất dữ rất nhanh trong cơ chế thị trường hoang dã, đang đổ xô đến mua những ngôi nhà cổ ngay trong phố cổ Hội An. Nghe nói có cả người nước ngoài về nữa. Và người Hội An trong phố cổ thì đang bán nhà, đã đến mấy chục chiếc, rồi hẳn sẽ lên đến hàng trăm. Cũng dễ hiểu thôi, các gia đình sinh con đẻ cái, lớn phình lên, chia tách ra, cha mẹ có nhu cầu chia gia tài cho con cháu. Những người có tiền, thừa mứa tiền, rất nhạy với tín hiệu đó, liền chộp lấy cơ hội.

    Họ mua nhà cổ Hội An để làm gì ? Có hai khả năng : giàu có, họ chơi sang, một cái mốt chơi sang trông ra rất “ có văn hoá ”, cao cấp. Các ngôi nhà cổ Hội An được họ mua để chơi như một món đồ cổ, hệt những thứ quý, hiếm, đắt tiền họ vẫn bày khoe trong tủ kiếng phòng khách của mình. Hết chơi lọ cổ, chum vại cổ, ông bình vôi cổ, bàn ghế, liễn phướng, cả thư tịch cổ…, bây giờ họ chơi đến nhà cổ. Thú chơi cao cấp, mốt mới, rất thời thượng. Thậm chí họ sẽ tu bổ những ngôi nhà ấy đẹp hơn lên rất nhiều, hết sức chăm chút, đúng kiểu, đúng cổ, rất chuyên nghiệp, đến chuyên gia Nhật, chuyên gia Pháp, chuyên gia Ba Lan từng giúp Hội An tu bổ nhà cổ nhiều năm nay chưa chắc đã bằng. Bởi họ thừa tiền, chẳng sá gì. Khả năng thứ hai : những người cũng rất giàu có, tất nhiên, mua để ở, hoặc như một kiểu nhà nghỉ cuối tuần độc đáo, rất lạ, hoặc làm chỗ dưỡng già, rất “ exotique ”, và sang hơn, “ văn hoá ” hơn hẳn các resort đang mọc lên nhan nhản bây giờ…

    Cả hai loại người mua ấy sẽ không làm hỏng các ngôi nhà cổ Hội An, họ sành chơi lắm. Nhưng họ sẽ phá tan tành Hội An, phá đến tận gốc rễ, cốt lõi của Hội An. Sẽ không còn Hội An, sẽ mất hẳn Hội An, sẽ tiêu diệt Hội An. Bởi Hội An, cái lạ nhất, quý nhất, hay nhất, hấp dẫn nhất, đáng yêu nhất của Hội An, không nơi nào bằng, không chỉ là những ngôi nhà cổ vốn đã rất đẹp. Vẻ đẹp Hội An nằm trong một chiều sâu hơn, giản dị mà thăm thẳm, không gì thay thế được : những ngôi nhà cổ, rất đẹp, với những con người Hội An, rất đẹp, sống chính trong những ngôi nhà ấy. Những con người rất Hội An, bình dị, chân chất, thật thà, rất xưa, rất quê, mà đồng thời, kỳ diệu biết bao, lại rất phố, rất nay, rất hiện đại, rất văn minh, rất năng động, rất tân thời, một sự kết hợp, thậm chí không phải một sự kết hợp mà là một căn cốt cứ như là “ tự sinh ”, tuyệt diệu mà lại tự nhiên như không, hầu như chẳng cần chút cố gắng nào. Những con người như vậy sống trong những ngôi nhà như vậy làm nên cái ta vẫn gọi là “ văn hoá Hội An ”, một điều theo tôi đến nay vẫn chưa cắt nghĩa được hoàn toàn – cũng như những gì là văn hoá thật, văn hoá thật thì không bao giờ có thể cắt nghĩa được hoàn toàn, cho tận cùng, nó mãi mãi còn là bí mật, bí quyết… Một văn hoá Hội An như vậy đang bị tấn công, rất có thể trong trận tấn công tiêu diệt chiến quyết định lần này. Nếu những ngôi nhà cổ Hội An được bán ngày càng nhiều cho người nơi khác đến, thì rồi cái được gọi là văn hoá Hội An từng lặng lẽ khiêm nhường mà làm say mê du khách bốn phương không gì cưỡng được, sẽ ra thế nào? Sẽ ra thế nào một Hội An với lối sông Hà Nội hay Sài Gòn ? Một Hội An Hà Nội hoá hay Sài Gòn hoá ? Sẽ còn gì Hội An ?…

    Rất may, Hội An biết điều đó, biết đây là thách thức có thể sinh tử, và đang nghĩ cách đề kháng. Anh bí thư Hội An nói với tôi : “ Chúng tôi đang tính, có thể như thế này chăng, đương nhiên không thể ngăn người ta bán nhà và mua nhà, chẳng luật pháp nào cấm được, và người ta cũng có nhu cầu thật sự. Vậy thì, chẳng hạn có thể quy định bán nhà trong phố cổ thì phải ưu tiên bán cho chính người Hội An. Nếu sau đó không có người Hội An nào mua được nữa, thì Nhà nước sẽ mua. Chúng tôi sẽ chuẩn bị một quỹ, bao nhiêu tỷ cũng sẽ quyết chuẩn bị cho kỳ được, để mua những ngôi nhà cổ trong phố cổ chủ nhân bắt buộc phải bán, sau đó sẽ cho chính những người chủ cũ ấy thuê lại, với giá rẻ. Nghĩa là vẫn giữ được con người Hội An sống trong những ngôi nhà cổ Hội An, không để cho những ngôi nhà cổ Hội An biến thành đồ cổ chết, thành “xác ướp Ai Cập” như anh đã có lần lo lắng. Chúng tôi cũng nghe được ý kiến anh tin rằng Hội An từng đủ sức Hội An hoá tất cả văn hoá ngoại lai đến từ bất cứ đâu, từ Nhật, từ Hoa, từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, rồi cả Pháp và Mỹ… Hội An không sợ văn hoá ngoại lai, sức đề kháng văn hoá, khả năng tiếp biến và tiêu hoá văn hoá ngoại lai của nó là rất lớn. Chúng tôi cũng có lòng tin đó. Nhưng cũng phải tính đến tương quan lượng trong cuộc giáp mặt văn hoá, như chính anh từng nói, rất quyết liệt và cả hỗn hào lần này. Không thể để cho mọi chuyện diễn ra hoàn toàn tự phát…”. Anh bí thư Hội An là bạn tâm đắc của tôi. Tôi biết anh từng nhiều đêm mất ngủ, vắt tay lên trán, thao thức đến sáng trắng, đêm này qua đêm khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, lo cứu lấy Hội An, cứu văn hoá Hội An, bởi văn hoá là cái phải lo cứu lấy từng ngày, ở đâu và xưa nay đều vậy. Đã là văn hoá thì bao giờ cũng mong manh mà…

    *

    Tôi nói chuyện Hội An lần này vì, xin thú thật, đang nghĩ đến Hà Nội, đến chuyện mở rộng Hà Nội với quy mô nghe đến kinh hoàng đang làm xôn xao dư luận, không chỉ dư luận, xôn xao tận đáy tâm tư mỗi người Việt. Nhiều người đã lên tiếng về các mặt lịch sử, địa lý, chính trị, kinh tế, đất đai…, những lý lẽ đầy tâm huyết và cũng đầy thuyết phục. Tôi cũng không thể không xin góp một tiếng nói nhỏ.

    Quá trình đô thị hoá là một quá trình chung, tất yếu, với những quy luật chung, đồng thời cũng là quá trình riêng, với những quy luật riêng của mỗi đô thị. Vậy thử nghĩ về quy luật đô thị hoá của Hà Nội xem sao, có gì độc đáo, khác biệt, tạo nên vẻ khác biệt, độc đáo không thể thay thế của nó, nhất là hiện nay khi ta đang muốn quy hoạch lại Hà Nội với ý đồ lớn và quy mô lớn chưa từng có.

    Có thể như thế này chăng: một đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hoá Hà Nội là Hà Nội được hình thành, từ ban đầu, và trong suốt quá trình lịch sử, bằng một quá trình hội tụ văn hoá rất độc đáo, rất tập trung, và lâu dài. Ai cũng biết Thăng Long – Kẻ Chợ – Hà Nội trước tiên đã được hình thành bằng con đường hội tụ các làng nghề, vốn rất đặc sắc ở một vùng trung tâm của Bắc Hà. “ Ba mươi sáu phố phường ” (36 chỉ là một cách nói ước lệ để chỉ số nhiều, thật ra có đến hàng trăm phố phường, tôi đã thử đếm rồi) là một dấu vết sâu đậm của quá trình ấy, còn đậm không chỉ trong tâm tưởng mà cả trong đời sống thực tế cho đến tận ngày nay. Hội tụ làng nghề đương nhiên là hội tụ kinh tế. Nhưng ai cũng biết, làng nghề, vốn bắt đầu (và tồn tại lâu dài) theo phương thức thủ công, tức lấy sự khéo léo, tinh vi, cả tâm hồn người thợ, tài hoa của họ, thậm chí cả chất nghệ sĩ tiềm ẩn tích tụ lâu đời trong họ, nên cũng là văn hoá, thậm chí văn hoá theo nghĩa mộc mạc mà gốc gác, sâu xa nhất của văn hoá. Hà Nội là hội tụ văn hoá, đó là một điều cần khẳng định và đặc biệt nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu trong mọi suy tính về Hà Nội. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng ta nhắc đến Lý Thái Tổ với tầm nhìn chiến lược có tính đột phá của ông, quyết rời rừng núi kín đáo mà chật hẹp Hoa Lư, ra đứng hiên ngang giữa đồng bằng sông Hồng trống trải, đối mặt với không gian mới rộng mở, chấp nhận thách thức mới để tìm cơ hội phát triển mới cho dân tộc. Yếu tố địa-chínhtrị-quânsự trong quyết định dũng cảm này thật vĩ đại. Riêng tôi, tôi còn muốn nghĩ thêm đến một khía cạnh nữa, có thể cũng quan trọng không kém : ra Thăng Long, cũng là Lý Thái Tổ muốn đến đứng tại trung tâm của vùng văn hoá Việt lâu đời nhất và đặc sắc nhất, Việt nhất. Thậm chí rất có thể phương diện văn hoá này nằm ở vị trí then chốt trong quyết định lớn của ông, là cái nền của những phương diện khác được tính toán kia. Một trong những dấu ấn đậm nét nhất của triều đại Lý, rồi đến Trần, là ý thức mạnh mẽ về việc xây dựng một nền móng tư tưởng văn hoá độc lập cho dân tộc, tạo động lực cơ bản cho một thời đại mới của dân tộc, thời đại phục hưng và phát triển độc lập hùng cường sau 1000 năm Bắc thuộc. Không phải ngẫu nhiên mà chính trong thời kỳ này đạo Phật, vốn được du nhập rất sớm vào nước ta, cả vài thế kỷ trước công nguyên, và ở tại trung tâm Luy Lâu vào loại lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ, tức chính vùng Bắc Ninh với nhiều làng nghề đặc sắc vừa nói trên kia, đã được tổ chức nghiên cứu, Việt hoá, đậm đà nhất, một sự tìm tòi căng thẳng, vừa uyên bác vừa thực tế, kết hợp triết lý Phật giáo với văn hoá truyền thống Việt vốn có từ Hùng Vương. Lý Thái Tổ vốn từng là một người học trò chăm chỉ tại một ngôi chùa Phật bên Bắc Ninh… Nghĩa là nếu quyết định định đô Thăng Long là một quyết định chính trị, thì đó thật đúng ra là một quyết định chínhtrị-vănhoá, vănhoá-chínhtrị ; nếu Hà Nội là trung tâm chính trị của cả nước thì đó là một trung tâm chínhtrị-vănhoá, vănhoá-chínhtrị. Khởi đầu là vậy, quá trình là vậy, quy luật là vậy, nay cũng là vậy…

    Chất văn hoá ấy, với tất cả chiều sâu lâu đời và tinh tế, thấm sâu trong mỗi con người Hà Nội, không khí Hà Nội, mọi sinh hoạt Hà Nội, trong cái gọi là “ chất Hà Nội” – cũng như “chất Hội An ” vậy – riêng có và không gì thay thế được. Và văn hoá thì, thường vậy, vừa to lớn vừa được biểu hiện trong những thực thể rất nhỏ nhoi, rất ít được chú ý, rất dễ bị bỏ qua, thường khi mất đi rồi mới chợt thấy, chợt nhận ra, nhận ra thì không còn nữa rồi, mới hay rằng nó là quý biết bao, vô giá, chẳng tiền của nào và chẳng bao giờ mua lại được nữa …


    Vậy mà, cũng phải nói thật điều này thôi, hình như trong quản lý Hà Nội lâu nay ta lại quá ít chú ý điều này, ít chú ý nhất, quá dễ hời hợt, cả bừa bãi nữa trong các quyết định của mình, quyết định xoá bỏ, “ giết chết ” cái này, để cho tồn tại cái kia, phát triển cái nọ, tùy tiện, vội vã, mà lại rất quyết đoán! Chẳng hạn, cũng xin nói luôn một lần cho xong, quyết định xoá bỏ hàng rong trên các đường phố Hà Nội “ để cho Hà Nội sạch sẽ, tinh tươm, văn minh hơn ”, người ta bảo vậy. Quả thật tôi không biết là “văn minh” nào ? Hàng rong, thậm chí ngồi xổm trên vỉa hè ăn hàng rong là một nét văn minh của Hà Nội, mất đi rồi mà xem, Hà Nội sẽ mất đi một cái gì đó rất Hà Nội, rất Thạch Lam, rất Nguyên Tuân, rất Vũ Bằng, rất Phái… có hàng trăm ngôi nhà cao đến 7-8 chục tầng đang định xây để đua đòi với thiên hạ cũng chẳng thay thế được đâu. Những quầy sách bé tí bên bờ sông Seine là một nét văn minh không gì thay thế được của Paris, vô cùng đáng yêu và vô cùng văn hoá của Paris. Tôi cũng đã từng tận mắt nhìn thấy các hàng rong bán đủ thứ từ vật lưu niệm cho đến quần áo của người Hoa ngay trên hè phố New York, những xe bán hàng rong của người Việt trên đường phố Washington DC, không xa tòa Bạch Ốc…

    Ta muốn dọn hết cho văn minh hơn họ chăng ?…


    Những năm qua cũng đã diễn ra một cuộc tàn phá dữ dội các làng nghề truyền thống nổi tiếng quanh Hà Nội, cả các chùa chiền lâu đời, đẹp đến mê hồn, và là nơi tích tụ lịch sử, văn hoá, tư tưởng của hàng nghìn năm văn minh Việt. Một trong những lực lượng đã tấn công và đang tiếp tục tấn công, đến mức hầu như chắc chắn sẽ tiêu diệt hẳn các di tích ấy là các khu công nghiệp hiện đại đang liên tục và hỗn hào mọc lên như nấm. Hà Nội sẽ là một Hà Nội như thế nào, sẽ còn gì là Hà Nội, với một Hà Nội đang mở rộng ra mênh mông, trên chính những vùng văn hoá cổ xưa ấy, để thành một trung tâm kinh tế, một trung tâm công nghiệp hiện đại ? Sao Hà Nội lại đi đua công nghiệp hoá với Thành phố Hồ Chí Minh ? Hình như còn định đua cả về nhà cao nhất nước và dân số đông nhất nước nữa kia.


    Những người có trách nhiệm và có quyền đối với Hà Nội nên nhớ rằng Hà Nội, Hà Thành, Tràng An mà mình đang lãnh trách nhiệm trước lịch sử, cả với cha ông nghìn năm trước và con cháu bao thế hệ sau, có một chỗ mạnh không ai bì được là sự thanh lịch. Và thanh lịch là biết sang trọng mà không đua đòi. Không huênh hoang. Không cần to lớn, bề thế. Và nhất là trong sạch. Tôi biết anh bạn tôi, người lãnh đạo đêm đêm vẫn thao thức vì Hội An, là một người trong sạch đến mức có người bảo anh ta hơi “gàn” !


    Có ai đêm đêm trằn trọc vắt tay lên trán để lo đến sự mất còn của những cái rất nhỏ nhoi mà trường cửu vô giá của Hà Nội trong những toan tính hẹp rộng nhỏ to của Hà Nội hôm nay. Bài học của phố cổ nhỏ Hội An, vậy đó, chẳng nhỏ chút nào. Người Tràng An từng rất văn hoá nhất nước nghĩ sao ?

    Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/news?id=2699
    (Tạp chí Tia Sáng 19.05.2008)
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  18. #18
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Hà Nội - 14




    ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN

    Tác giả: Tương Lai

    Nhân việc mở rộng Hà Nội, tác giả trở lại một số vấn đề nông dân, và nhắc lại một câu hỏi nhức nhối: "Chẳng nhẽ lại vô ơn đến thế với người nông dân sao ?".

    Liệu có người dân thành phố nào không có một gốc gác nông thôn? Người Hà Nội cũng vậy thôi. Chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, đã có nhiều công trình nghiên cứu Hà Nội miêu tả và phân tích kỹ về những dấu ấn của làng quê trên gương mặt phố phường Hà Nội, tưởng chẳng phải nói thêm. Chỉ xin được gợi lên hình ảnh phố phường Hà Nội trong các tác phẩm của danh họa Bùi Xuân Phái, một niềm kiêu hãnh của người Hà Nội. “Phố Phái”, một danh xưng đã đi vào lịch sử được người Hà Nội trân trọng giữ gìn như báu vật của thủ đô. Vâng, của thủ đô, của riêng Hà Nội không trộn lẫn vào đâu được, mặc dầu những tác phẩm nghệ thuật độc đáo là tài sản vô giá của một quốc gia. Ngẫm cho kỹ, qua đôi mắt thiên tài và đường nét, sắc mầu của “Phố Phái”, cảm quan thẩm mỹ đậm đặc vẫn thức dậy trong người nhìn ngắm niềm xao xuyến giữa “phố” và “làng”.

    Một thủ đô xinh xắn và tao nhã, “sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội, những phố dài xao xác heo may, người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”1. “Những phố dài xao xác heo may” ấy không là những “bin đinh” cao to và hãnh tiến, những “villa” diêm dúa khoe mẽ cái thị hiêu giàu tiền mà nghèo tri thức, đói thẩm mỹ. Với “Phố Phái” chỉ có mái nâu cũ kỹ chẳng khác mấy với những mái ngói làng quê, được thăng hoa bên những gam màu quen thuộc trong cảm thức dân dã. Nét dáng “làng” và nét dáng “phố” quyện vào nhau, thức dậy những ý niệm sâu lắng về đất nước: nghèo, nhưng dám là mình, từ một nền văn minh lúa nước của miền nhiệt đới gió mùa mà chủ động và sáng tạo trong cách đi vào công nghiệp hóa , đô thị hóa, hiện đại hóa.

    Rồi đây khi Hà Nội mở rộng gấp nhiều lần, liệu dấu ấn ấy có mờ phai đi trong nhịp độ tăng tốc của đô thị hóa, công nghiệp hóa nhân danh hiện đại hóa, hay lại sẽ đậm nét hơn lên với cả hai chiều kích tốt và xấu? Chắc sẽ có nhiều kịch bản xảy ra, tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Chuyện này rồi đây những nhà quy hoạch, nhà quản lý với trái tim đập theo nhịp đập của ý nguyện nhân dân cả nước và nhân dân thủ đô, được dẫn dắt bởi một tầm tư duy tương xứng với trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, và trước những đôi mắt sắc sảo, đầy kinh nghiệm của thế giới hiện đại, sẽ dày công suy nghĩ để không nảy nòi ra những kịch bản xấu về thủ đô ngàn năm văn vật.

    Cái thế đất “rồng cuộn hổ ngồi” mà đôi mắt xanh của Lý Thái Tổ đã nhìn thấu và đưa ra quyết định dời đô từ Hoa Lư về đây “tiện hướng nhìn sông tựa núi. Địa thế rộng mà bằng phẳng” đúng là “nơi thắng địa”2 bậc nhất, để nghìn năm Thăng Long sừng sững tồn tại, ghi đậm dấu ấn của tầm nhìn vĩ nhân. Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội qua những biến thiên của lịch sử, từng chiêm nghiệm bao cuộc bể dâu “tạo hóa gây chi cuộc hý trường” từng ghi lại những “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”3 hiên ngang thách thức và đánh bại mọi toan tính, mọi thủ đoạn của những thế lực ngoại xâm đến từ mọi hướng. Trong thế trận “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều”, ông cha ta đã nhiều lần dám bỏ ngỏ thủ đô cho giặc tràn vào, quay trở về làng, cái nôi của sức mạnh dân tộc, làng còn thì nước sẽ không mất. Từ làng mà tập họp lực lượng, chọn thế đánh, dồn sức quật ngã kẻ thù, giải phóng thủ đô, lấy lại nước. Những Thoát Hoan, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị…hùng hổ vào chiếm Thăng Long để rồi cụp đuôi chạy về nước trong cái thế “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp”.

    Giữa thế kỷ XX, đạo quân viên chinh xâm lược Pháp, sau Điện Biên Phủ, tiêm tất hơn khi làm lễ cuốn cờ có kèn “bú dích” thổi lên cũng không che được vẻ bẽ bàng của đám tàn quân thất trận, kéo theo luôn sự sụp đổ cả hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ. Dẫn đầu đoàn quân thắng trận về tiếp quản thủ đô là người nông dân mặc áo lính, anh hùng Nguyễn Quốc Trị. Và trong “trùng trùng say trong câu hát, lớp lớp đoàn quân tiến về” 4 có những chàng trai Hà Nội “bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”5 nhưng nếu nhìn cho kỹ, thì họ chỉ điểm xuyết trong đội ngũ trùng trùng những người nông dân rời làng quê ra đi chiến đấu, sau khi “đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”6 chỉ một bộ phận nhỏ trong họ ở lại thành phố, số đông rồi sẽ về lại làng quê “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó” 7.

    Bởi lẽ, những người nông dân mặc áo lính ấy “việc cuốc , việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm”8, vì nước lâm nguy mà phải cầm súng. Bao đời, người nông dân vẫn phải gánh trên vai mình gánh nặng nhất của việc dựng nước và giữ nước. Từ chính sách “ngụ binh ư nông” đời Trần cho đến các cuộc chiến tranh chống các thế lực xâm lược đến từ mọi hướng trong thời đại Hồ Chí Minh, nông dân vẫn là quân chủ lực. Chuyện ấy ai cũng có thể thấy và nói được. Rồi ngay trong sự nghiệp xây dựng đất nước, chỉ tính trong vòng hơn hai thập kỷ sau 1975, hai lần nông thôn và nông dân đã cứu nguy cho nền kinh tế đất nước khỏi sụp đổ. Một là, vào cuối năm 1980 với sự sụp đổ của Liên Xô và khối XNXN Đông Âu, và hai là, cuối 1990 với khủng hỏang ở các nước Đông Nam Á. Cả hai lần, sản xuất công nghiệp, có lần cả dịch vụ đều sa sút, có lúc tăng trưởng âm, chỉ nhờ nông dân kiên cường và nhẫn nại trên mặt trận sản xuất, nông nghiệp phát triển, mới cứu được cho cả nền kinh tế đã đứng bên bờ vực.

    Là tác giả của Đổi Mới với “khoán chui” dẫn đến chỉ thị 100 của Ban Bí thư và 8 năm sau có nghị quyết của Bộ Chính trị về “khoán hộ’, trả lại quyền tự chủ cho hộ kinh tế gia đình nông dân, đem lại động lực cho sản xuất, từ nông nghiệp và nông thôn mà đưa đến những khởi sắc cho đô thị và công nghiệp. Thế là “cái truyền thống-nông thôn, nông nghiệp, nông dân” đã cứu cho “cái hiện đại - đô thị, công nghiệp” những “ bàn thua trông thấy”( nói theo ngôn ngữ của “EURO bóng đá”), nhưng rồi sau đó, những thành quả của Đổi Mới thì dường như nông thôn chỉ được tí chút còn đô thị hưởng trọn!
    Chỉ xin gợi lên một chút xíu về chuyện bất công đó : người thành phố được nhà nước kéo điện vào tận giường ngủ, bật sáng ngôi nhà với bao tiện nghi cần đến điện : tivi, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, máy hút bụi, máy lọc không khí…, họ chỉ phải trả tiền điện tính từ công tơ điện lắp trong nhà. Nông dân và nông thôn thì với một hai bóng điện phập phù, song họ phải trả tiền kéo điện từ trạm biến áp về xã, về làng, về xóm, về nhà. Hãy chỉ làm một con tính về số tiền phải rút ra từ chiếc hầu bao lép kẹp của người “nhà quê” trả cho việc kéo điện đó, để thấy sự bất công bày ra thật trần trụi. Còn to chuyện ra nữa, sẽ thấy sự trần trụi đó in đậm dấu ấn rất lộ liễu trong việc “quy hoạch” về chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp.

    Chỉ cần mở lại bộ Luật Hồng Đức đời Lê hay bộ Luật Gia Long đời Nguyễn, cũng thấy ra được những quy định thật nghiêm cẩn và chặt chẽ trong việc chuyển quyền sở hữu ruộng đất và sự tùy tiện trong việc nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đoạt hoặc vi phạm quyền sử dụng đất của người nông dân hiện nay. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, rồi Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 được bổ sung năm 2001, rồi “Luật đất đai” năm 2003 cũng đều hết sức chặt chẽ (tuy nhiên cũng còn nhiều điều cần phải hoàn thiện) trong việc quy định sử dụng quyền sở hữu toàn dân đó. Thế nhưng, trong quá trình thực hiện, một chữ ký của ông chủ tịch tỉnh, thậm chí chủ tịch huyện và có khi chủ tịch xã, cũng có thể dễ dàng “thu hồi” đất của nông dân đang sử dụng cho “mục đích công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa” với “đên bù, giải tỏa”!
    Thế là, mảnh đất mà về danh nghĩa, là “sở hữu toàn dân” này, cho dù đã bao đời cha ông họ tưới đẫm mồ hôi và có khi cả máu trên đó, rồi nay lại tiếp tục cày sâu cuốc bẫm trên mảnh đất ông cha để lại, trong phút chốc, do “quy hoạch chuyển mục đích sử dụng”, họ ngỡ ngàng đau đớn phải rời bỏ. Quá ư dễ dàng trong việc tước quyển sử dụng đất của nông dân, cũng có nghĩa là người nông dân không được bảo vệ quyền được ghi trong Hiến pháp và Luật Đất đai, nhưng cũng chính mảnh đất đó khi đã “chuyển mục đích sử dụng”, được giao cho nhà đầu tư, thì lập tức được bảo vệ thật chu đáo với tường xây bao quanh, có vệ sĩ, thậm chí cả chó “bẹcgiê” giữ gìn chu đáo và cẩn mật. Trong chuyện công nghiệp hóa và đô thị hóa này thì hóa ra người nông dân lại là người ít được bảo vệ nhất, nói là vật lót đường thì cũng phũ phàng quá, nhưng rõ ràng họ chỉ được “nhìn ngắm” những công trình “ngoạn mục” về đô thị hóa và công nghiệp hóa đó, khi mà, như lời cảnh báo của ông Sáu Dân trong một bài viết không lâu trước khi ông nằm xuống, họ “bị đặt ra ngoài rìa”.

    Nói cho đúng, họ cũng “được” vào đô thị đấy chứ, vào để kiếm việc làm. Họ cũng góp vào công nghiệp hóa đấy chứ khi họ góp phần vẫy gọi các nhà đầu tư bằng “lợi thế nhân công rẻ”, một lợi thế đau lòng! Ruộng thiếu, lao động thừa, làm nông nghiệp không có lãi, nông dân phải rời bỏ nông thôn ra đô thị chịu thân phận “phó thường dân” để kiếm sống. Tuy vậy, do không tin lắm vào công việc bấp bênh ở đô thị công nghiệp hóa, họ vẫn không nhượng quyền sử dụng mà vẫn giữ đất làm một cứu cánh, nhỡ lúc sa cơ ở đô thị công nghiệp thì quay về làng còn có đất làm vật “bảo hiểm”!

    Cứ quan sát kỹ các “chợ” lao động ở Hà Nội “ngàn năm văn vật”, nơi những trai làng đứng chầu hẫu đợi người thuê để được bán sức lao động, sẽ hiểu được phần nào thân phận người nông dân ở thành phố. Ấy thế mà, nhớ lại hai cuộc kháng chiến, người nhà quê sẵn sàng nhường gian giữa hoặc chiếc giường độc nhất trong căn nhà lá của họ cho người “sơ tán”, tức là những vị khách đô thị không mời mà đến. Những người Hà Nội độ tuổi trung niên chắc đều nếm trải kỷ niệm đó. Và, có thể nói, đây là một kỷ niệm rất đẹp của mối quan hệ nông thôn – đô thị.

    Chỉ có điều, kỷ niệm rất đẹp ấy chỉ được diễn ra ở làng quê trước đây, khi bom đạn đe dọa các thành phố, chứ lại không phải ở phố phường khi triển khai công nghiệp hóa và hiện đại hóa! Nếu có chăng, nó chỉ có thể lưu giữ trong cảm quan thẩm mỹ của nhà danh họa Thủ Đô trong những “Phố Phái” gợi nhớ nỗi xao xuyến giữa “phố’ và “làng”!
    Còn nỗi xót xa trong hiện thực, thì theo một báo cáo tại cuộc Hội thảo nọ, nông thôn đang trở thành bãi rác của đô thị. Những “con sông quê hương” nước gương trong soi tóc những hàng tre”9 đang chuyển sang mầu nâu đen và bốc mùi vì chất thải công nghiệp, chất thải đô thị xối xả trút thẳng vào. Hằng năm, lưu vực Sông Cầu phải tiếp nhận thêm ít nhất 180.000 tấn phân hóa học và 1.500 tấn thuốc trừ sâu ! Có 800 cơ sở sản xuất công nghiệp, 200 làng nghề và 1200 cơ sở y tế trong khu vực có mật độ dân số cao hơn hai lần mật độ dân số cả nước. Nước thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ giữa thành phố Thái Nguyên xả thẳng vào các nhánh nhỏ đổ ra sông Cầu mang theo các chất ô nhiễm vô cơ, xơ sợi khó lắng và độ kiềm cao. Khu công nghiệp gang thép này cho tuôn chảy vào sông Cầu một lưu lượng khoảng 1,3 triệu m3/năm với những chất độc hại như dầu mỡ, phenol và cyanure.

    Lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy với mật độ dân số 874 người/km2, gấp đôi lưu vực sông Cầu, bị nước thải đô thị xối thẳng trực tiếp làm đen ngòm nước sông. Mỗi ngày sông Nhuệ và sông Đáy tiếp nhận khoảng 800.000m3 nước thải sinh hoạt. Riêng sông Nhuệ tiếp nhận từ sông Kim Ngưu, Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét từ Hà Nội thải ra 400.000m3 chưa được xử lý qua đập Thanh Liệt. Con sông Đáy thơ mộng với nước trong vắt, chảy qua những vùng đầy ắp những danh lam thắng cảnh, chùa chiền, miếu mạo, đền thờ, di tích lịch sử cùng với những con sông Châu Giang, sông Tích, sông Hoàng Long, sông Đào từng tắm mát tâm hồn bao thế hệ cư dân Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Hòa Bình, Ninh Bình thì nay đang chuyển màu, khô kiệt và hôi thối. Không khéo đến “ngựa đá” trong “lưỡng hồi lao thạch mã” từ bài thơ của ông vua anh hùng thời Trần lao ra, cũng đến chết chìm trong dòng sông ô nhiễm thời hiện đại đang lượn sát vùng đất thiêng Tức Mạc, nơi phát tích của khí phách Đông A.

    Hai câu hỏi được đặt ra cũng trong cuộc Hội thảo nói trên : Có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc, nơi nuôi dưỡng sự trong lành, ấm áp của tuổi thơ bao thế hệ Việt Nam, để đổi lấy những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, phô ra cái thị hiếu hạ cấp, đổi lấy một lối sống lai căng ngấu nghiến những cặn bã của văn minh đô thị chưa kịp tiêu hóa, những hàng rởm, hàng giả độc hại, đổi lấy những dòng sông đen ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước tưoi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam, nuôi dưỡng và bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc? Câu thứ hai : Chẳng nhẽ lại vô ơn đến thế với người nông dân sao ?

    Để đi tìm câu trả lời, người đặt câu hỏi ấy đã đưa ra một tổng kết khái quát về “Mười cái nhất” của người nông dân: Cống hiến nhiều nhất. Hy sinh lớn nhất. Hưởng thụ ít nhất. Được giúp kém nhất. Bị đè nén thảm nhất. Bị tước đoạt nặng nhất. Cam chịu lâu dài nhất. Tha thứ cao cả nhất. Thích nghi tài giỏi nhất. Năng động khôn ngoan nhất.
    Câu chuyện đô thị và nông thôn còn dài dài, xin hãy tạm dừng ở đây, có dịp xin bàn tiếp.

    Chú thích:

    1. và 6. Thơ Nguyễn Đình Thi.

    2. Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ.

    3. Thơ Bà huyện Thanh Quan

    4. Lời trong Nhạc Văn Cao.

    5. Thơ Chính Hữu.

    7. và 8. Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

    9. Thơ Tế Hanh


    Bài viết cho Nguyệt San Hà Nội Mới “Hà Nội ngàn năm” số tháng 7.2008.

    Nguồn: http://trannhuong.com
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  19. #19
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    CHỈ CÒN 2 NGÀY NỮA , CÔ GÁI XỨ ĐOÀI ĐI LẤY CHỒNG LẦN 3 . THÔI THÌ DIENBATN XIN CHÚC CHO CUỘC HÔN NHÂN NÀY CHO TỚI : " ĐẦU BẠC RĂNG LONG " . VĨNH BIỆT XỨ ĐOÀI . DIENBATN .
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  20. #20
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    Rạng sáng 29-7 có mưa sao băng

    TT - Ông Phan Văn Đồng, phó chủ tịch Hội Thiên văn VN, cho biết rạng sáng mai (29-7), mưa sao băng sẽ xuất hiện trên bầu trời VN và có thể quan sát được từ dưới mặt đất.

    Thời điểm sao băng xuất hiện nhiều nhất (khoảng 20 vệt sao trong một giờ) được xác định vào khoảng thời gian từ 1g-4g sáng 29-7 giờ VN.

    Để quan sát được hiện tượng mưa sao băng, người dân có thể dùng mắt thường hướng về bầu trời phía nam.

    Nguồn : Tuổi trẻ online
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •