kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: PHÉP CHẾ LUYỆN ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

  1. #1

    Mặc định PHÉP CHẾ LUYỆN ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

    Đức Đông Phương Lão Tổ

    Hôm nay Bần đạo cũng nói thêm về Ngũ Hành Âm Dương để từ nay sắp đến chư hiền đệ cần ý thức cố gắng công phu tu luyện hơn nữa, vì đó là đầu mối để phăng đến chỗ đạt Đạo thoát nghiệp của luân hồi.
    Nói đến Ngũ Hành Âm Dương ở đâu cũng có, từ Trời Đất, con người đến mọi vật. Hễ có Thái Cực, Âm Dương, có Tứ Tượng là có Ngũ Hành. Sự tác động vô hình của Thái Cực Âm Dương tạo thành Ngũ Hành hữu danh hữu chất, hữu tướng, hữu hình. Ngũ Hành là trung gian giữa hữu và vô ; Ngũ Hành cũng là yếu tố sơ thỉ góp phần cấu tạo vạn hữu vũ trụ cho Thái Cực Âm Dương, cũng là Âm Dương tương phản, nhưng tương thành để quyết định mọi mặt cho mọi người và vạn vật. Người tu luyện cần phải chế âm phục dương là vì gặp thời bỉ « Âm thạnh Dương suy » mà tự thân mọi người đều có mầm chủng tử sanh diệt trong nhiều kiếp hiện nay. Thế nên cần phải khai thông huyệt đạo, chế Âm phục Dương là tạo những móc sắt, những viên gạch, bai hồ, nói chung là vật liệu cần thiết cho việc Trúc Cơ.
    Thánh Nhân ngày xưa nhìn thấy lẽ siêu xuất của vũ trụ vạn vật, vạch ra Bát Quái, tham cứu Đồ Thơ, tác thành Dịch Đạo, lưu lại cho đời tìm hiểu mối manh huyền bí của vũ trụ vạn vật. Tuy hình tướng lý thuyết bên ngoài, nhưng bên trong chứa đựng luật tắc ảo diệu biến hóa của Thái Cực Âm Dương. Người tu luyện nương vào đó để nhìn thấy sự luân động của bộ máy tối linh, nhận thấy được cái gì là chân thật, bất biến để gìn giữ, cái gì là giả tạm, sanh diệt diệt sanh trong thời gian nào đó để không bám víu.

    Thiên nhất sanh thủy, Địa lục thành chi; Địa nhị sanh hỏa, Thiên thất thành chi; Thiên tam sanh mộc, Địa bát thành chi; Địa tứ sanh kim, Thiên ngũ thành chi; Thiên ngũ sanh thổ, Địa thập thành chi. Một sanh một thành một âm một dương, một động một tịnh. Bởi có danh có chất nên gọi là Ngũ-Hành Tiên-Thiên.Bởi có hình có tướng nên gọi là Ngũ-Hành Hậu-Thiên. Trong trời đất vạn vật không có vật chi hóa sanh biến dưỡng mà không có Tiên Thiên, Hậu Thiên, Ngũ Hành áp dụng vào nhân thân. Người tu luyện phải thấu suốt những tác năng sinh động hữu hình trong chính bản thân để hòa hợp tu chứng. Ngươn Thần, ngươn Tinh, ngươn Tính, ngươn Tình, ngươn Khí là Ngũ Hành vô hình. Thức Thần, trược Tinh, quỷ Phách, du Hồn, vọng Ý là Ngũ Hành hữu chất. Bính Đinh, Nhâm Quý, Canh Tân, Giáp Ất, Mồ Kỷ là Ngũ Hành phương vị. Đó là hữu danh, hữu chất, vô hình là nguồn gốc của Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
    Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là tượng của Ngũ Hành ứng với phương vị để truyền sản tác thông, nguyên căn tổ khiếu của ngũ ngươn, ngũ tạng, lục phủ là hình trong hình, chất trong chất. Do đó có hỉ, nộ, ai, lạc, dục. Biết được sự liên hệ mật thiết giữa máy Tạo tuần hoàn, nhân thân cùng vũ trụ thì tu luyện là cần thiết cho con người. Khi đã tạo thành, con người sống trong hai khí Tiên Thiên, Hậu Thiên; tinh thần hòa lẫn vật chất; hữu hình vật chất thì biến hiện, vô hình thì tiềm ẩn , thế nên con người chỉ thấy giá trị của vật chất mà không thấy giá trị của tinh thần, vì vật chất hữu hình, quyến rũ, lôi cuốn, con người càng ngày càng bám víu; trong khi Chơn Tâm linh tánh càng ngày càng bị phủ mờ. Hỉ, nộ, ai, lạc, dục theo ngũ quan nhập vào tàn phá Ngũ Tạng Lục Phủ, làm thân phải bị thương tổn, khuynh khuyết, hoại tàn. Muốn trị được chứng nội thương ấy, người tu luyện cần phải chuyên chú trong việc luyện kỷ. Dương là đầu mối hóa sanh, tác thành vạn vật. Một Âm không sanh, một Dương không trưởng; Âm thạnh, Dương suy ắt bại hoại. Tạo thế quân bình cho trong định ngoài an là đời sống tự do, tự tại. Vượt ngoài lý Âm Dương là phản bổn hoàn nguyên, vĩnh cửu trường tồn.
    Tai nghe tiếng trần mà chẳng phân biệt; mắt nhìn thấy sắc trần mà chẳng phân biệt; mũi ngửi mùi trần mà chẳng phân biệt; lưỡi nếm vị trần mà chẳng phân biệt. Chính vì sự phân biệt mà có ưa ghét, thân thù, khao khát, ước vọng để kết thành của nghiệp luân hồi. Vui, giận, buồn, vui, thương, cảm khi chưa phát gọi là trung. Khi phát ra đúng tiết điệu hòa hài cảm ứng với nội tâm, ngoài cảm gọi là hòa. Trung Hòa là yếu tố đạt đến chỗ trong định ngoài an, để sống một cuộc sống siêu thoát; mà sống cuộc sống siêu thoát thì Tiên Phật cũng thế thôi.
    Chư hiền đệ! Phép chế luyện Ngũ Hành Âm Dương mà chư đệ tu luyện là để quân bình Âm Dương cho đến chỗ thuần dương, bất sanh, bất diệt.
    Muốn chế luyện Ngũ Hành Âm Dương thì chư đệ phải chế ngự ngũ tặc thành ngũ căn hữu dụng. Thế nên bần đạo có dạy: khi chư hiền thấy thần thái thung dung, diện mạo hân hoan, tươi tốt, lời nói được kẻ mến người ưa, kẻ kính người nể, một cử chỉ hành động lợi vật lợi nhơn, không còn điều gì chấp trước, làm chẳng thấy là mình làm, cho chẳng thấy là mình cho, được không thấy là được, mất chẳng tưởng là mất. Đó là Thiền sinh, bảo sông là sông, núi là núi và đó cũng là kết quả mà chư đệ phải đạt đến.

    Hãy xem cái nhìn của đứa hài nhi xích tử với nụ cười mà ai nhìn cũng thấy dễ thương vì chính nó không biểu lộ ý nào khác hơn sự vô tư hồn nhiên của nó. Nó không có ý nghĩ đến giây phút sẽ đến để chờ đợi. Chư đệ hãy lấy ví dụ đó mà suy gẫm

    Last edited by dienthoai; 28-06-2011 at 02:11 PM.

  2. #2
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của tritue
    Gia nhập
    Nov 2009
    Bài gởi
    5,553

    Mặc định

    "khi chư hiền thấy thần thái thung dung, diện mạo hân hoan, tươi tốt, lời nói được kẻ mến người ưa, kẻ kính người nể, một cử chỉ hành động lợi vật lợi nhơn, không còn điều gì chấp trước, làm chẳng thấy là mình làm, cho chẳng thấy là mình cho, được không thấy là được, mất chẳng tưởng là mất. Đó là Thiền sinh, bảo sông là sông, núi là núi và đó cũng là kết quả mà chư đệ phải đạt đến".

    Lời của lão tổ rất hay
    Tận tâm người nhắc tỏ bày lý chơn
    Đủ duyên thì gặp thuyền Đơn
    Đủ phước thì lại vui hơn bao giờ
    Đông Phương Lão Tổ chỉ bờ
    Tỉnh rồi hay vẫn còn mơ hỡi người
    VÔ MÊ RA TỈNH
    MỚI TỊNH ĐƯỢC TÂM
    TRÍ TUỆ PHẬT MÔN
    http://thienynhiemmau.com.vn/forum/

  3. #3

    Mặc định

    Bài viết mới hay một phần, đó là chỉ ra những điều định hướng chung chung :
    Thế nên cần phải khai thông huyệt đạo, chế Âm phục Dương là tạo những móc sắt, những viên gạch, bai hồ, nói chung là vật liệu cần thiết ...
    Muốn chế luyện Ngũ Hành Âm Dương thì chư đệ phải chế ngự ngũ tặc thành ngũ căn hữu dụng.

    Giá như chỉ ra cách thức cho mọi người học hỏi thêm thì hay quá.
    Có lẽ ngại ngùng vì lời cảnh báo:...không nên làm theo, tập theo chăng?
    Vài dòng mạn đàm, xin lượng thứ.NS:yin_yang:2

  4. #4

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi NguyetSinh Xem Bài Gởi
    Bài viết mới hay một phần, đó là chỉ ra những điều định hướng chung chung :
    Thế nên cần phải khai thông huyệt đạo, chế Âm phục Dương là tạo những móc sắt, những viên gạch, bai hồ, nói chung là vật liệu cần thiết ...
    Muốn chế luyện Ngũ Hành Âm Dương thì chư đệ phải chế ngự ngũ tặc thành ngũ căn hữu dụng.

    Giá như chỉ ra cách thức cho mọi người học hỏi thêm thì hay quá.
    Có lẽ ngại ngùng vì lời cảnh báo:...không nên làm theo, tập theo chăng?
    Vài dòng mạn đàm, xin lượng thứ.NS:yin_yang:2
    Sai luật phải ngó trước sau
    Đúng luật thì cứ bảo nhau hành trì
    Thành tâm,chánh ý thực thi
    Đường ngay lối thẳng sợ gì gian lao
    Tam cang thường ngũ thế nào
    Oan khiên tiền kiếp hỏi sao có lành...
    Ngẩng đầu lên hỏi cao xanh
    Nhân đạo đã vẹn,xin hành đạo thiên
    Phế đời hành đạo nhẫn kiên
    Đủ công,đủ đức, đủ duyên gặp thầy
    Minh sư chỉ dẫn đủ đầy
    Sợ chi không đắc ,chóng chầy mà thôi

    VÔ VI LÀ HỌC NƠI TẤT CẢ VÀ HÒA NƠI TẤT CẢ

  5. #5

    Mặc định Đức Đông Phương Lão Tổ

    posted by dienthoai;Đức Đông Phương Lão Tổ

    Hôm nay Bần đạo cũng nói thêm về Ngũ Hành Âm Dương để từ nay sắp đến chư hiền đệ cần ý thức cố gắng công phu tu luyện hơn nữa, vì đó là đầu mối để phăng đến chỗ đạt Đạo thoát nghiệp của luân hồi.
    Nói đến Ngũ Hành Âm Dương ở đâu cũng có, từ Trời Đất, con người đến mọi vật. Hễ có Thái Cực, Âm Dương, có Tứ Tượng là có Ngũ Hành. Sự tác động vô hình của Thái Cực Âm Dương tạo thành Ngũ Hành hữu danh hữu chất, hữu tướng, hữu hình. Ngũ Hành là trung gian giữa hữu và vô ; Ngũ Hành cũng là yếu tố sơ thỉ góp phần cấu tạo vạn hữu vũ trụ cho Thái Cực Âm Dương, cũng là Âm Dương tương phản, nhưng tương thành để quyết định mọi mặt cho mọi người và vạn vật. Người tu luyện cần phải chế âm phục dương là vì gặp thời bỉ « Âm thạnh Dương suy » mà tự thân mọi người đều có mầm chủng tử sanh diệt trong nhiều kiếp hiện nay. Thế nên cần phải khai thông huyệt đạo, chế Âm phục Dương là tạo những móc sắt, những viên gạch, bai hồ, nói chung là vật liệu cần thiết cho việc Trúc Cơ.
    Thánh Nhân ngày xưa nhìn thấy lẽ siêu xuất của vũ trụ vạn vật, vạch ra Bát Quái, tham cứu Đồ Thơ, tác thành Dịch Đạo, lưu lại cho đời tìm hiểu mối manh huyền bí của vũ trụ vạn vật. Tuy hình tướng lý thuyết bên ngoài, nhưng bên trong chứa đựng luật tắc ảo diệu biến hóa của Thái Cực Âm Dương. Người tu luyện nương vào đó để nhìn thấy sự luân động của bộ máy tối linh, nhận thấy được cái gì là chân thật, bất biến để gìn giữ, cái gì là giả tạm, sanh diệt diệt sanh trong thời gian nào đó để không bám víu.

    Thiên nhất sanh thủy, Địa lục thành chi; Địa nhị sanh hỏa, Thiên thất thành chi; Thiên tam sanh mộc, Địa bát thành chi; Địa tứ sanh kim, Thiên ngũ thành chi; Thiên ngũ sanh thổ, Địa thập thành chi. Một sanh một thành một âm một dương, một động một tịnh. Bởi có danh có chất nên gọi là Ngũ-Hành Tiên-Thiên.Bởi có hình có tướng nên gọi là Ngũ-Hành Hậu-Thiên. Trong trời đất vạn vật không có vật chi hóa sanh biến dưỡng mà không có Tiên Thiên, Hậu Thiên, Ngũ Hành áp dụng vào nhân thân. Người tu luyện phải thấu suốt những tác năng sinh động hữu hình trong chính bản thân để hòa hợp tu chứng. Ngươn Thần, ngươn Tinh, ngươn Tính, ngươn Tình, ngươn Khí là Ngũ Hành vô hình. Thức Thần, trược Tinh, quỷ Phách, du Hồn, vọng Ý là Ngũ Hành hữu chất. Bính Đinh, Nhâm Quý, Canh Tân, Giáp Ất, Mồ Kỷ là Ngũ Hành phương vị. Đó là hữu danh, hữu chất, vô hình là nguồn gốc của Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
    Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là tượng của Ngũ Hành ứng với phương vị để truyền sản tác thông, nguyên căn tổ khiếu của ngũ ngươn, ngũ tạng, lục phủ là hình trong hình, chất trong chất. Do đó có hỉ, nộ, ai, lạc, dục. Biết được sự liên hệ mật thiết giữa máy Tạo tuần hoàn, nhân thân cùng vũ trụ thì tu luyện là cần thiết cho con người. Khi đã tạo thành, con người sống trong hai khí Tiên Thiên, Hậu Thiên; tinh thần hòa lẫn vật chất; hữu hình vật chất thì biến hiện, vô hình thì tiềm ẩn , thế nên con người chỉ thấy giá trị của vật chất mà không thấy giá trị của tinh thần, vì vật chất hữu hình, quyến rũ, lôi cuốn, con người càng ngày càng bám víu; trong khi Chơn Tâm linh tánh càng ngày càng bị phủ mờ. Hỉ, nộ, ai, lạc, dục theo ngũ quan nhập vào tàn phá Ngũ Tạng Lục Phủ, làm thân phải bị thương tổn, khuynh khuyết, hoại tàn. Muốn trị được chứng nội thương ấy, người tu luyện cần phải chuyên chú trong việc luyện kỷ. Dương là đầu mối hóa sanh, tác thành vạn vật. Một Âm không sanh, một Dương không trưởng; Âm thạnh, Dương suy ắt bại hoại. Tạo thế quân bình cho trong định ngoài an là đời sống tự do, tự tại. Vượt ngoài lý Âm Dương là phản bổn hoàn nguyên, vĩnh cửu trường tồn.
    Tai nghe tiếng trần mà chẳng phân biệt; mắt nhìn thấy sắc trần mà chẳng phân biệt; mũi ngửi mùi trần mà chẳng phân biệt; lưỡi nếm vị trần mà chẳng phân biệt. Chính vì sự phân biệt mà có ưa ghét, thân thù, khao khát, ước vọng để kết thành của nghiệp luân hồi. Vui, giận, buồn, vui, thương, cảm khi chưa phát gọi là trung. Khi phát ra đúng tiết điệu hòa hài cảm ứng với nội tâm, ngoài cảm gọi là hòa. Trung Hòa là yếu tố đạt đến chỗ trong định ngoài an, để sống một cuộc sống siêu thoát; mà sống cuộc sống siêu thoát thì Tiên Phật cũng thế thôi.
    Chư hiền đệ! Phép chế luyện Ngũ Hành Âm Dương mà chư đệ tu luyện là để quân bình Âm Dương cho đến chỗ thuần dương, bất sanh, bất diệt.
    Muốn chế luyện Ngũ Hành Âm Dương thì chư đệ phải chế ngự ngũ tặc thành ngũ căn hữu dụng. Thế nên bần đạo có dạy: khi chư hiền thấy thần thái thung dung, diện mạo hân hoan, tươi tốt, lời nói được kẻ mến người ưa, kẻ kính người nể, một cử chỉ hành động lợi vật lợi nhơn, không còn điều gì chấp trước, làm chẳng thấy là mình làm, cho chẳng thấy là mình cho, được không thấy là được, mất chẳng tưởng là mất. Đó là Thiền sinh, bảo sông là sông, núi là núi và đó cũng là kết quả mà chư đệ phải đạt đến.

    Hãy xem cái nhìn của đứa hài nhi xích tử với nụ cười mà ai nhìn cũng thấy dễ thương vì chính nó không biểu lộ ý nào khác hơn sự vô tư hồn nhiên của nó. Nó không có ý nghĩ đến giây phút sẽ đến để chờ đợi. Chư đệ hãy lấy ví dụ đó mà suy gẫm


    Đây là lời dạy cũa Đức Đông Phương Lão Tổ

    giống y Lời dạy cũa Đức Phật

    giống y Lời dạy Đức Lục Tổ

  6. #6

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi NguyetSinh Xem Bài Gởi
    Bài viết mới hay một phần, đó là chỉ ra những điều định hướng chung chung :
    Thế nên cần phải khai thông huyệt đạo, chế Âm phục Dương là tạo những móc sắt, những viên gạch, bai hồ, nói chung là vật liệu cần thiết ...
    Muốn chế luyện Ngũ Hành Âm Dương thì chư đệ phải chế ngự ngũ tặc thành ngũ căn hữu dụng.

    Giá như chỉ ra cách thức cho mọi người học hỏi thêm thì hay quá.
    Có lẽ ngại ngùng vì lời cảnh báo:...không nên làm theo, tập theo chăng?
    Vài dòng mạn đàm, xin lượng thứ.NS:yin_yang:2

    Bài này sưu tầm từ 1 quyển sách do Hải Ân soạn. Xin phép được phổ biến rộng rãi để mang lại lợi ích cho mọi người.

    LỮ TỔ BÁCH TỰ BI

    Tác giả: Lữ Động Tân
    Chú: Trương Tam Phong
    Giải: Lục Tây Tinh


    Lữ Động Tân hiệu là Thuần Dương, là một trong Bát Tiên.
    Đây là bài được Lữ Thuần Dương dùng kiếm khí khắc trên vách đá Lư Sơn, tóm tắc diệu đạo tu chân,để quảng độ kẻ hữu duyên.

    PHẦN CHÁNH VĂN:

    Dưỡng khí vong ngôn thủ,
    Giáng tâm vi bất vi.
    Động tỉnh tri tông tổ,
    Vô sự cánh tầm thùy.
    Chân thường tu ứng vật,
    Ứng vật bất khả mê.
    Bất mê tính tự trú,
    Tính trú khí tự hồi.
    Khí hồi đan tự kết,
    Hồ trung phối khảm ly.
    Âm dương sinh phản phục,
    Phổ hoá nhất thanh bi.
    Bạch vân triều đỉnh thượng,
    Cam lộ sái Tu Di.
    Tự ẩm trường sinh tửu,
    Tiêu dao thùy đắc tri.
    Tọa thính vô huyền khúc,
    Minh thông tạo hóa cơ (ky).
    Đô lai thập nhị cú,
    Đoan đích thượng thiên thê.

    PHẦN CHÚ GIẢI:

    1 “Dưỡng khí vong ngôn thủ,
    2 Giáng tâm vi bất vi.”

    CHÚ:
    Phàm người tu hành, trước nên dưỡng khí. Chú trọng ở chỗ quên nói và thủ nhất; quên nói thì khí không tán, thủ nhất thì thần không xuất. Khẩu quyết là chặn lấy cái lưỡi, im lặng không nói thì giữ được thần định tĩnh.
    Phàm tâm người ta khuấy động không ngừng. Người tu hành cần nhập tỉnh quý ở chế phục đôi mắt, vì mắt là cửa ngõ của tâm, nên buông mi nhắm lại. Câu quyết là lấy mắt nhìn mũi, lấy mũi nhìn rốn, trên dưới chặt chẽ, tâm và hơi thở theo nhau, để ý huyền quang, thì có thể giáng phục được tư lự.

    GIẢI:
    Người học đạo tu tiên lúc nhập môn nên lý hội hai chữ tính mạng. Tính có tính nguyên. mạng có mạng đế (đế là cuống). Tính nguyên cần thanh tĩnh, mạng đế cần kiên cố. Mạng đế vững thì nguyên khí xung, nguyên khí xung thì tinh tự dấy. Tính nguyên thanh thì nguyên thần định, thần định thì khí tự linh vậy.

    Cái gì là mạng đế? Đó là chân tức. Cái gì là nguyên tinh? Đó là tâm địa. Thầy ta dạy dưỡng khí giáng tâm, mà giữ quên nói tức là chân quyết dưỡng khí vậy. Chính ra “vong ngôn” không phải là bịt miệng lại không cho nói, mà là giữ tinh thần yên ổn, trầm lặng trước mọi tình cảnh. Nói “thủ” là giữ, mà giữ đây là giữ khí. Giữ ở đâu? Đạo Đức Kinh viết : “Nói nhiều nói hay cũng không bằng thủ trung” trung đây là nơi thần khí quy phục vậy. Đó gọi là khí huyệt, ngưng thần vào khí huyệt là

    “vong ngôn thủ trung”, là quy căn; đạo trường sinh bắt đầu từ chỗ đó.

    Còn “giáng tâm” là giáng phục cái vọng tâm. Người ta vốn chỉ có một tâm, nhưng vì có mê có giác mà chia ra vọng tâm và chân tâm. Người sinh ra mà tĩnh là tính của trời, cảm ở vật mà động là ham muốn của tình; đã có tham dục thì theo tình cảnh mà chuyển chân thành vọng. Vọng vốn không có hình thể, vốn do chân tâm mê hoặc mà ra, cho nên nay mà vô vi thì tất có chân kiến. Xem các pháp hữu vi đều như mộng, huyển, bào ảnh, hợp tan vô thường,nếu mà quên chúng được thì đó là tu chân trừ vọng vậy.

    3 “Động tĩnh tri tông tổ,
    4 Vô sự cánh tầm thùy”

    CHÚ:
    Động tĩnh là một âm, một dương. Tông tổ là nơi sinh ra thân. Hành giã nên như lúc trước khi cha mẹ chưa sinh tức là huyền tẩn, trước khi trời đất chưa phân ra tức là Thái cực vậy.
    Động tĩnh là điều hòa chân khí, an lý chân nguyên. Thở ra là tiếp thiên căn, hít vào là tiếp địa căn; đóng là khôn, mở là kiền, thở thì rồng ngâm mây bốc, hít thì hỗ khiếu gió sinh; một đóng một mở, một động một tĩnh, quy ở tâm ý bất động, mặc cho hơi thở qua lại miên miên, đến khi kết thành phiến thì thần ngưng đan kết.

    “Vô sự phải cầu chi” là dưỡng khí quên nói, giáng phục thân tâm, thần vế khí huyệt, chú ý như gà ấp trứng, như rồng nuôi châu, nghĩ ở dó giây phút không rời, lâu ngày tự nhiên hiện ra hạt châu bằng hạt gạo, sáng lóe như mặt trời.

    GIẢI:
    Trên nói dưỡng khí giáng tâm là đạo vô vi, lại sợ người đời không biết ngoài ra còn có cái hữu tác, tức là thuật kéo dài mạng sống, cho nên khẩn thiết nêu ra hai chữ động tĩnh, cho người ta biết tông nhận tổ. Trong việc luyện đan, thái dược trong cái động, luyện đan trong cái tĩnh; nếu chỉ biết động mà không biết tĩnh thì nền tảng không dựng, không tích lũy tinh khí; còn nếu chỉ biết tĩnh mà không biết động thì thiên cơ không hợp, mất ý nghĩa luyện thuốc.
    Tóm lại , động là Tông, tịnh là Tổ. Tổ là tổ của tính, Tông là Tông của mạng, không động là không dựng được. Biết Tổ tính mà không tu định ở cung Ly, biết Tông mạng mà không cầu huyền ở cung Khảm. Biết cả hai mới là cứu cánh. Đã vô sự, vong ngôn mặc thủ, im bặt sự cơ, không nghĩ không làm, tịch nhiên bất động, thái nhiên đại định là thôi, lại còn tìm chi? Thầy ta nói tới đây đã đem gan ruột phơi bày rành rẽ đường lối luyện công, mà sao người đời không lĩnh ngộ,chỉ đọc phớt qua, thật là đáng tiếc!

    5 “Chân thường tu ứng vật
    6 Ứng vật yếu bất mê”

    CHÚ:
    Học đạo chân thường khi tiếp ứng với sự vật, sẽ dễ bị mê hoặc, cho nên nếu phải tiếp vật thì đừng mê việc trần. Việc đến thì ứng, việc qua chẳng lưu, quang minh chính đạo, chân tính thanh tĩnh, nguyên thần ngưng kết. Khẩu quyết là: “Trước ý đầu đầu lẫn, Vô vi lại lạc không”.

    GIẢI:
    Cái gì gọi là chân thường? Đó là Tính tổ.
    Lấy cái gì để sáng? Phàm đã có tướng đều là hư vọng, sẽ có biến diệt chứ không lâu dài. Cho nên chân thường không phải là cái cùng đến với vật, không phải là cái cùng lìa với vật, mà là hay tĩnh hay ứng, thường tĩnh thường ứng mà thường không mê, đã chẳng mê thì ứng vật mới không mê mà chân tính hiện vậy.

    Đó là “luyện mình thuần thục thì đạo hữu vi mới có thể làm được”.

    7 “Bất mê tính tự trú
    8 Tính trú khí tự hồi”

    CHÚ:
    Phàm thất tình như mừng, giận, buồn, thương, ghét, muốn, sợ đều biến thái vô thường, nhưng có xúc động nên phát sinh vọng tưởng, khó tĩnh được tính. Tất phải yên cơn giận thì hỏa mới giáng, ít ham muốn cho thủy được thăng.
    Thân không động là luyện tinh, luyện tinh thì hỗ khiếu, nguyên thần ngưng kết.
    Tâm không động là luyện khí, luyện khí là long ngâm, nguyên khí tồn thủ.
    Ý không động là luyện thần, luyện thần thì 2 khí tương giao, tam nguyên hỗn hợp,

    nguyên khí tự hồi. Tam nguyên đây là tinh, khí, thần.
    Nhị khí đây là âm dương.
    Hành giả ứng vật không mê thì nguyên khí tự qui, bản tính tự trú; tính trú tức khí tiên thiên tự về. Phục mạng qui căn có gì là khó đâu!
    Quyết rằng:
    “Hồi quang phản chiếu,
    Nhất tâm tự tồn.
    Nội tưởng bất xuất,
    Ngoại tưởng bất nhập.”

    GIẢI:
    Đối cảnh quên tình mới là đại định, cho nên nói “chẳng mê tính tự trú”. Tính trú mới có thể cầu diên, cho nên nói “tính trú khí tự hồi. Hồi nghĩa là quay về vậy. Tham Đồng Khế viết: “Kim trở về tính sơ mới được gọi là hoàn đan”.

    9 “Khí hồi đan tự kết
    10 Hồ trung phối khảm ly”

    CHÚ:
    Hành giả tính không mê luyến việc trần thì khí tự hồi, bấy giờ khí thăng giáng trong cung, âm dương phối hợp ở đan đỉnh, chợt cảm thấy một luồng nóng ở trong thận xung lên tâm, tình trở về tính như vợ chồng phối hợp, như say, như si, 2 khí quyến luyến, kết thành đan chất, trong khí huyệt thủy hỏa tương giao, tuần hoàn không ngừng, bấy giờ thần ngự khí, khí lưu hình, bất tất dùng tạp thuật, tự nhiên được trường sinh. Quyết rằng:
    Tai, mắt, miệng tam bảo
    Vít chặt đừng khai thông
    Chân nhân lặng vực sâu
    Bơi lội giữa qui trung
    Suốt tới khí đầy đan điền
    Kết thành đao khuê vậy.

    GIẢI:
    Khí từ ngoài về, đan từ trong kết.
    Trong hồ là nơi đan dược ngưng kết.
    Khảm ly là quẻ tượng âm dương hỗ tàng.
    Diên, hống là tên riêng của thủy hỏa.
    Đan pháp lấy Ô (con quạ biểu tượng mặt trời), Thố (con thỏ biểu tượng mặt trăng) làm dược, tất phải lấy khảm điền ly, lấy diên đầu vào hống, hai thứ quân bình phối hợp vào trung cung, rồi long ngâm hỗ khiếu mà sản sinh huyền châu ở chính vị. Nói tự trú, tự hồi, tự kết, chủ yếu là diệu dụng tự nhiên, nếu dây vào tư ý tà ngụy là cách xa đạo vậy.

    11 “Âm dương sinh phản phục,
    12 Phổ hóa nhất thanh lôi”

    CHÚ:
    Công phu tới đây, thần không ngoại trì, khí không ngoại tiết; thần về khí huyệt, Ly Khảm đã giao, càng thêm mãnh liệt tiên tiến, trí hư tới cực, thủ tịnh rất bền. Thân tĩnh ở nơi diệu minh, tâm lắng ở nơi vô hà hữu, thì chân tức tự trú, bách mạch tự thông, nhật nguyệt ngưng chiếu, hoàn cơ không chạy. Thái cực tĩnh sinh động. Dương sản sinh ở Tây Nam Khôn vị, Khôn là bụng. Tất nhiên 1 điểm linh quang to bằng hạt gạo nếp, đó là tin tức báo điềm dược sinh, rực rỡ ánh sáng suốt thận, bàng quang như nước sôi, trong bụng như lữa đốt, như gió gào, như sấm dậy. Tức là quẻ Phục, thiên căn hiện vậy. Lúc này khí kim mạnh bức kim lưu hành qua Vĩ lư, nhẹ nhẹ vận chuyển, lẳng lặng đưa lên, một đoàn hỏa khí như sấm dậy thăng lên Nê hoàn. Tức quẻ Thiên phong cấu. Vòng qua Ấn đường, lọt ra nguyên quang. Thái cực động mà sinh âm, hoá thành thần thủy cam lộ. Trong có hạt châu bằng hạt gạo rơi vào Huỳnh đình, điểm vào linh hống ở cung Ly, kết thành Thánh thai, lưu hành hỏa hậu châu thiên một độ, phanh luyện thành linh đan tự kết vậy.

    GIẢI:
    Mười chữ này kỳ diệu không thể nói hết. “Âm dương phản phục” là đại ý luyện đan. “Phổ hóa lôi thanh” là bí quyết luyện đan, thiên cơ bí mật chính là đây. Kìa đan pháp của thần tiên đều do âm dương phản phục mà thành. Thiệu tử viết:
    Hốt nhiên tiếng sấm nửa đêm vang,
    Cửa ngõ lần lượt mở mở toan.
    Biết được trong vô hàm có hữu,
    Cho ai mắt thấy phục cơ sang.
    Chính vì trong đất có sấm, là quẻ Phục, một dương lai phục là giờ hào động, là ngày Đông chí trong mình, là lúc trời đất đều thành thất bảo cho nên nói là “phổ hóa”. Tiếng sấm vang ý là nói về khí khởi thủy vậy.

    13 “Bạch vân triều đảnh thượng,
    14 Cam lộ sái Tu Di”

    CHÚ:
    Tới giai đoạn này, 2 khí kết thành đao khuê, quan khiếu khai thông, hỏa giáng thủy thăng, nhất khí chu lưu qua huyền cốc quan, thăng 24 đốt sống đến thiên cốc quan, vòng qua trán sinh mỹ vị thơm ngon, rớt xuống trùng lâu, không nghĩ, không ngừng gọi là “Cam lộ rưới Tu Di”. Quyết rằng:
    Dĩ mục tống chi (Lấy ý tống đi)
    Dĩ ý nghinh chi (Lấy ý đón đấy)
    Tống hạ đan phủ (Đẩy xuống đan phủ)
    Ngưng kết nguyên khí (Nguyên khí kết lại)
    Mặc dĩ dưỡng chi (Lặng lẽ nuôi đấy)

    GIẢI:
    Đây là nói về khí hồi, chính cái khí thiên sinh ở hào độngl, lúc này đi suốt Vĩ Lư theo mạch Đốc lên Nê Hoàn, cảm thấy đùn đùn, ngút ngút như án mây trên đỉnh núi, rồi hóa thành nước ngọt, chảy xuống cổ họng, vào trung cung, đó là “Khí hồi đan tự kết”. Kinh Hoàng Đình viết:
    Hái rồi uống đấy chưa đầy khắc
    Trắng phau một đạo xung Nê Hoàn
    Hóa thành một đạo trôi vào miệng
    Thơm ngọt, thanh lương lưỡi thấm chân.

    15 Tự ẩm trường sinh tửu
    16 Tiêu dao thùy đắc tri

    CHÚ:
    Dưỡng khí tới đây, cốt tiết đã mở, thần thủy không trú mà qua lại không ngừng, luôn nuốt xuống. Đó là rượu trường sinh. Quyết rằng:
    Lưu châu quan dưỡng linh căn tính
    Tu hành chi nhân tri bất tri.

    GIẢI:
    Khí hóa thành nước ngọt, ngon không gì bằng, nên tùy nghi gọi là Ngọc Dịch, Quỳnh Tương.
    Kinh Ngộ Chân viết:
    Trưởng nam chợt uống rượu Tây Phương
    Tuyết sơn một vị đề hồ tốt
    Diên mạng rượu kia hồ ngọc rót
    Phản hồn rượu ấy đỉnh vàng thu
    Đó là rượu trường sinh, riêng ta độc đắc, không ai được hưởng cùng, cho nên nói là “tự ẩm”; “tiêu dao”, ngụ ý khoái lạc tự đắc vậy. Kìa! rượu đã không có ai cùng vui thì nào ai đã biết.

    17 Tọa thính vô huyền khúc
    18 Minh thông tạo hóa cơ.

    CHÚ:
    Công phu đến đây nghe nhạc tiên có nhịp điệu chuông trống, ngũ khí triều nguyên, tam hoa tụ đỉnh, như trạng thái quạ chiều về đậu, tâm điền mở sáng, trí tuệ tự sinh, thông hiểu kinh sách, mặc ngộ tam giáo, biết trước vị lai, đại địa sơn hà trong bàn tay, mắt nhìn ngìn dặm, tinh diệu lục thông, đó là thực hữu vậy. Nếu ta nói hư ngụy để lầm lỡ cho kẻ hậu học thì trời sẽ tru diệt. Không gặp được thấy thì việc này khó biết.

    GIẢI:
    Kinh Thái Thượng Nhật Dụng viết: Khúc vô huyền không nói mà tự có tiếng, không gãy mà tự kêu, chính là đan dược ở trong mình đầy dẫy. Thế nên mắt có thần quang, tai có linh hưởng, miệng có nước ngọt, mũi có dị hương là lý tất nhiên,không có gì lạ cả.

    19 Đô lai nhị thập cú
    20 Đoan đích thượng thiên thê.

    CHÚ:
    Cả 20 câu đều không có mảy may hư ngụy, là bậc thang lên trời của hành giả vậy. Người ngộ được quyết này, nên gấp rút thực hành, đừng lãng phí thời giờ quí báu.

    GIẢI:
    Một trăm chữ của thầy ta là cái thang, chiếc bè lên cõi Tiên. Học giả ai cũng đọc được, nhưng tìm được người dung hội quán thông để hiểu ý mà tu hành, thật cũng không nhiều vậy.
    Tinh tôi đây vụn về, không có văn chương, được gia sư dìu dắt lâu năm, nêm tạm tiếm làm bài giải thích để tế độ, mở mắt cho người đời, thật là cuồng đãn, không chối được tội. Song hướng cho người học đạo có cơ sở thì không phụ công giáo huấn của thầy ta vậy.

    Hết bài “Lữ Tổ Bách Tự Bi”

    (Bủu Minh Ðàn.Trang Web Phục Vụ Nhơn Sanh Miễn Phí.)



    LỮ TỔ THẨM VIÊN XUÂN

    Chỉ Huyển ThiênTác giả: Lã Động Tân

  7. #7

    Mặc định

    Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ
    Lã Ðồng Tân

    Lời Giới Thiệu

    Chương 1 Thiên Tâm

    Chương 2 Nguyên Thần (1) , Thức Thần (2)

    Chương ba ;Hồi Quan Thủ Trung

    Chương 4 ;Hồi Quang Ðiều Tức

    Chương năm ; Hồi Quang Sai Lệch

    Chương 6: Hồi Quang Chứng Nghiệm

    Chương 7: Hồi Quang Hoạt Pháp

    Chương 8: Tiêu Dao Quyết

    Chương9: Trăm Ngày Xây Nền

    Chương 10: Tính Quang, Thức Quang

    Chương 11: Khảm Ly Giao Cấu

    Chương 12: Chu Thiên

    Khuyến Thế Ca
    Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ
    Lã Ðồng Tân

    Lời Giới Thiệu

    "Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ" là cuốn Ðan kinh có ảnh hưởng rộng rãi không riêng gì ở Trung Hoa, mà ở cả nhiều nước trên thế giới. Cuốn sách này kể từ lúc được in thành sách vào đầu đời Thanh cho đến nay đã được

    các nhà dưỡng sinh học đặc biệt coi trọng .
    Trong số các bản in hiện còn giữ được đến ngày nay chủ yếu chia thành hệ thống phái Tịnh Minh và Hệ thống phái Long Môn.
    Ðại biểu cho các bản thuộc hệ thống phái Tịnh Minh là bản "Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ" khắc ở am Nhị Tiên huyện Thành Ðô năm 1906, cuối sách có in bản phụ lục của Quản Hóa Tử "Xiển U vấn đáp". Bản này do Tưởng Quang Ðình dựa vào một bản sao khắc lại vào năm Gia Khánh triều Thanh và đưa vào "Ðạo Tạng tập yếu", gọi là "Tập yếu bản".
    Năm 1917, Hợp Ðạo Tử Diêu Tế Thương tìm được ở phố sách xưởng Lưu Ly ,

    Bắc Kinh - bản sao Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ gọi là "Kinh bản" .
    Ít năm sau, Cham Nhiên Huệ Chân Tử in gộp bản sao này với Huệ Mạng Kinh và đặt tên là "Thuật trường sinh . Tục mệnh phương" gọi là Huệ bản.
    Kinh bản và Huệ bản tất cả đều thuộc hệ thống phái Tịnh Minh. Còn bản do Mẫn Nhất Ðắc (1758 - 1837) đính chính vào năm Ðạo Quang thứ mười một đời Thanh (1813) được xem là đại biểu đo hệ thống phái Long Môn, đồng thời được ông tập hợp trong "Ðạo Tạnh tục biên. Sơ tập" và manh cái tên đầy đủ "Lã Tổ sư Tiên Thiên Hư vô Thái nhất Kim Hoa Tông chỉ". Năm 1965, nhà xuất bản "Tự do Ðài Loan cho in "Long Môn phái Ðan pháp quyết yếu" và năm 1988, nhà xuất bản "Ðại học nhân dân Trung Quốc" phát hành "Ðông phương tu Ðạo văn khố . Toàn Châu bí yếu" , đều chọn và in lại bản của Mẫn Nhất Ðức.
    Bản dịch này của chúng tôi chủ yếu dựa vào bản in của Mẫn Nhất Ðức. Năm 1929, "Thái Ất Kim Hoa Tông chỉ" được xuất bản bằng tiếng Ðức, do cha Richard Wilhelm người Ðức (1873 - 1930), trong giáo hội Thanh Ðảo kiêm giáo sư Trưởng Ðại học Frankfurt dịch chín chương đầu căn cứ vào bản của Huệ Chân Tử . Nhà phân tâm học Thụy Sy C.G. Jung đã viết lời bình rất dài cho sách này.
    Năm 1931, Cay F. Baynes căn cứ vào bản tiếng Ðức dịch và xuất bản sang tiếng Anh. Con đây, giáo sư Toseltaiyu và phó giáo sư Teihoshofu Nhật Bản căn cứ vào Kinh bản dịch sang tiếng Nhật và xuất bản với tên sách "Bí mật luyện Kim Ðan" .
    Như thế là, hiện nay trên thế giới, ngoài tiếng Hán, "Thái Ất Kim Hoa Tôn Chỉ" đã được lưu hành bằng tiếng Ðức, tiếng Anh và tiếng Nhật. Phần lớn các bản dịch này đều hết sức nghiêm túc, rõ ràng cố tránh dùng những lời văn ẩn dụ.
    Cả hai phái Ðạo giáo Tịnh kinh và Long Môn đều nhận định Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ là do Lã Ðồng Tân truyền dạy. Các bản của hai phái này xưng hô Lã Ðồng Tân một cách tôn kính là "Lã Tổ" và "Tổ sư", đồng thời truyền tụng rằng cuốn kỳ thư này đã được Lã Ðồng Tân viết ra trong trạng thái thần hiệp.
    Lã Ðồng Tân tên chủ là Lã Nham, hiệu là Thuần Dương Tử, người huyện Vỉnh Lạc, phủ Hà Trung (nay là huyện Vỉnh Lạc, tỉnh Sơn Tây), sống vào thời Ngũ Ðại Văn Ðường , ông theo học Ðại Ðạo Kim Ðan sư phụ Chung Ly Quyền và đã mở ra một hướng mới trong việc tu luyện Nội Ðan kể từ Tống Nguyên cho mãi về sau. Từ Văn Ðường cho đến đầu Thanh, trong thời gian kể hàng trăm năm, đã có không biết bao nhiêu truyền thuyết thần bí về Lã Ðồng Tân,

    nói lên lòng tôn kính và ngưỡng mộ của người đời đối với ông .
    Cuốn Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ của ông gồm cả thảy mười ba chương , xem ngôn từ và cách hành văn có thể suy đoán sách ra đời sau triều đại Tống Huy Tôn (1082 - 1135). Nhưng Pháp quyết Nội Ðan trình bày trong sách đúng là công phu thanh tĩnh Bắc phái chân truyền. Phàm đã là Ðan pháp Thanh tĩnh, nhằm đích đoạt quyền Tạo Hóa, thay đổi tố chất cơ bản của con người ; thì đều chú trọng theo đuổi "Huyền Quan nhất khiếu" thực hành phép Hồi Quan phản chiếu dựa theo Ðan Quyết truyền khẩu của thầy trò Vương Trùng Dương (1112-1170). Sách Thái Ất Kim Hoa Tôn Chỉ trình bày tỷ mỹ, súc tích về công lý và công pháp của phép tu luyện Nội Ðan . Về mặt công lý, sách đề xướng Ðại đạo lấy Hư vô làm bản thể, lấy hiển hóa làm công dụng . Công pháp của chúng tôi chuyên lấy Thái Nhất làm gốc, Kim Hoa làm ngọn, gốc ngọn nương tựa lẫn nhau, ắt sẽ trường sinh bất lão vậy . Thái nhất tức là Ðạo, duy chỉ Có và Hư hòa hợp với nhau mới có thể đắc Ðạo thành Tiên.
    Ðạo trong con người là Nguyên Thần. Người tập nếu giữ được Nguyên Thần thì sống ngoài Âm Dương , không trong Tam giới . Nguyên Thần thuộc về tiên thiên, Thức Thần thuộc hậu thiên. Thức Thần làm cho con người có Thất tình, Lục dục, dần dần tiêu hao Tinh Khí Thần.
    Con đường tu Ðạo là ức chế Thức Thần, đi ngược trở về trạng thái Nguyên Thần tiên thiên, chủ yếu dựa vào công pháp Hồi Quang . "Hồ Quang thí Khí Âm Dương trong Trời đất không gì là không ngưng tụ " Vì thế Ðạo Kim Hoa toàn dùng nghịch pháp.
    Trong quá trình Hồi Quan cần tuân thủ nguyên tắc "Vô vi nhi vi". Duy chỉ có "vô vi" mới không dừng lại ở hình tướng . Duy chỉ có "Vô vi nhị vi" mới không rơi vào "Không" một cách chết cứng "vô vi" không phải là phó mặc không để ý, mà là chẳng để ý đến "Có" cũng chẳng để ý đến "không" thực tế giữ ở mức "Trung" . Trung ở mọi chỗ, Trung sẽ không "thái quá",

    mà cũng không "bất cập", đó thật ra cũng là Ðạo .
    Sách "Ðạo Ðức kinh" nói : "Ðạo xung nhi dụng chi" (Ðạo hư không lại vô hình). Muốn đạt được cảnh giới "Trung" , bản thể và công dụng của Ðạo phải hợp Hai thành Một, như thế gốc và ngọn mới nương tựa lẫn nhau, hợp lẽ Tự Nhiên, đạt đích "nhập thế mà không lụy", xuất thế mà vẫn "ở giữa nhân gian" . Công lý của Thái Ất Kim Hoa Tôn Chỉ kế thừa tinh hoa sách Ðạo Ðức Kinh" của Thái Thượng Lão Quân. Bàn về Ðạo, các bậc thánh nhân và hiền triết thường dùng lối tâm truyền tâm, từ thế hệ nọ truyền tới thế hệ kia, bắt đầu từ Lão Tử cho mãi tới Ðông Hoa đế quân rồi về sau chia thành hai Tông Nam Bắc.
    Về mặt công pháp, Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ nhấn mạnh tính công gọi đó là "Nhất siêu trực nhập công phu" , chủ trương mắt quay về nhìn dõi vào trong , lấy Khí từ Thượng Ðan Ðiền đưa xuống Trung và Hạ Ðan Ðiền.
    Các bản trong Hệ thống phái Long Môn đề xướng tiệp quyết trong khẩu quyết, mà phương pháp là Tồn tưởng chữ Y , trong tiếng Phạn, để cho Tam Quang hội tụ ở Tâm giữa hai lông mày, sau đó dùng Ý dẫn vào quan khiếu sau Tâm để khai mở Thiên Tâm. Thiên Tâm tức là "Huyền Quan nhất khiếu" , không ở trong thân, không ở ngoài thân, không thể sờ lần mà khai mở,

    chỉ có thể lẳng lặng tới gần .
    Bước đầu tập luyện là ngồi tỉnh tọa, tập trung vào điểm nằm giữa hai con mắt, đồng thời dùng Phép Chỉ Quán của nhà Phật gạt bỏ mọi tạp niệm, cầu được chính niệm, tiêu hủy Thức Quang và làm hiển hiện Tính Quang .
    Trong lúc lưu ý đến hai thứ bệnh "hôn trầm" và "tán loạn" rất dễ nảy sinh lúc tu lập Hồi Quang . Lã Ðồng Tân nhận xét :"Gà mái khi ấp trứng , Tâm thường lắng nghe, đó là một yếu quyết vậy". Tâm và Tức đi theo nhau , và Hồi Quang phản chiếu - đó là then chốt trình tự tu luyện Nội Ðan. Cứ tu tập như thế từ nông đến sâu sẽ từng bước chân nghiệm những hiện tượng nảy sinh khi tĩnh tọa. Ðợi tới khi "Ngưng Thần nhập khí huyệt" , "Khai mở khiếu Huyền quan", Khí tiên thiên nhờ Huyền khiếu vào ra, sẽ xuất hiện Chân Tinh Chân Khí, nghĩa là sản sinh Ðan Dược giúp con người trường sinh bất lão, cải lão hoàn đồng . Chân Tinh Chân Khí sẽ đi từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, con người sẽ dần dần gạt bỏ được nhưng cặn Âm, quay trở về cảnh giới Thuần Dương . Ðợi tới khi kết thành Thánh Thai, ngoài Thân có Thân, tức có thể trường sinh bất lão, đắc Ðạo thành Tiên.
    Trong khi đề xướng phép tu luyện Nội Ðan, Lã Ðồng Tân chủ yếu phát huy tư tưởng "trường sinh bất lão", "Tu Chân thành Tiên" của Ðạo giáo đồng thời kết hợp cả với học thuyết của Nho giáo và Phật giáo. Trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ đã kết hợp nhuần nhuyễn những tinh hoa triết lý của Nho giáo và Phật giáo, nhằm làm cho mọi người dễ hiểu học thuyết Nội Ðan. Trong các Ðan Kinh cổ quen dùng các thuật ngữ ẩn dụ khó hiểu như Khảm Ly, Thủy Hỏa, Long Hổ, Chì , Thủy Nhân, Hỏa Hậu, Chu Thiên, Tắm Gội v.v..., nhưng trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ , lại dùng lời nói gần gũi, sinh động mộc mạc, đi thẳng vào bản chất. Phép tu luyện Nội Ðan chủ yếu là tu luyện Tinh Khí Thần, trong sách nêu rõ , Khảm Ly tức Âm Dương, Âm Dương tức Tính Mệnh, Tính Mệnh tức Thân Tâm, Thân Tâm tức Thần Khí v.v... của các gia các phái; tư tưởng cho Tâm tĩnh - đó là Ðan, Tâm không - đó là Dược chính là dùng lý lẽ của nhà Phật để thuyết minh về Ðạo, rất dễ hiểu, dễ tiếp thu. Sách Thái Ất Kim Hoa Tông chỉ nhấn mạnh Tính công chú trọng công phu tu dưỡng Tâm tĩnh, thống nhất công phu tu tập của Tam gia Nho Thích Ðạo ở vấn đề cơ bản :

    vấn đề sống chết .
    Các bậc Thánh Hiền Nho giáo dạy mọi người công phu tu dưỡng bắt đầu từ "Tri chỉ", lấy "chỉ ư chí thiện" làm mục đích, bắt đầu từ Vô cực rồi cuối cùng lại trở về Vô cực. Tinh hoa Phật học lấy "Vô sở trụ nhi sinh kỳ Tâm" (phải sinh cái Tâm không trụ vào chỗ nào) nói đến trong kinh Kim Cương làm giáo chỉ Ðại Tạng . Còn Ðạo giáo chúng ta tôn sùng hai từ "trí hư" , Tâm đã có thể "trí hư cực" thì Tính công đã thành, "thủ tĩnh đốc" thì Mệnh công đã đạt, cho nên Tính Mệnh song tu , Hình Thần đều trọn vẹn.
    Tóm lại, qua những điều trình bày trên, Tam giáo Nho Thích Ðạo đã tổng kết mục đích tu dưỡng thành một câu : đó là tạo được Thần Ðan rời xa cái Chết, đi vào cái Sống . Chỉ cần làm cho con người được giải thoát thì đâu đâu cũng đều là học vấn, đâu đâu cũng có lý lẻ diệu huyền. "Những điều ta nói chỉ là làm bộc lộ chổ tương thông , vì thế là nhất quán". Cái gọi là "Ðược một thì mọi sự kết thúc" trước tiên đó là Ðạo , Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ chính là bắt đầu từ chỗ tương thông lấy "Ðạo pháp tự nhiên" (Ðạo tuân theo những qui luật vốn có của mình) làm cảnh giới tối cao, hấp thụ triết lý phép chỉ quán quay trở về chính mình của nhà Phật, cũng như Tám Hoàn, Tám Thức v.v... trong kinh Lăng Nghiêm , đồng thời lồng tinh thần tự cường của Nho gia , lấy Chính niệm xử lý mọi việc , "không được rời xa Chính nghiệp" vào trong Ðan Lý, Ðan pháp, lý lẻ tự nhiên, đâu ra đấy, không chút gì khiên cường .
    Goethe, nhà thơ vĩ đại Ðức nói : Ðông phương và Tây phương không còn cách biệt. Ðời sống vật chất của con người tuy còn khác xa nhau, con đường dẫn đưa tới thế giới tinh thần cũng chẳng giống nhau, nhưng nhu cầu cuối cùng về phương diện tinh thần thì lại rất gần nhau. Chính trên ý nghĩa đó, sau khi bản dịch tiếng Ðức , Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ ra mắt vào năm 1929, đã gây xôn xao trong giới học thuật cùng như trong quần chúng Âu Mỹ.
    Nhà tâm lý học Thụy Sĩ nổi tiếng C.G. Jung , cộng sự thân cận của Freud, thông qua việc nghiên cứu khái niệm công pháp dưỡng sinh và nội dung chủ yếu của Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ , đã phát hiện thấy sự phù hợp bất ngờ giữa tinh thần chủ yếu của tác phẩm với tâm lý học phân tâm, và đã cung cấp cho công pháp Nội Ðan Trung Quốc ý nghĩa tâm lý học và nội hàm triết học, đồng thời nêu ý kiến cho rằng sự ra đời của tâm lý học phương Tây đã tạo tiền đề cho hai nền văn hóa Ðông Tây hiểu biết lẫn nhau. Tâm lý học phân tâm cho rằng tâm lý con người có một cái nền chung vượt lên trên tất cả mọi nền văn hóa và ý thức - đó là vô thức tập thể (Inconscient collectif), nó chẳng những bao gồm một số nội dung có thể biến thành ý thức, mà còn bao gồm những hành vi tâm lý tiềm tàng do các phản ứng chung gây ra. Ở đây, tính vĩnh hằng của Ðạo, tức chân Tính Nguyên Thần trở thành từ đồng nghĩa với vô thức tập thể, trở thành tượng trưng của sức khỏe tâm thần tuyệt đối. Hành vi của con người do ý thức, tức Thức Thần chi phối, còn quá trình ức chế Thức Thần hướng về Nguyên Thần chính là tu Ðạo. Tất cả những nhánh phát triển của tâm lý đều bắt nguồn từ một gốc chung mà cội rễ của nó bám sâu vào toàn bộ những tầng bậc của quá khứ .
    Tâm lý học chính là một chiếc chìa khóa giúp con người nhận thức bản thân, mà bí mật của Kim Hoa chính là một bí mật về sức sinh trưởng tiềm tàng trong tâm lý người, quá trình nhận thức những bí mật đó đòi hỏi con người, trên một mức độ rất lớn, phải đột phá những chướng ngại của Thức Thần. Tâm lý học chỉ thỏa mãn với nhưng gì đã giải nghiệm về mặt tâm lý mà quên mất rằng chỉ có làm mất tự ngã mới đạt được tự ngã thực sự .
    Ðạo gia đã tìm thấy phương pháp chân chính do bởi ở tầng bậc này . Tính và Mệnh đã được thống nhất, Thân Tâm khó lòng phân biệt, ranh giới giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần không còn nữa, đó chính là điểm khác biệt giữa học thuyết của Ðạo gia với tâm lý học phân tâm
    Kinh nghiệm lịch sử đã cho hay, tinh thần phải dựa vào khoa học làm nhiệm vụ hướng dẫn cho thế giới hiện thực, còn khoa học phải hướng vào tinh thần để kiếm tìm ý nghĩa của sinh tồn. Học thuyết Nội Ðan của Ðạo gia chính đã dựa vào khoa học tìm ra con đường giúp con người hướng tới cảnh giới hoàn thiện, qua đó thể hiện ý nghĩa lớn lao của học thuyết này đối với đời sống của con người hiện đại .
    Sinh ra và lớn lên tại một lành nghề, từ lúc còn để chỏm đã được ngắm nghía những bức mành tủ chạm tích "Bát Tiên quá hải", tôi đã thuộc lòng tên các vị Tiên : Hớn Chung Ly, Lý Thiết Quài, Trương Quả Lão, Tào Quốc Cữu, Lã Ðồng Tân, Hàn Tương Tử, Lam Thái Hòa, Hà Tiên Cô; song còn sự tích cùng phương pháp tu luyện của họ ra sao tôi không hề hay biết !
    Mãi tới gần đây, năm 1997, tại một hiệu sách cũ Côn Minh Trung Quốc, tôi may mắn tìm được sách Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ của Lã Ðồng Tân . Các bạn bên Ðức và Pháp nhiệt tình giúp tôi kiếm tìm các bản dịch tiếng Anh và tiếng Ðức .
    Vốn là một người có đôi chút hiểu biết về phương pháp tu tập Cổ Ðông phương , tôi khát khao dịch tác phẩm đó giới thiệu với đông đảo bạn đọc nước ta, nhất là đối với những ai quan tâm tới phương pháp dưỡng sinh Cổ Ðông Phương .
    Tôi cứ băn khoăn tự hỏi, ở nước Ðức xa xôi, ngay từ năm 1929, tác phẩm quí giá đó đã được cha Richard Wilhelm dịch giới thiệu với độc giả phương Tây, vậy mà chúng ta ở ngay sát nách nước bạn Trung Hoa mà mãi tới giờ nhiều người vẫn chưa biết tới tác phẩm bất hủ đó. Có thể đây là một sự chậm trễ thiệt thòi, không sao nói hết được, đặc biệt đối với những ai muốn đi sâu tìm hiểu về con đường tu Ðạo, hoàn thiện bản thân, trường sinh bất lão...
    Tôi đã gấp rút dịch và chú thích sách này theo bản in của Mẫn Nhất Ðức do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trung Quốc ấn hành năm 1996 , đồng thời có đối chiếu với bản in của Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật tỉnh Tứ Xuyên.
    Với một tác phẩm thâm thúy, súc tích, uyên bác như Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ , mặc dù đã cố gắng tra cứu, tham khảo, tự mình chứng nghiệm, song chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, lầm lẫn, rất mong bạn đọc lượng thứ và sẳn lòng chỉ giáo.
    Hà Nội tháng 5,1999
    Người dịch
    Thế Trường

    http://antruong.free.fr/thaiatkimhoatong.html

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. cách luyện ngũ quỷ âm binh pháp
    By rain_tuan in forum Thế Giới Bùa Ngải
    Trả lời: 15
    Bài mới gởi: 28-07-2013, 01:29 PM
  2. kinh nghiem tu vi
    By thaiduong162 in forum Tử Vi
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 02-12-2011, 11:31 AM
  3. TỬ VI NGHIỆM LÝ TOÀN THƯ
    By thaiduong162 in forum Tử Vi
    Trả lời: 16
    Bài mới gởi: 01-10-2011, 08:13 PM
  4. Cao Đài luận
    By 1lanthoi in forum Đạo Cao Đài
    Trả lời: 28
    Bài mới gởi: 28-05-2011, 09:22 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •