kết quả từ 1 tới 11 trên 11

Ðề tài: Kinh Đại Thừa Là Do Phật Nói

  1. #1

    Mặc định Kinh Đại Thừa Là Do Phật Nói

    Kinh Đại Thừa Là Do Phật Nói

    Các "Nhà Phật Học" chưa hẳn là Tin Phật Pháp và Hành Trì Phật Pháp. Đa số các nhà "Nhà Phật Học" chỉ là nghiên cứu Phật Pháp theo nghĩa lịch sử truyền bá chứ họ không có Tu Tập Phật Pháp.

    Thí dụ tại các trường đại học ở Montreal Canada thì có nhiều Giáo Sư Phật Học giảng rất hay về sự hình thành và lịch sử truyền bá Phật Giáo nhưng mà họ không hề Tin hay là Hành Trì Phật Pháp.

    Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị Lãnh Đại Tinh Thần của Phật Giáo Tây Tạng cũng như là các Vị Tổ Mật Tông của các Dòng Mật Tông Tây Tạng hiện tại đều quả quyết rằng tất cả Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa đều là do chính Đức Phật giảng nói hay là Đức Phật Ấn Chứng.

    Đức Đạt Lai Lạt Ma mỗi lần Truyền Pháp Quán Đảnh cho đại chúng thì việc đầu tiên là Ngài giảng rõ ràng rằng tất cả Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa đều là do chính Đức Phật giảng nói hay là Đức Phật Ấn Chứng.

    Tổ Hư Vân, Hòa Thượng Quảng Khâm, Hòa Thượng Tuyên Hóa là các Bậc Thánh Tăng cận đại của Trung Hoa cũng xác quyết ra tất cả Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa đều là do chính Đức Phật giảng nói hay là Đức Phật Ấn Chứng.

    Nói Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa là do người sau trước tác thì có khác gì là nói Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa là ngụy tạo ra rồi gán là do Đức Phật nói.

    Phật Tử xưng là tu theo Đại Thừa mà không tin rằng Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa đều là do chính Đức Phật giảng nói thì đó là Phỉ Báng Tam Bảo nói chi là tu theo Đại Thừa.

    Không có Bồ Tát, Tổ nào có thể tự mình nói Kinh cả mà chỉ là Phật mới có thể nói Kinh mà thôi.

    Bồ Tát, Tổ chỉ là làm ra Luận để giảng rõ ý Kinh.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  2. #2

    Mặc định

    KINH ĐẠI THỪA CÓ PHẢI KINH TÂN TẠO NGỤY TẠO ?


    Một số người cho rằng các kinh Đại thừa, như: Lăng nghiêm, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim Cang, Bát Nhã, Phạm Võng, Địa Tạng, Lăng Gìa, Duy Ma Cật vv…không phải là kinh gốc, do không tìm thấy kinh bằng chữ Pali hay Sanskrit. Nhóm người nầy hoặc là học giả; hoặc tu theo các pháp môn không phải Đại thừa; hoặc những vị có niềm tin hay có cảm tình với Phật giáo nhưng chỉ tin qua các chứng tích kinh luận còn lưu truyền hay chỉ dựa vào chứng tích khảo cổ.

    Một số học giả Tây phương thì có quan niệm hệ thống giáo lý Phật giáo từ văn tự Pali, Sanskrit là kinh “gốc”, và cho rằng hệ kinh Bắc truyền “là kinh sau thời Đức Phật, là kinh Phát triển, hay Tân kinh” họ cho rằng kinh nầy là “các ngụy kinh được dùng trong Thiền tông thời kỳ đầu”, là kinh do người Trung Hoa “ngụy tạo”, tức tự dựng ra sau khi Phật giáo truyền sang; hoặc cho rằng kinh nầy mang màu sắc chính trị do người Trung Hoa có tư tưỏng bá quyền tự tạo.

    Nhìn chung, nhóm người cho rằng kinh điển hệ Bắc truyền là Tân kinh hay Ngụy kinh chỉ dựa vào khảo cổ, suy luận, phân biệt qua mắt thấy tai nghe của con người, mà không phải là hành giả, chưa thực chứng giáo nghĩa Đại thừa. Từ đó đã làm nhiều người sơ cơ học Phật hoài nghi.

    Kinh Đại thừa, mà trước hết là kinh Thủ Lăng Nghiêm có phải do đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết, hay do người sau tự bịa đặt như quan niệm của một số người; trước hết ta xem:

    Về hình thức:

    1.Khi đức Phật sắp Niết Bàn, ngài Anan, một vị đệ tử đa văn bậc nhất, bạch Phật: Khi kết tập những lời đức Phật thành kinh điển thì phải ghi như thế nào để người sau biết chắc thật đó là lời chính từ kim khẩu đức Thế Tôn. Đức Phật dạy khi kết tập kinh điển, mỗi kinh phải có đủ sáu cái hiện chứng (Chứng tín tựu), gồm:

    1) Tín,
    2) Nghe,
    3) Thời,
    4) Phật,
    5) Xứ,
    6) Chứng.

    Đây là sáu cái bằng chứng cho người sau biết chính là kinh Phật, chẳng phải dối, mà vững lòng tin. Tức vào đầu mỗi quyển kinh phải ghi:


    1. Như vậy (Như thị), làm Tín thành tựu, tín đây là tín của ngài A nan
    2. Tôi nghe (Ngã Văn), làm Văn thành tựu, có nghĩa là A nan tự mình được nghe
    3. Một thời (Nhất thời), làm Thời thành tựu để chỉ thời gian Đức Thế Tôn thuyết bộ kinh nầy
    4. Phật, làm Chủ thành tựu, chỉ rõ Phật là chủ thuyết pháp
    5. Tại… Tinh xá Kỳ Hoàn, trong thành Thất La Phiệt, làm Xứ thành tựu, chỉ rõ chốn đạo tràng thuyết pháp
    6. Lấy các chữ “Cùng Đại Tỳ kheo chúng”, và cuối bộ kinh có ghi “Sau khi Phật thuyết kinh nầy rồi.. tất cả đại chúng đều hoan hỷ thọ trì lời Phật dạy, ân cần đảnh lễ lui ra”, làm Chúng thành tựu.

    Như vậy, nếu xét về mặt nầy, thì kinh Lăng Nghiêm và các kinh Đại thừa hay kinh Nguyên thủy của hệ Bắc truyền, và kinh Nguyên thuỷ của hệ Nam truyền đều đúng với sáu cái hiện chứng nầy; tức có người nghe thuyết, có Đức Phật thuyết, có nơi chỗ thuyết, thuyết vào lúc nào, tên kinh là gì, đại chúng nghe thuyết gồm có những ai, nghe rồi hoan hỷ tín thọ phụng hành. Đây là bằng chứng chắc chắn rằng kinh nầy phải do chính đức Phật tuyên nói.

    2. Phật giáo truyền sang các nước phía nam và đông bắc Á châu rất sớm, qua hai con đường: Nam truyền và Bắc truyền.

    Nam truyền gồm các nước phía nam châu Á như: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia..

    Bắc truyền gồm các nước như: Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam….


    Kinh điển hệ Nam truyền thường dùng bằng chữ Pali; Còn hệ Bắc truyền thường dùng chữ Sankrit dịch chữ Hán, rồi dịch sang tiếng các quốc gia lân cận.

    Từng quyển kinh đều có ghi rất rõ: dịch từ chữ gì ra chữ gì, ai là người dịch, dịch vào lúc nào, ở đâu. Người xưa rất chặt chẽ, khoa học, nên đã ghi rất rõ rằng kinh Lăng Nghiêm là bổn kinh văn có nguyên gốc từ Ấn Độ, chữ Phạn, do ngài Sa môn người Ấn là Bát Thích Mật Đế, dịch ra chữ Hán, vào đời nhà Đường, Sa môn Di Dà Thích Ca, người nước Ô Trành dịch ngữ; Pháp sư Hoài Địch chứng nghĩa; Tướng Quốc Phòng Dung nhuận bút.

    Kinh Trường A Hàm, cũng ghi rõ như sau: Kinh Trường A-hàm (tiếng Phạn là Dìghàgama, tiếng Pàli là Digha-nikàya) gồm 22 quyển, do ngài Phật-Đà Da-Xá (Buddhayaśsa) tuyên đọc thuộc lòng (ám độc) bản Phạn, và ngài Trúc Phật Niệm truyền dịch từ Phạn văn ra Hán văn, vào năm Hoằng Thỉ thứ 15 đời Dao Tần.

    Nếu xem các chứng tích nầy thì kinh Thủ Lăng Nghiêm cùng các kinh Đại thừa khác, và các kinh nguyên thuỷ Bắc truyền có lý lịch, nguồn gốc rõ ràng từ Ấn Độ, vậy các kinh nầy ngụy tạo chỗ nào?


    Có người nói “nghe quý Hòa Thượng Thích Thanh Từ Thích Nhất Hạnh nói Kinh nầy xuất hiện vào thế kỷ thứ sáu”, rồi tự nghĩ rằng quý Thầy nói kinh nầy được tạo sau nầy. Qúy Hòa Thượng không bao giờ có ý dám phỉ báng kinh điển như vậy, mà ý nói là kinh nầy mới bắt đầu lưu thông ở Trung Hoa thế kỷ thứ sáu, từ khi được dịch chữ Phạn sang chữ Hán. Chớ nên dùng sai ý mà gán ép cho quý Hòa Thượng. Một số học giả Tây phương nói là Tân kinh cũng rất lầm lẫn, vì họ không rõ biết gốc tích kinh nầy dịch từ Phạn văn ra Hán văn như đã nêu trên.


    Sử ghi lại rất rõ về bộ kinh Lăng Nghiêm, cụ thể như sau: Tổ Thiên Thai, tức ngài Trí Giả Đại Sư nghe danh tên Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã lâu lòng rất hâm mộ, ngài luôn hướng về Tây Thiên Trúc lễ bái suốt 18 năm, cầu Phật gia hộ cho kinh nầy truyền sang Trung Hoa mà mãi chưa được gặp. Cho đến đời Đường, vua Trung Tôn năm thứ nhất, bên Ấn Độ có Sa môn Bát Thích Mật Đế, dùng loại mực khó phai, viết kinh Thủ Lăng Nghiêm trên lụa thật mỏng, rạch vế đùi nhét vào rồi khâu lại, giả làm vết thương để qua mắt quan lính hải quan ở xứ Ấn Độ. Vì vua Ấn rất quý kinh nầy, coi là báu vật của quốc gia nên cấm không ai được đem ra khỏi nước.

    Ngài theo các lái buôn đi đường biển tới Trung Hoa, đến tỉnh Quảng Châu, may gặp quan tướng quốc Phòng Dung có người vợ biết cách dùng chất tẩy vết máu giữ cho nét chữ trên lụa vẫn nguyên vẹn không bị phai nhòa. Sa môn Bát Thích Mật Đế được mời về chùa Chế Chỉ dịch kinh từ chữ Phạn ra chữ Hán; cùng với Sa môn Di Dà Thích Ca, người nước Ô Trành dịch ngữ; Pháp sư Hoài Địch, trụ trì chùa Nam Lâu, núi La Phù chứng nghĩa bản dịch; Tướng Quốc Phòng Dung nhuận bút. Sau khi dịch xong kinh Lăng Nghiêm, ngài Bát Thích Mật Đế trở về Ấn Độ trình lại với nhà vua và xin chịu phép nước.

    Chứng lý còn ghi lại rành rành như trên, không thể nào chối cải, không có lý do gì nói là tân kinh do người Trung Quốc tự tạo. Chứng tỏ kinh Lăng Nghiêm có xuất xứ tại Ấn Độ.

    Về nội dung:

    Phật dạy người tu đời sau phải dùng các pháp ấn để biết đâu là kinh chính do lời Phật nói, mà không lầm lẫn với dị kiến, tà thuyết, đó là:

    - Tam pháp ấn, gồm:

    1. Các hành đều vô thường
    2. Các pháp đều vô ngã
    3. Niết Bàn là tịch tĩnh, vô vi, diệt mọi khổ đau về luân hồi, sanh tử.

    - Thức tướng ấn: Ấn chứng rằng kinh đó là Liễu nghĩa giáo Đại thừa. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Phật dạy phải dựa vào tứ y, gồm có: y theo pháp không y theo người, y theo nghĩa không y theo lời, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh chẳng liễu nghĩa.

    Ta tìm hiểu nội dung kinh Lăng Nghiêm có nói đúng như các pháp ấn nầy không?

    Trong kinh, đức Phật dạy: Chúng sanh cho rằng thân tứ đại nầy là thân ta, cho cảnh nầy là trường cửu thật có, tâm suy nghĩ là tâm mình, rồi từ đó mê chấp theo cảnh, buồn vui giận ghét…, gây nhân tạo quả kết thành nghiệp, luân hồi trong sáu nẻo. Phật lại dạy, bất cứ cái gì có hình tướng đều vô thường giả tạm hư vọng; những cái giả tạm, luôn sanh diệt đó không có gì là ta, là ngã; Chỉ vì chúng sanh không giác biết, bỏ quên bản tâm nên gọi là vô minh. Do vô minh nên bất giác vọng khởi tình thức, vọng sanh có hư không , thế giới, chúng sanh sáu cõi. Nếu biết nó là vô thường sanh diệt hư vọng; liền buông bỏ, không chấp thủ, ngay khi đó tâm hằng thanh tịnh, tịch tĩnh, vô vi, sáng suốt tự hiển bày. Bản tâm của chúng sanh và Phật vốn đồng, không ta người; vừa móng ý phân biệt đã rơi vào tình thức. Cho nên Phật dạy chúng sanh muốn hết mê thì phải luôn sống tùy thuận với bản tâm mình, sáu căn đối sáu trần cảnh mà không sanh sáu thức: “Bất tùy phân biệt”.

    Trong các kinh Đại thừa, Phật dạy rành rõ tiểu thừa đại thừa cũng chỉ vì muốn sách tấn chúng sanh, vì trong tâm mỗi chúng ta do mê nên đủ cả chủng tử tiểu lẫn đại, thiện ác, mê sâu mê cạn rất sai biệt… Người đời chẳng biết ý Phật, bèn cho là có thật tiểu đại, lầm chạy theo tướng sai khác rồi phân chia bỉ thử …thật lầm to!

    Qua nội dung nầy, kinh đã nêu rõ “Nghĩa Chân thật”, mà chỉ có bậc chánh giác mới nói ra được lời này, rất chân xác với các pháp ấn Phật dạy, khẳng định là chính đức Thế Tôn thuyết.

    Tóm lại, qua nghiên cứu về hình thức và nội dung như trên thì rõ ràng kinh Lăng Nghiêm chính do đức Phật tuyên nói. Ai nói kinh nầy không phải đức Phật nói thì người đó nói hoàn toàn sai. Chúng ta là Phật tử, phải bảo vệ chánh pháp, phải khẳng định như vậy, và công bố cho mọi Phật tử biết rõ việc nầy.

    Khi xưa đức Phật đã biết trước thời mạt pháp sẽ có nhóm người tà kiến phá hoại Phật pháp, nên đã huyền ký trong nhiều bộ kinh, ta hãy nghe ở vài bộ kinh:

    - Trong kinh Pháp Diệt Tận, có nói: “Vào thời mạt pháp kinh Thủ Lăng Nghiêm bị hoại diệt trước hết, sau đó, các kinh khác dần dần biến mất”.

    - Trong kinh Niệm Phật Ba-la-mật, Đức Phật dạy:

    “Nầy Vi Đề Hy! Trong pháp hội Thủ Lăng Nghiêm ta đã trình bày nhân địa tu hành Nhĩ căn viên thông cho đại chúng. Nhưng thời mạt pháp kinh điển dần dần ẩn mất, mà nên biết kinh Thủ Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất, tiếp sau là kinh Lăng Già, kinh Kim Cang, kinh Ma Ha Bát Nhã, kinh Diệu Pháp Liên Hoa vv.. sau cùng là kinh A Di Đà”.

    Nghe lời huyền ký nầy thì chúng ta tự biết nhóm người cho rằng kinh Lăng Nghiêm cũng như các kinh Đại thừa khác và các kinh Nguyên thuỷ hệ Bắc truyền là Tân tạo, ngụy tạo, là nhóm gì rồi! Nếu không phải là nhóm tà kiến phá pháp, thì cũng là nhóm nhất xiển đề, mà đức Phật đã huyền ký trong kinh Đại Bát Niết Bàn.

    Về Kinh điển, Phật dạy rất nhiều và rất quý. Nhưng riêng với kinh Thủ Lăng Nghiêm cần nghiên cứu thật kỷ, đây là bộ kinh then chốt của giáo pháp Phật, vì trong kinh nầy Phật dạy những việc vô cùng quan trọng đối với chúng sanh có duyên lành với Phật pháp. Đức Phật đã chỉ rõ chỗ mê lầm của chúng ta, dạy rõ nguyên nhân sanh ra các hiểu biết sai lầm như: chấp thường, chấp đoạn diệt, chấp minh sơ thần ngã (tạo hóa), chấp hư không vô biên, hữu biên vv…; biện biệt vọng tâm, chỉ thẳng bản tâm; giúp ta có chánh kiến, có trí vô sư; giải tỏa được những mối nghi lớn. Chỉ dẫn cách chọn căn viên thông tu hành để chứng Như Lai Tạng tánh; dạy hết sức chi tiết về nội ma ngoại ma cần phải biết rõ để tiến thẳng đến Đạo Bồ Đề. Ngoài hiển pháp, đức Phật còn dạy Mật chú Lăng Nghiêm rất cần cho việc tiến tu.

    Từ xưa đến nay có vô số người nhờ đọc kinh Lăng Nghiêm mà ngộ đạo. Đây là bộ kinh mà tà ma và bọn ác kiến rất kinh sợ, nên muốn hủy diệt. Dù nay vào đời mạt pháp nhưng ai có phước duyên đọc, hiểu và thực hành theo kinh nầy thì sẽ thấy rõ bản tâm mình, sẽ thấy mình hết sức diễm phúc như sanh trong thời kỳ chánh pháp khi Phật còn tại thế. Vô cùng nuối tiếc vì bộ kinh nầy sẽ bị diệt trước nhất trong đời mạt pháp mà Phật đã huyền ký.

    Vì vậy, người học Phật cần tập trung nghiên cứu, cầu học để biết rõ nội dung của kinh, đừng bỏ lỡ cơ hội a tăng kỳ kiếp có một không hai nầy.

    Riêng, với những ai vì lý do nào đó mà có ý nghĩ rằng kinh Đại thừa nói riêng kinh Phật nói chung, là ngụy tạo, tân tạo, thì hãy nghiên cứu cho thật kỷ, hãy cẩn trọng từng ý nghĩ, lời nói, chớ tự gây nhân xấu cho chính mình.

    Phật dạy các pháp do tâm tạo, nhân nào thì quả sẽ thế ấy. Sáu cõi cũng chỉ do tâm nầy, tâm tạo thiên đường tâm cũng tạo địa ngục. Tạo ác thì đời vị lai mình sẽ tự thấy cảnh giới ác hiện, không thể tránh khỏi vậy./
    .
    Huệ Chiếu
    Last edited by sutu; 18-07-2008 at 05:24 PM.

  3. #3

    Mặc định

    thời mạt pháp này, người tu thì nhiều, người chứng thì ít. tiếc thay ...

  4. #4

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi DaiBatNha Xem Bài Gởi
    thời mạt pháp này, người tu thì nhiều, người chứng thì ít. tiếc thay ...
    .... cho những người sanh vọng tâm ... như thế này !!!

  5. #5

    Mặc định

    Một phần Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm Bản Chử Phạn được tìm thấy tại Afghanistan và phía bắc Pakistan và được lưư giữ tại Đại Học Washington.

    Afghanistan từng là một xứ Phật Giáo Đại Thừa thời cổ. Chương trình TV Discover đã nói về Di Tích Phật Giáo 2 Tượng Phật rất lớn và một tu viện với rất nhiều hình Phật vẽ trên tường.

    Những di tích này chỉ mới bị phá hủy do Taliban.

    Chính Phủ Nhật có ý định giúp Afghanistan trùng tu lại 2 Tượng Phật bị Taliban phá hủy.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  6. #6

    Mặc định

    KINH lăng nghiêm thật tình mình rất muốn để được đọc và thọ trì.. nhưng gì đạo hạnh mình non kém nên không dám đọc và thọ trì vì kinh này chỉ những bậc cao tăng đạo hạnh cao mới
    hành và hiểu nổi..
    CHỈ CÒN MỘT NIỆM DI ĐÀ
    ĐỂ CHỜ PHẬT RƯỚT SANG QUA LIÊN ĐÀI
    A DI ĐÀ PHẬT.....
    Mẹ đấy con! Xác phàm mang mển,
    Chẳng một ai không đến lỗi lầm;
    Nhưng kẻ lầm biết hối nơi tâm,
    Là kẻ trí sẽ làm Tiên Phật.

  7. #7

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi 0127 Xem Bài Gởi
    KINH lăng nghiêm thật tình mình rất muốn để được đọc và thọ trì.. nhưng gì đạo hạnh mình non kém nên không dám đọc và thọ trì vì kinh này chỉ những bậc cao tăng đạo hạnh cao mới
    hành và hiểu nổi..
    CHỈ CÒN MỘT NIỆM DI ĐÀ
    ĐỂ CHỜ PHẬT RƯỚT SANG QUA LIÊN ĐÀI
    A DI ĐÀ PHẬT.....
    Kinh Lăng Nghiêm rất quan trọng mà hành giả Tu Phật cần phải nên tìm đọc.

    Căn cơ thấp thì càng phải nên đọc Kinh Lăng Nghiêm để hiểu Đức Phật dạy 50 loại Ấm Ma là những cảnh giới Ma phá người tu.

    Kinh Lăng Nghiêm còn dạy về các loại Nhân Quả Nghiệp Báo trong 3 cõi 6 đạo Luân Hồi vì vậy mà người tu cần phải biết để biết điều nào nên làm việc gì nên tránh.

    Nếu không đọc Kinh Lăng Nghiêm khi tu hành gặp các Cảnh Giới Ma mà không biết lại lầm cho là Chứng Quả thì là lạc vào Đường Tà.

    Trong Kinh Lăng Nghiêm còn dạy về Nhân Quả của 4 thứ Dâm, Sát, Đạo, Vọng mà người tu cần phải biết nếu không thì không thể thực hành đúng Phật Pháp.

    Kinh Lăng Nghiêm dạy về các Cảnh Giới Ma và Phá Ma cho nên Đức Phật dạy đời Mạt Pháp Kinh Lăng Nghiêm bị mất trước tiên sau rồi mới đến các Kinh khác.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  8. #8

    Mặc định

    CẢM ƠN ĐẠO HỮU ĐÃ CHỈ DẠY
    nhưng gì công việc và giặc lộn với công việc hằng ngày nên mình đây chưa có duyên mà tìm hiểu...khi căn cơ mình tới rồi thì mình sẽ nghiên cứu và thọ trì....

    việc chi dù quá cần cù
    cũng nhơn vài phút tập tu nguyện cầu
    A DI ĐÀ PHẬT...
    Mẹ đấy con! Xác phàm mang mển,
    Chẳng một ai không đến lỗi lầm;
    Nhưng kẻ lầm biết hối nơi tâm,
    Là kẻ trí sẽ làm Tiên Phật.

  9. #9

    Mặc định

    ma không do ngoại cảnh, ma do mình tạo ra mà thôi! ngay trong nội tại có cả một lũ ma, vậy cần thiết nên phá ma trong nội tại trước cái đã

  10. #10

    Mặc định

    ngồi niệm phật thời ai cũng niệm
    nhứt tâm không xao xuyến ích người
    tâm như chông chóng giữa trời
    phật thì một niệm còn mười niệm Ma

    các việc xấu nhớ ra trước nhất
    kế tay chân buồn bực mõi mê
    rồi ma buồn ngũ chạy về
    Phật quên niệm đến khói mê phủ vào

    khỏi cần hỏi ông nào phải biết
    niệm thế bao giờ phật chứng cho
    khác nào nồi gạo mới vo
    bắt lên nhất xuống bao giờ chính cơm...
    ............................
    Mẹ đấy con! Xác phàm mang mển,
    Chẳng một ai không đến lỗi lầm;
    Nhưng kẻ lầm biết hối nơi tâm,
    Là kẻ trí sẽ làm Tiên Phật.

  11. #11

    Mặc định

    ma là do tâm sanh vì vậy mún ko gặp ma thì trước hết hãy tu tâm

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •