kết quả từ 1 tới 2 trên 2

Ðề tài: 48 Lời Thệ Nguyện Của đức Từ Phụ A DI ĐÀ...

  1. #1

    Mặc định 48 Lời Thệ Nguyện Của đức Từ Phụ A DI ĐÀ...

    Trong lịch sử Phật giáo thì Phật A-di-đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử, vào khoảng thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Thân hình của vị Phật này thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Một tay của A-di-đà bắt ấn thiền định, tay kia giữ một cái bát, dấu hiệu của một giáo chủ. Những trái cây trong bình bát tượng trưng cho trí huệ phong phú. Tòa sen tượng trưng cho sự thanh tịnh và hai con công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ. Tại Ấn Độ và Tây Tạng, người ta tin rằng con công có thể ăn tất cả những chất độc mà không bị ảnh hưởng gì.

    Phật A-di-đà cũng thường được trình bày với hình tượng mang vương miện kết bằng ngọc quí, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của phật A Di Đà. Thông thường, A-di-đà được vẽ ngồi trên tòa sen, tay Ngài bắt ấn thiền hay ấn giáo hóa . Cùng được thờ chung với A-di-đà là hai Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (sa. avalokiteśvara), đứng bên trái và Đại Thế Chí (sa. mahāsthāmaprāpta), đứng bên phải. Có khi người ta trình bày Phật A-di-đà đứng chung với Phật Dược Sư (sa. bhaiṣajyaguru-buddha).

    Tương truyền rằng A-di-đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, vị vua này từ bỏ ngôi báu và trở thành một tỉ-khâu với tên là Pháp Tạng (sa. dharmākara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh tái sinh vào cõi Cực lạc của mình và cũng sẽ thành Phật. Phật A-di-đà lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát.

    Danh hiệu Phật chính là cõi Cực Lạc vì tự thân trang nghiêm và tự tâm trang nghiêm.

    48 lời nguyện của Phật A Di Đà:

    1. Khi tôi thành Phật, trong cõi nước tôi, có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    2. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, sau khi mạng chung, còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    3. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, thân sắc chẳng thuần vàng, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    4. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, thân tướng có tốt xấu chẳng đồng nhau, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    5. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng có Túc Mạng Thông, ít nhất là biết được những việc trong trăm nghìn ức vô số kiếp, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    6. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng được Thiên Nhãn Thông, ít nhất là thấy được trăm nghìn ức vô số thế giới của chư Phật, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    7. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng được Thiên Nhĩ Thông, ít nhất là nghe được tất cả lời thuyết pháp của trăm nghìn ức vô số chư Phật mà thọ trì, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    8. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng được Tha Tâm Thông, ít nhất là biết được tâm niệm của tất cả chúng sanh trong trăm nghìn ức vô số thế giới, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    9. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng được Thần Túc Thông, trong khoảng một niệm, ít nhất là vượt qua trăm nghìn ức vô số thế giới, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    10. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, còn có quan niệm tham chấp lấy thân, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    11. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng trụ trong dòng Chánh định, cho mãi đến lúc thành Phật, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    12. Khi tôi thành Phật, hào quang của tôi còn có hạn lượng, ít nhất là chiếu thấu trăm nghìn ức vô số thế giới, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    13. Khi tôi thành Phật, thọ mạng của tôi còn có hạn lượng, ít nhất là trăm nghìn ức vô số kiếp, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    14. Khi tôi thành Phật, nếu có người tính đếm mà biết được số Thanh Văn trong cõi nước tôi, hoặc là vô lượng Bích Chi Phật cùng nhau tính đếm trong trăm nghìn kiếp, mà biết được số Thanh Văn đó, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    15. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, có thọ mạng còn hạn lượng (trừ khi họ có bổn nguyện riêng, tự tại theo ý muốn), tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    16. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, nếu có người nghe được danh từ bất thiện, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    17. Khi tôi thành Phật, vô lượng chư Phật trong mười phương thế giới chẳng đều ngợi khen danh hiệu tôi, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    18. Khi tôi thành Phật, mười phương chúng sanh chí tâm tín ngưỡng, muốn sanh về cõi nước tôi, cho đến trong 10 niệm (lúc lâm chung), nếu chẳng được sanh về (trừ khi họ phạm tội ngũ nghịch, hủy báng Chánh pháp), tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    19. Khi tôi thành Phật, mười phương chúng sanh phát tâm Bồ Đề, tu tạo công đức, nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng Thánh chúng hiện thân trước người đó, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    20. Khi tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi, tu tạo công đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về cõi nước tôi, nếu chẳng được như ý nguyện, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    21. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, chẳng đầy đủ 32 tướng tốt của bậc đại nhân, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    22. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, sanh về cõi nước tôi, cứu cánh sẽ là bậc Nhất Sanh Bổ Xứ (trừ khi họ có bổn nguyện riêng, tự tại hóa hiện), vì chúng sanh mà phát hoằng thệ nguyện, tu tạo công đức, độ thoát muôn loài, đi khắp thế giới của chư Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô lượng chúng sanh, làm cho tất cả đều được an trụ nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vượt ngoài hạnh tu của các hạng tầm thường, hiện tiền tu tập Đại nguyện của đức Phổ Hiền Bồ Tát. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    23. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, nương nơi thần lực của Phật, đi cúng dường mười phương chư Phật, trong khoảng thời gian một bữa ăn, chẳng đi khắp vô lượng vô số ức thế giới của chư Phật, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    24. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, khi ở trước mười phương chư Phật, thị hiện công đức của mình, muốn có những đồ vật cúng dường mà chẳng được đúng như ý muốn, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    25. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, không được Nhất Thiết Trí, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    26. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, chẳng đều được thân kim cang Na La Diên, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    27. Khi tôi thành Phật, trong cõi nước tôi, tất cả đồ dùng của Trời và Người, có hình sắc đẹp đẽ, trong sáng, mầu nhiệm, không thể tính đoán mà biết được, dù là người có thiên nhãn. Nếu có người biết được danh số rõ ràng các đồ vật ấy, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    28. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, dù là người ít công đức nhất, chẳng thấy biết cây Đạo Tràng cao bốn trăm vạn do tuần, vô lượng sắc hào quang, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    29. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    30. Khi tôi thành Phật, nếu có người hạn lượng được trí huệ biện tài của Bồ Tát trong cõi nước tôi, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    31. Khi tôi thành Phật, cõi nước tôi thanh tịnh, tất cả nơi đều soi thấy vô lượng vô số bất khả tư nghì mười phương thế giới, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    32. Khi tôi thành Phật, trong cõi nước tôi, từ mặt đất lên đến hư không, lầu đài, cung điện, ao nước, hoa cây, tất cả vạn vật đều là vô lượng chất báu và trăm nghìn thứ hương hợp lại mà thành, xinh đẹp kỳ diệu, mùi thơm tỏa khắp mười phương thế giới. Chúng Bồ Tát ngửi được mùi hương ấy thì đều tu hạnh của Phật. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    33. Khi tôi thành Phật, các chúng sanh trong vô lượng bất khả tư nghì mười phương thế giới, được ánh hào quang của tôi chiếu đến, thì thân tâm họ hòa dịu hơn cả hàng Trời và Người. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    34. Khi tôi thành Phật, các chúng sanh trong vô lượng bất khả tư nghì mười phương thế giới, nghe danh hiệu tôi, mà không được Vô Sanh Pháp Nhẫn, cùng các môn Tổng Trì thâm sâu, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    35. Khi tôi thành Phật, các người nữ trong vô lượng bất khả tư nghì mười phương thế giới, vui mừng tin mến, phát tâm Bồ Đề, nhàm chán thân gái. Nếu sau khi mạng chung mà còn trở lại làm thân người nữ, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    36. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất khả tư nghì mười phương thế giới, nghe danh hiệu tôi, vẫn thường tinh tấn tu phạm hạnh, cho mãi đến lúc thành Phật. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    37. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong vô lượng bất khả tư nghì mười phương thế giới, nghe danh hiệu tôi, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tin mến, tu hạnh Bồ Tát, thì tất cả Trời và Người đều kính trọng kẻ đó. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    38. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, muốn có y phục, thì y phục tốt đẹp và đúng pháp liền theo tâm niệm của người đó mà tự nhiên hiện đến trên thân. Nếu còn phải cắt may, nhuộm giặt, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    39. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, thọ hưởng sự an vui không bằng vị Tỳ Kheo có Lậu Tận Thông, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    40. Khi tôi thành Phật, Trời và Người trong cõi nước tôi, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh của mười phương chư Phật, thì liền soi thấy ở trong cây báu, đúng theo ý muốn, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    41. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, từ đó cho đến lúc thành Phật mà các căn còn thiếu xấu, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    42. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, tất cả đều được Giải Thoát Tam Muội. An trụ nơi tam muội đó, trong khoảng một niệm, cúng dường vô lượng bất khả tư nghì chư Phật Thế Tôn mà vẫn không mất chánh niệm. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    43. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung, sanh vào nhà tôn quý. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    44. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, đầy đủ công đức. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    45. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, đều được Phổ Đẳng Tam Muội. An trụ nơi tam muội đó, cho mãi đến lúc thành Phật, thường được thấy vô lượng bất khả tư nghì chư Phật. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    46. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi, muốn nghe pháp gì thì liền tự nhiên được nghe pháp ấy. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    47. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, chẳng được đến bậc Bất thối chuyển, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.

    48. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác, nghe danh hiệu tôi, chẳng liền được đệ nhất Âm Hưởng Nhẫn, cùng ở nơi Phật pháp mà chẳng liền được bậc Bất thối chuyển, tôi thề không chứng quả Chánh Giác.


    Hãy thành tâm niệm Phật và chỉ biết niệm Phật.
    Mẹ đấy con! Xác phàm mang mển,
    Chẳng một ai không đến lỗi lầm;
    Nhưng kẻ lầm biết hối nơi tâm,
    Là kẻ trí sẽ làm Tiên Phật.

  2. #2

    Mặc định

    Để tìm hiểu thêm vào đây!

    Pháp môn niệm phật là một pháp môn hết sức tối thắng có thể thành phật ngay trong một đời. Là pháp môn mà mười phương ba đời chư phật đều đồng thanh khen ngợi. Đây là pháp khó tin, khó hiểu bậc nhất mà Như-Lai chưa từng nói. Đây là pháp tối thượng Nhứt thừa, chứa đựng vô lượng vô biên ý nghĩa vi diệu mà Như-Lai đợi đến đúng lúc, đúng thời mới ban cho, tự như hoa Ưu-đàm-bát-la mấy muôn ngàn năm mới nở một lần. Đây là Tạng Pháp bí mật của chư Phật ba đời, ví như viên bảo châu trên búi tóc Luân-vương không thể khinh xuất giao cho người khác. Mà Như-Lai chỉ truyền giao cho bất cứ chúng sanh nào quyết chí hoàn thành địa vị Thiên Nhân Sư, tiếp nối hạt giống Bồ-đề. Những người niệm phật, để hiểu rõ thêm nên đọc qua Kinh Niệm Phật Ba La Mật.

    Kinh Niệm Phật Ba La Mật dạy:

    Chỉ có Danh Hiệu Phật là đầy đủ năng lực nhiệm mầu để chuyển hóa vô minh trở nên Giác Ngộ, chuyển hóa sinh tử trở nên Niết Bàn, chuyển hóa giả huyễn trở nên Chân Thật.

    Vì sao vậy?

    Khi xưng niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, hành giả dần dần thành tựu Chánh Định Như Lai, tự nhiên phát sinh Tuệ Giác Không Tánh, vì Danh Hiệu Phật là Hư Không Tạng, là Viên Giác Tánh, là Vô Cấu Tạng, là Tịch Tịnh Tạng... Nhờ vậy, hành giả biết các pháp đều như huyễn, thời tự nhiên lìa xa các huyễn hóa, sinh diệt. Ngay lúc ấy, bèn thâm nhập Viên Giác Tánh. Đó gọi là Tri Huyễn Tức Ly, Ly Huyễn Tức Giác.

    Bởi vậy, phải nói rằng: Niệm Phật là pháp môn đệ nhất, sử dụng Danh Hiệu Như Lai mà thâm nhập Như Lai Tạng, mà chuyển biến huyễn hóa hư dối trở nên Viên Giác Tánh. Các hạng chúng sinh thời mạt pháp phải siêng năng thọ trì.

    Tất cả chúng sinh từ vô thủy đến nay, bị phiền não chi phối ngày đêm không tạm dừng, nên nhận vọng tưởng làm tâm, bỏ quên Thắng Giải Trí, Vô Thượng Trí, rồi lại bị Tham Sân Si Mạn Nghi lôi cuốn. Cộng thêm vào Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Cấm Thủ Kiến chồng chất lấp vùi. Do đó, khởi tâm phân biệt, thấy có mừng giận, yêu ghét, vui buồn, vinh hoa, hủy nhục... Nếu tận trừ phiền não thì thân tâm vắng lặng, an nhiên tự tại, tức đồng với chư Phật không khác.

    Muốn tận trừ phiền não, thì không chi hơn là phát huy năng lực Trí Giải Siêu Việt của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Thật vậy, nhờ cần mẫn xưng niệm Phật Hiệu mà hành giả hiện bày Tự Tâm Quang Minh Hiện Lương, chuyển phiền não dữ dội ấy trở thành Bồ Đề Thật Tướng, đưa hành giả thẳng vào Cảnh Giới Thánh Tri Tự Chứng. Lúc bấy giờ, có khả năng bấm ngón chân xuống mặt đất, sử dụng Ấn Địa Xúc để cải biến Ta Bà thành Tịnh Độ Trang Nghiêm, niệm niệm tương ứng với Đại Địa Bồ Tát, niệm niệm du hành, giáo hóa xã hội chúng sinh khắp mười phương vi trần hằng hà sa thế giới.

    Này Vi Đề Hy, Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn trọn đời giáo hóa điều phục chúng sinh, đa ban bố tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập. Nhưng, trong đó, Niệm Phật là thù thắng đệ nhất. Vi Đề Hy, trong quá khứ vô lượng vô biên na do tha kiếp, các Đức Phật Như Lai đa dùng hằng hà sa phương tiện, thí dụ, ngôn thuyết để diễn bày vô số pháp tu tập, đưa hết thảy chúng sinh vào Nhất Thừa Đạo. Nhưng, duy chỉ có Niệm Phật là viên đốn đệ nhất.

    Vi Đề Hy, nơi đời vị lai, các Đức Phật sẽ xuất hiện thế gian, cũng dùng hằng hà sa phương tiện, ngôn thuyết, thí dụ, để diễn bày vô số pháp môn tu tập, đưa hết thảy chúng sinh vào Cảnh Giới Giải Thoát Tối Thượng Nhất Thừa. Nhưng, duy chỉ có Niệm Phật là cứu cánh đệ nhất.

    Vi Đề Hy, hiện tại nay nơi trăm nghìn muôn ức na do tha quốc độ khắp mười phương, các Đức Phật Chánh Đẳng Giác cũng đang dùng hằng hà sa phương tiện, ngôn thuyết, thí dụ, để diễn bày vô số pháp môn tu tập, đưa hết thảy chúng sinh dung hóa vào không tánh, Niết Bàn Diệu Tâm Như Lai Tạng, nhưng duy chỉ có Niệm Phật là hữu hiệu, siêu việt đệ nhất. Bất cứ chúng sinh nào, hễ nhất tâm xưng niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, dù chỉ một câu duy nhất, thì sẽ xuất sinh những món Năng Lực Bất Tư Nghị, như là:

    Năng lực bất tư nghị “Nhận biết rốt ráo tự tánh của tất cả các pháp.”
    Năng lực bất tư nghị “Thấy rõ tánh chất huyễn hoá của tất cả pháp hữu vi.”
    Năng lực bất tư nghị “Thấu triệt tất cả các pháp đều là Phật Pháp, ở nơi ý nghĩa liễu giải không vướng mắc.”
    Năng lực bất tư nghị “Tôn trọng và thừa sự hết thảy chư vị Thiện Tri Thức.”
    Năng lực bất tư nghị “Phân biệt tất cả pháp mà tự tại vô ngại.”
    Năng lực bất tư nghị “Tùy thuận tất cả căn lành dẫn dắt tới Vô Thượng Giác.”
    Năng lực bất tư nghị “Luôn thâm tín, điều như tất cả Phật Pháp.”
    Năng lực bất tư nghị “Đại Từ Bi luôn khoan dung, không chê bai, khinh rẻ những môn phi pháp.”
    Năng lực bất tư nghị “Không bao giờ thối thất Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Nguyện.”
    Năng lực bất tư nghị “Không hề quên sót danh hiệu Phật.”
    Năng lực bất tư nghị “Mãi mãi tùy thuận Bản Nguyện của Chư Phật, Chư Bồ Tát.”
    Năng lực bất tư nghị “Đưa hết thảy chúng sinh an trụ vào biển cả Đại Nguyện Vô Lượng Công Đức của A Di Đà Phật.”
    Năng lực bất tư nghị “Cải biến Ta Bà thành Tịnh Độ Vi Diệu Trang Nghiêm đồng cõi Cực Lạc không khác.”
    Ai nhất tâm xưng niệm Danh Hiệu ấy, sẽ được Chư Phật hộ trì và nhiếp thọ, quyết định thành Phật.

    Này đại chúng, nên biết rằng, vô lượng vô biên muôn ức na do tha vi trần số Hóa Thân của chư Phật và của Ta khắp tất cả quốc độ trong mười phương cũng đều giảng nói kinh Niệm Phật Ba La Mật, cũng đều khuyến phát chúng sinh siêng năng niệm Phật. Tất cả chư Phật phân thân của ta luôn luôn phóng đại quang minh nhiếp thọ và thủ hộ những chúng sinh niệm Phật, không bỏ rời.
    Last edited by 123456789; 28-08-2010 at 12:41 PM.
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •