Trang 2 trong 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 21 tới 40 trên 61

Ðề tài: Những Vần Thơ Ngoại Cảm

  1. #21

    Mặc định

    NGHỆ THUẬT VĂN TRỊ CỦA VUA MẠC ĐĂNG DOANH

    Sử truyền ngọc điện Thăng Long
    Kinh đô dân Việt Lạc Hồng nước ta
    Đăng Doanh (1) hậu điện xem hoa
    Nhìn vườn Ngự Uyển lòng mà ngán ngao:
    Từ ta tọa vị ngôi cao
    Chẳng khi nào được ra vào tự nhiên
    Nay truyền cung nữ ngủ yên
    Quan hầu thái giám y truyền nghỉ ngơi
    Mình ta đêm vắng dạo chơi
    3420. Ngự lâm túc vệ cũng thời chẳng hay,
    Trăng trong nguyệt rạng phương đài
    Như gương nào khác ban ngày sáng soi
    Mình ta để bước dạo coi
    Bấy lâu vào cảnh hẹp hòi khổ thân (2)
    Đi thì rần rộ tướng quân
    Long xa, Phụng tán xa gần đều hay
    Kẻ cầm đao nhọn giáo dài
    Người thì võng giá đi thì hai bên
    Loanh quanh ba bước điện đền
    3430. Chưa từng nhìn được hai bên thế nào
    Chẳng thông thành lũy ra sao
    Chẳng hay dinh trại chỗ nào nữa đa,
    Làm Vua có khỏe chi ta
    Vẫn lo trong nước dân mà không thương
    Lại lo bốn cõi biên cương
    Chư bang biết có kính nhường hay chăng? (3)
    Nội trào quan võ quan văn
    Trẫm chưa ngắm cảnh trời trăng sơn hà
    Nay vườn Ngự Uyển xem hoa
    3440. Một mình thanh thản hơn ba quân hầu,
    Càng nhìn điện ngọc cung lâu
    Ao hồ non bộ ưu sầu chứa chan
    Chung quanh ngõ dọc đường ngang
    Muôn ngàn hoa đẹp xuân sang gặp thì
    Bao trùm nhành liễu tường vi
    Kì hoa dị thảo xiết chi thơm nồng,
    Nào là mai bạch mai hồng
    Cây tùng cây bá cũng trồng mà chơi
    Dạo vườn Ngự Uyển khắp nơi
    3450. Hoa hương thì để người chơi gọi là
    Sắc thì rực rỡ màu hoa
    Ngắm nhìn màu đẹp sáng lòa mà thôi,
    Đăng Doanh ngồi nghĩ một hồi
    Thế sao Vua Chúa từ hồi xưa xa
    Ham chi màu sắc cỏ hoa
    Ham chi hương vị tạo ra vườn này
    Bỏ công mà tạo ra đây
    Những tiền công khố của này tốn hao
    Phải chi đồng bỏ công vào
    3460. Trồng cây hưởng quả về sau mà dùng
    Có đâu bài trí lạ lùng
    Trồng chi hoa cỏ khắp cùng nơi nơi,
    Vườn này đêm vắng dạo chơi
    Có đâu ích nước hay thời lợi dân
    Nhọc công văn võ đình thần
    Họa đồ Ngự Uyển dành phần thảnh thơi,
    Đăng Doanh nhìn khắp các nơi
    Trong lòng chán nản nhiều lời thở than
    Phúc đâu có Thái Thượng Hoàng (4)
    3470. Đi cùng thái giám hai hàng cung phi,
    Đăng Doanh ngồi mải nghĩ suy
    Thượng Hoàng ông có việc chi quá cần
    Đi cùng thái giám cung nhân
    Chuyện chi mà lại rộ rần vào đây?
    Nghĩ rồi quỳ xuống tâu vầy
    Thượng Hoàng Vương Phụ đêm chầy đi đâu
    Lao xao cung nữ theo hầu
    Chuyện chi Vương phụ nói âu con tường,
    Trào thần lặng lẽ bốn phương
    3480. Điều chi lo ngại Phụ Vương lộ trình?
    Đăng Dung xem thấy cả kinh:
    Vương nhi đêm vắng một mình đi đâu?
    Đăng Doanh rằng: chốn long lâu
    Một mình để bước giải sầu xem hoa.
    Đăng Dung nghe tấu cười xòa:
    Vương nhi ngơ ngẩn như là trẻ con
    Con người cao quý vàng son
    Nơi này vườn ngự chẳng còn chi hơn,
    Vào đây phải có cung nhân
    3490. Đêm thanh ngoạn mục vui chân thầy trò
    Ai đi mình một quanh co
    Hoa muôn ngàn sắc thẹn cho đất trời,
    Cha nay đêm vắng dạo chơi
    Cung tần mỹ nữ rước mời rượu ngon
    Quanh co Ngự Uyển vòng tròn
    Ao, hồ, non bộ, cá còn trêu ngươi
    Cành xanh hoa hé nụ cười
    Để chào Hoàng tộc chào người Đế vương
    Chốn này hoa lá lạ thường
    3500. Kỳ hoa dị thảo đưa hương nặc nồng
    Vương nhi nào phải cuồng ngông
    Lại đi mình một vào trong chốn này
    Là nơi vắng vẻ đó đây
    Võ văn ai đến chỗ này làm chi,
    Nơi này riêng của Vương nhi
    Dành riêng Vua chúa phòng khi giải buồn
    Con nhìn nhiều nẻo từng khuôn
    Tam cung lục viện quanh nguồn mà thôi
    Dinh ngoài quan trấn riêng ngôi
    3510. Vườn hoa riêng chốn con ôi có tường!
    Đăng Doanh rằng: Thượng Phụ Vương
    Lòng con đang lúc tư lương nghĩ bàn
    Nơi này đất rộng thênh thang
    Trồng chi hoa cỏ dọc ngang như vầy
    Làm cho mất đất thế này
    Phải mà trồng trọt những cây cần dùng
    Hầu sau xây sửa Hoàng cung
    Trồng chi hoa lá khắp cùng vậy đa?
    Con xin thưa lại với cha
    3520. Cho quân phá hết để mà mần chi
    Phá xong cày ruộng tức thì
    Đem nguồn ích lợi cho thì quốc gia
    Hoặc khi truyền lệnh cung nga
    Trồng dâu đặng để cho ta nuôi tằm
    Thì là lợi ích hàng năm
    Trồng dâu cày ruộng nuôi tằm là hơn,
    Để chi mất đất giang sơn
    Trồng cây ăn quả phải hơn không là
    Ao hồ thì cũng hay a
    3530. Vì còn nuôi cá hay là trồng rau
    Chớ còn cây cỏ lao xao
    Ích chi trong nước đồng bào vậy đa
    Vui gì đêm vắng đồng ra
    Vào đây chè chén thưởng hoa làm gì?
    Đăng Dung ông mới nói thì:
    Hôm nay sao lại Vương nhi lạ lùng
    Làm Vua làm Chúa thung dung
    Sắm vườn Ngự Uyển vui cùng cung nga
    Con coi nào cỏ nào hoa
    3540. Của chư bá quốc đem qua mà trồng
    Nhân ngày gió mát trăng trong
    Xem hoa đãi nguyệt cho lòng toại thay,
    Chắc con từ bấy xưa nay
    Con cùng các viện chưa ngày thưởng hoa
    Con nên học cách theo cha
    Dẫn cung dẫn viện xem hoa dạo vườn,
    Nơi này riêng của đế vương
    Cái vườn Thượng Uyển ruộng nương sao bằng
    Làm Vua dư thức uống ăn
    3550. Đói nghèo chi đó ngày hằng lại lo?
    Đăng Doanh nghe nói buồn xo
    Con riêng nghĩ việc ích cho nước nhà
    Còn điều chi phí nhởn nha
    Con e Lê thứ (5) gần xa nhìn vào
    Rằng công lao của Lê trào
    Cha con ta sẵn cứ vào mà xơi
    Không lo bổ ích cho đời
    Lại lo chè chén vui chơi ngày ngày,
    Người gần chói mặt nhàm tai
    3560. Tránh sao trăm họ cõi ngoài cười chê
    Lòng người còn nhớ họ Lê
    Con luôn nghĩ việc vỗ về muôn dân
    Chẳng vui mỹ nữ cung tần
    Mà không nghĩ đến con dân đói nghèo
    Thương dân chưa biết giàu nghèo
    Cha con ta cứ cười reo sao đành! (6)
    Đăng Dung rằng: thứ hậu sanh
    Nói sao nghe giống nhà lành am mây (7)
    Bảo cho con có dại ngây
    3570. Nên sang Ấn Độ theo thầy Tỳ Kheo <8>
    Nếu con thương đói thương nghèo
    Giao ngôi Hoàng Tử rồi theo tu trì!
    Làm Vua đâu phải thế ni
    Làm Vua phải đủ quyền uy phạt hành
    Trong nay nắm việc dữ lành
    Muôn nhà sanh mạng tử sanh cũng cầm
    Mới kêu rằng lệnh muôn năm
    Mạng người khắp chốn con cầm trong tay,
    Rượu đây con hãy uống say
    3580. Cung nga mỹ nữ mặt mày như hoa
    Chẳng vui hương lửa mặn mà
    Lại đi lo những việc mà đâu đâu,
    Một vườn thượng uyển báu mầu
    Vương nhi định phá trồng dâu nuôi tằm!
    Thật là khờ khạo cho tâm
    Vàng kho còn tính nuôi tằm sao con?
    Nói rồi ông lại cười dòn:
    Vương nhi trẻ tuổi nên còn chưa thông
    Thôi thì thái giám ra công
    3590. Đưa vương nhi đến tiêu phòng chánh cung!
    Thái giám vâng lệnh Đăng Dung
    Đưa Vua trở lại vào cung tức thời.
    Đăng Doanh nào có nghỉ ngơi
    Vào cung Hoàng Hậu ông thời thở ra,
    Chánh cung nhỏ nhẹ hỏi qua
    Chẳng hay long thể Vua mà bất an?
    Canh ba (9) lại đến cung vàng
    Điều chi Bệ hạ long nhan ưu sầu?
    Chúa Mạc ông mới phán âu
    3600. Trẫm đây thức mãi canh thâu Hậu à,
    Thượng Hoàng nay tuổi đã già
    Nhân sao tâm tánh như là thiếu niên
    Canh tràng già chẳng ngủ yên
    Lại đi ngoạn nguyệt vui riêng thế này,
    Cung nga mỹ nữ đông vầy
    Thượng Hoàng như thế Trẫm đây ngại lòng.
    Hoàng Hậu tâu với Bệ rồng (10):
    Vì Hoàng Thái Thượng tuổi ông đã nhiều
    Biết mình tuổi đã về chiều
    3610. Cho nên an hưởng ít nhiều vinh hoa.
    Chúa Mạc rằng: tuổi đã già
    Tu nhân tích đức mới là phải cho
    Già sau thân chết chẳng lo
    Lại vui hoa nguyệt như trò trẻ thơ,
    Trẫm đây lòng ngẩn dạ ngơ
    Nước non dân dại cậy nhờ bệ giai
    Giang san này chẳng riêng ai
    Ai nhiều phước đức nhân tài là hơn,
    Ỷ mình chúa tể giang sơn
    3620. Rồi lo chè chén ca đờn thỏa thuê
    E khi binh lửa đến kề
    Thần dân oán ghét nhiều bề khó khăn,
    Làm Vua giữ chánh đạo hằng
    Giữ lòng mực thước thẳng bằng mới ngoan
    Nếu lo công hưởng vui nhàn
    Muôn dân trăm họ lầm than kêu sầu.
    Hoàng hậu nghe nói liền tâu:
    Lòng Vua đại đức thâm sâu biển trời
    Ắt là sửa trị muôn đời
    3630. Vạn dân trăm họ ngỏ lời cám ơn
    Nếu mà Bệ hạ ác nhân
    Muôn dân trong nước ngậm hờn lắm đa!
    Đến khi binh biến xảy ra
    Biết dân che chở cho ta buổi này
    Hay là nợ máu đã gây
    Oan hồn yểu tử về đây kêu sầu
    Thiếp thần cũng vẫn lo âu
    Nhà Lê roi dấu cũng lâu đời rồi,
    Công Lê Thái Tổ (11) đắp bồi
    3640. Thánh Tông (12) sửa trị lo ngồi trị dân
    Roi truyền nhiều kẻ bất nhân
    Ham vui tửu sắc ngày lần suy vong,
    Thượng Hoàng mới đoạt Thăng Long
    Nay truyền Bệ hạ ngai rồng trị an
    Gương Lê Tương Dực (13) cung hoàng
    Là gương bán rẻ giang san của mình
    Tối ngày trà rượu sàng sình
    Nô đùa mỹ nữ thỏa tình dâm ô
    Buông trôi xã tắc cơ đồ
    3650. Làm cho dân chúng gan khô phổi xào,
    Nay mà Bệ hạ ân cao
    Lòng thương nhân loại đồng bào như con
    Ngàn năm xã tắc mãi còn
    Đừng vì tửu sắc nước non thẹn lòng,
    Thiếp tuy được phước tiêu phòng
    Không hề đố kỵ hay lòng ghen tuông
    Cầu cho chấn chỉnh triều cương
    Cầu dân trăm họ bốn phương thuận hòa,
    Những ngày sóc vọng vừa qua
    3660. Thiếp truyền bãi lệnh xưa xa từ nào,
    Phu nhân tam phẩm trong trào
    Lễ mừng Nguyên Đán khỏi vào cấm cung
    Để Người ngơi nghỉ thung dung
    Khỏi phiền vợ tướng vào cung chầu hầu
    Còn ai ý hiệp tâm đầu
    Đến mừng Nguyên Đán thiếp âu rước mời,
    Còn ai lòng chẳng thảnh thơi
    Phải vào lấy lệ thiếp thời chẳng cho
    Kẻo người lòng luống đắn đo
    3670. Ngổn ngang trăm việc còn lo hầu bà,
    Vậy nên Nguyên Đán vừa qua
    Vào cung chỉ có năm bà Công nương
    Vợ quan Tiết Chế trào đường
    Oanh Vàng dẫn bốn Công nương vào chầu
    Các dinh mạng phụ long lâu
    Chẳng ai mà đến cung chầu Chiêu Vương
    Lấy theo lý ấy mà lường
    Lòng người chưa chắc kính nhường Mạc gia
    Nên đề phòng việc xảy ra
    3680. Đừng vui tửu sắc hại ta ích gì.
    Vua rằng: Trẫm cũng ngại nghi
    Lòng dân còn hãy mến thì họ Lê
    Cho nên Trẫm vẫn liệu bề
    Lúc nào Trẫm cũng quý Lê Oanh Vàng (14)
    Nếu nàng còn ở trào đàng (15)
    Thì Lê Chiêu Tông (16) khó toan vẫy vùng,
    Trẫm tuy ngồi ngự cửu trùng (17)
    Mà con mắt Trẫm ngó cùng trào ca <18>,
    Thấy quân thám tử vào ra
    3690. Trẫm không truyền bắt khảo tra làm gì
    Xét mình thảo thuận kính vì
    Thương dân mến nước chẳng chi lỗi thời
    Cho dân trong nước thảnh thơi
    Sưu cao thuế nặng cũng thời giảm tha,
    Chiêu Tông dù muốn can qua
    Lấy chi làm cớ đánh ta cho đành
    Lúc nào ta cũng thi hành
    Phép nhà Lê sẵn để dành cho ta (19)
    Cứ điều luật ấy làm ra
    3700. Thì dân trong nước muôn nhà đều hay,
    Dù bao thám tử cõi ngoài
    Vào đây thấy chuyện chẳng ai nghịch lòng
    Trẫm từ ngự chốn Bệ rồng
    Cung tần mỹ nữ Trẫm lòng chẳng mê
    Tiền cung (20) nhiều gái như huê
    Trẫm xem như thể họ Lê đương trào
    Chẳng hề chè chén thì thào
    Hay là đùa cợt mận đào trăng hoa,
    Cung nào Trẫm cũng vào ra
    3710. Vấn an sức khỏe cung nga phi tần
    Xong rồi Trẫm cũng để chân
    Sang qua cung khác tỏ phần mến thương
    Các cung thứ hậu tam nương
    Bảo rằng Trẫm thật Đế vương thương người
    Lúc nào Long viện cũng tươi
    Vào cung thăm hỏi các người bằng an
    Dù không chung gối long sàng (21)
    Cũng vui thấy được long nhan thường ngày,
    Trào Lê nào được như nay
    3720. Ba năm chưa thấy mặt mày nhà Vua
    Trong cung tám tiết tứ mùa
    Quạnh hiu nào thấy mặt Vua ra vào,
    Nay mà về phước Mạc trào
    Toại thay có Chúa ra vào rất xuê (22).
    Hoàng Hậu nghe kể cười hề:
    Các cung ấy của Vua Lê còn truyền
    Từ ngày Bệ hạ nắm quyền
    Các cung cũng vẫn để nguyên mà dùng
    Thiếp e mỹ nữ các cung
    3730. Có điều bí ẩn lạ lùng bên trong
    Chiêu Tông trở lại Thăng Long
    Các bà các ả mừng lòng khai cung,
    Thiếp xin bệ hạ đừng dùng
    Cung tần ba viện sáu cung cũng là
    Cho về quê quán mẹ cha
    Tha luôn mỹ nữ cung nga đền vàng,
    Trong cung sau trước lặng trang
    Vua đi lục xét khắp tràng cung chương
    Xong rồi truyền lệnh trào đường
    3740. Kén tân mỹ nữ tòa chương cần dùng
    Kén thêm sáu viện ba cung
    Nhà nào có gái thư hùng tài hay
    Đưa vào Mạc điện kim ngai
    Phong làm thứ hậu hoặc rày quý phi
    Cung tần hay chức cung phi
    Tài nhân hay chức yêu vì mỹ nhân
    Sau là hạng gái bình dân
    Bổ sung các viện gọi phần cung nga.
    Chúa Mạc nghe tấu phán ra:
    3750. Hậu không rõ hiểu tâu ra những lời
    Trẫm xem mật nhiệm sách trời
    Binh thơ chiến lược có lời rất hay
    Làm Vua tự xét điều sai
    Sửa mình đừng để cho ai phiền hà,
    Kỵ nhứt là hạng đàn bà
    Gái nào mặt ngọc mày hoa phải ngừa
    Lúc nào Trẫm cũng lọc lừa (23)
    Cho nên Trẫm phải để chừa các cung
    Gọi là người cũ cần dùng
    3760. Vì trong sáu viện ba cung trước ngày
    Vua nhiều vợ lịch khôi hài (24)
    Người nào quý nhất thường ngày lân la
    Còn người không quý bỏ ra
    Cho ăn cho mặc chẳng mà cho duyên
    Trong lòng người đã ưu phiền
    Oán than số phận thuyền quyên mủi lòng
    Trẫm là Vua mới trời phong
    Nên thường lui tới nhủ lòng các cung,
    Gọi là người cũ nên dùng
    3770. Kén tân mỹ nữ vào cung đặng nào
    E lầm nữ kiệt anh hào
    Vào cung ba lược sáu thao đủ tài
    Giặc trong thông tín giặc ngoài
    Đầu nàng ta sợ có ngày phải rơi,
    E cho nhiều gái tuyệt vời
    Văn hay võ giỏi trong đời thiếu chi
    Vào cung nó có ngại gì
    Nhiều mưu nhiều chước có chi ngại ngùng
    Khi vào được viện được cung
    3780. Lắm khi ngọt lạt hiếu trung bày trò,
    Lòng người khó nổi cân đo
    Thấy người thế ấy nghĩ cho trung thành
    Không hay mưu kế sắp dành
    Thì đầu của Mạc Đăng Doanh không còn,
    Thừa cơ vui vẻ cung son
    Nó dùng dịu kế ngọt ngon chuộng chiều
    Làm cho Trẫm quý Trẫm yêu
    Giặc Lê vào tận Mạc triều chưa hay
    Kén tân mỹ nữ thêm rày
    3790. Lòng dân oán ghét hằng ngày thêm lên,
    Nước non Trẫm muốn vững nền
    Sợ người ghét Trẫm đứng lên phục thù
    Lúc nào Trẫm cũng chân nhu
    Nhà Lê miếu võ sùng tu vẫn thờ,
    Các quan Lễ Bộ Thượng Thơ
    Phải coi văn miếu phụng thờ họ Lê,
    Bảo quan Lại bộ soạn về
    Coi bao nhiêu họ luận bề riêng ngôi,
    Nhất là họ Mạc của tôi
    3800. Gọi là Hoàng tộc một ngôi đương trào
    Nhì là Lê chúa anh hào
    Gọi là Quốc tộc ghi vào sổ son
    Bao nhiêu người chết người còn
    Mà quan Lại bộ xét còn chưa ra
    Hậu còn bảo kén cung nga
    Thêm phần bận rộn quốc gia ích gì?

  2. #22

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Đăng Doanh: vua Mạc Đăng Doanh (1503-1540), nối ngôi Mạc Đăng Dung, trị vì từ năm 1530 đến 1540.

    2. Ý nói những gò bó của lễ nghi triều đình, tuân theo phép tắc không được tự nhiên thoải mái.

    3. Nhà Mạc cướp ngôi vua Lê, các thế lực phò nhà Lê vẫn còn đủ mạnh, cát cứ nhiều nơi, nên vua Mạc lo lắng.

    4. Thái Thượng Hoàng: Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530 để lui về làm Thái Thượng hoàng.

    5. Lê thứ: con cháu, dòng dõi nhà Lê.

    6. Phần miêu tả tính cách của Mạc Đăng Doanh thật chính xác. Mạc Đăng Doanh tức Mạc Thái Tông là người chú trọng việc khoa cử. Ông mở các khoa thi đều đặn 3 năm một lần và chọn được nhiều nhân tài, điển hình là Nguyễn Thiến (đỗ đầu khoa thi năm 1532) và Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ đầu năm 1535), Giáp Hải (đỗ đầu năm 1538). Đầu năm 1536, ông cho tu sửa lại trường Quốc Tử Giám.

    Mạc Thái Tông không phải là ông vua nhiều võ công nhưng giỏi về văn trị. Ông không có được những chiến công đánh dẹp hiển hách như vua cha Mạc Thái Tổ nhưng đã mang lại cuộc sống no ấm, yên ổn cho nhân dân Đại Việt.

    Liên tiếp trong mấy năm được mùa, nhân dân được no đủ, trong nước được yên ổn. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhận thời thịnh trị của Mạc Thái Tông: "Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi". Những cảnh thịnh trị thời ông cai trị khiến sử sách phải ghi nhận là rất hiếm có trong lịch sử Việt Nam, ngay cả thời được coi là “hoàng kim” của chế độ phong kiến như Lê Thánh Tông cũng không thấy chép những cảnh tương tự, được các nhà sử học hiện đại đánh giá rất cao.

    7. Nhà lành am mây: ý nói các nho sĩ, hoặc nhà tu chứ không phải võ tướng.

    8. Tỳ Kheo: nhà tu hành theo giáo hội Phật Giáo do Đức Phật Thích ca sáng lập. Tỳ kheo là phiên âm Hán-Việt của từ gốc tiếng Phạn Bhiksu.

    9. Canh ba: khoảng 12 giờ đêm

    10. Bệ rồng: ý nói vua.

    11. Lê Thái Tổ: vua Lê Lợi (1385-1433), khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh, lên ngôi hoàng đế năm 1428, lập nên vương triều nhà Lê.

    12. Thánh Tông: vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), là vị vua thứ năm thời Lê, trị vì từ 1460 đến 1497. Ông đưa ra nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Ông cũng đã mở mang bờ cõi nước Đại Việt. Ông là một trong những vị vua tài ba trong lịch sử Việt Nam, mang lại nền thái bình, thịnh trị cho nước nhà.

    13. Lê Tương Dực: (1495–1516) đưa quân về chiếm Đông Kinh, bắt vua Lê Uy Mục và bức tử, lên ngôi vua. Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Ông cho xây điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài nhiều năm trời không xong, hao tổn tiền của, giết hại nhiều người. Lê Tương Dực cho đóng thuyền bắt gái đẹp khỏa thân chèo chơi ở hồ Tây, gian dâm với cung nhân của các triều vua trước. Vì hoang dâm nên Lê Tương Dực được gọi là Vua Heo.

    14. Lê Oanh Vàng: Công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông. Ban đầu các quan đại thần định gả cho Mạc Đăng Doanh, nhưng về sau Mạc Đăng Doanh cưới con gái tướng quân Trần Chân. Mạc Đăng Doanh vẫn yêu qúy và kết tình huynh đệ với công chúa Lê Oanh Vàng.

    15. Trào đàng: triều đình, phép biến âm để đạt vần.

    16. Lê Chiêu Tông (1506-1526) lên ngôi từ 1516 đến 1522. Theo Đại việt Sử ký Toàn thư, vua Lê Chiêu Tông là con Cẩm Giang vương Lê Sùng, cháu nội Kiến vương Lê Tân và là chắt của vua Lê Thánh Tông.

    Mạc Đăng Dung được vua Lê Chiêu Tông tin cậy giao cầm quân dẹp loạn binh biến ở kinh thành, lập được công lớn, lại nắm quyền bính trong tay, về sau Mạc Đăng Dung phản bội, phế truất vua Chiêu Tông, đưa em của vua là Lê Cung Hoàng lên ngôi. Vua Chiêu Tông được các tướng quân đưa vào Thanh Hoá, lập căn cứ chờ ngày phục thù.

    17. Cửu trùng: ngôi vị cao nhất, ý nói ngôi vua.

    18. Trào ca: triều đình.

    19. Nhà Mạc tuy giành ngôi nhà Lê, nhưng vẫn áp dụng các phép tắc, luật lệ do nhà Lê lập nên. Nhà Mạc mạnh dạn sử dụng quan lại cũ của nhà Lê, điển hình là 4 trạng nguyên thời Lê sơ như: Nguyễn Giản Thanh, Hoàng Văn Tán, Ngô Miên Thiệu, Trần Văn Tất, ngoài ra cũng thu phục nhiều tướng giỏi của nhà Lê như Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Vũ Hộ, Phạm Gia Mô... Các cung phi nhà Lê vẫn được đãi ngộ như trước.

    20. Tiền cung: triều đình trước đó, ý nói triều nhà Lê.

    21. Long sàng: giường ngủ của vua.

    22. Rất xuê: nhiều lần.

    23. Lọc lừa: cân nhắc, chọn lọc kỹ lưỡng.

    24. Vợ lịch khôi hài: xinh đẹp và vui tính.

  3. #23

    Mặc định

    CHUYẾN VI HÀNH CỦA VUA MẠC ĐĂNG DOANH

    Nói rồi Vua mới phán thì:
    Công nương Ngọc Điệp phải y lời truyền
    Theo cha đi dạo khắp miền
    3810. Coi dân trong nước lương hiền thế nao?
    Đi xem các giới đồng bào
    Sống sanh với nghiệp cần lao nghề gì?
    Công nương là gái nữ nhi
    Phụ Vương cần dẫn con đi ra ngoài
    Đi cho quen thửa gót hài
    Phòng khi loạn lạc chạy bay như người
    Kẻo mà quen thói biếng lười
    Đứng đi phải cậy có người kiệu phu (1),
    Con coi dân thợ dân phu
    3820. Con nhìn nhiều gái nữ lưu bên ngoài
    Cũng phường mặt ngọc khôi hài (2)
    Mà sao tay cấy tay cày nên thương
    Chân bùn tay lấm ruộng nương
    Nhờ dân cực khổ mình lương mới nhiều
    Những kho lương khố Mạc triều
    Nhờ công các ả thương yêu ruộng đồng,
    Cha con ta hãy thẳng xông
    Giả dân đi dạo khắp trong thị thành.
    Ngọc Điệp Công Chúa hiền lành
    3830. Vâng lời Vương phụ đồng hành bôn ba
    Giả dân đi khắp gần xa
    Coi người dân dã sống mà thế nao,
    Lắm nơi cửa rộng nhà cao
    Quanh vườn hoa quả xem vào rất xinh
    Còn hơn là chốn Đế kinh
    Đế kinh nhìn thấy cung dinh điện tòa
    Sao bằng đồng ruộng quả hoa
    Của dân nương rẫy cửa nhà chung vui,
    Trong thôn yên lặng chăn nuôi
    3840. Trâu bò dê lợn cười vui sum vầy.
    Ngọc Điệp mới tấu lời này:
    Phụ Vương đi dạo có khuây chăng là
    Con nhìn lê thứ nhà nhà
    Vui hơn mình ở trào ca (3) đền vàng
    Từ con khôn lớn đoan trang
    Lo xem nghi lễ theo hàng Quân Vương
    Chẳng xem lê thứ ruộng nương
    Nay con nhìn tận mắt tường thương thay,
    Phụ vương có thấy chăng rày
    3850. Mấy cô gánh mạ hai vai nặng quằn
    Kìa là một nhóm ngồi ăn
    Trẻ già lớn bé lăng xăng chung đồng
    Con nghe con thấy trong lòng
    Thèm thuồng muốn đến vào trong như người.
    Chúa Mạc nghe nói liền cười:
    Cha con ta đến nhờ người bữa ngon
    Đây là Vương phụ tùy con.
    Nói rồi ông lại bon bon vào kề
    Dân làng xem thấy cười hề:
    3860. Cụ, Cô đâu lạ mới về thôn trang
    Vào đây vui với dân làng
    Tiệc mừng già trẻ thôn trang vui vầy,
    Cụ, Cô hãy khá vào đây
    Hãy vào ngồi tại mâm này cơm ngon
    Thức ăn các món đều còn,
    Lý trưởng thôn ấy vốn còn trẻ trai
    Vừa xinh vừa lịch khôi hài
    Mời cô mời cụ vui say tiệc này
    Cùng nhau lớn nhỏ vui vầy
    3870. Tôi là trang chủ thôn này Lý Gia
    Chẳng hay Cô, Cụ đàng xa
    Đi đâu đến Lý Trang gia tạm dừng?
    Chúa Mạc rằng đến Sầm Nưng
    Bác nhà họ Nguyễn cầm quân biên thùy
    Đàng xa viễn vọng xiết chi
    Bác tôi vốn thật tên thì Nguyễn Kim (4)
    Cha con tôi muốn đi tìm
    Tìm cho được bác Nguyễn Kim mới là.
    Lý trưởng liền mới hỏi qua
    3880. Cụ cô là kẻ phương xa mới vào
    Đàng đi xa thẳm biết bao
    Đây sang Sầm Nứa khổ lao núi rừng
    Nguyễn Kim nguyên soái cầm quân
    Bộ binh Trịnh Kiểm (5) lẫy lừng lắm đa,
    Nghe rằng lại có thủ khoa
    Người bên Minh quốc mới qua nước này
    Nghề văn phụng múa rồng bay
    Sắc nên tuyệt sắc mà tài cũng cao,
    Nếu cô và cụ mà vào
    3890. Sắc cô này cũng kém màu thủ khoa (6)
    Tôi nghe các chị đàn bà
    Khen ông quan trẻ thiệt là quá xinh
    Tôi nghe cũng muốn si tình
    Nên tôi chưa lập gia đình vợ con.
    Chúa Mạc nghe nói cười dòn:
    Lý trưởng muốn giữ cho tròn chí trai
    Hầu sau gặp lại quan ngài
    Để làm túc vệ gác ngoài hay chi.
    Lý trưởng liền mới nói thì:
    3900. Để dành ngắm sắc quan thì quá xinh
    E khi có lập gia đình
    Vợ con bận bịu chi tình khó khăn
    Cụ cô như có phăng phăng
    Sầm Nưng đến đó nhọc nhằn lắm đa,
    Tôi xin cùng cụ đàng xa
    Sẽ đi coi mắt thủ khoa thế nào?
    Chúa Mạc mới rõ âm hao (7)
    Hôm nay Lý trưởng cùng nhau vui vầy
    Chẳng hay lễ lộc chi đây
    3910. Xin cho lão biết tiệc này lễ chi?
    Lý trưởng liền mới nói thì:
    Ngày đơm tháng quảy của vì Thượng Khanh <8>
    Bà là một kẻ hiền lành
    Mà bà bị Mạc Đăng Doanh chém đầu
    Chúng dân thương xót lo âu
    Nên làm lễ giỗ cho hầu Thái Khanh,
    Năm qua đô đốc hộ thành
    Đem thây của Thái Thượng Khanh về làng
    Mộ phần dân đã táng an
    3920. Muốn làm miếu võ xây hàng hàm ân
    Đó là đại ý muôn dân
    Còn e Chúa Mạc gian thần chẳng cho,
    Hay ra nhà Mạc hét hò
    Bươi xương bới xác làm cho đau lòng
    Nên dân chẳng dám khởi công
    Nay bày lễ giỗ ngoài trong gọi là
    Lòng dân kính trọng cúng bà
    Gọi hồn ái quốc muôn nhà chở che.
    Chúa Mạc nghe nói buồn hoe
    3930. Công nương nghe nói rụt rè hỏi han:
    Cha con tôi ở xa đàng
    Hôm nay vào nghỉ Lý trang nơi này
    Xác bà Thái Thượng về đây
    Thì dân cứ việc sum vầy cúc cung
    Lập ra miếu võ tôn sùng
    Xây lăng Thái Thượng thờ chung trong làng.
    Lý trưởng rằng: chẳng có an
    Lê trào Mạc chúa khó toan việc này
    Chúa Mạc mà biết tại đây
    3940. Có mồ Thái Thượng làng này dễ chi
    Vì người soán đoạt đơn trì (9)
    Bà còn chém bỏ huống chi mả bà,
    Cô cùng với cụ thiệt thà
    Không coi sách sử mới là không hay
    Dân thì lo cuốc lo cày
    Chẳng hay việc nước không lo việc trào
    Còn tôi chẳng phải thư hào
    Nhưng làm Lý trưởng chuyện nào phải nghe,
    Nguyễn Kim ông muốn lăm le
    3950. Thăng Long trở lại đạp đè Mạc gia
    Dân đâu thì chẳng biết a
    Dân đây vốn thiệt dân nhà Lê vương
    Nghe binh Trịnh Kiểm hùng cường
    Nhường cơm đóng góp quân lương dâng vào.
    Chúa Mạc nghe nói ngạt ngào
    Cha con cứ việc ngồi vào ăn no
    Lý trưởng thiết đãi dặn dò:
    Cụ cô cứ việc dùng no ngại gì
    Làng này mến nghĩa trọng nghì
    3960. Cụ vào thiết đãi, cụ đi nhớ hoài.
    Chúa Mạc ông mới nói rày:
    Từ đây đến đó mấy ngày xông pha?
    Lý trưởng người mới nói ra:
    Nếu đi đường bộ thì ba mươi ngày
    Còn đi đường thủy ngán thay
    Thuyền chèo đến bốn mươi ngày tới nơi,
    Đàng đi khó lắm bác ơi
    Tại vì nơi đó ba nơi biên thùy
    Núi rừng cây cối rậm ri
    3970. Vốn không nương rẫy không thì nhà dân,
    Cháu xưa đến đó một lần
    Nạp lương hầu để gọi phần góp công
    Cụ cô thì lại tay không
    Lấy chi độ nhật thẳng xông tốc hành,
    Thôi thì cô cụ lòng đành
    Ngơi đây ba bữa sắm sanh đồ dùng
    Tôi xin tiến bước đi cùng
    Đưa cho cụ tới dinh trung mới là,
    Vì đàng vắng vẻ quá xa
    3980. Đến khi khát nước không nhà xin ai
    Muốn đi phải khá lâu ngày
    Đai cơm bầu nước mười ngày bôn phi
    Từ đàng không có kẻ đi
    Còn đàng hữu khách chẳng thì kể ra.
    Chúa Mạc nghe nói hít hà:
    Cha con tôi trở về nhà cho xong
    Đàng đi thiệt quá viễn vông
    Con tôi là gái thẳng xông dễ gì.
    Nói rồi vội vã kiếu đi
    3990. Cám ơn Lý trưởng sau thì trả ơn
    Cha con Chúa Mạc lui chân
    Cha con bàn luận thiệt hơn gọi là
    Công nương liền tỏ gần xa
    Về truyền thảo chiếu truyền ra làng này
    Bảo dân hãy khá đem thây
    Của bà Thái Thượng thành tây vào kề
    Chẳng cho cúng kiếng vỗ về
    Kẻo người luôn mến nhà Lê khó lòng.
    Chúa Mạc rằng chẳng có xong
    4000. Oanh Vàng (10) còn ở Thăng Long con à
    Mẹ người vốn thiệt là bà
    Hay tin người trách oán ta ích gì.
    Công Chúa rằng chẳng hề chi
    Cha làm chúa tể còn thì sợ ai
    Về trào hạ lệnh chém ngay
    Oanh Vàng cho chí ai rày họ Lê
    Họ nào cũng thiệt cười hề
    Riêng phần họ Lý họ Lê chém đầu
    Tru di tam tộc mới âu
    4010. Thì là dân hết nhu cầu nhà Lê
    Phụ vương mà chẳng chiếu phê
    Trong trào nòi giống họ Lê vững bền
    Khi dân bốn biển nổi lên
    Thì cha mất trước tại đền còn chi.
    Chúa Mạc ông mới phán thì:
    Con nên bố đức nhu mì là hơn
    Lòng dân đang lúc căm hờn
    Thì mình bố đức tri ơn muôn loài
    Danh lành khắp xứ thoảng bay
    4020. Thì dân trăm họ theo rày về ta,
    Nếu luôn chém giết rầy rà
    Lòng dân tức phải nhớ nhà Lê vương
    Ta cần nết Thuấn (11) phô trương
    Cho dân trong nước bốn phương phục tòng
    Chẳng qua đức độ thiện lòng
    Oai hùng chém giết máu hồng tuôn sa
    Càng thêm quẩn mắt muôn nhà
    Muôn binh chẳng mạnh bằng ta nương tùy.

  4. #24

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Kiệu phu: lính khiêng kiệu.

    2. Mặt ngọc khôi hài: khuôn mặt xinh đẹp, dáng người (hình hài) nhỏ gọn, tinh khôi.

    3. Trào ca: triều đình.

    4. Nguyễn Kim (1468-1545), tướng giỏi nhà Hậu Lê, sau khi nhà Mạc phế truất vua Lê, Nguyễn Kim xây dựng căn cứ địa của nghĩa quân kháng chiến tại vùng Sầm Châu của nước Lào, núi non hiểm trở, phò vua Lê Trang Tông đang ẩn náu nơi đây, giúp vua Lê chống lại nhà Mạc. Về sau được phong chức Thái Sư Hưng Quốc Công.
    Nguyễn Kim là thủy tổ của chín đời Chúa Nguyễn, về sau nhà Nguyễn truy tôn ông là Triệu tổ Tĩnh hoàng đế.

    5. Trịnh Kiểm (1503–1570), đầu quân theo Nguyễn Kim, là người có tài, ông được Nguyễn Kim giao cho nhiều trọng trách và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Về sau Trịnh Kiểm trở thành người đầu tiên lập nên các dòng Chúa Trịnh, thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh.

    6. Ý nói đến Hoàng Đình Ái (1527-1607), xuất thân là người Trung Hoa, được nhà Minh cử sang nước Nam và làm quan dưới triều Lê-Mạc

    7. Âm hao: tin tức.

    8. Bà Thượng Khanh: mẹ vua Lê Chiêu Tông. Sự kiện Mạc Đăng Dung phản bội, phế truất vua Chiêu Tông, đưa em của vua là Lê Cung Hoàng lên ngôi. Vua Chiêu Tông được các tướng đưa vào Thanh Hoá lánh nạn, nhưng đến năm 1526, Mạc Đăng Dung bắt được vua Chiêu Tông và đoàn hộ giá, mang về Thăng Long giết chết, cùng với bà Thượng Khanh. Sự việc này không liên quan gì đến Mạc Đăng Doanh vì đến năm 1530 Mạc Đăng Doanh mới nối ngôi vua nhà Mạc.

    9. Ý nói sự kiện nhà Mạc soán đoạt ngôi vua nhà Lê.

    10. Oanh Vàng: công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông, cùng là con gái bà Thượng Khanh.

    11. Thuấn: vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Ông được Vua Nghiêu đưa lên ngôi khi 53 tuổi và chết khi 100 tuổi, sau khi trao lại ngôi báu cho Hạ Vũ.

    Trong văn học Việt Nam, thời vua Nghiêu, vua Thuấn được dùng để chỉ cách cai trị nhân từ và công bằng, thời thái bình, ngoài đường không lượm của rơi, trong nhà khỏi lo đóng cửa.

  5. #25

    Mặc định

    VUA MẠC ĐĂNG DOANH GẶP NẠN TRONG CHUYẾN VI HÀNH

    Cha con Chúa Mạc bôn phi
    4030. Hết sang làng nọ đến thì thôn hương
    Đặt chân đến ngã ba đường
    Có Chiêu Long quán phô trương mới bày
    Ra vào nhiều khách vui thay
    Cha con Chúa Mạc vào ngay ngồi kề.
    Chúa Mạc vui vẻ cười hề
    Quán này mát mẻ bốn bề như tranh
    Lao xao nhiều khách bộ hành
    Cha con Chúa Mạc lòng đành nghỉ ngơi.
    Chủ quán xem thấy liền mời:
    4040. Cô cùng với cụ thảnh thơi việc nhà
    Mời cô với cụ dùng trà
    Rồi xơi cơm rượu chẳng mà hệ chi
    Nhục lâm (1) với ngũ gia bì (2)
    Thức ăn trăm món thứ gì cũng ngon!
    Nói mà chủ quán cười giòn
    Khách hàng đem đến hai con nai chà
    Hiện đang còn để trong nhà
    Lợn rừng cũng có đem ra khách dùng.
    Phúc đâu một vị anh hùng
    4050. Khách đông nên phải ngồi chung một bàn
    Chủ quán cơm rượu dọn sang
    Cha con Chúa Mạc một chàng thanh niên,
    Ngồi chung mà lại ăn riêng
    Cậu thanh niên rất ngạc nhiên trong lòng
    Người là Chúa tể Thăng Long
    Đi đâu mà lại ngồi trong quán này
    Không quân tiền hậu đông dày
    Đi đâu thơ thẩn chốn này thế ni.
    Nghĩ rồi liền mới hỏi thì:
    4060. Cụ đây lại với cô ni như hà!
    Chúa Mạc rằng: chẳng ai xa
    Vốn con gái lão tên là Kim Chi.
    Chàng trai nghe nói càng nghi:
    Cụ đây quê quán ở thì phương nao?
    Cao danh quý tánh thế nào?
    Vui lòng cụ hãy đổi trao gọi là.
    Công nương liền mới nói ra:
    Nơi đây là quán vào ra muôn người
    Tráng sĩ sao quá dễ ngươi
    4070. Tra danh vấn tánh của người làm chi?
    Chàng trai liền mới nói thì:
    Vì tôi có chuyện ngại nghi trong lòng
    Đây là kỳ lộ khách đông
    Đàng về Sầm Nứa, Thăng Long, Chiêm Thành
    Ba đàng trước nẻo rành rành
    Chẳng hay cô cụ bôn hành đường nao,
    Tôi người mua bán ra vào
    Phòng khi gặp lại đón chào vui tươi.
    Chúa Mạc nghe nói liền cười:
    4080. Tôi tên Phú Giá gốc người Thăng Long.
    Chàng trai đầu cúi chào ông
    Được nghe quý tánh nhẹ lòng như tơ.
    Chàng còn nhấp chén rượu chờ
    Khách hồng nhan lại ngẩn ngơ ngó nhìn,
    Gã này vóc dáng thật xinh
    Ước chi Vương phụ khứng tình (3) sắc phong
    Chàng làm phò mã bệ rồng
    Thật là chẳng uổng má hồng điểm trang
    Công nương nhìn mãi mặt chàng
    4090. Chàng càng lưu ý lại càng say sưa.
    Uống thêm thịt thiếu rượu thừa
    Chúa Mạc rằng đã trời trưa ra về
    Cha con đứng dậy một bề
    Chủ quán liền mới vào kề hỏi han:
    Cụ cô hãy khá khoan khoan
    Trả xong tiền quán ba quan sẽ rời.
    Chúa Mạc lưng túi tức thời
    Vốn không một chỉ ngỏ lời phôi pha:
    Lão quên tiền để quê nhà
    4100. Chủ quán vui dạ chẳng mà mất chi
    Mười hôm lão trả cho thì
    Ba quan lão sẽ trả thì trăm quan.
    Chủ quán rằng: chẳng có an
    Quán tôi mới lập khách hàng chưa đông
    Còn đang thiếu kém bạc ròng
    Chi tiêu trong quán vốn không đủ xài
    Có đâu thiếu tới mười ngày
    Thế cô này lại tôi sai quét nhà
    Khi nào cụ có bạc qua
    4110. Sẽ đem cô trở về nhà chẳng chi!
    Công chúa rằng: quán dễ khi
    Chắc Chiêu Long quán của mi rã rời
    Cả gan động đến oai trời
    Cha con ta chẳng tha thời mạng mi
    Ta đây từ bấy đến ni
    Kẻ hầu người hạ mặt mi ai cần!
    Chủ quán rằng: đứa tiện nhân
    Nếu tiền không có cầm thân của mày
    Khó mà ra khỏi quán này
    4120. Gia đinh (4) hãy khá lấy dây trói đầu!
    Chúa Mạc âu mới nói âu:
    Chủ quán xin chớ dùng câu nặng nề
    Thăng Long Trẫm sẽ trở về
    Sai quân đem trả chẳng hề mất đâu,
    Ta là Chúa Mạc long lâu
    Con ta Công Chúa phải đâu gái hèn!
    Chủ quán rằng biết trắng đen
    Phải ghi chiếu chỉ nhân hèn mới tin,
    Có đem ấn tín bên mình
    4130. Ghi tên đóng dấu mới nhìn Chúa cha
    Bằng không thì bắt lão già
    Trị tội mạo nhận kẻo mà khi quân,
    Chúa Mạc danh giá lẫy lừng
    Có đâu đói khát áo quần tả tơi
    Vua đi thì khắp nơi nơi
    Quân tiền quân hậu thảnh thơi từng đoàn,
    Có đâu đi bộ lang thang
    Nếu không ăn trộm cũng hàng ăn xin!
    Chàng trai cứ mãi ngó nhìn
    4140. Để xem trong quán nhân tình ra sao.
    Chúa Mạc năn nỉ ngọt ngào:
    Trẫm đi xem thử đồng bào nước ta
    Trẫm cùng Công Chúa xông pha
    Chẳng đem ấn tín chẳng mà tiền lưng
    Vì quen phán lệnh mạng quân
    Chi tiêu trào nội người dâng hằng ngày
    Nên khi đi dạo cõi ngoài
    Vào ăn vẫn ngỡ như ngày tại cung.
    Chủ quán rằng khó tin dùng
    4150. Không tiền bày nói lạ lùng ai nghe!
    Chàng trai mới nói nè nè
    Tôi xin trả thế quán nghe hãy là
    Phần tôi thì một quan ba
    Tính chung tạm trả quán mà bốn quan
    Phải Vua hay chẳng không can
    Tôi xin tạm trả bốn quan cho người.
    Chủ quán nghe nói liền cười:
    Khách anh hùng vốn là người hảo tâm
    Tôi không hẹp lượng sai lầm
    4160. Mới khai trương bán sợ nhằm con hoang
    Sẽ xui cho bổn quán hàng
    Ăn rồi thì giựt khó toan thâu lời.
    Chúa Mạc liền mới hỏi thời:
    Chẳng hay tráng sĩ tên thời họ chi
    Nay mà nâng đỡ Trẫm thì
    Tráng sĩ theo đến đơn trì với ta,
    Theo ta về đến trào ca
    Hội quần thần lại ta mà thưởng công.
    Chàng trai quỳ trước mặt Rồng:
    4170. Muôn tâu bệ hạ xét lòng thứ tha
    Thần đây người ở trào ca
    Tên Hoàng Đình Ái (5) quan nhà của Vua
    Lỗi thần là kẻ quê mùa
    Thần nhìn thần chẳng biết Vua trá hình
    Nay thần mới rõ Vua minh
    Chẳng hay Bệ hạ lộ trình đi đâu,
    Thần xem bệ hạ dãi dầu
    Tội thần di mạng chẳng chầu hoàng gia
    Cúi đầu chịu tội dại tà
    4180. Bỏ trào thần dạo cõi xa một mình
    Nay mà Bệ hạ bỏ kinh
    Ra đi chẳng kẻ hộ trình hầu xem
    Bạc vàng châu báu chẳng đem
    Để dân dễ mạng chẳng xem ra trò.
    Chủ quán rằng: thật hay cho
    Cả phường cả lũ bày trò chi đây,
    Ô hay cho lão già này
    Xưng Vua xưng Chúa lại đây ăn lường,
    Còn thêm cái gã văn chương
    4190. Xưng thần đặng cưới công nương đây này,
    Thôi thôi đi các người ngây
    Kẻo mà chật quán tôi đây ra vào!
    Đình Ái liền rút đoản đao
    Đây là lệnh tiễn Mạc trào thấy chăng
    Quán này đừng có hung hăng
    Xem coi lệnh tiễn rõ căn người nào,
    Ta là quan của Mạc trào
    Đây là Chúa thượng người sao mắt mù
    Thấy người thấy nết hiền nhu
    4200. Lại hung hăng quá lu bù mà ghê,
    Lần này tha tội dân quê
    Sau còn vậy nữa bắt về ngục môn (6)!
    Chủ quán nghe nói hết hồn
    Thấy cờ lệnh tiễn sợ nôn trong lòng
    Liền ra cả thảy vợ chồng
    Quỳ mà chịu tội Bệ rồng thứ tha
    Ngu dân lắm nỗi sai ngoa
    Mong nhờ Bệ hạ hải hà rộng suy.
    Chúa Mạc rằng: chẳng hề chi
    4210. Ta mang áo bả ai thì rõ thông
    Vua thì phải mặc áo rồng
    Đầu thì đội mão cửu long hẳn hòi
    Dân tình trăm họ xúm coi
    Chớ Vua như thế thằng còi đi xin
    Rằng Vua ai có nào tin
    Tại vì Trẫm muốn giả hình bần dân,
    Quán dù lầm lỡ trăm phần
    Trẫm không bắt tội khi quân đâu là.
    Vợ quán vui vẻ cười xòa
    4220. Thỉnh Vua rồi lại thỉnh bà Công nương
    Thỉnh quan vào quán mến thương
    Án thư bày để thắp hương kính mời
    Quán tôi đã được ngôi trời
    Lệnh muôn năm đã vào ngơi quán này
    Phước nhà cha mẹ đủ đầy
    Vua quan có mặt phước này chi qua
    Liền đem hoa quả của nhà
    Vua dùng lấy thảo gọi là tri ơn.
    Công nương rằng chẳng phiền hờn
    4230. Nhưng mà trước thảo sau ơn mới dùng,
    Quán này trước đã hành hung
    Sau muôn trái quý chẳng dùng làm chi!
    Vợ quán lanh lợi nằn nì
    Muôn tâu Công Chúa xét suy dân nhờ
    Ngu dân là kẻ dại khờ
    Chẳng hay Công Chúa tình cờ giá lâm
    Cho nên mới có lỗi lầm
    Thiếp xin Công Chúa mở tâm hải hà.
    Chúa Mạc liền mới phán ra:
    4240. Trẫm cùng Thái Uý lân la rất nhiều
    Vào ra đi đứng Mạc triều
    Trẫm nhìn Thái Uý có nhiều vẻ xinh
    Hồi nào áo mão uy linh
    Hài văn môi thắm trào đình vào ra
    Nay đi giày cỏ áo hoa
    Chít khăn tráng sĩ Trẫm mà còn quên,
    Huống chi Công Chúa trong đền
    Dân nào biết mặt biết tên là gì
    Trẫm Vua ăn mặc hàn vi
    4250. Ra đàng nào có khác gì dân đen.
    Quán rằng: lầm lỡ một phen
    Dâng ngàn lượng bạc làm quen lần đầu
    Sau Vua di giá đến âu
    Ngu dân nhìn mặt sao đâu lỗi lầm.
    Đình Ái xem thấy cười thầm:
    Thật là dua nịnh dã tâm của người
    Hồi nào khi thị dễ ngươi
    Bây giờ rõ đặng bợ người thế gia!
    Chúa Mạc rằng cám ơn xa
    4260. Vợ chồng chủ quán cho ta bạc này
    Vậy thì ta để lại đây
    Dành riêng là số bạc này của ta,
    Phòng khi có khách tuổi già
    Vào ăn thiếu bạc lấy ra chi dùng
    Gọi tiền bù đắp quán trung
    Cho người lỡ bước cần dùng cháo rau.
    Chủ quán vâng dạy cất vào
    Của Vua phòng để ngày sau gọi là.
    Đình Ái liền mới tâu qua:
    4270. Thần phò Bệ hạ về tòa Thăng Long
    Nói rồi tôi chúa thẳng xông
    Mười hôm về đến Thăng Long thiết triều.

  6. #26

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Nhục lâm: núi thịt.
    Trong truyện Phong Thần, có đoạn Trụ Vương hỏi Đắc Kỷ: - Thế thì Trẫm phải có thứ gì mới gọi là giàu sang? Ðắc Kỷ tâu: - Nay Bệ hạ đã lập Sái Bồn nuôi rắn rồi. Rắn dữ đầy hầm, đó là chuyện ít ai có. Nhưng nếu bên tả Bệ hạ làm một hòn núi hèm để ủ rượu, đống hèm luôn luôn cao chót vót, dùng những cành cây cắm lên, rồi lấy thịt móc vào làm đá! đặt tên là Nhục Lâm (núi thịt). Bên hữu, Bệ hạ khiến xây một hầm sâu, đổ đầy rượu như một hồ nước mênh mông, gọi là Tửu Trì. Ðược như vậy hỏi trong thế gian nầy ai dám sánh ?

    2. Ngũ gia bì: một loại cây thuốc quý, có tác dụng trị mệt mỏi tốt hơn Nhân Sâm, có tác dụng tăng cường miễn dịch của cơ thể, an thần, thường được ngâm rượu, gọi là rượu bổ Ngũ Gia Bì.

    3. Khứng tình: đồng ý.

    4. Gia đinh: thanh niên phụ việc.

    5. Hoàng Đình Ái (1527-1607): người gốc Trung Hoa sang nước Nam làm quan Thái Úy thời nhà Mạc, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    6. Ngục môn: nơi giam giữ.

  7. #27

    Mặc định

    HOÀNG ĐÌNH ÁI LƯU LUYẾN TÌNH XƯA NGHĨA CŨ

    Võ văn lớn nhỏ thật nhiều
    Tung hô vạn tuế lắm điều hân hoan
    Đình Ái áo mão nghiêm trang
    Đăng Dung Hoàng Thượng (1) cũng đang ngự trào,
    Rằng: quan Thái Uý từ nào
    Đã lìa khỏi chốn Mạc trào lâu nay
    Tính ra vốn thật lâu ngày
    4280. Xuân xưa cho đến xuân này hai năm
    Từ lâu bặt dạng bặt tăm
    Đi đâu mà lệnh muôn năm chẳng tường,
    Hay đi làm giặc biên cương
    Nay hồi trào Mạc toan đường chước chi?
    Võ đao chém phức nó đi
    Mạc trào Đình Ái lại khi không người
    Vào ra rất thiệt dễ ngươi
    Coi Vua nhà Mạc ra người chi đâu!
    Đi thì đi thiệt là lâu
    4290. Khi về thong thả vào chầu như xưa,
    Vương nhi trước phải ngăn ngừa
    Những phường loạn nghịch mưu thừa dễ chi!
    Đình Ái quỳ xuống tức thì:
    Muôn tâu Hoàng thượng xét suy với nào
    Bấy lâu thần lén về Tàu
    Thăm cha thăm mẹ mới vào nơi đây,
    Nếu thần tâu rõ đủ đầy
    Thần e Hoàng thượng la rầy chẳng cho
    Làm tôi xã tắc nương phò
    4300. Chẳng lo việc nước lại lo đi về
    Nay dù sái luật án phê
    Thượng Hoàng truyền chém vẹn bề hiếu trung,
    Đời người như đóa phù dung
    Tươi đây héo đấy cũng chung một cành
    Người thì rạng tiếng tung hoành
    Đến khi mãn hạn cũng đành quy thiên,
    Chết già chết trẻ chẳng phiền
    Chết cho ngắn gọn thì yên thổ phần
    Còn thân lao khổ cho thân
    4310. Còn nhìn trong nước muôn dân khổ sầu
    Chết về thiên cổ như châu
    Khôn thiêng chắc phải hết câu buộc ràng.
    Đăng Dung rằng: chớ ỷ ngoan (2)
    Sống trên cõi thế là quan vô nghì (3)
    Chết hồn vào ngục âm ty
    Là ma có tội khó đi du nhàn!
    Đình Ái sụp lạy Thượng Hoàng:
    Thần người có tội Bệ vàng ra tay
    Thần xin được chết dưới Ngài
    4320. Sống chi cõi thế nhiều ngày lao tâm
    Sợ e một lỡ mai lầm
    Một năm làm quấy ngàn năm tội đồ.
    Đăng Doanh quỳ xuống liền phô:
    Muôn tâu Hoàng Thượng xét mô tội này
    Thái Uý vâng lệnh con đây
    Người đi thám thính đông tây sơn hà,
    Con xin Hoàng Thượng thứ tha
    Lệnh con đã dạy người mà phải đi
    Nay người trào nội lai quy
    4330. Công kia chưa thưởng tội chi phạt hành.
    Đăng Dung nghe tấu rõ rành
    Mới khen Thái Uý hiền lành tận trung
    Khanh đi dọ thám khắp cùng
    Chẳng hay Trang Tông (4) binh hùng ra sao?
    Đình Ái đặt gối tâu vào:
    Muôn tâu Hoàng Thượng binh đao đã gần
    Nguyễn Kim (5), Trịnh Kiểm (6) hiệp phần
    Hùng binh dõng lực tướng quân anh hào
    Định đem bổn bộ binh vào
    4340. Thăng Long dành lại Lê trào như xưa
    Võ văn thôi đã quá thừa
    Đồn lương thảo mã chất vừa ngàn kho,
    Thượng Hoàng cần phải âu lo
    Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm gan to tài lành
    Đem quân phá lũy công thành
    Thì là Hoàng Thượng phải đành thối binh.
    Đăng Dung nghe tấu giựt mình
    Võ văn nghe nói hồn kinh vật vờ
    Cả trào ai cũng ngẩn ngơ
    4350. Kính Điển (7) thì lại soạn cờ luyện quân
    Chúa Mạc <8> xem thấy lòng mừng
    Truyền cho văn võ binh hưng đề phòng.
    Bãi trào tướng sĩ thong dong
    Vua cùng Đình Ái tỏ lòng nhớ thương:
    Từ ngày khanh bỏ dinh đường
    Ra đi để nhớ để thương cho già
    Trẫm luôn nhớ mãi khanh mà
    Giữa trào Hoàng Thượng lệnh ra phạt hành
    Trẫm liền che chở cho khanh
    4360. Kẻo cha của Trẫm chẳng lành khanh ơi!
    Đình Ái rằng: có ngôi trời
    Chở che thần hạ muôn đời cảm ơn
    Nay thần về chốn bệ đơn (9)
    Chầu hầu bệ hạ đáp ơn biển trời,
    Còn quan Tiết Chế (10) tuyệt vời
    Quốc Công sao chẳng chầu thời Hoàng gia?
    Chúa Mạc nghe hỏi thở ra:
    Quốc Công treo ấn người mà đi tu
    Nay đà đã chín hai thu
    4370. Chẳng hay họ Nguyễn ở tu phương nào?
    Trẫm đây muốn nghỉ việc Trào
    Tìm thăm Trạng Nguyễn xem sao khanh à!
    Đình Ái liền mới tâu qua:
    Nếu người khoác áo cà sa lên mình
    Còn chi Vua chúa chi tình
    Thần xin bệ hạ đừng nhìn Nguyễn quan,
    Lòng người đã quyết mùi thoàn (11)
    Hết còn cám nghĩa Vua quan là gì
    Vua còn nghĩ đến làm chi
    4380. Cho phiền Long thể cho suy thân Rồng.
    Chúa Mạc rằng: tại Thăng Long
    Năm nàng Công Chúa (12) thờ chồng trung trinh
    Trẫm thương phát bổng đến dinh
    Thường sai thái giám tận tình vấn an,
    Từ ngày Quốc Trạng lên đàng
    Trẫm không thấy mặt Oanh Vàng (13) ra sao
    Chắc là Ngự muội ủ sầu
    Chồng đi vắng vẻ trước sau tủi hờn,
    Muốn vào dinh nội khuyên lơn
    4390. Lại e trái phép thiệt hơn đủ bề
    Vì quân bất kiến thần thê (14)
    Cho nên Trẫm luống ủ ê trong lòng
    Trẫm thì ái dục vốn không
    Nhưng e miệng thế nên phòng tiếng tai,
    Trẫm luôn để dạ ai hoài
    Vái trời Quan Trạng nhớ ngày hồi gia
    Về thăm năm vợ quê nhà
    Trẫm mừng như được ngọc ngà báu châu.
    Đình Ái vội vã quỳ tâu:
    4400. Bệ hạ thương đến lo âu để lòng
    Vua thương năm vợ Quận Công
    Thì ban bổng lộc nuôi trong dinh tiền
    Cũng là ân đức Chúa hiền
    Trạng Trình phải biết ân thiên Mạc trào.
    Chúa Mạc liền mới phán mau:
    Khanh cùng với Trẫm thẳng vào môn nha
    Mình Trẫm thì sợ dèm pha
    Có khanh muôn việc ắt là vẹn an.
    Đình Ái tâu lệnh Thánh Hoàng
    4410. Hạ thần xin đức thiên nhan nghiệm tường (15),
    Quốc Công còn ở dinh đường
    Hạ thần xin đức Quân vương đến kề
    Nay người dứt nghĩa phu thê
    Đi tu giải thoát tìm về Ma ha (16)
    Bệ hạ mà đến vào ra
    Thần e xao xuyến môn nha Trạng Trình,
    Thần đây chẳng dám đến dinh
    Thần e tai tiếng phẩm bình nhi nhân
    Thần cùng bệ hạ công bằng
    4420. Nào ai có hiểu thâm căn tận lòng,
    Thấy thì người nói viễn vông
    Các bà vợ Trạng má hồng tuổi xinh
    Khó mà tránh sự dục tình
    Vua vào sao khỏi ngó nhìn tung hô,
    Vua minh thần chính thế mô
    Nhưng vào ai có nhìn vô khen ngời
    Chỉ thêm lắm chuyện lôi thôi
    Thần e Bệ hạ gan sôi trị trừng.
    Miệng người nói chẳng định chừng
    4430. Chúa Mạc nghe rõ dạ mừng hồi cung
    Khen Hoàng Đình Ái trí trung
    Cứ lời tâu thẳng chẳng dừng nói ngay.
    Vua hồi ngọc điện ngủ say
    Đình Ái mình một chạy bay đến nhà
    Ẩn mình vào ngõ vườn hoa
    Vào dinh Tiết Chế (17) lại qua một hồi
    Cửa ngoài năm bực then dồi
    Dinh sau năm cửa khóa thôi kỹ càng
    Bốn phòng bốn hướng bốn nàng
    4440. Oanh Vàng ở giữa dinh đàng môn nha
    Mùi hương thoang thoảng bay ra
    Nàng đang dạy sách cho mà Duy Bang <18>
    Lén nhìn cho kỹ dung nhan
    Oanh Vàng đẹp tựa như nàng tiên nga
    Hương thơm ngào ngạt lòng ta
    Ngàn năm một thuở đi ra đặng nào,
    Đi quanh khắp bốn phòng đào
    Bốn nàng hương sắc xem sao cho tường
    Đến gần nghe vị xạ hương (19)
    4450. Cũng như muôn vạn gái thường khác chi,
    Oanh Vàng thơm thật lạ kỳ
    Hương thơm nhè nhẹ khác vì xạ hương
    Bốn nàng an giấc đêm trường
    Nữ tỳ mụ vú cũng đương ngủ vùi,
    Mẹ con tiểu tử vẫn vui
    Oanh Vàng dạy tỏ văn xuôi văn vần
    Con nên chăm học ân cần
    Cha cùng với mẹ văn nhân Mạc trào
    Con cần học tập giồi trao
    4460. Noi cha đỗ trạng Mạc trào (20) nghe con!
    Cha con tu núi tu non
    Khi về nhìn thấy được con văn hào,
    Lớn lên mẹ sẽ đến trào
    Tâu cho Chúa Mạc con vào võ binh
    Nhờ người dạy bảo xảo tinh
    Phòng sau có thể giữ gìn con a
    Giờ này trống đã điểm ba
    Con nên ngơi nghỉ sáng ra học hành.
    Tiểu tử rằng: mẹ hiền lành
    4470. Nay sao ngủ sớm nói rành con nghe
    Oanh Vàng rằng tiểu nhi nè
    Mẹ buồn ngủ sớm con nghe y lời.
    Tiểu tử vào ngủ tức thời
    Oanh Vàng nhẹ gót nghe hơi ngoài phòng
    Dường như có kẻ đàn ông
    Nửa đêm vào tận dinh trong làm gì?
    E là gian tặc chi chi
    Mở phòng nàng mới liền đi ra ngoài.
    Đình Ái xem thấy chạy ngay
    4480. Sợ nàng bắt gặp thẹn thay cho mình
    Thẳng chân về đến tư dinh
    Mỏi mê nằm ngủ giật mình chiêm bao,
    Mộng hồn ngơ ngẩn ngán ngao
    Thấy Oanh Vàng nhảy xuống ao kim trì
    Vội vàng tầm kiếm tứ vi
    Vớt nàng lên đặng nàng thì chết luôn,
    Ái rơi nước mắt chảy tuôn
    Giựt mình nhớ lại ngọn nguồn mà kinh.
    Kim bài tên tuổi của mình
    4490. Đã rơi đâu mất cả kinh thay là.
    Oanh Vàng đi khắp môn nha
    Mùi hương khi nãy đâu mà mất đi
    Nhìn xem chẳng chuyện khả nghi
    Vào phòng an nghỉ sáng thì sẽ hay.
    Ban đêm nàng vẫn thức hoài
    Cho nên ngon giấc không hay vầng hồng (22)
    Giờ này rày đã rạng đông
    Bốn nàng liền đến quanh vòng phòng hoa
    Tình cờ thấy vật sáng lòa
    4500. Nhặt lên xem thử coi mà vật chi
    Kim bài danh đấng tu mi (23)
    Họ Hoàng tên Ái chức chi trong trào
    Người này quan lớn chức cao
    Kim bài như thể chức nào nhỏ đâu,
    Bốn nàng xúm lại nói âu
    Vật này của kẻ mày râu rõ ràng,
    Vì sao tại cửa Oanh Vàng
    Vật này lại có ngỡ ngàng cho ta
    Hằng ngày kiểng đổ long tòa
    4510. Nàng thường thức trước gọi ta nhang đèn
    Thói nhà nay đã nhuần quen
    Chúng ta đây đã nhang đèn cầu kinh
    Nàng chưa thức giấc trở mình
    Hay là đêm vắng tư tình với trai
    Giờ này nông nổi ngủ say
    Lắm khi Đình Ái còn ngay trong phòng,
    Bốn nàng nghi ngại trong lòng
    Vội vàng liền mở cửa phòng Công nương
    Oanh Vàng trở giấc nhìn tường
    4520. Bốn nàng đã đến bên gường không hay
    Vội vàng ngồi dậy nói ngay
    Vì ngon giấc điệp ngủ say thế này,
    Bốn nàng lục xét đó đây
    Gầm giường kẹt tủ đủ đầy khắp nơi
    Oanh Vàng thấy lạ hỏi thời
    Chuyện chi các chị lục thời vậy đa?
    Bốn nàng liền mới nói ra:
    Chồng đi thì có chồng nhà chẳng sai
    Của này tang vật đêm nay
    4530. Tôi đà nhặt được tại ngay cửa phòng
    Công nương còn chối hay không?
    Miệng thơn thớt gọi là chồng đi tu
    Cùng nhau em chị hiền nhu
    Chàng tu hạt nội mình tu tại nhà
    Đêm đêm dâng cúng hương hoa
    Cầu kinh Bát Nhã Di Đà luôn luôn
    Chị em ta chẳng sái tuồng
    Nói sao nghe vậy êm xuôi một màu,
    Nay nàng giả dối biết bao
    4540. Nàng cùng Đình Ái thì thào chẳng sai!
    Ái vui đánh rớt kim bài
    Chị em ta nhặt được ngay vật này
    Gọi là tang chứng nàng đây
    Di Đà Bát Nhã thế này phải chăng?
    Oanh Vàng liền mới nói rằng:
    Xin đừng nghĩ sái đạo hằng thế a!
    Tôi vì mỏi mệt hôm qua
    Nên nay say ngủ chẳng mà hay chi
    Vật này của thật nam nhi
    4550. Nhưng tôi không biết cớ chi vào nhà,
    Nơi này năm chị em ta
    Chồng đi luôn niệm Di Đà trong tâm
    Tránh điều một lỡ hai lầm
    Cầu chồng đắc đạo thậm thâm phép màu,
    Những điều trên bọc trong đầu
    Xin đừng nghĩ đến lỗi câu luân thường.
    Bốn nàng liền mới phân tường
    Bốn ta vào giữa trào đường tâu ngay,
    Đặng cho Chúa Mạc ông hay
    4560. Ẩn bà khám xét coi ai đổi lòng
    Miệng thời trinh tiết với chồng
    Kim bài Đình Ái cửa phòng nằm ngang.
    Oanh Vàng liền cất tiếng than:
    Vì tôi mấy chị khoan khoan tâu bày
    Tôi cùng Đình Ái xưa nay
    Mến nhau vì nghĩa vì tài mà thôi
    Không hề có chuyện lôi thôi
    Bốn nàng châm chước cho tôi được nhờ,
    Vẫn nghe Chúa Mạc ngẩn ngơ
    4570. Vì Hoàng Đình Ái thờ ơ việc trào
    Người đi đã mấy trăng sao
    Trước khi phu tướng tẩu đào nữa đa,
    Lắm khi phu tướng nhà ta
    Cùng Hoàng Đình Ái một nhà tu tiên
    Người nhờ Đình Ái chịu phiền
    Lẻn về dinh nội thăm riêng gia đình
    Đến đây thăm chị em mình
    Thấy mình an giấc trướng huỳnh phòng hoa
    Nên người mới có trở ra
    4580. Kim bài đánh rớt có mà chi đâu!
    Nếu nghi quấy quá lắm câu
    Mích lòng mà chẳng ích đâu chuyện nhà.
    Bốn nàng liền mới nói ra:
    Tôi nghe Đình Ái hôm qua hồi trào
    Chúa tôi thiết đãi cùng nhau
    Nữ tỳ kể hết chuyện trào tôi hay,
    Nàng đừng chối quắt với ai
    Bốn nàng vào tận Bệ giai (24)
    4590. Chúa Mạc xem thấy mới rày hỏi han:
    Chẳng hay ngự muội Oanh Vàng
    Sao không chầu Trẫm bốn nàng biết không?
    Bốn nàng quỳ xuống tâu rằng:
    Muôn tâu Bệ hạ lòng bằng xét suy
    Quốc Công người đã tu trì
    Chị em tôi cũng nương tùy tu tâm
    Tránh điều dối trá tà tâm
    Oanh Vàng nay đã sanh tâm lăng loàn,
    Chúng tôi nhặt được của tang
    4600. Kim bài này của họ Hoàng chẳng sai
    Muôn tâu Bệ hạ biết hay
    Kim bài tôi nhặt tại ngay cửa phòng,
    Muôn tâu bệ hạ rõ thông
    Như vầy Bệ hạ xét lòng phải chăng
    Những điều hoa nguyệt gió trăng
    Bốn tôi chẳng khứng lòng bằng xấu lây!
    Oanh Vàng đã tệ thế này
    Võ văn trào sĩ đủ đầy xét qua.
    Đình Ái lo ngại thở ra,
    4610. Chúa Mạc nghe tấu cười xòa phán ngay:
    Đây là một tấm kim bài
    Của Hoàng Đình Ái chẳng sai đâu là,
    Trẫm nghe người nói thế a
    Rằng quân thám tử vào ra dinh đàng
    Bốn nàng lại với Oanh Vàng
    Chứa quân thám tử Lê Hoàng chẳng sai,
    Trẫm truyền Thái Uý đêm ngày
    Nom rình thám tử vãng lai tức thời
    Vô tình nên mới đánh rơi
    4620. Mà nàng nhặt được tâu thời nhi nhăng!
    Chớ Hoàng Thái Uý (25) tài năng
    Thiếu chi là gái hiệp lần lửa hương
    Ái là danh tướng cột rường
    Của nhà họ Mạc trào đường uy nghiêm
    Lắm nàng bá mị thiên kim
    Ái còn chưa khứng kết niềm phu thê
    Huống chi ngự muội án phê
    Hương phai phấn nhạt Trạng chê bỏ rồi!
    Bốn nàng đừng tấu lôi thôi
    4630. Luận điều hoa bướm sinh sôi giữa trào
    Kim bài phải trả lại mau
    Cho Hoàng Thái Uý kẻo sau nghi ngờ,
    Bốn nàng đừng có phỉnh phờ
    Đem điều hoa nguyệt nghi ngờ cáo gian
    Em ta ngự muội Oanh Vàng
    Nếp nhà trăm hạnh vẻ vang ai bì,
    Bốn nàng đừng có thị phi
    Tri tâm ắt đã mới nghi đến người.
    Võ văn nghe phán cả cười
    4640. Chúa Mạc truyền lịnh bốn người về dinh.
    Mạc trào văn võ vô tình
    Ngỡ là Chúa Mạc sai rình thám quân
    Đình Ái trong bụng vui mừng
    Nào hay Chúa Mạc minh quân cao dày
    Hai phen bào chữa chẳng sai (26)
    Ơn này ngẫm lại sánh tài núi sông,
    Nếu Vua mà chẳng thương lòng
    Thì đem hình phạt chạy không được nào
    Vua luôn binh bổ đẽo bào (27)
    4640. Thật là đáng kính dễ nào ta quên.
    Võ văn quỳ xuống tâu lên:
    Muôn tâu bệ hạ lệnh trên nghiêm hình
    Thái Uý không phải tư tình
    Vua sai nên mới vào dinh Oanh Vàng
    Nay mà bốn ả vợ quan
    Tâu điều trắc nết hại Hoàng cô nương,
    Bệ hạ xuống chỉ trào đường
    Cáo gian là tội xem thường lệnh Vua
    Đặng cho nó hết quê mùa
    4650. Khi không lại cáo em Vua lăng loàn.
    Chúa Mạc rằng: hỡi các quan
    Trẫm thương họ Nguyễn lên đàng đi tu
    Bốn nàng vợ Trạng công phu
    Chồng tu thì vợ cũng tu nơi nhà
    Sợ điều mây nước bướm hoa
    Nêu tâu thế ấy thứ tha lỗi nghì,
    Nếu đem phép nước trị vì
    Thương cho Quốc Trạng trước kia công dài
    Vị tình ân xá tha ngay
    4660. Từ nay bốn ả chẳng rày nhi nhăng,
    Trẫm đà thấu rõ gốc căn
    Bá quan xét thử đạo hằng thế nao
    Mở lòng từ ái trùm bao
    Vị tha tất cả đồng bào ngu si,
    Công Chúa con Trẫm phương phi
    Tên là Ngọc Điệp tuổi thì cặp kê
    Nay mà Long án chỉ phê
    Trẫm chọn phò mã định bề trúc mai
    Đình Ái - Công Chúa bắt tay
    4670. Võ văn lớn nhỏ trong ngoài phải vâng.
    Đình Ái cúi lại thánh quân:
    Cám ơn Bệ hạ thần mừng biết bao
    Vua đòi Công Chúa đến trào
    Đặng cho Đình Ái xem vào khuôn viên.
    Phúc đâu Hoàng Thượng đến liền
    Đăng Dung rằng: lão định duyên đã rồi!
    Lão đà muốn tỏ khúc nôi
    Vương nhi chẳng có bàn thơi với già,
    Lý Hùng thừa tướng trào ca
    4680. Lão cho thừa tướng hôm qua kết nghì
    Còn chờ nói với Vương nhi
    Chọn ngày hoàng đạo nạp thì nghinh thân.
    Chúa Mạc nghe phán sượng sần:
    Hoàng Thượng đã dạy Trẫm cần phải nghe
    Thái Uý đừng có buồn hoe
    Cũng vì tại Trẫm không dè mà ra,
    Trước đây tại Trẫm phán mà
    Bỉnh Khiêm tài trí giao hòa công nương
    Quên khanh là kẻ cột rường
    4690. Nay Trẫm lại gả công nương con nhà,
    Trên còn Hoàng Thượng khanh à
    Trẫm xin chịu lỗi trước tòa bá quan
    Thái Uý đừng có phàn nàn
    Vui Lên cho Trẫm lòng an mới là.
    Đình Ái đặt gối tâu qua:
    Thần đây nào dám phiền hà thánh minh!
    Bãi trào văn võ về dinh
    Đình Ái nghĩ lại việc mình ngán ngao.
    Last edited by Love_Tamlinh; 01-11-2007 at 03:54 PM.

  8. #28

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Đăng Dung Hoàng Thượng: Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530 để lui về làm Thái Thượng hoàng.

    2. Ỷ ngoan: bào chữa, chối cãi.

    3. Vô nghì: bất tuân phép tắc.

    4. Trang Tông: vua Lê Trang Tông (1533-1548), tên thật Lê Duy Ninh, là con của vua Lê Chiêu Tông, cháu ba đời của vua Lê Thánh Tông. Vào năm 1533, trong khi vua nhà Mạc còn đang trị vì tại kinh thành Thăng Long, thì Nguyễn Kim cùng với Trịnh Duy Thuần, Trịnh Duy Sản bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là Lê Trang Tông lên ngôi vua, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay) chờ thời cơ đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    5. Nguyễn Kim (1468-1545), tướng giỏi nhà Hậu Lê, phò vua Lê tại căn cứ kháng chiến.

    6. Trịnh Kiểm (1503–1570), đầu quân theo Nguyễn Kim, là người có tài, ông được Nguyễn Kim giao cho nhiều trọng trách và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Về sau Trịnh Kiểm trở thành người đầu tiên lập nên các dòng Chúa Trịnh, thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh.

    7. Mạc Kính Điển (? - 1580): là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh, cháu Mạc Đăng Dung, là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương.

    8. Chúa Mạc: vua Mạc Đăng Doanh.

    9. Bệ đơn: ý nói về kinh thành, phụng sự cho vua quan.

    10. Quan Tiết Chế: chức quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông được phong Trình Quốc Công.

    11. Thoàn: trầm hương, ý nói tu hành.

    12. Năm nàng Công Chúa: ý nói năm người vợ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    13. Oanh Vàng: Công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông. Ban đầu các quan đại thần định gả cho Mạc Đăng Doanh, nhưng về sau Mạc Đăng Doanh cưới con gái tướng quân Trần Chân. Mạc Đăng Doanh về sau vẫn yêu qúy và kết tình huynh đệ với công chúa Lê Oanh Vàng. Mạc Đăng Doanh gả Oanh Vàng làm vợ thứ năm cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    14. Quân bất kiến thần thê: vua không được gặp riêng vợ của quan lại.

    15. Nghiệm tường: suy xét cho tỏ tường, kỹ lưỡng.

    16. Ma ha: Thiền sư nổi tiếng tên gốc là Mahamaya, người Chiêm Thành. Năm 24 tuổi, Thiền sư nối nghiệp cha là Bối Đà trụ trì chùa Quan Ái, xã Cổ Miệt, tỉnh Hải Dương. Sư là người hiểu biết sâu rộng, giỏi cả chữ Hán lẫn chữ Phạn.

    17. Dinh Tiết Chế: khu nhà dành cho quan Tiết Chế Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về ở ẩn tại tỉnh Hải Dương, khu nhà vẫn dành cho năm người vợ tiếp tục ở.

    18. Duy Bang: Thái tử Lê Duy Bang, con vua Lê Chiêu Tông, được công chúa Oanh Vàng và Nguyễn Bỉnh Khiêm bí mật đem về nuôi dưỡng chờ thời cơ phục hưng nhà Lê, tránh bị nhà Mạc giết hại.

    19. Xạ hương: hất có mùi thơm của hươu xạ và một số loài chồn cầy tiết ra, dùng làm nước hoa, hoặc làm thuốc.

    20. Đỗ trạng Mạc Trào: Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên năm 1535, thời Mạc Đăng Doanh.

    21. Ao Kim Trì: Trong truyện Vạn Huê Lầu, có đoạn Lưu hoàng hậu và Quách Hòe tráo được hoàng tử là con của Lý Thần phi, rồi liền đốt rụi Bích Vân cung, rồi đòi nàng Khấu Thừa Ngự đem hoàng tử bỏ xuống ao Kim Trì.

    22. Vầng hồng: mặt trời, lúc bình minh.

    23. Đấng tu mi: người đàn ông.

    24. Bệ giai: Bệ hạ.

    25. Thái Úy: chức quan của Hoàng Đình Ái.

    26. Hai phen bào chữa: lần thứ nhất Hoàng Đình Ái bị Thái Thượng Hoàng kết tội bỏ bê việc triều đình sai chém đầu, được Mạc Đăng Doanh bào chữa là nhiệm vụ được giao cho Hoàng Đình Ái đi do thám tình hình.

    27. Binh bổ đẽo bào: sắp đặt câu chuyện cho hợp tình hợp lý.
    Last edited by Love_Tamlinh; 01-11-2007 at 03:53 PM.

  9. #29

    Mặc định

    HOÀNG ĐÌNH ÁI ĐI TÌM NGUYỄN BỈNH KHIÊM

    Thật ta vô phúc là bao
    4700. Nhớ Oanh Vàng (1) mãi rạt rào năm canh
    Dù công nên cuốc yến anh (2)
    Lòng ta thao thức năm canh dạt dào,
    Muốn xin thánh chỉ Mạc trào
    Cho Oanh Vàng đến giữa trào bá quan
    Đặng ta thăm hỏi Oanh Vàng
    Đường đường là đấng nhà quan ngại gì
    Sợ Vua chẳng khứng thế ni
    Nghĩ rồi giả gái mới đi một vòng.
    Chúa Mạc (3) đang lúc buồn lòng
    4710. Xe dê (4) ngồi ngự dạo trong cung tiền
    Thấy người lạ mặt hỏi liền
    Đình Ái (5) hết sức ngạc nhiên thay là
    Khéo oan gia với Mạc gia (6)
    Buộc long phẩm phục quỳ mà trước xe,
    Chúa Mạc mới hỏi nè nè:
    Chuyện chi nàng lại buồn hoe mặt mày
    Hay là giận Trẫm lâu ngày
    Bỏ bê má phấn không ngày giao duyên,
    Xin nàng đừng có giận phiền
    4720. Lại đây cùng Trẫm cho duyên đậm đà
    Trẫm người tiếc ngọc thương hoa
    Lại đây với Trẫm chớ mà ngại chi!
    Đình Ái giả bộ sầu bi
    Hoàng cô (7) ngọa bịnh tôi đi tìm thầy
    Chẳng may vừa bước đến đây
    Gặp xe Bệ hạ chốn này dạo chơi,
    Muôn tâu với lệnh ngôi Trời <8>
    Cho con lui bước tầm nơi thuốc thần.
    Chúa Mạc nghe tấu liền phân:
    4730. Vậy thì nàng hãy mau chân với nào
    Tầm thầy tầm thuốc dâng vào
    Cho Hoàng Ngự muội trị mau bịnh lành.
    Đình Ái vội vã đi nhanh
    Vào dinh Tiết Chế (9) quân canh đón mời
    Nàng người lạ mặt đến chơi
    Để tôi vào bẩm với thời công nương,
    Nói rồi vào cổng phân tường
    Bên ngoài có một cô nương đẹp hình
    Xin vào công phủ trước dinh
    4740. Công nương xem có khứng tình mời vô.
    Oanh Vàng cất tiếng liền phô:
    Cho người gái ấy được vô công đàng.
    Đình Ái vào cổng vội vàng
    Công nương lại với bốn nàng ra chơi,
    Đình Ái xem thấy rụng rời
    Oanh Vàng sao chẳng tách rời bốn cô
    Ngần ngừ chẳng muốn bước vô
    Oanh Vàng xem thấy mới phô lời này:
    Thiếp mừng Thái Uý (10) đến nay
    4750. Bổn dinh của thiếp đông tây vắng người.
    Bốn nàng nghe nói liền cười
    Đây là vốn thiệt một người mỹ nhân
    Đầu cài tóc phụng kim ngân
    Chân mang hài đỏ nhiều phần đáng khen,
    Vàng trau ngọc chuốt leng keng
    Eo lưng thắt đáy nên khen má đào
    Công nương chào rước ngọt ngào
    Gọi là Thái Uý quan nào vậy đa?
    Hay là nhớ chuyện hôm qua
    4760. Còn mơ trong mộng mới là thế ni!
    Oanh Vàng nhớ chuyện ly kỳ
    Chớ rằng thiếp gọi thế ni là vầy
    Nhìn nàng vẻ lịch đủ đầy
    Tặng cho quan cả vào đây chuyện trò.
    Bốn nàng chẳng chút đắn đo
    Cẩm đôn đem đến truyền cho nàng ngồi.
    Đình Ái vào bước đến nơi
    Đã làm tân khách nên ngồi thẳng ngay,
    Oanh Vàng rằng mới hỏi rày
    4770. Tiểu thơ này chắc người ngoài biên cương,
    Nói mà nhìn lại chán chường
    Xiêm y này vốn là thường của ta
    Mất đi đã mấy năm qua
    Vàng này hài đấy của nhà ta đây,
    Đình Ái sao có của này
    Mà người lạ mặt vào đây thăm mình,
    Ngỡ ngàng nhưng rất cảm tình
    Oanh Vàng nhỏ nhẹ chén huỳnh mời khuyên:
    Tiểu thơ người ở xa miền
    4780. Đến đây cứ việc tự nhiên với nào,
    Tướng công của thiếp quan cao
    Phải người còn ở tại trào Đế kinh
    Thiếp tâu với lệnh triều đình
    Phong nàng làm chức quản dinh thứ phòng.
    Đình Ái mới nói không không:
    Áo quần tôi mặc của ông nhà này
    Cho tôi từ bấy đến chày
    Phòng khi tôi có vào đây viếng bà,
    Chớ không yêu quý ông nhà
    4790. Ông đà tu niệm bỏ bà bơ vơ
    Lòng tôi áo mão ngẩn ngơ
    Nên vào an ủi ngâm thơ với bà.
    Bốn nàng nghe nói cười xòa:
    Ngồi buồn gặp khách văn hoa lại cười
    Nếu nàng thi phú vẹn mười
    Chị em tôi cũng cùng người ngâm thi.
    Oanh Vàng liền mới nói thì:
    Cô nương này thiệt văn thi rất tài
    Chồng ta quý mến lắm thay
    4800. Mới ban xiêm áo hớn hài thưởng công.
    Nói mà rơi giọt mắt hồng
    Đình Ái xem thấy động lòng nhỏ sa
    Vội vàng từ giã kiếu ra
    Oanh Vàng cười gượng, khách đà thẳng chân.
    Bốn nàng liền tỏ nguồn cơn:
    Công nương trong dạ phiền hờn làm chi
    Lúc nào nàng cũng ngâm thi
    Nay sao nàng luống sầu bi lệ nhòa?
    Oanh Vàng rằng: nhớ quan nhà
    4810. Biết chàng sống chết ở mà xứ nao,
    Mai tôi dâng sớ lên trào
    Xin đi điền điệp (11) ra vào thôn trang
    Tầm chồng cho rõ hà phan
    Kẻo lòng thương nhớ mơ màng chẳng yên.
    Bốn nàng nghe nói ngạc nhiên:
    Tầm chàng là việc truân chuyên dãi dầu
    Chàng đi có biết nơi đâu
    Làm sao tầm được mà âu đi tầm!
    Oanh Vàng rằng: thật xa xăm
    4820. Một lòng quyết định ta tầm chồng ta
    Bốn nàng dinh nội phòng hoa
    Cơm khô muối hột một ta đi tìm,
    Tìm cho gặp mặt Bỉnh Khiêm
    Tỏ tình thương nhớ nỗi niềm phu thê.
    Nói mà nước mắt dầm dề
    Bốn nàng nghe nói ngồi kề xin đi:
    Bốn tôi quyết chí một thì
    Nàng đi ta cũng phải đi tầm chồng.
    Oanh Vàng rằng: nếu bằng lòng
    4830. Tôi sao người vậy thì đồng cùng nhau
    Mai dâng sớ đến Mạc trào
    Xin đi điền điệp thẳng vào Hải Dương.
    Cùng nhau sắm sửa tư trang
    Bốn nàng lại với Oanh Vàng vào cung
    Thứ phi (12) căn dặn thủy chung
    Nay mà hiền muội thung dung lên đàng
    Đây là mười nén rồng vàng
    Gọi là lộ phí tặng nàng đem theo
    Đàng xa xuống dốc lên đèo
    4840. Có vàng cũng tạm đem theo cần dùng.
    Công nương bái tạ thứ cung
    Mới ra trước điện cửu trùng tâu qua:
    Muôn tâu Chúa Thượng hải hà
    Thiếp dâng sớ tấu việc nhà phân minh
    Mong nhờ đức cả Hoàng huynh
    Chuẩn phê cho thiếp đăng trình phương xa.
    Chúa Mạc xem sớ phán ra
    Hoàng cô nay muốn đi xa tầm chồng
    Đường đi mù mịt mênh mông
    4850. Biết qua mấy núi mấy sông mà tầm,
    Trẫm không hẹp lượng ác tâm
    Muội nương khó nổi đi tầm Quốc Công (13),
    Trẫm thương nên chẳng tùy lòng
    Đàng xa viễn vọng má hồng đi đâu?
    Thái Uý từng trải dãi dầu
    Khanh nên vì Trẫm tầm âu thế nào
    Khanh từng chịu đựng khổ lao
    Đã quen rừng thẳm núi cao ngại gì,
    Khanh dùm chịu khó ra đi
    4860. Rước quan Tiết Chế về thì trào ca (14)
    Bảo rằng năm vợ quê nhà
    Vì lòng thương nhớ mới là ốm đau,
    Gọi quan Tiết Chế về mau
    Về trào cùng vợ hiệp nhau tu trì
    Trẫm sai Công Bộ tức thì
    Lập chùa Ba Kiểng thành trì Thăng Long
    Đặng cho Tiết Chế Quận Công
    Vào tu chùa mới khỏi phòng đi xa,
    Tu đây có Chúa có Cha
    4870. Có con có vợ mới là vẹn an
    Sớm thì đọc tụng Kim Cang (15)
    Chiều về Địa Tạng (16) cầu an vong hồn,
    Ngọ thì tụng niệm Phổ Môn (17)
    Những ngày đại lễ cầu hồn Pháp Hoa <18>
    Dâng hương thì tụng Di Đà (19)
    Phụ thêm Diệu Pháp Liên Hoa Phật truyền,
    Đứng đi thì có chú huyền (20)
    Thái Uý nói rõ Trạng Nguyên (21) nghe rành
    Xin người trở lại Long thành
    4880. Trẫm sai Công Bộ phụng hành làm ngay
    Lập chùa Ba Kiểng xinh thay
    Tam cung lục viện (22) thường ngày dâng hương,
    Cho người bỏ việc ghen tuông
    Ngày ngày lo việc dầu hương Phật Trời,
    Quốc Công mà chịu vâng lời
    Về trào rồi Trẫm cũng thời tu theo
    Tu cho dân khỏi nạn eo
    Tu cho dân hết đói nghèo ốm đau
    Tu cầu Hoàng Thượng tuổi cao
    4890. Ngàn năm sống mãi ngự trào Đế kinh,
    Muội nương hãy khá về dinh
    Trẫm nhờ Thái Uý lộ trình giúp vô
    Đàng xa vạn dặm lộ đồ
    Thái Uý thay mặt Hoàng cô tầm chồng,
    Muội nương vóc ngọc gót hồng
    Tuôn bờ lướt bụi thẳng xông ngại ngùng
    Đàng đi nhiều nẻo lạ lùng
    Muội nương nghe Trẫm hiệp cùng về dinh
    Phải nên nghe lệnh Hoàng huynh
    4900. Lệnh Vua phải trọng, chữ tình dẹp qua.
    Năm nàng phủ phục trước tòa
    Lạy Vua hai lạy rồi ra đi về.
    Chúa Mạc thảo chiếu Ngự phê
    Giao cho Đình Ái lo bề ra đi
    Cấp vàng ba nén tức thì
    Là tiền lộ phí việc đi xa đàng
    Khi về thưởng bảy nén vàng
    Đền công khó nhọc lên ngàn qua truông (23)
    Thái Uý đi ắt nên tuồng
    4910. Vì khanh từng trải đi muôn nẻo đường,
    Khanh nên đến hỏi Oanh Vàng
    Có cần thư tín khanh mang theo dùm.

  10. #30

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Oanh Vàng: Công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông. Hoàng Đình Ái thương thầm nhớ trộm Oanh Vàng.

    2. Yến anh: chim yến (chim én), chim anh (chim oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Ý nói vui vẻ, quyến luyến với nhau.

    3. Chúa Mạc: vua Mạc Đăng Doanh.

    4. Xe dê: Tấn Vũ Đế sống xa hoa, có rất nhiều cung tần mỹ nữ. Đêm đêm nhà vua thường dùng xe có dê kéo trong hậu cung, cho dê kéo đi đâu thì đi. Các phi tần biết vậy, thường lấy lá dâu rắc trước cửa phòng mình. Dê thích ăn lá dâu sẽ ngừng xe lại và người cung phi ấy sẽ may mắn được gặp gỡ và đựơc Tấn Vũ Đế ân sủng.

    Trong văn học “dương xa” (xe dê) chỉ việc đưa đón, ái ân.

    5. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    6. Hoàng Đình Ái muốn làm quan cho nhà Mạc, để đưọ7c gần gũi với công chúa Lê Oanh Vàng. Trái ngang thay vua Mạc Đăng Doanh kết tình huynh đệ với Oanh Vàng, sau đó gả Lê Oanh Vàng cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nên Hoàng Đình Ái gọi là oan gia với nhà Mạc.

    7. Hoàng cô: công chúa Oanh Vàng. Hoàng Đình Ái giả làm tỳ nữ của Oanh Vàng.

    8. Lệnh ngôi Trời: vua.

    9. Dinh Tiết Chế: dinh quan Tiết Chế Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    10. Thái Úy: chức quan của Hoàng Đình Ái.

    11. Điền điệp: ở nơi xa xôi.

    12. Thứ phi: vợ thứ của vua Mạc Đăng Doanh. Do Mạc Đăng Doanh kết nghĩa huynh đệ với Lê Oanh Vàng nên thứ phi đối xử như chị em trong gia đình.

    13. Quốc Công: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    14. Trào ca: triều đình.

    15. Kim Cang: Kinh Kim Cương, hay Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, là một bộ kinh quan trọng thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, được lưu truyền rộng rãi vùng Đông Á. Đây là một bộ kinh Phật rất thịnh hành, phổ biến rất rộng trong các kinh điển đại thừa, từ xưa đến nay không những các vị tăng trụ trì ở nơi chùa chiền, am viện đều tụng hằng ngày, mà ngay đến các thiện nam tín nữ, bạch y cư sĩ cũng lấy cuốn kinh nầy làm công khóa để tụng đọc.

    16. Địa Tạng: Kinh Địa Tạng. Bồ Tát Địa Tạng đã hiếu thảo với cha mẹ mình hết kiếp này sang kiếp khác, do đó Kinh Địa Tạng gọi là Hiếu kinh trong Phật giáo. Bộ kinh này đề cập về nhân duyên trong quá khứ, công đức và những việc làm của vị Bồ Tát này, cũng như những lời ngài dạy chúng sanh tùy theo căn cơ của họ.

    17. Phổ Môn: Kinh Phổ Môn. Tên gọi thông thường của bài kinh này là Phẩm Phổ Môn, hay kinh Quán Thế Âm, và tên gọi đầy đủ là Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn Phẩm. Đây là kinh nói về công đức cứu độ chúng sanh của Bồ-tát Quan Thế Âm, và thông qua đó, giới thiệu cách quán chiếu cuộc đời để đạt được giác ngộ và giải thoát.

    18. Pháp Hoa: Kinh Pháp Hoa, hay còn gọi là Diệu pháp liên hoa kinh, là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Bộ kinh chứa đựng những quan điểm chủ yếu của Đại thừa Phật giáo, đó là giáo pháp về sự chuyển hoá của Phật tính và khả năng giải thoát.

    19. Di đà: Kinh A Di Đà. Kinh này Phật giảng cho ông Xá Lợi Phất và những vị khác, ca ngợi cảnh Tây Phương do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ, còn có tên là cõi Cực Lạc.

    20. Chú huyền: câu chú, thần chú.

    21. Trạng Nguyên: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    22. Tam cung lục viện: nơi dành cho phái nữ trong triều đình, như mẹ vua, hoàng hậu, cung tần, mỹ nữ …

    23. Ngàn là núi rừng, truông là đầm lầy, ý nói vượt qua khó khăn gian khổ.

  11. #31

    Mặc định

    HOÀNG ĐÌNH ÁI KHỔ LỤY VÌ TÌNH

    Đình Ái vâng lệnh Cửu trùng
    Lãnh vàng lãnh chiếu thung dung về nhà
    Soạn đồ hành lý đem ra
    Cơm khô muối hột cũng là quảy theo
    Phòng khi qua núi qua đèo
    Đỡ cơn vất vả hiểm nghèo lâm nguy,
    Vào dinh Tiết Chế tức thì
    4920. Năm bà trao đủ năm bì thơ riêng,
    Oanh Vàng rằng: thiệt là phiền
    Vì tôi Thái Uý truân chuyên nhọc lòng
    Nhớ chồng muốn được gặp chồng
    Tâu Vua Vua lại phiền lòng cố nhân!
    Ngày nào gặp lại lang quân
    Là ngày tôi sẽ báo ân cho chàng
    Ra đi không định hà phan
    Đàng đi lắm nẻo quan san (1) gặp ghềnh.
    Oanh Vàng cứ liếc mắt nhìn
    4930. Nhìn quan Thái Uý cảm tình khó khăn,
    Cảm thương thân đó nhọc nhằn
    Vì tôi ngài lại khó khăn lắm lần
    Nữ tỳ mau hãy ân cần
    Khá bày tiệc rượu tiễn chân anh hào,
    Nữ tỳ vâng lệnh mau mau
    Dâng mâm rượu thịt sơn hào thơm tho.
    Bốn nàng lòng dạ dày vò
    Nhớ Kim bài (2) trước theo đo lúc này,
    Ngồi nhìn như ngất như ngây
    4940. Nhìn xem Công Chúa buổi này làm sao.
    Oanh Vàng thỏ thẻ ngọt ngào:
    Em xin bốn chị một màu thủy chung
    Nay quan Thái Uý rỗi dung
    Bốn chị cần tiễn bốn chung rượu nồng,
    Trước là tỏ nỗi đục trong
    Nhờ ngài gắng sức tầm chồng cho ta
    Sau là nhân nghĩa vẹn ba (3)
    Thái Uý có lẽ vì ta hết mình.
    Bốn nàng rằng: thiệt cho tình
    4950. Tự quyền Công Chúa liệu đình (4) cho tôi
    Những điều phúc đáp lôi thôi
    Tiệc mừng rượu tiễn chúng tôi quên dần
    Từ ngày Tiết Chế xa chân
    Chúng tôi vắng vẻ lần lần quên luôn,
    Xin quan Thái Uý đừng buồn
    Công nương còn nhớ ngọn nguồn thật hay.
    Oanh Vàng giận đỏ mặt mày
    Nhưng vì mực thước cười ngây ra trò
    Lũ này vốn thiệt gan to
    4960. Lúc nào nó cũng nghi cho lòng mình,
    Lòng ta luôn phải chấp kinh
    Nữ nam hữu biệt phân minh lê là
    Đó là nam nữ dân quê
    Gần nhau sao khỏi dựa kề bướm hoa,
    Nếu luôn nê cố phép nhà
    Là phường gái chạ trăng hoa tự tình,
    Còn ta luôn giữ bên mình
    Thấy trai như thấy thây sình trôi sông
    Chẳng chi gọi để dục lòng
    4970. Nhưng điều phải chẳng gánh gồng nói phô (5)
    Giữ theo nề nếp Hoàng cô
    Như nhiên chẳng nghĩ chuyện mô là gì,
    Nghĩ rồi nàng mới nói thì:
    Xin quan Thái Uý đừng nghi trong lòng
    Thiếp phiền Thái Uý nhọc công
    Thiếp dâng ba chén rượu nồng tiễn chân,
    Đàng đi nhiều nẻo quan san
    Dày công Thái Uý ra ân dãi dầu

    4980. Gọi là chút nghĩa ban đầu xưa nay,
    Khô lân chả phụng ngon thay
    Thức này này thật do tay thiếp làm
    Định dâng Chúa Mạc ngự đàm
    Cho nên tiện thiếp mới làm kỹ cang (6)
    Nay xin chuốc chén mời chàng
    Rượu nồng tiếng ngọc lời vàng nhớ chăng!
    Đình Ái liền mới nói rằng:
    Vì nàng ta có khó khăn cũng đành
    Trăm năm chẳng nợ ba sanh
    4990. Thì ba chung rượu tiễn hành cũng vui
    Uống vào ngấm thật đủ mùi
    Dinh trung nàng ngự nên vui cõi lòng,
    Đừng điều lo ngại mênh mông
    Sanh ra đau yếu ai hòng thăm nuôi
    Biết mình mình tự làm vui
    Đừng lòng trắc ẩn ngậm ngùi nhớ thương
    Sẽ gây lắm bệnh bất thường
    Huyết xung thành thử đủ đường tai nguy,
    Đường dù ngàn dặm tôi đi
    5000. Cực thân chẳng quản, ngại vì Công nương (7)
    Một mình vắng vẻ phủ đường
    Ra vào thơ thẩn má hường kém phai
    Phải nên trang điểm ngày ngày
    Đừng cho vóc ngọc kém phai võ vàng <8>
    Tôi về chiêm ngưỡng dung nhan
    Nếu nhìn mà thấy Oanh Vàng khác nay
    Thì tôi sẽ giận nàng ngay
    Cãi lời nên mới kém phai thân hình!
    Quyết theo cho kịp Trạng Trình
    5010. Đàng đi ngàn dặm lộ trình vẫn vui.
    Rượu vào mượn cớ dở khui (9)
    Tuôn ra cho hết mấy nùi tơ duyên,
    Bốn nàng ngồi ngó tự nhiên
    Nói bao nhiêu đấy đều biên vào lòng.
    Đình Ái liếc ngó mấy vòng
    Bốn nàng này thiệt có lòng nghi nan
    Nghi ta lại với Oanh Vàng
    Nghi thì đã phải theo hàng thứ dân
    Còn ta là kẻ văn nhân
    5020. Lòng thương vẫn có riêng thân nhã tình
    Làm người trong nghiệp chúng sinh
    Cứ luôn ràng buộc khổ hình liên dây
    Ta dùng trong một việc này
    Giúp Oanh Vàng được thoát dây buộc ràng
    Một là riêng cách mấy nàng
    Hai là thoát kiếp hồng nhan cho rồi
    Sống chi sóng dập gió dồi
    Cũng nên chết phứt cho rồi khỏe thân
    Bốn nàng xưa đến trào thần
    5030. Tâu lên Chúa Mạc một lần chuyện ta
    Thật thì chẳng có bướm hoa
    Nhưng điều lấy lý xử ra mới rành
    May thay Chúa Mạc hiền lành
    Kiếm điều Chúa Mạc chối quanh cho mình,
    Nay mà Mạc bảo vào dinh
    Ấy là đã thấu nỗi tình Chúa tôi
    Ta dù phân hết khúc nôi
    Mấy nàng nghe rõ cũng ngồi mà câm
    Dù tâu với lệnh muôn năm
    5040. Thì là Chúa Mạc đã thầm yêu ta,
    Ngu gì mà chẳng phôi pha
    Cho vơi nỗi nhớ cho qua sóng tình
    Nơi này chẳng có Trạng Trình
    Oanh Vàng là bạn của mình xưa nay
    Ta còn e ngại chi ai
    Làm cho bốn ả biết tay một lần.
    Nghĩ rồi Đình Ái liền phân:
    Bấy lâu tôi luống ngại ngần nàng a
    Ngại nàng là gái Hoàng gia
    5050. Phụ tôi nàng lại ưng mà Trạng nguyên (10)
    Vợ chồng tương đắc tương liên
    Sanh ra con thảo cháu hiền hàng trăm
    Nên tôi cố ý giận thầm
    Nay tôi rõ lại thuyền cần chờ trăng,
    Trạng Trình năm vợ riêng căn (11)
    Oanh Vàng cùng Trạng không lần lửa hương
    Vậy nên tôi vẫn tư lương
    Giận thì chút chút mà thương đậm đà,
    Ta dù muôn dặm phương xa
    5060. Nàng đừng mong nhớ đến ta làm gì!
    Oanh Vàng hiểu ý thế ni
    Thử xem mấy ả làm chi cho toàn
    Sẵn luôn đủ mặt bốn nàng
    Diễn trò thử ghẹo xem toàn nghĩa nhân,
    Ta cùng bốn ả nương thân
    Quanh năm dinh nội bước chân vẫn liền
    Mà xem tánh nết điều riêng
    Thử xem các chị nhủ khuyên hay rày.
    Nghĩ rồi bèn nói như vầy:
    5070. Từ Vua định việc xây duyên tơ hồng
    Tôi cùng Tiết Chế Quận Công (12)
    Lòng tôi luôn mãi nhớ mong họ Hoàng (13)
    Tại Vua ra lệnh chỉ tràng (14)
    Làm cho ta phải dở dang sắt cầm (15),
    Lúc nào tôi cũng lo thầm
    Sợ Hoàng Đình Ái ôm cầm duyên ai
    Rồi chàng mê mẩn đắm say
    Quên đi nghĩa cũ không ngày nhắn nhe,
    Tôi vào nương chốn phòng the
    5080. Chàng như hạt nội bay te khuôn trời
    Nay đà để bước xa vời
    Ra đi dù gặp lắm nơi sắc tài
    Xin chàng đừng có đắm say
    Về đây cùng thiếp đến ngày tàn hơi.
    Ái rằng: thật cũng như lời
    Xin thề chứng có đất trời chứng cho
    Ngàn năm chung thủy hẹn hò
    Chẳng làm chồng được làm trò thiên thu (16),
    Nếu nàng Bát Nhã (17) công phu
    5090. Nhang đèn tôi chẳng để lu đâu là,
    Nếu nàng cai trị sơn hà
    Tôi xin làm tướng vào ra Bệ rồng,
    Nếu nàng là hạng phú ông
    Tôi xin vào ở làm hòng quản gia,
    Nếu nàng là kẻ thương gia
    Tôi làm tài phú cửa nhà tính toan,
    Nguyện luôn bảy kiếp <18> bên nàng
    Nhưng không đòi hỏi Oanh Vàng ái ân
    Hai người xem tợ một thân
    5100. Cho nên sức khỏe ta cần vấn an,
    Nhìn ta đây hỡi Oanh Vàng
    Cho tình thương nhớ nó tan nơi lòng
    Kẻo luôn nhớ mãi chất chồng
    Nặng nề tức phải mắt hồng rớt rơi.
    Đình Ái đủ tiếng lả lơi
    Oanh Vàng nghiêm mặt thốt lời đoan trang:
    Họ Lê lại với họ Hoàng (19)
    Tình như hạt nội mây ngàn chơi vơi
    Xin đừng lắm tiếng lả lơi
    5110. Thiếp e mai đến tai thời Long ngai,
    Vua thương thì được nới tay
    Tam ban triều điển (20) xử ngay phép nhà
    Vua ghét thì lệnh ban ra
    Sẽ đem tế sống hai ta lăng trì (21),
    Cả trào văn võ thị phi
    Đùa chơi mà chẳng ích chi đâu ngài!
    Ái rằng: phận rủi duyên may
    Đầu tôi có rớt nắm tay Oanh Vàng
    Chết thì đồng quách đồng quan (22)
    5120. Ai như họ Nguyễn (23) lên đàng đi xa!
    Chết thì lạnh lẽo hồn ma
    Bỏ chơi vơi đấy bốn bà quạnh hiu
    Còn nàng ta cứ dắt dìu
    Phòng riêng chung gối rất nhiều ái ân,
    Bốn nàng (24) ngồi mãi ngó trân
    Đình Ái tìm cách thoát thân Oanh Vàng
    Lúc nào cũng bị buộc ràng
    Làm sao thần trí mở mang chân truyền
    Oanh Vàng được chết mới yên
    5130. Sống đây khổ đấy thảm phiền cho ta
    Ta thì đi khắp sơn hà
    Chẳng phò kế cận khó mà chống ngăn.
    Ái liền giả bộ mặt nhăn:
    Bụng tôi đau nhói như phân như dòi
    Hỡi này Thiên Địa Thần ôi!
    Uống nhầm rượu độc chắc tôi chết liền
    Trời ơi vẫn ngỡ người hiền
    Tiễn ba chung rượu tôi liền uống vô,
    Độc thay chén rượu Hoàng cô (25)
    5140. Uống vào đã thấy gan khô phổi xào,
    Đình Ái giả bộ lăn nhào
    Hai hàng nước mắt tuôn trào như mưa
    Lòng người thâm hiểm khôn ngừa
    Rượu này quá độc bà đưa tôi dùng!
    Bốn nàng thấy chuyện lạ lùng
    Họ Hoàng mà chết tội chung bọn mình,
    Oanh Vàng vẫn ngỡ thiệt tình
    Khám mâm chả phụng khám bình rượu ngon
    Thức ăn rượu uống vẫn còn
    5150. Oanh Vàng truyền lệnh khảo con nữ tỳ:
    Mi dùng thuốc độc chi chi!
    Mà Hoàng Thái Uý thế ni vậy à?
    Nữ tỳ đầu cúi thưa qua:
    Bấy lâu con sống với bà mến thương
    Con e bốn vị công nương
    Ghét bà đánh thuốc tìm đường hại thân,
    Từ khi có mặt đại thần
    Đến khi có mặt con cần kỹ cang (26)
    Thức ăn chung ở hậu đàng
    5160. Con không dùng đến đãi quan đâu là,
    Vốn đây rượu thịt của bà
    Thức ăn riêng để phòng hoa con gìn
    Đi đâu con quảy theo mình
    Chẳng cho ai rớ ai nhìn vật chi
    Giữ gìn càng kỹ không li
    Nay sao có chuyện lạ kỳ xảy ra
    Hay là Thái Uý gia gia
    Đêm hôm vui cuộc trăng hoa nơi nào?
    Rượu này nhiều vị thuốc tàu
    5170. Công nương chế sẵn từ nào đến nay
    Bà rằng rượu cấm những ai
    Cường dâm nếu uống chết ngay tức thời!
    Công nương xưa đã dạy lời
    Con còn nhớ kỹ nên thời nhắc ra
    Con xin Công Chúa hải hà
    Con không dạ quấy mong bà rộng suy,
    Nếu nghi có thuốc chi chi
    Rượu thừa thịt thãi con thì ăn ngay
    Nếu con như thể quan ngài
    5180. Thì là rượu độc do ai hại thầm
    Uống mà con chẳng có nằm
    Thì do quan lớn cường dâm rượu hành!
    Oanh Vàng rằng: thứ súc sanh
    Sao ngươi nói thế nhơ danh râu mày (27)
    Thái Uý từ thuở xưa nay
    Không hề có chút sái sai luân thường.
    Đình Ái nghe nói chán chường
    Nữ tỳ rằng rượu công nương tự làm
    Ác chi những tiếng luận đàm
    5190. Ai nhiều thị dục uống làm thần kinh!
    Nay mình thi kế (28) của mình
    Giả đò mà lại nhằm tình thế ni,
    Nếu mà thật rượu lạ kỳ
    Ta làm chước ấy hại thì cho ta
    Chẳng chi cũng bị dèm pha
    Phong tình rượu hại nên ta bò càng,
    Nghĩ suy thiệt quá ngỡ ngàng
    Nằm vùi thử hết năm nàng làm sao.
    Nữ tỳ bưng rượu uống vào
    5200. Oanh Vàng cản lại hùng hào quở la:
    Rượu này ta đã chế ra
    Có nhiều thuốc bổ để ta cần dùng
    Nếu mi mà thật lòng trung
    Lựa là phải uống thủy chung mới tường,
    Trước kia ta nói phi thường
    Đùa chơi là kẻ chủ trương quan nhà (29)
    Bên ông có sẵn bốn bà
    Lúc nào cũng phải đậm đà chi giao (30)
    Ta vì mối nước lao đao
    5210. Sợ chồng mê rượu mận đào liên miên
    Không lo việc cả mối giềng
    Bày ra mà nói đảo điên vui cười,
    Rượu đâu có rượu hại người
    Trăng hoa uống phải rã rời ruột gan!
    Ai mà chước độc mưu gian
    Lén mà đầu độc Oanh Vàng chi đây?
    Đình Ái cứ việc nằm ngây
    Bốn nàng rằng phải kéo thây ra đàng
    Sai quân đem bỏ hà giang
    5220. Kẻo mà nhân mạng dinh đàng của ta
    Chết quan nhà Mạc khó a
    Ắt Vua giết hết năm ta một lần.
    Bốn nàng rằng: phải ân cần
    Lôi chàng đem bỏ ngoài sân tức thì!
    Oanh Vàng rằng: chẳng hề chi
    Tôi là Ngự muội đơn trì Long ngai
    Trên thì có đủ quyền oai
    Dưới thương trăm họ muôn loài súc sanh
    Luôn luôn nêu chữ tín lành
    5230. Nam mô mô Phật hiền lành từ bi,
    Nay Hoàng Thái Uý thế ni
    Năm ta săn sóc mai khi tỉnh dần
    Rượu này tôi uống nhiều lần
    Khi buồn mười chén cạn phần chưa say
    Thái Uý là đấng râu mày
    Mới ba chung rượu lại say lạ kỳ!
    Này con a loại nữ tỳ
    Lấy hoàn giải độc đem thì cho ta!
    Nữ tỳ vội vã đem ra
    5240. Oanh Vàng pha thuốc bằng trà bạch liên,
    Lại gần Đình Ái mời khuyên
    Thái Uý cần uống một viên thuốc này.
    Đình Ái giả bộ như ngây
    Dù ai nói nọ nói này mặc ai.
    Bốn nàng liền mới nói rày:
    Nữ nam hữu biệt xưa nay riêng phần
    Chữ rằng thọ thọ bất thân
    Công nương đọc sách thánh nhân đã nhàm
    Bốn tôi chẳng nhúng tay chàm
    5250. Công nương tự liệu mà làm đó thôi!
    Oanh Vàng bác ái lòng tôi
    Đỡ Hoàng Đình Ái sang ngồi lên ngay
    Thuốc này giải độc rất tài
    Của tôi dành để phòng ngày hộ thân
    Nhà luôn trữ sẵn thuốc thần
    Thái Uý mau khá ân cần uống đi!
    Vừa nói vừa đổ tức thì
    Đổ vào miệng Ái nằn nì nuốt vô,
    Ái vì yêu quý Hoàng cô
    5260. Ghét thay mấy ả nói phô danh hiền.
    Oanh Vàng đỡ Ái nằm yên
    Lấy khăn lau mặt Ái liền mở ra
    Mắt nhìn tay ngọc trắng ngà
    Nhẹ nhàng lau mặt cho ta buổi này,
    Chăn chiên (32) tỳ nữ đem đây
    Oanh Vàng đắp kín mặt mày Ái gia
    Đắp xong vào tận hậu nhà
    Nữ tỳ nấu gấp gọi là sâm thang
    Nàng vào xem sách cẩm nang
    5270. Tìm phương cứu chữa họ Hoàng thế nao,
    Sâm thang tỳ nữ bưng vào
    Oanh Vàng tiếp lấy mau mau ra ngoài
    Cho Hoàng Đình Ái uống ngay
    Bốn nàng thì đứng bên ngoài ngó ngang.
    Đình Ái lăn lộn bất an
    Choàng vai xem thử Oanh Vàng làm sao,
    Oanh Vàng chẳng chút ngạt ngào
    Xem như thủ túc đồng bào (33) lâm nguy,
    Nắm tay Đình Ái nằn nì
    5280. Thái Uý có khỏe chút chi chăng là?
    Ái rằng: đã có tiên nga
    Thuốc thần đến giúp đã qua bệnh tình
    Giã nàng vui vẻ bổn dinh
    Chia tay ta sẽ lộ trình ra đi
    Chỉ e chậm trễ quy kỳ!
    Oanh Vàng rằng: chẳng có chi ngại lòng
    Xin ngài tĩnh dưỡng cho xong
    Mai đi cũng chẳng trễ hòng chi đa!
    Đình Ái nhìn thử bốn bà
    5290. Mặt như mã diện (34) đang tra tội hình.
    Oanh Vàng rằng: hỡi Ái huynh
    Chẳng hay sức khỏe đã bình như xưa
    Đàng đi dầu dãi nắng mưa
    Nếu chưa phục sức thì chưa lên đàng,
    Đi tầm cho được Nguyễn quan
    Ích tôi nào lợi cho chàng chi đâu?
    Phải tuôn mưa nắng dãi dầu
    Nói mà vẻ mặt u sầu lụy rơi.
    Đình Ái từ giã tách rời
    5300. Oanh Vàng nhẹ gót vào nơi hậu đàng
    Nhìn quanh chẳng thấy bốn nàng,
    Nữ tỳ mới kể Oanh Vàng biết hay
    Kể từ giờ tỵ (35) hôm nay
    Bốn vì nương tử đắng cay cõi lòng
    Cho nên lên chốn tịnh phòng (36)
    Bốn nàng tụng niệm lầu hồng hương hoa
    Tịnh phòng con mới dâng trà
    Con nhìn đã thấy bốn bà niệm kinh.
    Oanh Vàng vào nghỉ trướng huỳnh
    5310. Nghĩ duyên nghĩ nợ nghĩ tình éo le
    Trong lòng trắc ẩn buồn hoe
    Tử qui (37) thỏ thẻ tiếng ve kêu sầu
    Dế ngâm khoan nhặt từ câu
    Càng suy mối thảm càng sầu chứa chan
    Chi hơn giải muộn vọng đàn
    Tỳ bà (38) trỗi khúc đoạn tràng năm canh,
    Nhịp nhàng thỏ thẻ tiếng oanh
    Ngâm thi hột lụy chảy quanh theo tròng.
    Bốn nàng đang ở tịnh phòng
    5320. Nghe đàn liền xuống thảy đồng nói ra:
    Chúng ta đang niệm Ma ha (39)
    Sao nàng vui vẻ hát ca cầm kỳ,
    Mới vừa tiễn khách ra đi
    Tiếng cười còn đọng buồn chi mà đàn!
    Đã từng khúc Phụng Cầu Hoàng (40)
    Vừa rồi Tư Mã với nàng Văn Quân
    Chẳng vui như hội ngày xuân
    Sao còn trỗi giọng lụy rưng làm gì,
    Chúng ta đang tịnh thế ni
    5330. Làm cho kinh động tội thì đáng chưa!
    Nàng rằng đạm bạc muối dưa
    Khô lân chả phụng để chừa thết trai!
    Chúng ta rủi ốm đôi ngày
    Nữ tỳ phải kiếm thuốc ngoài phương xa
    Còn trai tình tứ vào nhà
    Nào viên giải độc, nào là sâm thang,
    Vô duyên cho Nguyễn phu lang
    Tình riêng Công Chúa Oanh Vàng đã phai
    Chàng đi biền biệt lâu ngày
    5340. Thuyền tình đổi bến duyên ai ôm cầm,
    Oanh Vàng nay đã lang dâm
    Đừng làm rung động bốn tâm tu trì
    Chúng ta ngũ giới tam quy (41)
    Cấm nàng đàn hát ngâm thi đêm về,
    Ta đang lần hạt Bồ đề
    Quyết tầm Cực lạc mà về Ma ha (42)
    Nàng làm kinh động bốn ta
    Lúc đang tụng niệm Di Đà trì kinh (43)
    Chúa Mạc (44) dù có vị binh
    5350. Cũng còn văn võ chấp kinh luật nhà
    Lẽ nào luôn cả trào ca
    Không người biết phải phép nhà Vua Lê!
    Từ nay ta giữ đạo đề
    Phận nàng riêng lối chẳng hề cùng chung
    Vui chi mà quá thung dung
    Tỳ bà tay lựa ngang cung mà đàn!
    Oanh Vàng rằng: hỡi bốn nàng
    Vì tôi chầy bấy cung vàng đã quen
    Gặp chi buồn bã giải khuây
    5360. Đem đàn ra khảy đã quen lâu ngày,
    Quên phòng giữ giới trì chay
    Cho nên lỗi đạo phạm ngay cửa chùa
    Ngỡ mình giòng dõi Chúa Vua
    Tội chi mãn kiếp cứ mua lấy hờn
    Dù bao châm biếm chẳng sờn
    Tỳ bà khoan nhặt tay đờn đầu nghe.
    Bốn nàng rằng: chớ màu mè
    Nàng cùng Đình Ái đậy che nhau hoài,
    Trước thì đánh rớt Kim bài
    5370. Mà trên Chúa Mạc cũng rày bỏ qua
    Vừa rồi tận mắt bốn ta
    Nàng lau mặt gã gia gia đại thần,
    Nếu không phải ý trung nhân
    Tội gì mà lại ân cần vậy a
    Choàng tay choàng cổ lân la
    Nắm tay nắm tóc xem ra mặn mòi
    Thúi hôi như mắm như dòi
    Cũng em Mạc chúa cũng nòi Lê gia,
    Lạ chi cái thói trăng hoa
    5380. Ai thì không biết bốn ta lạ gì,
    Mặt trong như ngọc mà lì
    Gặp trai thì níu thì trì luôn luôn
    Thế mà rằng thảm rằng buồn
    Rằng tu giải thoát tầm nguồn Ma ha
    Gặp trai thì lại mê sa
    Tu đâu không thấy thấy mà mê trai,
    Từ nay luôn đến hậu lai
    Bốn ta riêng cửa nàng rày nhớ ghi
    Ra vào hai cửa khác thì
    5390. Không chung một nẻo không đi một đường
    Kẻo khi lây cả cá ươn
    Nhơ danh miệng thế bốn phương ngại lòng.
    Oanh Vàng rơi giọt mắt hồng
    Bốn nàng nói chẳng vị lòng lâu nay,
    Ai đi cho gái trang đài
    Còn thua những gái con ngoài thứ dân
    Làm cho lem ố danh nhân
    Làm cho trong nước muôn dân phẩm bình,
    Oanh Vàng rằng: thật vô tình
    5400. Tôi xem Đình Ái như hình trong tranh
    Giả tôi có sẵn lòng lành
    Thấy người bịnh hoạn chẳng đành ngó ngang
    Phải cần săn sóc thuốc thang
    Cho người sức khỏe bình an như thường
    Gọi là thương hết bốn phương
    Chẳng phân nam nữ tuổi đương xuân thì,
    Lòng tôi chẳng có nghĩ chi
    Bốn nàng đừng có hiềm nghi dại tà
    Lòng tôi thương khắp người ta
    5410. Phải khi ương yếu tôi mà giúp vô,
    Hằng ngày nương xã tắc đồ
    Luôn nhìn nam giới như mồ mả xưa
    Không hề có ý mây mưa
    Không hề có dạ đẩy đưa gợi tình,
    Muôn loài luôn cả chúng sinh
    Tôi luôn thương mến như tình mẹ con
    Còn trời còn nước còn non
    Thì người cõi thế tôi còn thương yêu,
    Bốn nàng tiểu sự (45) bấy nhiêu
    5420. Riêng lòng tự đắc hiu hiu vang thành
    Còn tôi là gái hiền lành
    Coi muôn ngàn kẻ chúng sanh như mình
    Chẳng hay tạo hóa thân hình
    Để làm căn bản cho mình tu tâm,
    Tu là tìm kiếm huyền thâm
    So hồn với xác, so tâm với hình,
    Cái thân là chỗ tạm đình
    Cái hồn mới thiệt của mình thiên thu
    Mượn thân mình sẽ hiền nhu
    5430. Mượn thân tạm để lo tu sửa lòng,
    Tâm không, vạn sự đều không
    Thân ngoài như thể tình trong lạ gì
    Không hề rung động sai đi
    Không mê danh lợi không vì ý riêng
    Vẫn luôn gác não dẹp phiền
    Không hờn không giận như nhiên mới là,
    Thân người như thể thân ta
    Có chi rằng ghét chi là rằng thương (46),
    Còn ba hơi thở tranh cường
    5440. Hết ba hơi thở biết đường đâu đi
    Hơn thua tranh đấu mà chi
    Trăm năm ai có sống thì được đâu,
    Thân hình là cái khổ sầu
    Tử sanh luân chuyển từ lâu ái hà
    Trẻ đây mới đó lại già
    Già thì phải chết có mà chắc chi,
    Cái thân còn thuở thanh thì
    Hơn thua tranh chấp đứng đi từng lời
    Đến khi sớ hệ hết thời
    5450. Già nua đau đói mấy đời truân chuyên,
    Cái thân là cái lưu truyền
    Hả hê mới đó ưu phiền lại mang
    Tôi coi thân tạm là đàng
    Diêm phù cũng đó Tây phương cũng là
    Đừng vì danh phẩm một nhà
    Người đau trăn trở khóc than chẳng nhìn
    Tay Tiên dù phải nhúng sình
    Cũng vào đỡ lấy gọi tình chúng sanh,
    Lòng lành mới tạo phước lành
    5460. Lòng mình nhơ nhuốc quẩn quanh ái hà
    Mỗi lần nam nữ thông qua
    Tình xuân lại động lòng tà nảy lên,
    Còn tôi tình dục dẹp bên
    Để đưa nhân loại đứng lên mạnh lành
    Thân này thân của chúng sanh
    Coi như xác thối để dành làm chi!
    Thân nhờ tai mắt tứ chi
    Dại thần ngũ uẩn (47) phải đi nhầm đàng,
    Nữ nam cũng kẻ thế gian
    5470. Nhìn muôn nghìn kẻ như hàng cá ươn
    Không hề có dạ riêng thương
    Gọi là tình dục trong vườn mộng xuân,
    Những người gây nghiệp trầm luân
    Trả vay vay trả biết chừng nào xong
    Lộn quay quay lộn nhiều vòng
    Luân hồi nhiều kiếp cũng trong Ta bà,
    Tầm đàng Cực lạc Ma ha (48)
    Xem thân nam nữ trẻ già như nhau
    Chẳng phân các giới đồng bào
    5480. Dục tình lòng chẳng núng nao thèm thuồng,
    Ấy là tội lỗi dư muôn
    Ý luôn nghĩ quấy lòng luôn dại tà
    Suy người ắt phải ý ta
    Những điều phải quấy gọi là phải chăng,
    Những điều ái dục gió trăng
    Gọi là nhục dục đóng ngăn Di Đà,
    Lòng này coi khắp gần xa
    Xem chung nam nữ như là tay chân
    Dặn lòng lòng giữ như bưng
    5490. Đóng ngăn nhục dục xin đừng ra binh,
    Đêm xuân vờn vọng sóng tình
    Sanh nhiều thứ bệnh bên mình phải mang
    Biết rằng muôn kẻ thế gian
    Hóa công đặt để hai đàng ái ân
    Hà nhân sanh thị hà nhân
    Mượn thân tiền kiếp tạo thân sau này,
    Mâm đèn tức nhả khói bay (49)
    Tùy nơi tùy chỗ mưa mây thỏa tình (50)
    Ấy riêng nhục dục của mình
    5500. Giấu đi đừng có nghi tình cho ai!
    Đừng vì trai nọ gái này
    Nghi nan đàng cuộc mưa mây đá vàng
    Nghĩ mình không có sái đàng
    Thì mình cũng đứng ngọc vàng sạch trong,
    Dạ mơ lũ bướm chòm ong
    Nghĩ người mây nước ra lòng trăng hoa,
    Lòng luôn nhớ chữ Di Đà
    Lúc nào cũng có Thích Ca tọa bàn
    Dẹp đi lòng thú dạ lang
    5510. Xuống thuyền Bát Nhã lên đàng Ma ha,
    Đời luôn ngàn bể ái hà
    Dứt đi nghiệp quả chớ mà gây thêm
    Phải mơ Nguyệt điện cung thềm
    Đừng mơ chăn ấm gối êm mặn nồng
    Đã sanh phải kiếp má hồng
    Vật chơi nam tử ở trong phòng đào
    Thẹn mình chưa hết ngán ngao
    Quyết tu cho được ngày sau thoát trần
    Lòng nhân sẽ thấy việc nhân
    5520. Lòng mình tà dại nghĩ thân muôn người.
    Bốn nàng nghe nói liền cười
    Bốn tôi đâu phải là người đàn na
    Nghe Kinh Bát Nhã Mật Đa
    Của sư của sãi ngâm nga ngày ngày,
    Riêng nhìn ai hỡi kìa ai
    Miệng khôn thân khéo luận bài pháp môn
    Mặt hoa da phấn mê hồn
    Sắc này sánh với Huyền tôn (51) bên Tàu
    Mới là phỉ dạ má đào
    5530. Luận điều mây nước trăng sao mặn mà
    Phận hèn như chị em ta
    Đành mang chuỗi hột áo già ấy thôi
    Bốn nàng mai mỉa một hồi
    Oanh Vàng luôn cứ mím môi mỉn cười.

  12. #32

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Quan san: quan là cửa ải, san là núi, ý nói nơi khó khăn, hiểm trở.

    2. Chuyện Kim bài của Hoàng Đình Ái làm rơi trước phòng Oanh Vàng trước đây.

    3. Nhân nghĩa vẹn ba: ý nói đến đạo lý tam tòng Phụ, Phu, Tử của người phụ nữ phong kiến.

    4. Liệu đình: liệu định, phép biến âm đạt vần.

    5. Ý nói làm điều đúng thì chẳng cần ra sức thanh minh, phô bày cho mọi người hiểu.

    6. Kỹ cang: kỹ càng, phép biến âm đạt vần.

    7. Hoàng Đình Ái có tình ý với Oanh Vàng, nên rất quan tâm dặn dò.

    8. Võ vàng: gầy ốm, xanh xao.

    9. Dở khui: khai mở ra, bày tỏ ra cho người khác hiểu.

    10. Trạng nguyên: Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 thời Mạc Đăng Doanh.

    11. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có bốn người vợ. Sau khi đỗ Trạng nguyên làm quan cho nhà Mạc, lại được vua Mạc Đăng Doanh gả cho công chúa Lê Oanh Vàng, trở thành người vợ thứ năm, nhưng giữa Oanh Vàng và Nguyễn Bỉnh Khiêm ngầm giữ khoảng cách. Đây cũng là kế sách của Lê Oanh Vàng, tranh thủ sự gần gũi với nhà Mạc để dễ bề chiêu dụ các tướng tài, đồng thời nuôi dưỡng Thái tử Lê Duy Bang dòng dõi nhà Lê, chờ thời cơ phò Lê diệt Mạc.

    12. Tiết Chế Quận Công: chức tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    13. Họ Hoàng: Hoàng Đình Ái.

    14. Chỉ tràng: chỉ truyền, phép biến âm đạt vần.

    15. Sắt cầm: đàn sắt (50 dây) và đàn cầm (5 dây) là hai loại đàn cổ nhạc, khi hòa thanh rất hay. Ý nói tình yêu đôi lứa. Trong câu: Loan phụng hòa minh, Sắt cầm hảo hợp.

    16. Thiên thu: kiếp sau.

    17. Bát Nhã: Kinh Bát Nhã, hay là Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, cũng được gọi là Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, Huệ đáo bỉ ngạn kinh, nghĩa là Kinh với trí huệ đưa người qua bờ bên kia, là một bộ kinh bao gồm khoảng 40 bài kinh Đại thừa được gọi dưới tên chung, với nội dung hướng dẫn hành giả đạt được trí Bát-nhã, thành tựu Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Bộ kinh này được ghi từ thế kỉ thứ nhất trước Công Nguyên đến khoảng thế kỉ thứ 5. Ngày nay, phần lớn kinh này chỉ còn trong dạng chữ Hán hoặc chữ Tây Tạng, không còn dạng Phạn ngữ.

    18. Bảy kiếp: theo Phật Pháp, đức Thế Tôn đã trải qua bảy kiếp thành và bảy kiếp hoại để thành chánh quả.

    19. Họ Lê, họ Hoàng: ý nói hai người Lê Oanh Vàng và Hoàng Đình Ái.

    20. Tam ban triều điển: xử tội theo cách triều đình xưa, nếu người phạm tội là người hoàng tộc, hoặc có công lớn với triều đình, khi phạm tội chết, vua sẽ cho phạm nhân tự chọn một trong ba cách chết, trong đó có: 1 con dao (tự đâm), 1 dải lụa (tự thắt cổ), và 1 ly rượu độc (tự uống).

    21. Lăng trì: hình phạt rất tàn khốc thời phong kiến, giết phạm nhân bằng cách cắt chân tay, xẻo từng miếng thịt cho chết đau đớn dần dần.

    22. Quan: quan tài, áo quan. Quách: là lớp bên ngoài bảo vệ quan tài, làm bằng hợp chất bền vững từ vật liệu vôi, nước mật, cát, chất xơ, hoặc cũng có thể làm bằng gỗ.

    23. Họ Nguyễn: ý nói Nguyễn Bỉnh Khiêm, để công chúa Oanh Vàng ở lại Thăng Long, đi tu ở tỉnh Hải Dương.

    24. Bốn nàng: bốn người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    25. Hoàng cô: công chúa Lê Oanh Vàng.

    26. Kỹ cang: kỹ càng, phép biến âm đạt vần.

    27. Râu mày: tu mi, ý nói người đàn ông, ở đây chỉ Hoàng Đình Ái.

    28. Thi kế: trúng kế.

    29. Quan nhà: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    30. Đậm đà chi giao: ái ân thân mật.

    31. Trà Bạch Liên: vị thuốc dân tộc, thành phần chính là Bạch Liên Thảo, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kháng viêm, giải rượu bia rất tốt.

    32. Chăn chiên: chăn mền làm từ lông cừu.

    33. Thủ túc đồng bào: thủ túc nghĩa là đầu và tay chân, đồng bào nghĩa là chung cha mẹ. Ý nói như anh em ruột thịt trong nhà.

    34. Mã diện: ngưu đầu, mã diện là binh tướng của Diêm Vương.

    35. Giờ tỵ: khoảng 10 giờ sáng.

    36. Tịnh phòng: nơi đặt bàn thờ, cúng kiếng.

    37. Tử quy: trong câu Sinh Ký, Tử Quy, nghĩa là sống gởi thác về. Oanh Vàng nhớ lại lời thề thốt của Hoàng Đình Ái hẹn gặp Oanh Vàng ở kiếp sau.

    38. Tỳ bà: một loại đàn 4 dây.

    39. Ma ha: Phật.

    40. Phụng Cầu Hoàng: theo Giáo sư Trần Văn Khê, bản đàn Phụng Cầu Hoàng do một danh cầm đời Hán tên là Tư Mã Tương Như đàn cho nàng Trác Văn Quân nghe.

    Tư Mã Tương Như người ở đất Lâm Cùng, một hôm, đến nhà Trác Vương Tôn dự tiệc rượu, gặp được người con gái của Trác Vương Tôn tên là Văn Quân nhan sắc tuyệt vời, nổi tiếng thơ hay, ca giỏi, đang góa chồng. Nàng Văn Quân cũng biết tiếng Tư Mã Tương Như là người tài hoa, phong nhã nên khi giữa tiệc mọi người yêu cầu Tư Mã Tương Như đánh đàn thì nàng đứng phía sau lén nhìn. Tư Mã Tương Như nổi tiếng đàn rất hay, sáng tác hai khúc ca có ý nhắn nhủ với người đẹp Văn Quân rằng:

    Phượng hề, phượng hề qui cố hương
    Du ngao tứ hải cầu kỳ hoàng
    Hữu nhứt diễm nữ đại thức tương
    Thất nhi nhân hà độc ngã trang
    Hà do giao tiếp vị uyên ương.

    Nghĩa là:
    Chim phượng về quê
    Sau chuyến ngao du bốn biển để tìm chim hoàng
    Có một người con gái xinh đẹp ở nơi đây, ngay trong nhà này
    Phòng gần, người xa làm khô héo ruột gan ta
    Biết làm sao gặp gỡ được nhau để trở thành đôi uyên ương.

    Sau khi nghe bài ca và bản đàn của Tư Mã Tương Như, nàng Trác Văn Quân vô cùng cảm kích trước ân tình của chàng, và đêm đó đã thu xếp hành lý bỏ nhà đi theo chàng.

    41. Tam Quy: nghĩa là Quy Y Tam Bảo. Người thọ lễ Tam Quy thành tâm phát nguyện nhận ba ngôi báu: Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo, là hướng dẫn tinh thần toàn hảo, là lý tưởng cao cả nhất, là nương tựa châu toàn nhất, là biểu tượng quý báu xứng đáng nhất để cho mình tôn kính, và tự nguyện cung hiến trọn cuộc sống của mình đến Tam Bảo, trong ý nghĩa là trọn đời luôn luôn tuân hành lời dạy vàng ngọc của Phật, Pháp, Tăng.

    Ngũ giới: Năm giới luật của nhà Phật. Người đã tự nguyện trở về nương tựa nơi Tam Bảo và đặt mình dưới sự hướng dẫn của Phật, Pháp, Tăng cũng hàm ý là tự nguyện sẵn sàng khép mình vào khuôn khổ của Giới Luật. Có năm giới luật căn bản là: không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không gian dối và không rượu bia.

    42. Ý nói tay lần chuỗi tràng hạt, miệng tụng kinh niệm Phật.

    43. Di Đà trì kinh: kinh A Di Đà. Kinh này Phật giảng cho ông Xá Lợi Phất và những vị khác, ca ngợi cảnh Tây Phương do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ, còn có tên là cõi Cực Lạc.

    44. Chúa Mạc: vua Mạc Đăng Doanh.

    45. Tiểu sự: việc nhỏ nhặt.

    46. Tư tưởng triết lý rất cao, xem thân xác chỉ là nơi tạm trú của tâm trí. Khi tâm trí hướng về thánh thiện, thì tất cả thân xác, tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau.

    47. Ngũ uẩn: năm điều cần phải tránh theo giáo lý nhà Phật: sát sinh, trộm cắp, dâm dục, gian dối và say sưa.

    48. Ma ha: cõi Phật.

    49. Ma túy.

    50. Trụy lạc.

    51. Huyền tôn: vua Đường Minh Hoàng. Người đẹp được vua sủng ái nhất là Dương Qúy Phi. Nàng có sắc đẹp, thông minh, làm cho vua say đắm, điên đảo. Người đời nhắc về nàng rất nhiều trong truyện và tuồng, người thì thương cho cái chết của nàng, người thì trách nàng gây ra tất cả những cảnh bể dâu trong cuộc đời vua Huyền Tôn.
    Last edited by Love_Tamlinh; 01-11-2007 at 03:52 PM.

  13. #33

    Mặc định

    HOÀNG ĐÌNH ÁI ĐẾN BẠCH VÂN AM

    Đoạn này nhắc lại việc người
    Bỉnh Khiêm (1) là kẻ vẹn mười văn chương
    Đi lần đến tỉnh Hải Dương
    Bạch Vân Am ở dầu hương tu hành
    Ngày nào dứt nghiệp chúng sanh
    5540. Là ngày đắc quả thơm danh tu trì.
    Đình Ái (2) đã đến am ni
    Nam mô Mô Phật chứng thì cho con
    Đường đi cách nước xa non
    Am Vân đã đến lòng còn tưởng xa,
    Vào am làm khách đàn na (3)
    Chấp tay lạy Phật lệ nhòa rớt rơi
    Quốc Công (4) xem thấy tức thời
    Mới sai các tiểu rước mời khách quan
    Trạng (5) rằng viễn vọng xa ngàn
    5550. Nhọc công Thái Uý (6) tầm sang chốn này
    Đình Ái mới nói như vầy:
    Tôi tầm cho đặng am mây mà vào
    Vâng lời Chúa Mạc (7) tại trào
    Đi tầm cho đặng mà trao chiếu truyền,
    Vua cho Tiết Chế (8) tu hiền
    Nhưng mà tu tại bệ tiền của Vua
    Vua cho Công Bộ (9) xây chùa
    Tại Thăng Long điện của Vua ngự tòa,
    Đặng cho các viện các bà
    5560. Dâng hương dâng Phật mới là hiền nhu,
    Ngài tu Vua cũng muốn tu
    Quê nhà năm ả (10) xuân thu hai mùa
    Đồng đi cúng miếu cúng chùa
    Đồng thờ Quốc Trạng (11) giữ vùa hương (12) thơm,
    Từ đường (13) lo việc quảy đơm
    Sùng tu Miếu võ (14) dâng cơm Cửu huyền (15),
    Ngài nên nghe lệnh Vua truyền
    Về trào năm vợ vui duyên tu hành
    Cả nhà lòng tưởng việc lành
    5570. Cùng tu ắt sẽ đắc thành chẳng sai,
    Nếu tu riêng một mình ngài
    Chúa thương vợ mến bỏ rày đi đâu
    Nam mô Mô Phật tu cầu
    Oai linh Đức Phật niệm sâu ngài à!
    Thương cho năm vợ quê nhà
    Nhớ ngài đêm vắng vào ra khóc hoài
    Lòng thiền dưa muối trì trai (16)
    Để muôn ngàn kẻ thương ngài nhớ nhung
    Tu riêng mà để khổ chung
    5580. Sao bằng trở lại triều trung Mạc trào,
    Dắt dìu năm vợ cùng nhau
    Trì trai giữ giới cháo rau một nhà
    Vua cùng các viện các bà
    Cũng xin tu với có mà tốt chăng!
    Ngài thì sớm ngộ đạo hằng
    Bốn phương tám hướng cũng bằng lòng tu
    Tu sao rạng mặt sỹ phu
    Chẳng nên gây oán kết thù với ai
    Lúc nào ta cũng thẳng ngay
    5590. Chẳng hề tư vị một ai dại tà.
    Đình Ái mãi nói gần xa
    Đem nhiều lý thuyết văn hoa vỗ về
    Quốc Công nghe nói ủ ê
    Cho nên lòng muốn trở về môn nha (17),
    Từ ngày ta bỏ vợ nhà
    Năm này tính đã hơn ba năm rồi!
    Nghĩ thương năm ả vô hồi
    Nghĩ duyên tấm mẳn <18> đứng ngồi đã lâu
    Vốn người ý hiệp tâm đầu
    5600. Cả nhà thuận thảo chẳng câu la rày,
    Ta vào tu ở am mây
    Nghĩ thương năm ả thân gầy vóc teo
    Nhớ thương ta cũng khó theo
    Đàng đi qua suối qua đèo cam go.
    Đình Ái nghe nói liền dò
    Biết lòng Tiết Chế muốn lo trở về
    Nên chàng cứ việc vào đề
    Muốn bưng Quốc Trạng gánh về trào ca (19)
    Nên dùng kinh sách văn hoa
    5610. Tam cang (20) hiếu thuận luận qua một hồi
    Luận mòn nghĩa lý nói dồi
    Nói cho Quốc Trạng phải hồi về dinh.
    Bỉnh Khiêm nghe mãi động tình
    Để tôi sắm sửa hồi kinh lai trào,
    Các tiểu hãy khá cùng nhau
    Trồng cây cày ruộng đào ao xây hồ
    Ta về thăm viếng kinh đô
    Các ngươi giữ việc Nam mô cho thường.
    Phúc đâu lại thấy Kỳ Hương (21)
    5620. Cụ già thong thả ngoài đường bước vô,
    Quốc Công xem thấy liền phô:
    Cụ đâu lạ mặt mà vô am này?
    Bửu Sơn mới nói như vầy:
    Ta đây vốn thiệt là thầy Kỳ Hương
    Ta người mây nước bốn phương
    Dắt dìu sanh chúng thoát đường bể mê,
    Non Tiên cảnh Phật muốn về
    Phải nên dứt nghiệp trần mê mới mầu,
    Nếu ham vào các ra lầu
    5630. Ham danh ham lợi quên câu Di Đà,
    Biển trần đã thoát chân ra
    Sao còn muốn trở về nhà mà chi?
    Đình Ái con quá ngu si
    Thầy trao Thái Ất (22) con đi tầm người
    Sao con chẳng có vẹn mười
    Người tu con bảo cho người quy ninh (23)?
    Quốc Công, Đình Ái cả kinh
    Đồng quỳ xuống lạy mà xin tu hành:
    Con là một kẻ chúng sanh
    5640. Bấy lâu mong muốn tu hành thoát mê
    Non Tiên cảnh Phật muốn kề
    Không về dẫn lối nẻo về Ma ha (24)
    Nên con muốn trở về nhà
    Xin Thầy thứ lỗi con mà xin tu,
    Từ nay cho đến thiên thu
    Dù bao ngàn kiếp cũng tu cùng Thầy
    Từ con vào ẩn am mây
    Xem Kinh Thái Ất của Thầy truyền ban
    Lòng con chưa thấy mở mang
    5650. Cũng thông việc trước cũng toàn việc sau,
    Nhưng mà dạ mãi rạt rào
    Nhớ quê nhớ vợ nhớ bao bạn bè
    Nhớ nơi trướng gấm màn the
    Nhớ nem chả phụng nhớ ve rượu tàu
    Nhớ đai nhớ mão quý cao
    Nhớ áo cẩm bào lại nhớ cẩm đôn,
    Nên con ngơ ngẩn tâm hồn
    Nhờ Thầy mở cửa khai môn con vào.
    Đình Ái cúi lạy thì thào:
    5660. Thầy sai con ở bên Tàu qua đây
    Hẹn nhau tại nước non này
    Con còn đen tối nhờ Thầy mở mang
    Dẫn con về chốn Tây An (25)
    Thầy trò ta sẽ hưởng nhàn non Tiên.
    Bửu Sơn ông mới nói liền:
    Ngươi là con quỷ khắp miền giao du
    Tu sao cho được mà tu
    Tiền khiên túc trái (26) nó bu quanh mình,
    Khó mà giữ giới trì kinh
    5670. Nào duyên nào nợ nào tình viễn vông
    Số người sáu kiếp lộn vòng
    Nợ nhà thêm nợ tang bồng nước non
    Chừng nào sáu kiếp làm tròn
    Lang thiên cảnh cũ ta còn chừa cho,
    Mới đây người đã bày trò
    Không ta Bạch sĩ (27) chẳng lo hồi trào.
    Đình Ái cúi lạy thì thào:
    Bạch Thầy! Thầy ở nơi nào mà nghe?
    Bửu Sơn mới nói nè nè:
    5680. Lựa là tận mắt mới nghe sao mà
    Nơi nào thì cũng có ta
    Có cây có cỏ có mà Bửu Sơn
    Chỗ nào ta cũng đặt chân
    Ngươi đừng gạn hỏi thiệt hơn chuyện nào!
    Số ngươi phải đọa trần lao
    Tội làm kiếp trước kiếp sau phải đền
    Tiền cừu hậu hận há quên
    Một bên đi trả một bên đến đòi.
    Bỉnh Khiêm ghé lại mà coi
    5690. Bửu Sơn ông kể rẽ ròi rõ ra
    Làm người trong cõi Ta bà
    Tu là cội phúc tình là dây oan,
    Kiếp người như ánh nhoáng quang
    Nêu tu giải thoát cho an linh hồn
    Người khôn nghe ít cũng khôn
    Người mê nói mãi mà hồn vẫn mê,
    Đã tu tu trót vẹn bề
    Lại còn muốn trở lộn về môn nha
    Tình chung ràng buộc ái hà
    5700. Đời đời kiếp kiếp chẳng qua luân hồi,
    Bao phen sống dập gió dồi
    Ngửa nghiêng thân xác vẫn ngồi trần lao
    Giận thương thương giận rạt rào
    Chẳng tầm nẻo đạo thanh cao nhiệm mầu.
    Bỉnh Khiêm nghe dạy cúi đầu:
    Bạch Thầy con hiểu nhiệm mầu rồi a
    Nhờ Thầy khai rõ Ma ha
    Con đà thấy rộng hiểu xa nẻo đường
    Không còn lo nghĩ nhớ thương
    5710. Không còn ràng buộc tư lương ái tình
    Cũng không nặng gánh gia đình
    Con coi mây nước đinh ninh như nhà
    Con nhìn thiên hạ gần xa
    Cũng như mấy vợ quê nhà khác chi,
    Bạch Thầy con đã thông tri
    Nhờ Thầy chỉ rõ trong khi thân trần
    Con còn mang lấy xác thân
    Nhờ Thầy cảm hóa hiểu phần oai linh
    Nhưng còn trong nghiệp chúng sinh
    5720. Làm chi có ích dân tình nước non,
    Nhờ Thầy chỉ giáo cho con
    Con xin vâng dạy làm tròn khúc nôi
    Hầu sau thoát kiếp luân hồi
    Khỏi đeo khổ ải khỏi nhồi ốm đau?
    Bửu Sơn ông muốn nói mau:
    Bá niên tiền hậu <28> từ nào con thông
    Thiên cơ (29) con đã nằm lòng
    Lúc này con đoạt Lục thông (30) phép Thầy
    Tai nghe mắt thấy đủ đầy
    5730. Lòng con muốn thế nay Thầy phải ban,
    Am Vân con phải ở an
    Nhuần Kinh Thái Ất mở mang đạo mầu
    Phải ghi Sấm Trạng (31) ngàn câu
    Phải ghi lịch sử từ đầu nhà Lê
    Con ghi cho rõ các bề
    Ngàn năm lưu dấu để về hậu lai
    Thiên cơ sấm ký trăm bài
    Khi xong Thầy đến chọn ngày về Tiên,
    Nay con đã dứt nghiệp duyên
    5740. Lòng con đã hết não phiền phải chăng
    Trí nhàn biên Sấm đủ văn
    Cho trong lê thứ tầm căn tu hiền
    Tu cho dứt nghiệp tiền khiên
    Tu cho thân hết ưu phiền đắng cay.
    Còn phần Đình Ái hôm nay
    Việc đời gánh vác chờ ngày chuyển luân
    Tại người xưa quá lẫy lừng
    Nay Thầy cứu rỗi cho luân chuyển hoài
    Ít lâu bỏ xác đầu thai
    5750. Thì Thầy cũng đến dạy ngay tu hiền,
    Cứ luôn sáu lượt triền miên
    Sau Thầy sẽ dẫn về Tiên con à.
    Nói rồi ông mới lui ra
    Bỉnh Khiêm Đình Ái mới là chạy theo
    Nhìn sang ngó trước quạnh heo
    Ra đàng thì lại vắng teo không người.
    Đình Ái vui vẻ nói cười
    Thầy ta vốn thiệt là người Phật Tiên
    Mới đây ra đó mất liền
    5760. Vậy thì Bạch sĩ ở yên am này
    Lo mà quét dọn am mây
    Nhang đèn hoa quả phòng Thầy hạ san (32)
    Tôi về phục lệnh Thánh Hoàng (33)
    Nói rồi Đình Ái ra đàng đi dong.

  14. #34

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan cho nhà Mạc được 7 năm, sau đó ông xin cáo quan năm 1542. Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật.

    Khi về trí sĩ, ông lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang, do đó còn có tên Tuyết Giang và học trò gọi ông là "Tuyết Giang Phu tử". Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan một nhà ngoại giao, Nguyễn Dữ tác giả Truyền kỳ mạn lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền.

    2. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    3. Đàn na: tiếng Phạn Dāna, nghĩa là cúng dường.

    4. Quốc Công: tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    5. Trạng: Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 thời Mạc Đăng Doanh.

    6. Thái Uý: chức quan của Hoàng Đình Ái.

    7. Chúa Mạc: vua Mạc Đăng Doanh.

    8. Tiết Chế: chức quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    9. Công Bộ: hay còn gọi là Bộ Công, coi việc xây dựng thành hào, cầu cống đường sá, việc thổ mộc, thợ thuyền, tu sửa xây dựng, thi hành lệnh cấm về núi rừng, vườn tược và sông ngòi.

    Bộ Công là một trong sáu bộ (Lục bộ), sáu cơ quan chức năng cao cấp trong tổ chức triều đình phong kiến Việt Nam, gồm Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư (Bộ trưởng), giúp việc có Tả thị lang, Hữu thị lang, hoặc Tham tri (Thứ trưởng.

    10. Năm ả: năm người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    11. Quốc Trạng: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    12. Vùa hương: bát hương trên bàn thờ. Vùa hương cùng với bát nước là hai vật không thể thiếu trên mọi bàn thờ.

    13. Từ đường: gian nhà thờ cúng.

    14. Miếu võ: gian nhà thờ cúng. Các công trình tâm linh gồm có: đình, chùa, miếu, võ và lăng tẩm.

    15. Cửu huyền: Cửu Huyền Thất Tổ, tổ tiên, thế hệ khai sinh ra dòng họ.

    16. Trì trai: ăn chay. Trì trai và Trì giới (giữ giới luật) là nhiệm vụ của người tu hành.

    17. Môn nha: chốn quan trường, cửa quan, ý nói triều đình.

    18. Duyên tấm mẳn: Tấm là hạt gạo vỡ, mẳn là hạt gạo nát, luôn đi đôi với nhau. Ý nói duyên vợ chồng sớm tối có nhau.

    19. Trào ca: triều đình.

    20. Tam cang: Tam cương, phép biến âm đạt vần.
    Tam Cương là ba mối quan hệ: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ).
    Ngũ Thường là năm điều phải có ở đời: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
    Tam cương và Ngũ thường là luân lý đạo đức của Nho giáo do Khổng tử đề ra.

    21. Kỳ Hương: Bửu Sơn Kỳ Hương là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã được khai sinh ở vùng Ðông Nam Á từ thế kỷ thứ XVI trở đi. Bửu Sơn Kỳ Hương dùng một số giáo lý của Phật giáo, nhưng không phải là một tông phái của Phật giáo.

    22. Thái Ất: Thái Ất Thần Kinh, là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn Giáp, Lục Nhâm đại độn). Thái Ất về Thiên, nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người. Theo một số sách kinh điển, Thái Ất là tôn thần của Thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh, đói rét, bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn.

    Theo sử sách ghi rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm học Nho, Y, Lý, Số từ thầy dạy là cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Cụ Lương Đắc Bằng là người nổi tiếng văn chương quán thế, từng được đi sứ sang nhà Minh, và cụ đã học được sách Thái Ất Thần Kinh của Trung Hoa.

    Tuy nhiên ở đây cung cấp thêm một chi tiết nữa về sách Thái Ất Thần Kinh do thầy Bửu Sơn Kỳ Hương giao cho Hoàng Đình Ái tìm người xứng đáng của nước Nam trao lại. Hoàng Đình Ái đã gặp và trao bộ sách này cho Nguyễn Bỉnh Khiêm để tỏ lòng qúy mến và kết nghĩa huynh đệ. Đây là sách bảo bối gia truyền của gia đình Hoàng Đình Ái, được mang từ Trung Hoa sang. Bộ sách đã giúp ích cho Nguyễn Bỉnh Khiêm rất nhiều sau này, mà có lẽ Sấm Trạng Trình do ông biên soạn cũng bắt đầu từ đây.

    23. Quy ninh: hồi gia.

    24. Ma ha: cõi Phật.

    25. Tây an: Tây phương, Tây Thiên Trúc, ý nói quê hương của Phật.

    26: Tiền khiên túc trái: oan trái, món nợ kiếp trước.

    27. Bạch sĩ: Tu sĩ của Bạch Vân Am, tức Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    28. Bá niên tiền hậu: sách Thái Ất giúp biết được sự việc xảy ra trước và sau 100 năm.

    29. Thiên cơ: ý của Trời.

    30. Lục thông: 6 căn trong kinh Phật: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi đã chế ngự 6 căn không bị ô nhiễm, tâm sẽ không động, không vọng tưởng. Lục Thông (6 phép thần thông) bao gồm:
    - Thiên nhãn thông (nhìn không bị trở ngại bởi khoảng cách)
    - Thiên Nhĩ Thông (nghe được mọi âm thanh trên thế gian)
    - Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)
    - Thần túc thông (khả năng biết được căn, kiếp của mình và người khác)
    - Thần cảnh thông (khả năng xuất hồn vào mọi cảnh giới)
    - Lậu tận thông (khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối)

    31. Sấm Trạng: sấm do Trạng Trình viết. Sấm, hay sấm ký là sách ghi chép những lời tiên tri sẽ xảy ra trong tương lai. Sấm Trạng Trình còn lưu giữ hiện nay có 488 câu thơ.

    32. Hạ san: xuống núi. Ý nói từ cõi Phật Tiên xuống cõi trần gian.

    33. Thánh Hoàng: vua Mạc.

  15. #35

    Mặc định

    ĐÁM CƯỚI TRỊNH TÙNG - PHẠM BẢO CHÂU

    Đoạn này nhắc chuyện binh rồng
    Của Vua Trang Tông (1) đóng trong núi rừng.
    Trịnh Kiểm (2) thì quá lẫy lừng
    Phu nhân Ngọc Bảo (3) mắt gừng nhỏ sa
    Lo cho em dại cha già
    5770. Chồng ta thâu hết binh gia quyền hành
    Đang ngồi than thở buồn tanh
    Quân đem trình diện một nhành mẫu đơn:
    Tiền đường (4) truyền lệnh phu nhân
    Phải coi thang thuốc mỹ nhân nhành vàng (5)
    Cô đây em vợ Nguyễn Hoàng (6)
    Là dâu Binh Bộ, vợ chàng Tùng nhi (7).
    Ngọc Bảo xem thấy thế ni
    Hỏi quân nàng ấy bệnh chi dẫn vào?
    Quân rằng: nàng chẳng ốm đau
    5780. Có điều nàng nói tầm phào mà thôi
    Lại thêm võ nghệ vô hồi
    Đánh thoi công tử mồ hôi dầm mình
    Ông truyền đem đến hậu dinh
    Cho bà săn sóc tận tình thuốc thang,
    Bảo Châu tên thật của nàng
    Con quan Ngự sử Cung Hoàng <8> vua xưa.
    Bảo rằng: quá đẩy quá đưa
    Cha con nhà Trịnh mây mưa cả ngày
    Gặp gái thì lại mê say!
    5790. Nói rồi bước lại nhìn ngay mặt nàng
    Thiệt là thục nữ đoan trang
    Rất nên lá ngọc nhành vàng chẳng ngoa
    Nghĩ rồi bước lại hỏi qua:
    Xin nàng nói thật cho ta rõ lòng
    Mặt nàng hai má ửng hồng
    Lưỡng quyền đầy đặn, mày cong răng ngà
    Có điều trái ý chăng mà
    Hãy phân cho rõ mà ta lượng tình.
    Bảo Châu liếc mắt ngó nhìn
    5800. Bà này hiền hậu gẫm tình cũng thương
    Nên nàng kể rõ đoạn trường
    Việc nhà việc nước còn đang luận bàn
    Bảo Ngọc (9) bá phụ lo toan
    Gả tôi cho kẻ họ Hoàng (10) rồi đa
    Ỷ quyền cụ Trịnh lão gia
    Bắt tôi kết nghĩa với nhà Trịnh đây,
    Tôi cuồng nên phải làm ngây
    Đánh cho họ Trịnh nát thây một lần
    Không gì phiền đến phu nhân
    5810. Chẳng điều chi lạ bà cần hỏi tra.
    Ngọc Bảo rằng: lệnh lão gia
    Bảo ta thang thuốc cho mà nàng đây!
    Bảo Châu rằng: thật lạ này
    Tôi không có bệnh vào đây làm phiền
    Ngọc Bảo rằng: hỡi nữ hiền
    Ở đây nàng dạy đường quyền cho ta,
    Dối rằng nàng bệnh nặng a
    Con ta lại với chồng ta biết nào!
    Bảo Châu đến chốn phòng đào
    5820. Ngọc Bảo nhỏ nhẹ cùng nhau luận bàn.
    Trịnh Kiểm vào chốn hậu đàng
    Mới kêu Ngọc Bảo trao vàng mười thoi,
    Phu nhân hãy khá chăm coi
    Bệnh tình Phạm thị (11) có đòi điều chi
    Phu nhân hãy khá nương tùy
    Xem như con đẻ của thì nhà ta.
    Nói rồi ông mới lui ra
    Ngọc Bảo vui vẻ cười xòa hân hoan
    Khi không mà được bạc vàng
    5830. Cất vào làm của tư trang mà dùng.
    Ba hôm bà gọi Trịnh Tùng
    Đến cho bà hỏi thủy chung sự tình,
    Nghe lời Tùng đến hậu dinh
    Con thưa kế mẫu (12) nghiệm tình xót thương
    Mấy hôm bệnh của Phạm nương
    Con nhờ kế mẫu nghĩ thương nuôi nàng!
    Ngọc Bảo rằng: hỡi con ngoan
    Nghe lời dì dạy lo toan ngày ngày
    Con nên vui vẻ hăng say
    5840. Luyện binh dợt võ kẻo tay quên đường (13)
    Dì lo nuôi dưỡng Châu nương
    Khi nào Châu mạnh lo đường cưới xin
    Con đừng lo lắng nhọc mình
    Để dì chăm sóc nhiệt tình cho con.
    Nói mà bà lại cười dòn
    Trịnh Tùng cúi lạy rằng con mến dì!
    Lui hài ra trước môn nhi
    Vui đùa em dại của dì mới sanh.
    Bảo Châu lòng dạ hiền lành
    5850. Dạy cho Ngọc Bảo học rành võ môn
    Đường quyền đường kiếm truy hồn
    Cung tên cũng dạy đủ môn của mình.
    Châu rằng: nghiệp võ phân minh
    Tôi thầy bà phải nhận nhìn sư nương!
    Ngọc Bảo rằng: thật đáng thương
    Ngại chi cái tiếng sư nương chẳng dùng,
    Sau nên duyên với Trịnh Tùng
    Chức sư nương ấy chắc dùng ít khi!
    Nói rồi đồng thảy cười khì
    5860. Ngọc Bảo võ nghệ nàng thì lão thông.
    Tiền quân thưa lại với chồng
    Nay Châu thiệt mạnh tướng công cho về
    Hay là giữ mãi phòng huê
    Còn ngày hôn phối định về hôm nao?
    Trịnh Kiểm rằng: chẳng có sao
    Đưa về nhạc phụ (14) hôm sau rước nàng,
    Tâu Vua cưới phứt cho an
    Tính xong họ Trịnh đưa nàng sang dinh.
    Thấy Châu, Thế Thượng phân minh:
    5870. Mai này là lễ thân nghinh em à
    Em nên nhớ kỹ lời ta
    Khi về với Trịnh hiền hòa mà thôi,
    Chẳng nên khua tách ném nồi
    Cũng không ăn ngả nằm ngồi nhớ chăng!
    Phải nói thì nói rõ căn
    Phải cười nhích miệng mím răng được rồi
    Phải cơn buồn bã than ôi
    Gặp người ta phải đứng ngồi như nhiên
    Đừng khi đứng ngả ngồi nghiêng
    5880. Đừng vui vui đến buồn điên hại mình,
    Những lời chị dạy đinh ninh
    Em nên nhớ kỹ mà gìn lấy thân
    Không nên nhắc nhở tình nhân
    Nhà chồng lưu ý hại thân liễu bồ (16)
    Phải phô từ tốn mà phô (17)
    Em đừng ngang dọc hồ đồ nói đon
    Nếu về vui với chồng con
    Đừng quên sông núi nước non biên thùy,
    Mấy lời chị dạy nhớ ghi
    5890. Trăm năm phải giữ cho y lời vàng
    Em đừng có thói dọc ngang
    Nhà chồng sai khiến khá toan vâng lời
    Dù em thấu chín tầng trời
    Có chồng em phải nghe lời mụ gia <18>.
    Bảo Châu dạ dạ lui ra,
    Bảo Ngọc nước mắt chan hòa nói ngay:
    Lão chờ cho đến ngày mai
    Trịnh Tùng đến rước nội ngày cho xong,
    Lão đây lòng vẫn nhớ mong
    5900. Sao Hoàng Đình Ái (19) đi không thấy về
    Hay là nó đã ủ ê
    Một mình nhẹ gót đi về nơi đâu?
    Đi cho khỏi nhớ Bảo Châu
    Vì lời của lão hại sầu hùng anh,
    Nguyễn Kim (20) ngài hãy lòng lành
    Đừng nghi Đình Ái về thành Thăng Long!
    Kim rằng: này hỡi thân ông
    Tôi đà am hiểu cõi lòng nam nhi
    Thuở tôi còn phải đang thì
    5910. Lắm lần luyến ái nữ nhi mà phiền,
    Ông kêu Trịnh Kiểm nói liền:
    Vì cha nghĩa tế (21) lương hiền thứ tha
    Đình Ái là kẻ văn hoa
    Chẳng thông nghiệp võ con nhà khá thương
    Nay vì đánh mất Châu nương
    Trịnh Tùng dành lại Ái nhường bỏ đi,
    Cha già còn sống vĩnh vi
    Thì Hoàng Đình Ái chuyện gì có cha
    Khi cha tuổi hạc về già
    5920. Nghĩa tế nên nhớ lời cha dạy truyền
    Ái nhiều văn tự lược biên
    Con cần Đình Ái giữ truyền văn quan.
    Trịnh Kiểm rằng: chớ lo toan
    Con không có ngại họ Hoàng chi chi
    Hoàng về trọng khách thượng ty
    Chức nào ngôi nấy để y cho nguời.
    Nói rồi cả thảy vui cười
    Trịnh Kiểm bày tiệc rước người Bảo Châu
    Đem Châu về chốn ngọc lầu
    5930. Bốn tên lính gác, nữ hầu mười con
    Trịnh Tùng vui vẻ cười dòn
    Cha con Trịnh Kiểm vui còn chi qua:
    Đình Ái thua cuộc Trịnh gia
    Phen này chết trẻ chẳng già được đâu
    Để ta truyền tướng quân hầu
    Tầm Hoàng Đình Ái rước âu người về
    Về đây ta cứ ngỏa nguê
    Tiệc mời chè chén vỗ về ngọt ngon
    Để cho nó chết dần mòn
    5940. Người tình đứng đó cách hòn Trường sơn!
    Bảo Ngọc mới nói thiệt hơn:
    Hai cháu của lão nên duyên vợ chồng
    Lão già gối mỏi lưng cong
    Muốn vui non núi thong dong chuỗi ngày
    Vậy thì các cháu vui say
    Tập rèn văn võ chờ ngày khởi binh
    Nói rồi ông mới thượng trình
    Ra đi chỉ có một mình khá thương.
    Lần hồi tới tỉnh Hải Dương
    5950. Bờ gành sóng vỗ trên rừng núi cao
    Lần đi quanh quẩn lần vào
    Bạch Vân Am (22) vốn từ nào tới nay
    Bảo Ngọc nghe vị hương bay
    Nên vào quỳ lạy Phật đài chứng minh
    Bạch sĩ (23) ông liếc mắt nhìn
    Biết là Lễ Bộ trào đình Lê gia,
    Vội vàng gọi tiểu pha trà
    Tiểu liền dâng đến khách liền lạy xong.
    Bạch sĩ mới gọi Phạm ông:
    5960. Nay vui mây nước thong dong am tiền
    Mời ông dùng chén trà chuyên
    Trà này quả táo bạch liên (24) cụ à!
    Bảo Ngọc ông mới nói ra:
    Tại sao tu sĩ biết ta họ này?
    Bạch sĩ mới nói như vầy:
    Lục thông (25) tôi đã đủ đầy rồi ông,
    Tôi tu đà đắc lục thông
    Nên tôi mới biết Phạm ông đã vào,
    Tôi là quan của Mạc trào
    5970. Đại thần quan cả có nào thấp đâu
    Thương dân trăm họ ưu sầu
    Từ quan bỏ chức công hầu đi tu,
    Nay mà mừng cụ nhàn du
    Vào đây mời cụ cùng tu một nhà
    Cụ nay tuổi hạc đã già
    Cụ nhìn đất nước cụ mà nghĩ sao?
    Cụ xem Lê Chúa Mạc Trào
    Cụ phò cụ đánh bên nào giờ đây?
    Phò Lê diệt Mạc thế này
    5980. Cũng là hao tổn muôn bầy con dân,
    Diệt Lê phò Mạc an phần
    Cũng hao xương máu muôn dân cụ à,
    Đao binh khói lửa can qua
    Cũng con Hồng Lạc cũng nhà Lạc Long,
    Gọi là nâng đỡ non sông
    Gọi là cứu giống cứu giòng dân ta
    Cứ gây đồ thán can qua
    Hại thêm chớ có cứu mà được ai?
    Núi xương sông máu gây hoài
    5990. Biết năm biết thuở biết ngày nào thôi
    Nên buồn cho phận của tôi
    Phải tu dứt nghiệp luân hồi cụ a,
    Uổng cho huyết mẹ tinh cha
    Sanh con mong có tài ba mà nhờ
    Con rành chiến lược binh thơ
    Ngỡ đi chém tướng đoạt cờ chư bang,
    Nào hay cũng giống da vàng
    Cũng chung một mối giang san khác gì
    Thế mà luôn mãi ra uy
    6000. Tranh quyền tranh của giết thì lẫn nhau,
    Làm cho đổ giọt máu đào
    Con dân yếu thế phải vào lính phu
    Thương cho dân dại dân ngu
    Cũng thân xác thịt tạc thù cố nhân
    Thế mà kẻ mạnh cầm quân
    Bắt đi ra trận đem thân vùi bùn
    Sang vinh thế lực thung dung
    Về cho ai hưởng mạng cùng dân đen,
    Tôi đà suy nghĩ nhiều phen
    6010. Phải tu giải thoát thân hèn còn hơn
    May nhờ gặp Đức Bửu Sơn (26)
    Dạy cho tôi rõ huyền cơ diệu huyền.
    Bảo Ngọc rằng lão ngạc nhiên
    Quốc Công (27) lớn chức cao quyền văn quan
    Còn về ẩn dật lâm san
    Huống chi là lão chẳng toan thân già
    Lão xin nương náu cửa Đà <28>
    Định thuyền Bát Nhã Ma Ha (29) tịnh lòng

  16. #36

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Vua Trang Tông: vua Lê Trang Tông (1515-1548), tên thật là Lê Duy Ninh, con vua Lê Chiêu Tông. Năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), chuẩn bị chiêu quân mãi mã đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

    2. Trịnh Kiểm (1503–1570): là người có tài cầm quân đánh trận, được Nguyễn Kim gả con gái là tiểu thơ Ngọc Bảo và giao cho Trịnh Kiểm nhiều trọng trách. Về sau, trở thành người đầu tiên lập nên các dòng Chúa Trịnh, thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh.

    3. Ngọc Bảo: con gái đầu lòng của Nguyễn Kim, vợ của Trịnh Kiểm.

    4. Tiền đường: Trịnh Kiểm.

    5. Mỹ nhân nhành vàng: tiểu thơ Phạm Bảo Châu, em gái Phạm Thế Thượng. Phạm Thế Thượng là vợ của Nguyễn Hoàng.

    6. Nguyễn Hoàng (1525–1613): con trai thứ của Nguyễn Kim. Về sau trở thành người đầu tiên của chín dòng Chúa Nguyễn.

    7. Tùng nhi: Trịnh Tùng (1550-1623): con thứ của Trịnh Kiểm.

    8. Cung Hoàng: vua Lê Cung Hoàng (1507-1527), tên thật là Lê Xuân, là vua thứ 11 nhà Hậu Lê, lên ngôi từ 1522 đến 1527.

    9. Bảo Ngọc: quan Phạm Bảo Ngọc.

    10. Họ Hoàng: Hoàng Đình Ái. Trước đây quan Phạm Bảo Ngọc hứa sẽ gả tiểu thư Phạm Bảo Châu cho Hoàng Đình Ái. Sau đó Trịnh Kiểm ép gả cho con trai mình là Trịnh Tùng.

    11. Phạm thị: tiểu thơ Phạm Bảo Châu.

    12. Trịnh Kiểm đã có 2 vợ trước, sinh ra Trịnh Cối và Trịnh Tùng. Vợ thứ ba là Ngọc Bảo, con gái của Nguyễn Kim.

    13. Ý nói quên đường kiếm, đường quyền.

    14. Nhạc phụ: Nguyễn Kim, cha vợ Trịnh Kiểm.

    15. Thế Thượng: Phạm Thế Thượng, chị gái Phạm Bảo Châu.

    16. Thân liễu bồ: thân cây liễu bồ, hay cây bồ liễu, rất mềm, dễ uốn, chỉ người con gái mảnh mai, chân yếu tay mềm.

    17. Phô: giải thích, phát biểu ý kiến.

    18. Mụ gia: mẹ chồng.

    19. Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    20. Nguyễn Kim (1468-1545), tướng giỏi nhà Hậu Lê, giúp vua Lê chống lại nhà Mạc. Năm 1533 Nguyễn Kim xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), phò vua Lê Trang Tông. Nguyễn Kim được vua phong làm Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự, chức quan cao nhất. Nguyễn Kim về sau được coi là thủy tổ của chín đời Chúa Nguyễn, nhà Nguyễn truy tôn ông là Triệu tổ Tĩnh hoàng đế.

    21. Nghĩa tế: cách Nguyễn Kim gọi Trịnh Kiểm.

    22. Bạch Vân Am: Sau khi cáo quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật.

    23. Bạch sĩ: tu sĩ của Bạch Vân Am, tức Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    24. Trà thành phần chính là Bạch Liên Thảo, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kháng viêm, có ngâm thêm Táo Tầu, có vị ngọt, tác dụng an thần.

    25. Lục thông: 6 phép thần thông bao gồm:
    - Thiên nhãn thông (nhìn không bị trở ngại bởi khoảng cách)
    - Thiên Nhĩ Thông (nghe được mọi âm thanh trên thế gian)
    - Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)
    - Thần túc thông (khả năng biết được căn, kiếp của mình và người khác)
    - Thần cảnh thông (khả năng xuất hồn vào mọi cảnh giới)
    - Lậu tận thông (khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối)

    26. Đức Bửu Sơn: thầy tu Bửu Sơn Kỳ Hương, là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã được khai sinh ở vùng Ðông Nam Á từ thế kỷ thứ XVI trở đi. Bửu Sơn Kỳ Hương dùng một số giáo lý của Phật giáo, nhưng không phải là một tông phái của Phật giáo.

    27. Quốc Công: tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    28. Cửa Đà: cửa Phật.

    29. Thuyền Bát Nhã: chặng cuối đường sang Tây Thiên Trúc, Ðường Tăng được hóa thân Phật dùng chiếc thuyền Bát Nhã (không đáy) chở qua sông mê đến bờ bên kia của Phật cảnh. Trong Phật Pháp, Chánh pháp được ví như chiếc thuyền Bát nhã chở chúng sinh qua khỏi bến mê.

  17. #37

    Mặc định

    OANH VÀNG CHÉM ĐẦU THỪA TƯỚNG LÝ HÙNG

    Nhắc qua triều nội Thăng Long
    6020. Đình Ái (1) về đến Đền Rồng (2) tâu qua:
    Muôn tâu Bệ Hạ như hà
    Bỉnh Khiêm (3) nay đã đắc mà Lục thông (4)
    Người như một vị Tiên ông
    Sự trần muôn việc người không ưu phiền,
    Thần đi muôn dặm sơn xuyên
    Bạch Vân cư sĩ (5) tại miền Hải Dương
    Thần vào bái lạy dâng hương
    Thần trình chiếu lệnh Quân vương triệu về
    Bỉnh Khiêm rằng: tứ khổ đề
    6030. Sanh lão bệnh tử nặng nề khổ lao
    Dù cho vàng tủ bạc bao
    Đến khi luân chuyển ai nào thoát qua
    Huống chi sống giữa trào ca (6)
    Lê Trào Mạc Chúa luôn mà hăm he
    Mạng người manh tợ chỉ the
    Có thân nên mới dặt dè lo thân,
    Bận chi chồng vợ quân thần
    Chung quy rồi cũng đem thân xuống mồ
    Khó mà uống nước Cam Lồ (7)
    6040. Nên tôi đã quyết Nam mô tịnh thiền,
    Xin ngài về chốn Bệ tiền <8>
    Tâu cho Vua hiểu sự duyên mới là:
    Tu thì tu ở xứ xa
    Tu trong thành nội khó mà công phu
    Vợ đây Vua đấy lu bù
    Chuyện to chuyện nhỏ mịt mù phủ giăng
    Tối ngày trăm việc lăng xăng
    Không làm việc Phật sao ăn lộc Trời,
    Nếu lo luôn tạo thế thời
    6050. Mà người cõi tạm muôn đời chuyển quay
    Lợi danh phú quý sắc tài
    Mà muôn ngàn kế đắm say cõi trần,
    Lên quay chẳng biết mấy lần
    Khi thư sinh lại đến thân về già
    Nào con nào vợ cửa nhà
    Đói no muôn mặt lo mà hơn thua,
    Chẳng khi công quả nhà chùa
    Chẳng Kinh Bát Nhã (9) chẳng mà hương linh
    Có thần ngũ uẩn (10) bên mình
    6060. Tam bành (11) lục tặc (12) lại kình võ văn,
    Không giờ niệm Phật trừ căn
    Quanh năm lo uống lo ăn mà đần
    Chẳng xem Kinh Phật Kinh Thần
    Đêm lo ngủ sớm sáng mần việc tư,
    Không giờ rảnh rỗi chân như
    Niệm Kinh Bát Nhã thuyền từ Ma ha (13)
    Đến khi tuổi lớn sức già
    Lãnh trăm thứ bệnh khóc la mủi lòng,
    Cầu đời cao tổ cha ông
    6070. Về mà cứu rỗi cứu không nổi nào!
    Trần là sóng gió ba đào (14)
    Quyết tầm cho được động đào thiên thai (15)
    Lòng không vướng nợ trần ai,
    Thần nghe Khiêm nói trở quày kinh đô
    Về trào quỳ xuống tâu vô
    Muôn tâu bệ hạ chuyện mô như hà!
    Chúa Mạc (16) nghe tấu thở ra
    Lòng người đã quyết khó mà về kinh.
    Truyền cho năm ả (17) trong dinh
    6080. Đến trào nghe rõ sự tình Trạng Nguyên <18>.
    Năm nàng vào đến Bệ tiền
    Quỳ nghe Chúa Mạc phán liền rõ ra:
    Thái Uý (19) người đã bôn ba
    Hải dương vừa đến gặp mà Quốc Công (20)
    Nhưng người đã quyết gìn lòng
    Tu cho thoát kiếp thoát vòng bể mê,
    Trào ca người chẳng chịu về
    Trẫm khuyên Ngự muội (21) vẹn bề chi giao,
    Chồng đi giải nợ trần lao
    6090. Vợ nhà năm ả cùng nhau thuận hòa,
    Nhang đèn cầu Phật Di Đà
    Độ cho phu tướng Phật Đà được lên
    Chớ đừng tranh cạnh hớ hênh
    Nhơ danh mà chẳng có nên việc gì,
    Chồng nhà đã quyết tu trì
    Các nàng cũng phải nhu mì mới ngoan.
    Bốn bà tâu giữa đền vàng:
    Muôn tâu Bệ hạ nghiêm toàn sâu xa,
    Đình Ái đủ cách điêu ngoa
    6100. Sợ người chẳng có đi mà tới đâu
    Cứ ngồi dinh thự ngọc lầu
    Ít lâu rồi lại vào tâu những lời,
    Lẽ nào có chiếu ngôi Trời (22)
    Mà chồng thần thiếp cãi lời Bệ giai (23)
    Dù cho thần thánh cõi ngoài
    Vào đây cũng phải phục rày Hoàng gia,
    Chồng thiếp dù ở bao xa
    Nếu mà thấy chiếu Vua cho triệu hồi
    Cũng làm tròn phận con tôi
    6110. Dù xa mấy nước cũng hồi triều nghi
    Huống hồ ở Hải Dương ni
    Mà chồng của thiếp chẳng thì quy lai!
    Muôn tâu bệ hạ xét rày
    Thiếp e Đình Ái lòng ngài tà gian
    Tình riêng đã mến Oanh Vàng
    Lúc nào cũng thấy hai đàng thân thương
    Thiếp đà nhìn thấy quá thường
    Hôm nay Đình Ái toan đường nói ma
    Muốn chồng thiếp mãi đi xa
    6120. Để cho Ái dễ lân la ra vào!
    Lý Hùng thừa tướng Mạc trào
    Liền quỳ tâu giúp trước sau như vầy:
    Hạ thần xét nghĩ việc này
    Bốn vì mệnh phụ tâu đây đã nhầm,
    Thái Uý chẳng có đi tầm
    Kiếm điều nói nhảm mưu thâm việc gì!
    Thật ngài đã đến am ni
    Quận Công mà quyết tu trì chung thân
    Phải dâng sớ đến trào thần
    6130. Không về cũng phải nạp phần sớ văn,
    Lòng riêng Ái chẳng nhi nhăng
    Thì lời của Ái nói năng chỉnh tề,
    Ái rành biện thuyết chỉnh tề
    Tôi nghe cũng mến cũng mê văn hào,
    Ái nhiều văn nói thanh tao
    Như đường như mật rót vào chẳng sai
    Vừa thanh vừa lịch vừa tài
    Lời văn như thể điểm tay tỳ bà,
    Lời Ái nhích miệng thốt ra
    6140. Nhạn nghe cũng phải bay qua nghiêng mình
    Cá sông nghe Ái thuyết trình
    Cũng lờ đờ nổi nghiêng mình nhớ mong,
    Huống chi là Nguyễn Quốc Công (24)
    Những lời Ái tấu Bệ rồng đừng nghe!
    Kính Điển (25) mới nói nè nè:
    Ông làm thừa tướng nói nghe lạ kỳ!
    Hay là ông cũng ngại nghi
    Đình Ái, Ngọc Điệp (26) có chi tư tình!
    Ghét người rồi luận vô minh
    6150. Làm quan mực thước công bình nghe ông
    Làm quan đừng có quẹo cong
    Chức làm thừa tướng mà lòng còn đen,
    Nói nghe sao quá thấp hèn
    Nước trong dù chẳng lóng phèn vẫn trong
    Những người đen tối như ông
    Lọc muôn ngàn bận mà lòng còn nhơ!
    Tôi quen chém tướng đoạt cờ
    Tiền trảm hậu tấu vẫn hờ bên lưng
    Làm quan bẩm tấu lẽ ưng
    6160. Cứ điều mực thước chớ đừng vị ai,
    Nói thì lựa những chuyện hay
    Chớ đừng nói nhảm nhiều tai nghe vào
    Người chê ăn nói tầm phào
    Giữ gìn lẽ phải luật trào chí công,
    Những lời thưa thốt như ông
    Làm cho Thái Uý đầu không liền mình
    Tại đây là giữa trào đình
    Luật Vua phép nước vị tình chi ai,
    Chiếu theo ý kiến của ngài
    6170. Thì là Đình Ái tội rày khi quân (27)
    Oanh Vàng <28> cũng bị luật trừng
    Cả hai đều có mạng quân chỉ truyền,
    Chẳng qua năm vợ Trạng Nguyên
    Ghen tuông là việc thường xuyên đàn bà,
    Oanh Vàng giòng dõi Hoàng gia
    Luật Vua phép nước giữ mà trong tay
    Lẽ nào làm chuyện sái sai
    Lấy lý làm sự cũng hay mỗi người
    Thừa tướng trên cả muôn người
    6180. Những điều vô lý dễ ngươi đừng bàn,
    Bỉnh Khiêm hồi ở trào đàng (29)
    Muốn đi ẩn dật từ quan tu hành
    Lòng người đã giữ tín thành
    Quyết về cõi Phật tử sanh thoát vòng,
    Ra đi chẳng tấu Bệ rồng
    Đi rồi vợ mới tâu hòng Vua hay
    Huống chi ra tận cõi ngoài
    Sớ văn đâu nữa mà bày lễ nghi,
    Lòng người đã quyết tu trì
    6190. Thì người nào có cần gì sớ văn,
    Phải Vua sai Trạng đi phăng (30)
    Đem binh ra ải chống ngăn giặc loàn
    Dù cho thắng thối lưỡng nan
    Thì dâng sớ tấu Thánh Hoàng biết hay,
    Đàng này người bỏ cân đai
    Đi tu tức phải kẻ ngoài thường dân
    Phải đâu là bậc đại thần
    Đã dân thì có nào cần sớ tâu,
    Nói cho chánh lý nhầm câu
    6200. Cái ấn công hầu trả lại cho Vua
    Nay vào am cốc miếu chùa
    Tức là dân dại quê mùa nhà chay
    Nếu mà lược tự văn bài
    Ấn đâu đóng dấu vâng rày cho Vua!
    Đã không tâu cáo hơn thua
    Thừa tướng còn nói chát chua lắm điều
    Phải dâng sớ đến giữa triều
    Vua xem không ấn lại nhiều tội thêm
    Tội là mạo tấu lỗi niềm
    6210. Phải gây ra lắm thù hiềm lẫn nhau (31).
    Thượng Hoàng (32) nghe rõ trước sau
    Trách rằng: văn võ trong trào bất minh
    Lý Hùng ngươi quá vô tình
    Đã làm Thừa Tướng vô minh dại tà,
    Lão xin đình việc đuốc hoa
    Hẹn ba năm nữa sẽ mà định hôn,
    Lão khuyên Thừa Tướng giữ hồn
    Nếu còn vía dại hồn khôn đủ đầy
    Thì là cưới cháu lão đây
    6220. Nếu hồn đi mất cái thây như sình!
    Chuyện nào luôn mãi bất minh
    Làm cho văn võ triều đình mỉa mai
    Cháu lão là gái khôi hài (33)
    Lấy chồng đúng kẻ trí tài mới ngoan
    Thứ đồ ăn bẩn quanh nhà
    Chi sao khỏi miệng gần xa xiểm dèm,
    Chuyện nào cũng chẳng nhìn xem
    Bất minh bất chánh ai thèm ngươi đâu!
    Đình Ái mưa nắng dãi dầu
    6230. Vàng ròng mười nén đáp hầu công lao
    Oanh Vàng con lão ngôi cao
    Chồng đi vắng vẻ trước sau một mình,
    Bốn nàng này quá bất minh
    Cứ theo bím nhẻ (34) quanh mình con ta
    Vương nhi sao chẳng đuổi ra
    Để cho bẩn mắt trào ca Mạc triều,
    Tối ngày làm quỷ làm yêu
    Mấy trăng đã bận cả triều tính toan,
    Cả trào đồng thảy Vua quan
    6240. Mà lo cái chuyện năm nàng phu nhân
    Nhộn nhàng trước án Bệ đơn (35)
    Cũng vì bốn đứa a hoàn (36) mà ra,
    Nay vào tâu Chúa hê ha
    Mai vào khải Chúa việc nhà lăng nhăng
    Ngày nào cũng có lăng xăng
    Không này thì nọ loằng quằng luôn luôn,
    Làm cho văn võ lo buồn
    Lão xem hằng mấy tấn tuồng rồi đa!
    Vương nhi (37) ngồi ngự trào ca
    6250. Để lo cái chuyện năm bà vợ quan
    Hay là ngồi ngự ngai vàng
    Lo cho xã tắc vững an cõi bờ
    Xua quân tiến tướng phất cờ
    Xây thành đoạt lũy ngăn ngừa loạn xâm!
    Nếu lo mấy ả ngàn năm
    Chúa tôi bay cứ để tâm mà phò
    Còn như xã tắc cần lo
    Bêu đầu bốn ả trị cho an nhà,
    Có đâu trước án trước tòa
    6260. Khi nào lão ngự cũng là có tâu
    Chẳng này thì nọ đủ câu
    Vương nhi sao chẳng bêu đầu lũ ma!
    Oanh Vàng lão chẳng sinh ra
    Lão xem chẳng khác ngọc ngà báu châu
    Nếu ai sanh sự u sầu
    Vương nhi tức khắc bêu đầu cho ta!
    Con cưng Hoàng Thượng Mạc tòa <38>
    Có một Công Chúa chẳng mà được hai
    Lão sanh chỉ có ba trai
    6270. Công nương là gái hậu lai nối giòng
    Vương nhi là thứ cuồng ngông
    Hãy mau cúi trước Bệ Rồng Long Ngai,
    Võ đao (39) bay hãy ra tay
    Chập bì (40) đem lại trị rày Vương nhi
    Quân đem roi đến tức thì
    Vương nhi quỳ xuống nằm ì êm re.
    Thượng Hoàng mới nói đây nè
    Đánh hai trăm trượng răn đe luật nhà
    Làm Vua quanh quẩn đàn bà
    6280. Vợ người còn vậy huống là các cung!
    Oanh Vàng nghe lệnh hãi hùng
    Hai trăm roi đủ ắt chung xuống mồ.
    Lại gần Hoàng Thượng tâu vô:
    Tâu Hoàng Thái Thượng chuyện mô như hà
    Vì con lắm chuyện môn nha
    Hoàng huynh con phải tội mà đáng thương
    Muôn tâu Thái Thượng Phụ vương
    Thương con Hoàng Thượng mở đường nhiêu sanh
    Con xin chịu tội thế anh
    6290. Nói rồi cúi xuống lẹ lanh giữa trào.
    Thượng Hoàng xem thấy lòng đau
    Thật con gái lão quý cao tuyệt vời!
    Phán xong đỡ dậy tức thời
    Con cưng của lão ngồi chơi đi nào!
    Nắm tay Công Chúa kéo vào
    Ông nhìn chim phụng bạc màu xấu xa
    Liền tay ông lấy cành thoa
    Hai con chim phụng như mà muốn bay.
    Thượng Hoàng ông mới hỏi rày:
    6300. Vật này của Trạng bảo cài đầu con
    Hay là vật của cung son
    Nói cho lão biết vật con đang dùng
    Tay chân không nhẫn lạ lùng
    Cổ không chuỗi ngọc áo dùng vải thô,
    Nắm chân Công Chúa ông phô
    Chân đi hài lụa là đồ thường dân
    Ống quần rách chí gối chân
    Sao con gái lão cơ bần thế ni!
    Tội này là của Vương nhi
    6310. Vương nhi mù mắt thấy chi đâu là
    Bấy lâu con gái của già
    Cơ hàn đến nỗi lão mà không hay,
    Cha thì Hoàng Thượng sang thay
    Anh thì Chúa tể đền đài sang vinh
    Biết bao châu báu bên mình
    Mà thân Công Chúa khổ hình hàn vi.
    Nói mà ông khóc li bì
    Thiệt là cái tội Vương nhi quá nhiều
    Em vầy mà chẳng cưng chiều
    6320. Phải chi lão có lắm nhiều gái ngoan
    Vương nhi chẳng có ngó ngàng
    Này là có một Oanh Vàng mà thôi!
    Võ văn nhìn kỹ một hồi
    Mới hay Ngự muội lôi thôi má hồng
    Phấn son dồi điểm cũng không
    Trơn tru chẳng có vàng vòng chi đa,
    Áo thì vá bảy vá ba
    Quần thì lằn một vậy mà lằn hai.
    Thượng Hoàng hột lụy chảy dài
    6330. Bá quan xúc động cúi mày lụy rơi
    Vẫn trông nàng đẹp tuyệt vời
    Sắc nước hương trời chói mắt bá quan.
    Bỗng dưng nghe lệnh Thượng Hoàng
    Vương nhi có tội phũ phàng tông gia
    Đánh năm trăm trượng chẳng tha
    Hai trăm trượng trước cộng là bảy trăm!
    Oanh Vàng nước mắt tuôn dầm
    Thượng Hoàng Vương Phụ mở tâm hải hà
    Rộng lòng Vương Phụ thứ tha
    6340. Tại con chớ chẳng tại mà Vương huynh
    Tại con chẳng muốn lịch xinh
    Nên không trang điểm thân hình cha ôi,
    Chồng con thì đã tu rồi
    Con còn trang điển phấn dồi mà chi!
    Hồi nào chồng vợ nương tùy
    Dọn cho chồng ngắm, chồng thì mến thương
    Có chồng xạ ướp xông hương
    Không chồng mà dọn ra đường liêu trai (41)
    Chồng con đi đã lâu ngày
    6350. Con còn dọn dẹp để ai ngắm nhìn,
    Có chồng cần dọn cho xinh
    Không chồng mình liệu thân mình chẳng ngoa
    Có chồng son điểm phấn thoa
    Dọn cho xinh đẹp chồng mà mến yêu
    Chồng thương chồng mới cưng chiều
    Tình nồng nghĩa nặng lắm nhiều ái ân
    Chồng đi ở lại một thân
    Dọn làm chi đó tủi phần phấn son,
    Ngọc ngà châu báu của con
    6360. Tư trang con vẫn để còn môn nha
    Chừng nào chàng trở lại nhà
    Thì con dọn dẹp hầu cha tức thì
    Không chồng dọn để làm chi
    Không chồng mà dọn ý gì bên trong,
    Hoàng huynh lo việc bên trong
    Lo dân bốn cõi biên phòng bằng an
    Muôn tâu Vương Phụ Thượng Hoàng
    Bảy trăm roi đủ anh tan xác hồn,
    Phụ Hoàng là Đức Chí Tôn
    6370. Ban ân xuống phước chỉ tồn cho con.
    Thượng Hoàng nghe tấu cười dòn
    Truyền tha nhưng tội vẫn còn án treo
    Vương nhi mà vẫn ong eo
    Lần sau phạm luật cứ theo gia hình,
    Nay vì Công Chúa nài xin
    Nên cha mới có niệm tình bỏ qua.
    Truyền quân vào chốn môn nha
    Trung ương phòng chánh của mà công nương
    Có rương bây cứ khiêng rương
    6380. Khuân hết chõng giường cơm áo thức ăn
    Vào đền cho lão soi căn
    Quân hầu y lệnh đi phăng tức thời.
    Vào dinh lục hết khắp nơi
    Thấy hai cái tháp nằm phơi bên phòng
    Quân đem dâng trước Bệ rồng
    Thượng Hoàng lục xét khắp trong tráp này,
    Tỳ bà thì có một cây
    Một bầu thuốc lạ đựng đầy bên trong
    Lại thêm tứ bửu văn phòng
    6390. Cơm khô một đãy, năm phong thơ vần
    Hoa quỳ là quạt Hoàng ân
    Một vuông khăn mặt, hai thân áo cầu
    Quần gian hai cái điều khâu
    Một vò rượu lạt, một bầu muối rang,
    Không hề có bạc có vàng
    Thượng Hoàng mới gọi bá quan lại nhìn
    Võ văn ai cũng cảm tình
    Thật là Công Chúa gia đình hàn vi,
    Chúa Mạc nào có hay chi
    6400. Khi nhìn tận mắt thương thì biết bao
    Thượng Hoàng ông mới phán mau:
    Công nương phạm tội lớn lao chất chồng
    Đã là lão thấy tay không
    Công nương lại tấu vàng ròng trong dinh,
    Quân đem các của ra trình
    Khác nào là của dân tình hàn vi!
    Con coi Hoàng Phụ ra chi
    Nên con tâu dối tội thì đáng chưa?
    Công nương quỳ xuống liền thưa:
    6410. Muôn tâu Hoàng Phụ con chưa tội gì
    Con là Công Chúa đơn trì
    Của kho Hoàng Phụ tức thì của con,
    Nào là điện ngọc cung son
    Kho vàng kho bạc của con tại trào
    Lụa là ngọc điểm vàng trao
    Con dân mới biết ta giàu muôn xe,
    Như con ai có nào dè
    Của cha tức thị của mà con đây
    Nên con mới tấu như vầy
    6420. Cha giàu chẳng lẽ con đây nghèo nàn!
    Con là lá ngọc nhành vàng
    Thân con cha quý hơn ngàn kho lương
    Nhất con, nhì của đã thường
    Con cha khó kiếm của thường phải chăng!
    Thượng Hoàng nghe tấu phán rằng:
    Thật là Công Chúa nói năng cao kỳ
    Cha già còn kém nghĩ suy
    Nên sai quân lục khắp thì môn nha,
    Nay nghe con tấu như hà
    6430. Mới hay mới biết con nhà khôn ngoan,
    Từ nay kho bạc kho vàng
    Con cần chi dụng sai quan nạp vào
    Con là vàng quý ngọc cao
    Của cha quý trọng Mạc trào đứng trên
    Từ nay con hãy siêng lên
    Vàng trau ngọc chuốt sắc lên hương nồng
    Có chồng hay chẳng có chồng
    Miễn là Công Chúa phải hòng dọn sang,
    Đầu cài tóc phụng bằng vàng
    6440. Con cài phụng bạc bá quan cười già,
    Mang hài nhung đỏ con a
    Con mang hài lụa như là thường dân,
    Áo quần chải chuốt vẹn phần
    Thân con là gái phải cần điểm trang.
    Chúa Mạc truyền giữa trào đàng
    Xuất kho may mặc Oanh Vàng em ta
    Một trăm manh áo lụa hoa
    Một trăm áo nhiễu quần lòa tứ xuyên
    Cành thoa chim phụng hoa tiên
    6450. Hài nhung trăm chiếc tứ xuyên hột cườm,
    Một trăm áo gấm kết cườm
    Xuyến vàng mười chiếc chạm cườm hài văn.
    Công nương quỳ xuống tâu rằng:
    Vương huynh chi phí không ngằn mau tiêu
    Em không thích mặc chi nhiều
    Thân em tạm gọi bấy nhiêu đã thừa!
    Hoàng huynh Thượng phụ thấy chưa
    Dân nghèo lam lũ cày bừa làm ăn
    Đầu trần không nón không khăn
    6460. Làm hoài mà chẳng đủ ăn ngày ngày,
    Còn ta vào các ra đài
    Quần này áo nọ hớn hài làm chi?
    Chi dùng tiện tặn thế ni
    Để dư của lại ta thì nuôi quân
    Nếu mình xa xỉ dọn chưng
    Của đâu có đủ nuôi quân biên thùy,
    Con không trang điểm chi chi
    Cũng con Hoàng Thượng em thì Hoàng huynh,
    Vào trào văn võ nào khinh
    6470. Ngự lâm Vệ uý nép mình kiêng oai,
    Bốn nàng trang điểm đẹp thay
    Phụ Hoàng muốn đuổi đi ngay khỏi trào
    Con không ngọc chuốt vàng trau
    Thượng Hoàng thương mến có nào bỏ con!
    Võ văn nghe tấu cười dòn
    Công nương lòng rộng dạ còn thương dân,
    Lòng như Chư Thánh Chư Thần
    Dạ thì rộng rãi thi ân muôn nhà.
    Chúa Mạc liền mới phán ra:
    6480. Bãi trào văn võ về trào nghỉ ngơi
    Ai về dinh nấy thảnh thơi
    Chúa Mạc mình một dạo thời các dinh,
    Chẳng có Thái giám theo mình
    Một mình thám dọ tánh tình các quan
    Giả làm tên lính trào đàng
    Thẩn thơ các cổng của quan đương trào,
    Lính hầu các cổng quan cao
    Thảy đều nể mặt lính trào bệ giai
    Chuyện nhà không hỏi mà khai
    6490. Vua nghe hết chuyện dinh này sang kia,
    Đi từ chánh ngọ đến khuya
    Canh tư gà gáy muốn về cung son.
    Thoạt nhìn một kẻ bon bon
    Đi đâu mà lại chui lòn hậu dinh
    Của quan Tiết Chế Trạng Trình
    Hay là Đình Ái vào dinh Oanh Vàng?
    Lòng Vua bỗng lại nghi nan
    Nom theo cho biết nói bàn chuyện chi
    Chậm chân mất dấu tức thì
    6500. Quẩn quanh nhìn chẳng thấy chi ngại lòng.
    Tiếng kìm văng vẳng bên trong
    Lắng nghe mới biết Ái không dạo vườn
    Tiếng kìm của Ái quá thường
    Vua liền an dạ cung chương lui hài.
    Nhưng lòng nghi hoặc đắng cay
    Lý Hùng trong tối mới rày đi ra
    Thấy tên lính đứng vườn hoa
    Ấy là Chúa Mạc, Hùng mà chưa hay
    Nên Hùng cất giọng quở ngay:
    6510. Đây không phải chỗ người rày gác đa
    Ngự lâm thì gác trào ca
    Ngự lâm sao lại đứng mà nơi đây?
    Chúa Mạc mới nói như vầy
    Tôi theo Chúa Mạc vào đây đó ngài
    Tôi là tên lính tay sai
    Còn ngài vốn thiệt quan ngài đi đâu
    Vua đang hậu điện Tiên cầu
    Tôi theo giữ Chúa đứng hầu tại đây
    Ngài quan Thừa Tướng đêm chày
    6520. Vào đây ắt có nọ này các cung?
    Nói ngay tâm sự Lý Hùng
    Lý Hùng mới nói thủy chung đuôi đầu:
    Tôi không vào chốn cung đâu
    Chỉ vào cho được ngọc lầu Nguyễn quan
    Đặng tôi đem đá thử vàng
    Cũng vì trước mắt năm nàng quá xinh
    Tôi vào ngồi ghé hậu dinh
    Chờ cho mở cửa lách mình vào trong
    Chẳng ngờ cửa cả cửa song
    6530. Cửa nào cũng đóng kín trong kín ngoài,
    Vẫn nghe chuông mõ kệ bài
    Oanh Vàng đang tụng kinh nay Niết Bàn.
    Chúa Mạc rằng: chẳng có can
    Muốn vô gõ cửa năm nàng mời vô
    Lựa là rình rập đêm mô
    Cứ vào cửa chính thẳng vô ngài à,
    Ngài làm quan chánh trào ca
    Đường đường chánh chánh chớ mà đi đêm
    Sáng này người cứ đến thềm
    6540. Dùng lời ngon ngọt mỏng mềm phân qua
    Thử xem cho biết năm bà
    Nếu ưng thỉnh chỉ Vua mà tứ hôn (42).
    Lý Hùng nghe nói mừng rơn
    Chú làm lính ngự tâm hồn quá cao,
    Để tôi núp ở vườn sau
    Sáng ngày tôi sẽ thẳng vào tư dinh.
    Nói rồi quay gót lách mình
    Chúa Mạc nhìn thấy bất bình thở ra.
    Vua liền để bước bôn ba
    6550. Vào dinh Đình Ái thử mà xem sao
    Ái nhìn thấy Chúa bước vào
    Buông đàn sóc áo bước mau ra mời
    Mừng Vua ngự giá đến chơi:
    Ban đêm Bệ hạ không ngơi sao mà
    Nay dừng áo ngự quân gia
    Có chi nghi ngại Vua mà cải trang?
    Chúa Mạc rằng: Trẫm bất an
    Một mình đêm vắng lo toan việc nhà,
    Khanh thì đêm vắng đàn ca
    6560. Quả khanh vô sự chẳng mà chi lo
    Còn Trẫm lắm chuyện đắn đo
    Vào đây Trẫm định nói cho khanh tường:
    Vừa rồi Trẫm đứng giữa đường
    Trẫm gặp Thừa Tướng trong vườn Bỉnh Khiêm
    Ra còn vẻ mặt làm nghiêm
    Nói rằng sao Trẫm đứng yên nơi này,
    Trẫm rằng Chúa Mạc đến đây
    Còn đang tiểu tiện đứng đây ta hầu,
    Lẽ thì Thừa Tướng hỏi âu
    6570. Người cùng với Chúa đi đâu giờ này
    Chẳng cần han hỏi đó đây
    Lại còn bày chuyện gió mây ngoại tình,
    Trẫm muốn theo dõi bước rình
    Ngặt vì đêm vắng một mình khó toan.
    Vào đây khanh Trẫm đồng sàng
    Đến mà xem thử đứa gian làm gì
    Sợ e có chuyện chi chi
    Nó dùng sức mạnh giết thì muội nương.
    Đình Ái tấu với Quân vương
    6580. Thần cùng bệ hạ lên đường đi ngay.
    Chúa tôi nhẹ gót như bay
    Đến dinh lính gác ngủ say như vùi.
    Lý Hùng đang lúc lui cui
    Rút then mở cửa đi xuôi vô liền
    Ái đà quen lối dinh tiền
    Dẫn Vua nhẹ gót đứng yên nơi phòng,
    Oanh Vàng đang ở lầu hồng
    Niết Bàn vẫn tụng tiếng rong đêm dài
    Bốn nàng trời sắp sáng ngày
    6590. Cùng nhau thức giấc ra ngoài điểm trang,
    Lý Hùng cản lại phân toàn
    Đi đâu một lượt bốn nàng vậy đa?
    Bốn nàng liền mới phân qua:
    Chẳng hay Thừa Tướng vô mà cửa nao?
    Lý Hùng rằng ở trên cao
    Đằng vân hạ xuống mà vào chốn đây!
    Bốn nàng mới nói như vầy:
    Ra mau kẻo để ta đây la làng,
    Ngài làm Thừa Tướng bệ vàng
    6600. Đi đâu đêm tối vào ngang chốn này?
    Lính hầu tỳ nữ không hay
    Oanh Vàng mà thấy đầu ngài phải sa,
    Oanh Vàng nó đủ tài ba
    Tôi nhìn thấy nó dạy mà tiểu nhi.
    Lý Hùng liền mới nói thì:
    Đàn bà võ nghệ có thì bao nhiêu?
    Bốn nàng rằng: võ nghệ nhiều
    Nguyên soái Mạc triều khó thắng công nương?
    Tại nàng chẳng có múa thương (43)
    6610. Ai ai cũng ngỡ gái thường hay sao?
    Quan nhà tôi có luận vào
    Bảo rằng Công Chúa lược thao đã nhuần
    Khi nào vui vẻ đình thần
    Tâu Vua phong chức tướng quân nữ tài!
    Lý Hùng rằng: chẳng có hay
    Tôi làm Thừa Tướng thì tài phải hơn
    Trước đây tôi đã ra ơn
    Quỳ mà tâu lệnh Bệ đơn giúp nàng,
    Chẳng ngờ Hoàng Thượng vô đoan
    6620. Bênh Oanh Vàng đuổi Quý nương giữa trào,
    Thấy chăng thái độ Quân vương
    Có ngày mấy ả về vườn hết đa
    Vào đây ta chỉ cho mà
    Coi ai quan lớn trào ca đương quyền,
    Ưng đi thân phận mới yên
    Không chồng lắm kẻ hại phiền ích chi
    Tôi làm Thừa Tướng trào nghi
    Ưng tôi có ích sau khi đậu đùm.
    Bốn nàng nghe nói cười um:
    6630. Tôi xin Thừa Tướng ngài dùm đi ra
    Không thì tôi sẽ ó la
    Cho Vua hay chuyện dại tà của quan!
    Thừa Tướng rằng chẳng có can
    Ta làm Thừa Tướng còn đang xuân thì
    Ưng ta hết cả năm vì
    Ta tâu Chúa Mạc hay thì nguyên nhân
    Mấy nàng có phải ấm thân
    Lại còn có kẻ ái ân giao tình,
    Hơn là gõ mõ tụng kinh
    6640. Tu chi cho uổng sắc xinh má hồng
    Bốn nàng mới nói: không không!
    Chúng tôi quyết chí thờ chồng mà thôi
    Xin ông đi phứt cho rồi
    Nữ tỳ thức dậy mau lôi gã này
    Từ đâu mà lén vào đây!
    Nữ tỳ nghe gọi xúm vây quanh mình
    Nhìn ngài Thừa Tướng đẹp xinh
    Lại thêm áo rộng mão vinh cánh chuồn
    Nữ tỳ rằng: thật dư muôn
    6650. Ông mão cánh chuồn thì vốn nhà quan
    Dinh này của đức Oanh Vàng
    Ai cho ông được vào ngang làm gì?
    Đứa đi cáo với thứ phi,
    Đứa lên tịnh thất báo phi Oanh Vàng,
    Dinh mình có một ông quan
    Vào dinh đêm tối đứng ngang sầm sầm,
    Lưng mang đoản kiếm hầm hầm
    Bốn nàng run rẩy đang nằm mà la.
    Con lên thưa lại với bà
    6660. Bà nên xuống đó xem qua thế nào?
    Oanh Vàng liền chạy đến mau
    Tay cầm roi bạc, đoản đao bên mình
    Đến nơi xem thấy cả kinh
    Rõ là Thừa Tướng trào đình Mạc gia
    Công nương tức giận hét la:
    Cơm Vua áo Chúa quốc gia chẳng đền
    Làm tuồng mèo mỡ hớ hênh
    Nhà ngươi đêm vắng chẳng nên lẻn vào,
    Ngươi làm quan lớn Mạc trào
    6670. Luật Vua phép nước tại sao không gìn?
    Nửa đêm mà lẻn vào dinh
    Dinh này thì vắng mặt Trình Quốc Công (44)
    Thì hàng nam tử đàn ông
    Ban ngày cũng khó vào trong dinh này
    Còn ông đêm vắng đến đây
    Ắt là ông phải gió mây gợi tình!
    Ra mau cho khỏi cổng dinh
    Một lần lầm lỗi niệm tình bỏ qua
    Không đi đứng mãi lân la
    6680. Thì coi đoản kiếm của ta đây này!
    Lý Hùng mới nói như vầy:
    Tôi xin Công Chúa chuyện này nương tay
    Vợ tôi bốn ả trang đài
    Tôi đây thường có nhiều ngày tới lui
    Vẫn thường có chuyện buồn vui
    Riêng phần Công Chúa thì tui vẫn thờ,
    Tôi cùng mấy ả se tơ (45)
    Chưa tâu Chín bệ xuống tờ gia ban
    Thật tôi lại với bốn nàng
    6690. Đã nên chung thủy đá vàng cùng nhau.
    Công Chúa liền rút đoản đao
    Thứ đồ ác miệng nói màu (46) dữ a
    Nhà này năm chị em ta
    Thờ chồng chung thủy chẳng mà khác chi!
    Ai mà mê mến chi mi
    Làm nhơ bốn ả xấu thì đến ta.
    Nói rồi Công Chúa nhảy a
    Đến đâm họ Lý né qua té liền.
    Chúa Mạc bảo Ái lại khuyên
    6700. Ái liền ra dấu để yên coi nào.
    Lý Hùng nổi giận hùng hào:
    Đoản đao ngươi chém có nào vị tha?
    Oanh Vàng nào sợ Lý gia
    Hồi thương chém Lý đầu sa khỏi mình!
    Chúa Mạc nhìn thấy cả kinh
    Thật là em Trẫm xảo tinh thế này
    Thừa Tướng văn võ đủ đầy
    Mà còn đứt cổ tại đây nữa rồi!
    Oanh Vàng ngồi nghỉ một hồi
    6710. Bốn nàng thì lại mồ hôi ròng ròng
    Như vầy biết liệu sao xong
    Đem thây mà giấu mới không tội tình,
    Người là Thừa Tướng trào đình
    Công nương chém chết tội mình mạng oan.
    Oanh Vàng rằng: chẳng có can
    Sáng ngày ta đến Đền Vàng tâu qua:
    Lý Hùng tại nó gian tà
    Cho nên bị kiếm đàn bà chết ngay,
    Thứ đồ vô dụng bất tài
    6720. Lộc Vua nó hưởng hằng ngày thế ni
    Thật là quá uổng ích chi
    Quốc gia sau có chuyện gì xảy ra
    Hoặc khi binh biến can qua
    Lý Hùng vô dụng làm mà chi xong,
    Ta đây chém nó mạng vong
    Để thị muôn tướng giáp xông trận đồ
    Cái thằng vô dụng thế mô
    Nó nào đương nổi trận đồ tiến công,
    Sáng này văn võ tựu đông
    6730. Ta mời văn võ thảy đồng đến xem
    Xem rồi khiêng nó mà đem
    Bêu thây nắng rã người xem mà ngừa.
    Bốn nàng nhỏ nhẹ liền thưa:
    Tôi nghe Ngọc Điệp mến ưa Lý Hùng
    Chuyện này thấu đến thâm cung
    Ngọc Điệp chẳng biết có dùng năm ta
    Hay là Ngọc Điệp chẳng tha
    Giết chồng của nó nó mà nổi điên!
    Oanh Vàng nghe nói phân liền:
    6740. Cháu ta Ngọc Điệp lương hiền lắm đa
    Biết chồng của nó tinh ma
    Nó truyền bầm nát thây ra tức thì,
    Bốn nàng đừng có ngại chi
    Để ta lãnh hết chẳng thì có sao.
    Bốn nàng rằng: chuyện thêm đau
    Sát sanh trọng tội từ nào mình tu
    Nhang đèn chuông mõ công phu
    Nay mà sát hại danh nhu tướng trào
    Cái công tu niệm từ nào
    6750. Theo dòng nước chảy ạt ào hết trơn,
    Về Trời có tội sát nhân
    Oan hồn họ Lý tủi hờn theo ta.
    OanhVàng rằng: thật chẳng ngoa
    Vì danh vì tiết của ta phải phòng
    Nếu không chém nó mạng vong
    Về sau nhà Mạc Thăng Long dễ gì,
    Tôi gian còn chứa làm chi
    Trừ gian diệt nịnh mới là thiệt tu
    Tu khôn ai có tu ngu
    6760. Tu ngồi như gốc mù u sau nhà

    Trừ gian diệt nịnh mới là thiệt tu,
    Nếu mà ngồi tợ hình phù
    Đó là tu ngốc tu ngu nàng à
    Tu gì trai lén vào nhà
    Đem điều quấy quá để mà ngồi nghe.
    Năm nàng rằng: chẳng có dè
    Công nương lệnh dạy tôi nghe cãi nào.
    Đình Ái, Chúa Mạc cùng nhau
    6770. Chúa tôi nhẹ gót đi mau ra liền,
    Về dinh Đình Ái ngồi yên
    Đình Ái quỳ tấu sạ duyên Vua tường:
    Mai này án mạng phô trương
    Chẳng hay Bệ hạ liệu phương thế nào
    Bệ hạ tận mắt nhìn vào
    Lỗi quan Thừa Tướng chết nào có oan,
    Trách thay độc thủ Oanh Vàng
    Nỡ tay chém tướng Thượng quan Mạc triều.
    Chúa Mạc rằng: cám ơn nhiều
    6780. Nếu không giết nó lắm điều về sau
    Oanh Vàng chẳng có tội nào
    Đáng phong Võ Trạng má đào oai nghi.
    Nói rồi cởi áo lính thì
    Chúa Mạc, Đình Ái đồng đi ra đàng
    Thẳng vào cung Cụ Thượng Hoàng
    Lính hầu xem thấy vội vàng mời vô,
    Thượng Hoàng xem thấy liền phô:
    Vương nhi rạng sáng lại vô cung vàng
    Quân đem ngự thiện (47), sâm thang
    6790. Vua cùng Đình Ái Thượng Hoàng ngồi ăn.
    Chúa Mạc ông mới nói rằng:
    Muôn tâu Hoàng Thượng rõ căn như hà
    Con cùng Đình Ái xem hoa
    Con mang áo lính đứng mà ngó lơ
    Phúc đâu Thừa Tướng tình cờ
    Lý Hùng đến nói ỡm ờ với con,
    Nói rồi liền chạy như bon
    Vào dinh Công Chúa hai con theo rình
    Thấy Hùng lén mở cửa dinh
    6800. Con cùng Đình Ái lách mình trông theo,
    Vào trong con thấy ngặt nghèo
    Lý Hùng ve vãn ong eo dại tà
    Bốn nàng vợ Trạng đuổi ra
    Lý Hùng nó chẳng có mà chịu lui
    Nó còn nói nhảm đổ mùi
    Thật là đáng ghét cho tôi loạn thần,
    Vào dinh nó đứng tần ngần
    Bốn nàng đuổi mãi chẳng phần nào an,
    Thấu tai Công Chúa Oanh Vàng
    6810. Oanh Vàng đến đuổi Lý toan oai hùng
    Lưỡi gươm Ngự muội thung dung
    Chém rơi đầu gã Lý Hùng rồi đa!
    Giết tiêu loạn tặc dâm tà
    Thật là Công Chúa đúng mà hùng anh
    Nên con tự sự tâu rành
    Đặng trên Hoàng Thượng ban hành thẩm tra.

  18. #38

    Mặc định

    CHÚ THÍCH

    1. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607), quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

    2. Đền Rồng: triều đình.

    3. Bỉnh Khiêm: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    4. Lục thông: 6 phép thần thông bao gồm:
    - Thiên nhãn thông (nhìn không bị trở ngại bởi khoảng cách)
    - Thiên Nhĩ Thông (nghe được mọi âm thanh trên thế gian)
    - Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)
    - Thần túc thông (khả năng biết được căn, kiếp của mình và người khác)
    - Thần cảnh thông (khả năng xuất hồn vào mọi cảnh giới)
    - Lậu tận thông (khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối)

    Khi đã chế ngự 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) không bị ô nhiễm, tâm sẽ không động, không còn vọng tưởng.

    5. Bạch Vân cư sĩ: Sau khi cáo quan năm 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật, và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ.

    6. Trào ca: triều đình.

    7. Nước Cam Lồ: nước phép vi diệu, trong mát và thơm ngọt, có tác dụng trị liệu tâm hồn và thể xác con người, được xem như nước Tiên, nước Thánh.

    8. Chốn Bệ tiền: triều đình.

    9. Kinh Bát Nhã: Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, cũng được gọi là Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, Huệ đáo bỉ ngạn kinh, nghĩa là Kinh với trí huệ đưa người qua bờ bên kia, là một bộ kinh bao gồm khoảng 40 bài kinh Đại thừa được gọi dưới tên chung, với nội dung hướng dẫn hành giả đạt được trí Bát-nhã, thành tựu Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Bộ kinh này được ghi từ thế kỉ thứ nhất trước Công Nguyên đến khoảng thế kỉ thứ 5. Ngày nay, phần lớn kinh này chỉ còn trong dạng chữ Hán hoặc chữ Tây Tạng, không còn dạng Phạn ngữ.

    10. Ngũ uẩn: cũng gọi là Ngũ ấm, khái niệm của Phật giáo là năm yếu tố tạo thành con người, gồm: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. ...

    11. Tam bành: tham, sân, si.

    12. Lục tặc: sáu tên giặc theo khái niệm của Phật giáo chính là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Khi sáu căn bị sai khiến thì tác hại khủng khiếp và phiền não cũng bắt đầu phát khởi.

    13: Ma ha: cõi Phật.

    14. Sóng gió ba đào: nhiều khó khăn, trắc trở.

    15. Động đào Thiên thai: nơi ở của thần tiên.

    16. Chúa Mạc: vua Mạc.

    17. Năm ả: năm người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đang ở dinh Tiết Chế, kinh thành Thăng Long.

    18. Trạng Nguyên: Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng Nguyên năm 1535, khoa thi do nhà Mạc tổ chức.

    19. Thái Uý: chức quan của Hoàng Đình Ái.

    20. Quốc Công: tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    21. Ngự muội: vua Mạc xem các người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm như anh em.

    22. Chiếu Ngôi Trời: chiếu vua, sắc lệnh của vua.

    23. Bệ giai: bệ hạ.

    24. Nguyễn Quốc Công: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    25. Kính Điển: Mạc Kính Điển (? - 1580) là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh, cháu Mạc Đăng Dung, là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương.

    26. Ngọc Điệp: công chúa con vua Mạc Đăng Doanh. Mạc Đăng Doanh hứa gả cho Hoàng Đính Ái, nhưng Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung đã hứa gả Ngọc Điệp cho quan Thừa tướng Lý Hùng.

    27. Khi quân: xem thường lệnh vua, bị ghép tội phản nghịch phải chém đầu.

    28. Oanh Vàng: công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông, được Hoàng Đình Ái thương thầm nhớ trộm.

    29. Trào đàng: triều đình, phép biến âm đạt vần.

    30. Đi phăng: đi ra nơi tiền phương, đánh giặc.

    31. Đoạn miêu tả lời tấu của Mạc Kính Điển rất đúng với tính cách của Mạc Kính Điển, đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc.

    32. Thượng Hoàng: Mạc Đăng Dung lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530, để lui về làm Thái Thượng hoàng.

    33. Khôi hài: hình hài tinh khôi, thanh lịch.

    34. Bím nhẻ: đeo bám, làm phiền hà.

    35. Bệ đơn: ngai vua.

    36. A hoàn: người hầu gái. Ý mạt sát.

    37. Vương nhi: lời Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung gọi vua Mạc.

    38. Mặc dù Lê Oanh Vàng là công chúa của nhà Lê nhưng được nhà Mạc trọng vọng, xem như người của dòng họ Mạc. Truyền thống nhà Mạc được sử sách ghi nhận đã mạnh dạn sử dụng quan lại cũ của nhà Lê, điển hình là 4 trạng nguyên thời Lê sơ như: Nguyễn Giản Thanh, Hoàng Văn Tán, Ngô Miên Thiệu, Trần Văn Tất, ngoài ra cũng thu phục nhiều tướng giỏi của nhà Lê như Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Vũ Hộ, Phạm Gia Mô... Các cung phi nhà Lê vẫn được đãi ngộ như trước.

    39. Võ đao: các quan võ.

    40. Chập bì: một loại công cụ hình phạt thời xưa.

    41. Liêu trai: hẹn hò, tình tứ.

    42. Tứ hôn: giao kết chuyện hôn nhân.

    43. Thương: một trong những loại binh khí đao, thương, kiếm, kích.

    44. Trình Quốc Công: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    45. Se tơ: kết duyên.

    46. Nói màu: nói đặt điều, tô vẽ không đúng sự thật.

    47. Ngự thiện: mâm cơm tiến vua.

  19. #39

    Mặc định

    Chúng ta chỉ chết phần xác, còn phần hồn vẫn y nguyên. Phần hồn này vẫn còn trí tuệ đầy đủ. Nếu nó nhập vào xác ai đó thì người bị nhập có thể bị thần kinh phân liệt.
    Những bài thơ trên ghi lại từ đồng cốt, nó chẳng ích gì cho đời mà chỉ mang âm hưởng như ai oán khổ lụy trần gian.
    BX

  20. #40

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Ballx Xem Bài Gởi
    Chúng ta chỉ chết phần xác, còn phần hồn vẫn y nguyên. Phần hồn này vẫn còn trí tuệ đầy đủ...
    BX
    Cám ơn huynh Ballx đã có chung một ý nhận xét nói trên.

    Còn những ý kiến khác của huynh thì LTL đang còn nghiên cứu tiếp, và sẽ trao đổi với huynh khi có kết quả.

    Thân ái chào huynh.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Cảnh giác Tà ma ngoại đạo
    By laduykhanh in forum Mật Tông
    Trả lời: 99
    Bài mới gởi: 04-01-2009, 09:57 PM
  2. Mật Tông Nội - Mật Tông Ngoại
    By KHANHLE in forum Mật Tông
    Trả lời: 35
    Bài mới gởi: 08-04-2008, 11:20 AM
  3. Ngoài Thức Không Có Gì Cả
    By NHDV in forum Đạo Phật
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 03-04-2008, 10:08 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 29-02-2008, 09:06 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •