kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Vì sao Ngô Quyền có thể đánh tan quân Nam Hán?

  1. #1

    Mặc định Vì sao Ngô Quyền có thể đánh tan quân Nam Hán?

    Vì sao Ngô Quyền có thể đánh tan quân Nam Hán?
    03/06/2011 07:02:29

    Ngợi ca Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:"Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy".



    Ngô Quyền người làng Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Tây). Ông sinh năm 897, con trai thứ sử Ngô Mân, một hào trưởng địa phương. Được truyền thống địa phương hun đúc, được cha dạy bảo, từ tấm bé Ngô Quyền đã tỏ ra có ý chí lớn. Thân thể cường tráng, trí tuệ sáng suốt, chăm rèn võ nghệ. Sử cũ miêu tả ông "vẻ người khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có chí dũng, sức có thể nhấc vạc giơ cao".


    Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (tranh minh họa)



    Trước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm

    Năm 920, Ngô Quyền đi theo Dương Đình Nghệ, một tướng của họ Khúc ở đất Ái Châu (Thanh Hóa). Dương Đình Nghệ là anh hùng dân tộc từng có công đánh đuổi giặc Nam Hán, chiếm được thành Đại La năm 931, thúc đẩy bước tiến của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Dương Đình Nghệ lên cầm quyền, tự xưng Tiết độ sứ, giao cho Ngô Quyền cai quản Ái Châu . Yêu mến tài năng và nhiệt huyết cứu đời, giúp nước của Ngô Quyền, Dương Đình Nghệ đã gả con gái cho ông.

    Trong 7 năm (931-938), quản lĩnh đất Ái Châu, Ngô Quyền trổ tài lực, đem lại yên vui cho dân trong hạt.

    Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, một thuộc tướng và là hào trưởng đất Phong Châu giết hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Hành động phản trắc của Kiều Công Tiễn đã gây nên một làn sóng bất bình, căm giận sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân. Ngô Quyền trở thành ngọn cờ qui tụ mọi lực lượng yêu nước.

    Năm 938, trời đang tiết mưa dầm gió bấc. Đoàn quân Ngô Quyền, người người lớp lớp vượt đèo Ba Dội tiến ra bắc. Quân xâm lược còn đang ngấp nghé ngoài bờ cõi thì đầu tên phản bội Kiều Công Tiễn đã bị bêu ở ngoài cửa thành Đại La (Hà Nội). Mối họa bên trong đã được trừ khử. Kế sách trước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm đã được thực hiện.

    Ngô Quyền vào thành, hợp các tướng tá, bàn rằng: "Hoằng Tháo là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin Công Tiễn đã bị giết chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt, tất phá được! Song chúng có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng trước thì chuyện được thua cũng chưa thể biết được! Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của chúng nhân khi nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hay hơn kế ấy cả". (1)

    Chư tướng đều phục kế sách ấy là tuyệt vời.

    Phán đoán đúng con đường tiến quân của địch: Ngô Quyền - người được nhà sử học Lê Văn Hưu ngợi ca là "mưu giỏi mà đánh cũng giỏi" - đã chủ trương bố trí một trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng, rồi nhân khi nước triều lên, nhử thuyền địch tiến vào bên trong hàng cọc và tập trung lực lượng tiêu diệt địch bằng một trận quyết chiến nhanh, gọn, triệt để.

    Sau khi diệt trừ xong bọn Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền và bộ chỉ huy kéo quân về vùng ven biển Đông Bắc chuẩn bị đón đánh quân Nam Hán. Thần tích và truyền thuyết dân gian các làng thuộc xã Nam Hải, Đằng Hải đều nói rõ từ Bình Kiều, Hạ Đoạn tới Lương Khê (thuộc An Hải, Hải Phòng) là khu vực đóng quân của Ngô Quyền. Hơn 30 đền miếu thờ Ngô Quyền và các tướng phá giặc Nam Hán đã được phát hiện, đều phân bố tập trung ở vùng hạ lưu sông Bạch Đằng. Đồn trại của Ngô Quyền đóng tại các thôn Lương Xâm (An Hải, Hải Phòng), Gia Viên (nội thành Hải Phòng) (2)

    Từ nhân hòa địa lợi đến chiến công oanh liệt

    Trước mưu đồ xâm lược trở lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn cờ cứu nước của Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết của cả dân tộc. Đội quân Ngô Quyền, từ một đội binh Ái Châu đã nhanh chóng trở thành một đội quân dân tộc. Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (Hải Phòng) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu, đã tự vũ trang, xin theo Ngô Quyền phá giặc. Trai tráng các làng Lâm Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Hưng), người mang vũ khí, kẻ mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin diệt giặc. Ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ họ Phạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái tham gia kháng chiến.


    Trận Bạch Đằng



    Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm chiến trường quyết chiến.

    Bạch Đằng ngày ấy cũng như ngày sau vẫn mang "tên nôm" giản dị: Sông Rừng! Sông Rừng thường có sóng bạc đầu, vì vậy mới có thêm một "tên chữ" Bạch Đằng giang. Bộ sử Cương mục mô tả: "Sông rộng hơn hai dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến".

    Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc và là đường giao thông quan trọng từ Biển Đông vào nội địa Việt Nam. Cửa biển Bạch Đằng to rộng, rút nước từ vùng đồng bằng Bắc Bộ đổ ra Vịnh Hạ Long. Từ cửa biển ngược lên gần 20 km là đến cửa sông Chanh. Phía hữu ngạn có dãy núi vôi Tràng Kênh với nhiều hang động, sông lạch và thung lũng hiểm trở.

    Hạ lưu sông Bạch Đằng thấp, độ dốc không cao nên chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh. Lúc triều dâng, nước trải đôi bờ đến vài cây số. Lòng sông đã rộng, lại sâu, từ 8m-18m. Triều lên xuống vào độ nước cường, nước rút đến hơn 30cm trong một giờ, ào ào xuôi ra biển, mực nước chênh lệch khi cao nhất và thấp nhất khoảng 2,5-3,2m.

    Lịch sử thành tạo vùng Bạch Đằng trên đây và một số tài liệu địa lý học lịch sử cho phép khẳng định, cửa sông Bạch Đằng thế kỷ 10 không phải là cửa Nam Triệu với địa hình như hiện nay. Lúc bấy giờ cửa sông Nam Triệu là cửa biển chung của sông Cấm (hay sông Nam Triệu) và sông Bạch Đằng. Cửa biển Bạch Đằng ngày xưa ở vào khoảng đó, nằm sâu vào phía trong so với cửa Nam Triệu hiện nay khoảng hơn chục cây số. Giữa vùng thiên nhiên sông biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc lập của cả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương giàn bày một thế trận hết sức mưu trí, lợi hại để chủ động phá giặc.


    Khi triều lên mênh mông, thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua lại.

    Ông huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt (hẳn số thợ rèn được huy động đến cũng khá đông) rồi cho đóng xuống lòng sông thành hàng dài tạo thành một bãi cọc, một bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên sông. Khi triều lên mênh mông, thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua lại. Bãi cọc tăng thêm phần hiểm trở cho địa hình thiên nhiên.

    Trận địa cọc là một nét độc đáo của trận Bạch Đằng phá quân Nam hán và cũng là một sáng tạo rất sớm trong nghệ thuật quân sự Việt Nam mà người khởi xướng là Ngô Quyền. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa phát hiện được thêm nhiều di tích của bãi cọc này. (3)

    Trong khi chuẩn bị trận địa, Ngô Quyền không những lợi dụng địa hình thiên nhiên, mà còn biết lợi dụng cả chế độ thủy triều. Đây cũng là một trận đánh biết lợi dụng thủy triều sớm nhất trong lịch sử quân sự nước ta, mở đầu cho truyền thống lợi dụng thủy triều trong nhiều trận thủy chiến sau này. Rất tiếc là cho đến nay, chưa xác định được ngày tháng xảy ra trận Bạch Đằng, nên chỉ có thể đưa ra một số giả định nào đó, chưa thể có những kết luận cụ thể về điều này. (4)

    Quân thủy bộ, mai phục sẵn ở phía trong bãi cọc, có lẽ trong khoảng hạ lưu và trung lưu sông Bạch Đằng; trong các nhánh sông và trên hai bờ sông.

    Theo truyền thuyết và thần tích, Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đạo quân bên hữu ngạn, mai phục ở hai bên bờ sông để cùng phối hợp với thủy binh đánh tạt ngang vào đội hình quân địch và sẵn sàng tiêu diệt số quân địch trốn chạy lên bờ. Có thể suy đoán rằng, ngược lên phía thượng lưu là một đạo thủy quân mạnh phục sẵn làm nhiệm vụ chẹn đầu, chờ khi nước xuống sẽ xuôi dòng đánh vỗ mặt đội binh thuyền của địch.

    Cũng theo truyền thuyết, thần tích người thanh niên Nguyễn Tất Tố, vốn giỏi bơi lặn và quen thuộc sông nước, được giao nhiệm vụ khiêu chiến, nhân lúc nước triều lên, nhử địch vượt qua bãi cọc vào cạm bẫy bên trong.

    Trong thế trận của Ngô Quyền, rõ ràng trận địa mai phục giữ vai trò quyết định. Trận địa cọc ở cửa sông là nhằm chặn đường tháo chạy của tàn quân giặc. Sự phối hợp giữa hai trận địa chứng tỏ quyết tâm chiến lược của Ngô Quyền là phen nàykhông phải chỉ đánh bại quân giặc mà còn phải tiêu diệt toàn bộ quân giặc, đập tan mộng tưởng xâm lăng của triều đình Nam Hán.

    Cuối năm 938, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nam Hán lần thứ hai của quân dân Việt đã giành được thắng lợi hết sức oanh liệt.Cả một đoàn binh thuyền lớn của giặc vừa vượt biển tiến vào mạn sông Bạch Đằng đã được nhử vào thế trận đã bày sẵn và bị tiêu diệt gọn trong một thời gian rất ngắn. Toàn bộ chiến thuyền của giặc bị đánh đắm, hầu hết quân giặc bị tiêu diệt. Chủ soái của giặc là Lưu Hoằng Tháo cũng bị giết tại trận.

    Chiến thắng Bạch Đằng có những nét rất độc đáo và giữ một vị trí trọng đại trong lịch sử dân tộc.

    Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh, gọn, triệt để đến mức độ vua Nam Hán đang đóng quân ở sát biên giới mà không sao kịp tiếp ứng. Nghe tin quá bất ngờ và kinh hoàng, chúa Nam Hán đành thương khóc thu nhặt tàn quân quay về nước. Y bèn hạ đổ tội cho Trước tác Tá Lang hầu Dung "làm cho khí thế quân binh không phấn chấn lên được". Lúc này Dung đã chết, chúa Nam Hán tàn bạo sai quật mả, phơi thây Dung để trả thù!

    Sau chiến thắng chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, Ngô Quyền bắt tay xây dựng quốc gia. Ngô Quyền xưng vương, bãi bỏ chức Tiết độ sứ, định đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ông đặt ra chức quan văn, võ, nghi lễ trong triều. Nhưng đáng tiếc thời gian tại ngôi của ông thật ngắn ngủi, chỉ được 6 năm (939-944).

    Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn, thọ 47 tuổi.

    Ngợi ca Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:"Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy".

    ------------------
    (1) Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ.q.5

    (2) Tại Lương Xâm (thuộc xã Nam Hải, huyện An Hải, Hải Phòng) còn di tích một thành đất có hình giống như vành kiệu nên nhân dân quen gọi là thành Vành Kiệu. Thành đắp trên một gò đất cao, chu vi vào khoảng 1.700 m. Thành đã bị phá hủy nhiều đoạn, phần còn lại dài khoảng 1.300 m, bề rộng trung bình 1 m, có chỗ rộng 7 m, cao khoảng 0,8 m, chỗ cao nhất 1,6 m. Giữa thành có đền thờ Ngô Quyền nhân dân gọi là Từ Cả. Thần tích câu đối, truyền thuyết dân gian đều nói Ngô Quyền đắp thành ở Lương Xâm và di tích còn lại là thành Vành Kiệu. Năm 1981, Khoa Sử Đại học tổng hợp Hà Nội phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Hải Phòng cắt một đoạn thành để khảo sát. Nhưng rất tiếc là chưa phát hiện được những hiện vật đặc trưng để xác định niên đại của thành Vành Kiệu. Thần tích Ngô Quyền ở Gia Viên (nội thành Hải Phòng) nói ông đã cho lập đồn trại ở đây để chống giặc Nam Hán.

    (3) Năm 1953 - 1954, nhân dân địa phương phát hiện được những cọc gỗ gần cửa sông Chanh, cách sông Bạch Đằng hơn 400 m, thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, Vụ Bảo tồng Bảo tàng Bộ Văn hóa, Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, Viện Bảo tàng Lịch sử đã cùng Sở Văn hóa Hải Phòng, và Ty Văn hóa Quảng Ninh tiến hành khảo sát, khai quật và nghiên cứu. Ngoài ra, còn phát hiện những cọc tương tự ở cửa sông Kênh (đồng Vạn Muối), cửa sông Nam giáp sông Bạch Đằng, phía dưới sông Chanh...

    Hai mẫu gỗ ở cửa sông Chanh được xác định niên đại bằng phương pháp các bon phóng xạ, cho kết quả 615+100 và 850+100 năm sau Công Nguyên. Nhưng theo ý kiến của những người nghiên cứu thì những bãi cọc này thuộc phạm vi trận địa Bạch Đằng phá quân Nguyên năm 1288, chứ không phải bãi cọc của Ngô Quyền diệt quân Nam Hán năm 938.

    (4) Về thời điểm xảy ra trận Bạch Đằng, các bộ chính sử chép không cụ thể và không thống nhất.
    - Việt sử thông giám cương mục chép Ngô Quyền diệt Kiều Công Tiễn và phá quân Nam Hán vào "mùa thu, tháng chín" năm Mậu Tuất, tính ra dương lịch là từ 27/9 đến 25/10/938.
    - Đại Việt sử ký toàn thư lại chép những sự kiện trên vào "mùa đông, tháng Mười", tính ra dương lịch là từ 26/10 đến 24/11/938.
    - Việt sử lược chép vào "mùa đông, tháng Chạp", tính ra dương lịch là từ 25/12/938 đến 22/1/939.

    Về mặt sử liệu học thì trong ba tài liệu trên, Bộ Việt sử lược được biên soạn sớm nhất (vào đời Trần), gần với thời gian xảy ra sự kiện hơn hai bộ sử đời Lê và đời Nguyễn. Sự ghi chép của Việt sử lược lại phù hợp với nhiều thần tích Ngô Quyền và các tướng tham gia trận Bạch Đằng, trong đó có thần tích ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng) chép cụ thể trận Bạch Đằng xảy ra vào ngày 7 tháng Chạp năm Mậu Tuất, tức ngày 31/12/938...

    (Theo VnExpress.net)
    * Tên bài và tít phụ do Bee đặt
    NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
    TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ

    Đây là link Fanpage của Diễn đàn TGVH anh em nha https://www.facebook.com/thegioivohinh.fanpage/
    Đ
    ây là Youtube của Diễn đàn hay đăng ký ủng hộ nhé : https://www.youtube.com/@thegioivohinh571
    Tiktok1 - @thegioivohinh.571 : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9Wjn42o3s&_r=1

    Tiktok2 - @thegioivohinh.com : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9WnFaFDRX&_r=1

  2. #2

    Mặc định

    Lịch sử luôn lặp lại
    Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
    Tiệt Nhiên định phận tại Thiên Thư
    Một phần giá trị của con người chính là kiến thức !@8@. $$$191 @8@.

  3. #3

    Mặc định

    Thanks MOD nhé, đúng là như lời Bác Hồ dạy:
    "Dân ta phải biết sử ta
    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
    Kể năm hơn bốn nghìn năm,
    Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
    Hồng Bàng là Tổ nước ta.
    Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
    Thiếu niên ta rất vẻ vang
    Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời,
    Tuổi tuy chưa đến chín mười
    Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
    An Dương Vương thế Hùng Vương,
    Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
    Nước tàu cậy thế đông người,
    Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,
    Quân Tàu nhiều kẻ tham lam.
    Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
    Hai Bà Trưng có đại tại,
    Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
    Ra tay khôi phục giang san,
    Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
    Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
    Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
    Tài năng dũng cảm hơn người,
    Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
    Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
    Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
    Kể gần sáu trăm năm giời,
    Ta không đoàn kết bị người tính thôn
    Anh hùng thay ông Lý Bôn,
    Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
    Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
    Lập nên triều Lý sáu mươi năm liền.
    Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
    Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
    Thương dân cực khổ xót xa,
    Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
    Vì dân đoàn kết chưa sâu,
    Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
    Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
    Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

    Đến hồi Thập nhị sứ quân
    Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
    Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
    Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
    Ra tài kiến thiết kinh dinh,
    Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
    Lê Đại Hành nối lên ngôi.
    Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành
    Vì con bạo ngược hoành hành,
    Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
    Công Uẩn là kẻ phi thường,
    Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
    Mở mang văn hoá nước nhà,
    Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
    Lý Thường Kiệt là hiền thần,
    Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
    Tuổi già phỉ chí công danh,
    Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
    Họ Lý truyền được chín đời,
    Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
    Nhà Trần thống trị giang san,
    Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
    Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
    Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
    Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
    Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,

    Lăm le muốn chiếm nước ta,
    Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
    Hải quân theo bể kéo đi,
    Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nêm
    Dân ta nào có chịu hèn,
    Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
    Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
    Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
    Mênh mông một giải Bạch Đằng,
    Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
    Hai lần đại phá Nguyên binh,
    Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
    Quốc Toản là trẻ có tài,
    Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
    Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
    Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
    Thật là một đấng anh hùng,
    Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
    Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
    Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
    Mười hai đời được hiển vinh,
    Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
    Cha con nhà Hồ Quý Ly,
    Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
    Tình hình trong nước không yên,
    Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
    Bao nhiêu của cải trân châu,
    Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.

    Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
    Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
    Mấy phen sông Nhị núi Lam,
    Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
    Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
    Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
    Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
    Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
    Vì dân hăng hái kết đoàn,
    Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
    Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
    Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
    Trăm năm truyền đến cung hoàng,
    Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi
    Bấy giờ trong nước lôi thôi,
    Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà,
    Bảy mươi năm nạn can qua
    Cuối đời mười sáu mạc đà suy vi.
    Từ đời mười sáu trở đi,
    Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu
    Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
    Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
    Dân gian có kẻ anh hùng,
    Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
    Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
    Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu đảo huyền
    Nhà Lê cũng bị mất quyền,
    Ba trăm sáu chục năm truyền vị vưong.
    Nguyễn Huệ thật tướng phi thường,
    Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
    Ông đà chí cả mưu cao,
    Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
    Cho nên Tàu dẫu làm hung,
    Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
    Tướng Tây Sơn có một bà,
    Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
    Tay bà thống đốc ba quân,
    Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
    Gia Long lại dấy can qua,
    Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
    Tự mình đã chẳng có tài,
    Nhờ Tây qua cứu tính bài giải vây.
    Nay ta mất nước thế này,
    Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
    Khác gì cõng rắn cắn gà,
    Rước voi dẫy mả, thiệt là ngu si.
    Từ năm Tân Hợi trở đi,
    Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
    Vậy mà vua chúa triều đình,
    Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
    Nay ta nước mất nhà tan
    Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
    Năm Tự Đức thập nhất niên
    Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
    Hăm lăm năm sau trận này,
    Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan,
    Ngàn năm gấm vóc giang san,
    Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
    Tội kia càng đắp càng đầy,
    Sự tình càng nghĩa càng cay đắng lòng.
    Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
    Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
    Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương
    Cùng thành còn mất làm gương để đời.
    Nước ta bị Pháp cướp rồi,
    Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
    Trung kỳ đảng Phan Đình Phùng
    Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
    Mấy năm ra sức Cần Vương
    Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
    Giang san độc lập một miền,
    Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
    Anh em khố đỏ, khố xanh,
    Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
    Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
    Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
    Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
    Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
    Nam Kỳ im lặng đã lâu,
    Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
    Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
    Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
    Xét trong lịch sử Việt Nam,
    Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
    Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
    Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.

    Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
    Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
    Để người đè nén, xem khinh,
    Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
    Bây giờ Pháp mất nước rồi,
    Không đủ sức, không đủ người trị ta.
    Giặc Nhật Bản thì mới qua,
    Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
    Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
    Khắp nơi có cuộc chiến tranh rẫy rà.
    Ấy là dịp tốt cho ta,
    Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
    Người chúng ít, người mình đông
    Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
    Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
    Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.

    Bất kỳ nam nũ, nghèo giàu,
    Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
    Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
    Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
    Trên vì nước, dưới vì nhà,
    Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
    Chúng ta có hội Việt Minh
    Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh

    Mai sau sự nghiệp hoàn thành,
    Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
    Dân ta xin nhớ chữ đồng:
    Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!"

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Ý nghĩa của 64 quẻ và 384 hào
    By Bin571 in forum Dịch Học
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 08-07-2012, 04:04 PM
  2. TÂM VŨ TRỤ
    By doxuantho in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 26-03-2012, 02:27 PM
  3. Một khảo luận qua các tài liệu - Đạo Chúa
    By Độ Kẻ Mê in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 18
    Bài mới gởi: 05-06-2011, 10:46 PM
  4. TỬ VI KIẾM TÔNG-KIM HẠC
    By thaiduong162 in forum Tử Vi
    Trả lời: 34
    Bài mới gởi: 30-04-2011, 10:20 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •