kết quả từ 1 tới 4 trên 4

Ðề tài: Chú Đại Bi & Lược Giải Chú Đại Bi

  1. #1

    Smile Chú Đại Bi & Lược Giải Chú Đại Bi

    Bài viết này mình sưu tầm từ web chudaibi.com .

    Chú Đại Bi & Lược Giải Chú Đại Bi

    Nam mô đại bi hội thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:

    Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.

    Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đá sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá (na ma bà tát đa *) na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.

    Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, ta bà ha.

    “Án, tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đa da, ta bà ha.”. (3 lần)

    (Ghi chú : (*) Trong bản Hán văn và hình thứ 16 có năm chữ nầy. Tuy nhiên, không biết lý do nào và vì sao đã mất hẳn sự trì tụng từ lâu qua các bản Việt văn? Chúng tôi cũng ghi ra cho rõ, để quý vị tham khảo và biết sự thiếu sót nầy.)

    *

    * *

    Lược Giải Chú Đại Bi



    1.- Dẫn nhập:

    Chú Đại Bi được phát xuất từ sự xác quyết do kim khẩu của Bồ tát Quán Thế Âm. Thường được gọi là Thần chú, Linh chú. Bởi vì ai tin và thành tâm hành trì thần chú nầy thì bản thân người ấy đã có đủ Đại bi tâm. Thần chú nầy do Bồ tát Quán Thế Âm nói ra và được chư Phật ấn chứng mà gần nhất là đức Thích Ca Như Lai Từ Phụ của chúng ta nghe và đức Thích Ca cũng ấn chứng.

    Thần chú nầy có rất nhiều tên khác nhau như:

    Quảng đại Viên mãn, Vô ngại Đại bi, Cứu khổ Đà la ni, Diên thọ Đà la ni, Mãn nguyện Đà la ni, Diệt ác thú Đà la ni, Phá ác nghiệp chướng Đà la ni, Tối siêu thượng Đà la ni,..

    Những danh hiệu trên đây, đức Phật đã trực tiếp hướng dẫn cho ngài A Nan và Đại chúng biết. Nguyên Thần chú nầy tên rất dài: “Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát Quảng đại Viên mãn Vô ngại Đại bi tâm Đà la ni thần chú”. Bài chú gồm có 84 câu.

    Đức Phật đã từng nói với Bồ tát Quán Thế Âm:

    - “Hởi thiện nam tử, ngươi nên bền lòng trì tụng Thần chú nầy, sẽ có tác dụng lớn trong việc tế độ chúng sanh trong những ác nghiệp của các kiếp sau ....”

    Căn cứ vào sự ghi chép trong kinh điển, lúc ấy Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nghe đức Phật hướng dẫn, Ngài liền phát nguyện trì tụng liên tục từ cảnh giới Sơ địa đến Bát địa và thẳng lên Bất động địa. Cũng từ đó, ngài phát đại nguyện: Cầu cho kiếp sau của ngài phổ độ cho hết thảy chúng sanh đều được vui thích và mong cho ngài được ngàn cánh tay, ngàn con mắt.

    Sau khi phát nguyện xong, phút chốc, toàn thân ngài đã đầy đủ cả ngàn tay, ngàn mắt; tất cả mười phương đều chấn động và mưa hoa cúng dường. Chư Phật cũng phóng hào quang rực rỡ, soi khắp đó đây. Từ đó, Thần chú nầy mới có nhiều danh hiệu như vậy.

    Đức Phật bảo ngài An Nan rằng:

    Kết quả có được của Bồ tát Quán Thế Âm là do sự phát đại thệ nguyện vì chúng sanh.

    Những ai phát nguyện nhất tâm trì tụng thì sẽ được tiêu trừ tội chướng trong đời nầy và kiếp vị lai. Trong giây phút lâm chung, nếu mình tự niệm hoặc được thiện tín thành tâm hộ niệm thì sẽ được vãng sanh hoặc đến quốc độ mà mình muốn đến. Có đức Phật A Di Đà và chư vị Bồ tát thùy từ tiếp dẫn.

    Những ai trong đời nầy, nhất tâm trì tụng Đại bi tâm chú thì sẽ được toại nguyện về 15 loại thiện sanh và trừ được 15 loại ác tử.

    a. Mười lăm loại thiện sanh:

    1. Nơi được sanh ra thường gặp năm điều lành.

    2. Thường được sanh ở nước lành (thiện quốc).

    3. Thường gặp thời hay, vận tốt.

    4. Thường gặp được thầy sáng, bạn lành.

    5. Thân các căn đều trọn vẹn, đầy đủ (lục căn hoàn cụ)

    6. Đạo tâm luôn được thuần hậu, chơn chánh.

    7. Không phạm cấm giới.

    8. Tình anh em cốt nhục đều được thuận hòa, an lạc.

    9. Trọn đời cơm áo đầy đủ, nhàn nhã.

    10. Luôn luôn được mọi người kính mến, thương giúp.

    11. Tài sản, của cải không bao giờ bị cướp đoạt.

    12. Cầu gì đều được toại ý. (Sở cầu như ý)

    13. Luôn được thiện thần, hộ pháp bảo vệ.

    14. Nơi được sinh ra thường được nghe Phật thuyết pháp.

    15. Khi nghe được Chánh pháp là hiểu ngay được thâm ý mà trực ngộ lời Phật dạy.

    b. Mười lăm loại về ác tử:

    1. Không bị chết khốn khổ về đói khát, loạn lạc.

    2. Không bị chết vì giam cầm, đánh đập.

    3. Không bị chết vì thù oán.

    4. Không bị chết nơi trận địa.

    5. Không bị chết vì thú dữ cắn xé.

    6. Không bị chết vì rắn, rết cắn.

    7. Không bị chết cháy hay chết đuối.

    8. Không bị trúng độc khi ăn uống mà chết.

    9. Không bị các loại trùng độc sát hại.

    10. Không bị cuồng loạn hay thất vọng mà chết.

    11. Không bị cây cối rơi trúng hoặc sa xuống hầm hố mà chết.

    12. Không bị người khác trấn ếm, trù ẻo mà chết.

    13. Không bị tà thần, ác quỷ làm hại để chết.

    14. Không bị chết vì ác bệnh.

    15. Không bị chết oan (tự tử, bất đắc kỳ tử, ...).

    Vì những điều nêu trên, Chú Đại Bi có thể trừ được tất cả những tai nạn, những khổ nạn và thành tựu được những toại nguyện. Những ai chí thành trì niệm thì được những điều lợi ích như trên và sẽ được xa lánh mọi ưu bi, khổ não cho chính mình và có thể cứu giúp được tha nhân như Đại bi tâm của Bồ tát Quán Thế Âm.

    2.- Giải thích:

    Nam mô : tức là Quy y, nương về, nương theo,

    Hát ra đát na đá ra dạ da : tức là Tam bảo (Phật, Pháp Tăng),

    Nam mô : tức là Quy mạng, cũng có nghĩa là Quy y,

    A lị da : tức là Thánh,

    Bà lô yết đế : tức là Quán,

    Thước bát ra da : tức Tự tại,

    Bồ đề tát đỏa bà da : tức là Giác hữu tình,

    Ma ha tát đỏa bà da : tức là Đại giác hữu tình,

    Ma ha ca lô ni ca da : tức là người có lòng đại bi. (Đại bi tâm giả),

    Án : tức là Quy mạng,

    Tát bàn ra phạt duệ : tức là Nhất thế tôn,

    Số đát na đát tả : tức là Vị cứu hết thảy sự khủng bố,

    Nam mô : tức là Quy mạng,

    Nam mô tất cát (hay kiết) : tức là kẻ ở bên kia (Ư bỉ),

    Y mông a lị da : tức là Thánh của chúng ta (Ngã thánh),

    Bà lô cát đế, thất Phật ra lăng đà bà : tức là Quán tự tại Hương sơn,

    Nam mô : tức là Quy mạng,

    Na ra cẩn trì : tức là Uy lực của Thánh Quán tự tại, tên là Thanh cảnh chí tâm chơn ngôn,

    Hê rị ma ha bàn đá sa mế : tức là Ta nay tuyên thuyết,

    Tát bà a tha đậu du bằng : tức là Vị có hết thảy mọi sự hy vọng viên mãn và có ánh sáng rực rỡ,

    A thệ dựng : tức là Không gì có thể so sánh được,

    Tát bà tát đá : tức là Hết thảy mọi quỷ thần không thể đánh thắng được.

    (* ma bà tát đá) na ma bà dà : tức là Đồng chơn,

    Ma phạt đặc đậu : tức là Người có đạo tâm đang ở trong cõi mê khiến sớm cho được thanh tịnh,

    Đát điệt tha : tức là Có nghĩa là,

    Án : tức là Quy mạng,

    A bà lô hê : tức là Bậc có trí tuệ sáng suốt,

    Lô ca đế : tức là Quán tự tại,

    Ca ra đế : tức là Đấng siêu việt thế gian,

    Di hê lị : tức là Vị sư tử vương,

    Ma ha bồ đề tát đỏa : tức là Đại Bồ tát,

    Tát bà tát bà : tức là Hết thảy hết thảy,

    Ma ra ma ra : tức là Ghi nhớ, ghi nhớ,

    Ma hê ma hê rị đà dựng : tức là Tâm chơn ngôn,

    Câu lô câu lô yết mông : tức là Làm sự nghiệp,

    Độ lô độ lô : tức là Bảo trì, bảo trì,

    Phạt xà da đế : tức là Người dạo chơi ở trên không (Du không giả),

    Ma ha phạt xà da đế : tức là Người oai đức lớn (Ma ha) dạo chơi ở trên không (Đại du không giả),

    Đà ra đà ra : tức là Bảo trì, bảo trì,

    Địa rị ni : tức là Kẻ trì tụng,

    Thất Phật ra da : tức là Vua Tự tại (Đế vương tự tại),

    Dá ra dá ra : tức là hành động,

    Mạ mạ phạt ma ra : tức là Không bị bụi bám vào (Vô cấu nhiễm),

    Mục đế lệ : tức là Thể không nhơ nhớp (Vô cấu thể),

    Y hê y hê : tức là Lời giáo dục, dạy dỗ (Giáo ngữ),

    Thất na thất na : tức là Lời thề rộng lớn (Đại thệ nguyện),

    A ra sâm : tức là vua (Vương),

    Phật ra xá lị : tức là sự Giác ngộ kiên cố (Giác kiên cố tử),

    Phạt sa phạt sâm : tức là Hoan hỷ, vui vẻ,

    Phật ra xá da : tức là Trừ mọi độc hại do tham sân si gây nên,

    Hô lô hô lô ma ra : tức là Làm phép không bị nhiễm ô (tác pháp vô cấu

    nhiễm),

    Hô lô hô lô hê rị : tức là mau chóng, mau chóng, tóc đã bạc rồi.

    Ta ra ta ra : tức là Kiên cố vậy (kiên cố giả),

    Tất rị tất rị : tức là Hoa sen,

    Tô rô tô rô : tức là Cọng hoa sen,

    Bồ đề dạ bồ đề dạ : tức là tỉnh ngộ, tỉnh ngộ,

    Bồ đà dạ bồ đà dạ : tức là Dạy cho được Giác ngộ,

    Di đế rị dạ : tức là Người có lòng từ bi,

    Na ra cẩn trì : tức là Thanh cảnh, xinh đẹp,

    Địa lị săt ni na : tức là Bền chắc và lanh lợi,

    Ba dạ ma na : tức là Nghe tên (danh văn),

    Ta bà ha : tức là Lòng mong mỏi được gặp thì sẽ được hiển hiện, sanh lòng hoan hỷ, viên mãn tới niết bàn,

    Tất đà dạ : tức là Nghĩa,

    Ta bà ha : tức là Bậc đã được thành tựu,

    Ma ha tất đà dạ : tức là Bậc đại nghĩa,

    Ta bà ha : tức là bậc đã được thành tựu lớn lao, đại thành tựu,

    Tất đà du nghệ : tức là Vô vi,

    Thất bàn ra dạ : tức là Bậc Đại tự tại,

    Ta bà ha : Bậc Tự tại bởi Tất địa và Du già,

    Na ra cẩn trì : tức là Hiền ái,

    Ta bà ha : tức là Vì thanh cảnh viên mãn nên được thành tựu,

    Ma ra na ra : tức là Như ý tối tôn,

    Ta bà ha : tức là được Thành tựu,

    Tất ra tăng a mục khư da : tức là Nghĩa thứ nhất của tiếng yêu thương (ái ngữ đệ nhất nghĩa),

    Ta bà ha : tức là Tay cầm hoa sen,

    Ta bà ma ha : tức là Đại thành tựu,

    A tất đà dạ : tức là Không có gì so sánh được (Vô tỷ),

    Ta bà ha : tức là Thành tựu,

    Giả cát ra a tất đà dạ : tức là Không có gì để so sánh được,

    Ta bà ha : tức là Thành tựu,

    Ba đà ma yết tất đà dạ : tức là Đại nghĩa,

    Ta bà ha : Đấng được khai ngộ vì nghe được tiếng pháp loa,

    Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ : tức là Bậc hiền thủ thánh tôn,

    Ta bà ha : tức là Thành tựu,

    Ma bà lợi thắng yết ra dạ : tức là Anh hùng uy đức sanh tánh,

    Ta bà ha : tức là Thành tựu, đại thành tựu (sự chinh phục tất cả ma chướng).

    Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da : tức là Quy mạng Tam bảo (Phật Pháp Tăng),

    Nam mô : tức là Quy mạng, quy y,

    A lị da : tức là Thánh,

    Bà lô cát đế : tức là Quán,

    Thước bàn ra dạ : tức là Tự tại,

    Ta bà ha : tức là Thành tựu,

    Án : tức là Quy mạng, quy y,

    Tất điện đô : tức là Khiến cho tôi sớm được thành tựu,

    Mạn đà ra : tức là Chơn ngôn,

    Bạt đà da : tức là Đều (Câu hay cu),

    Ta bà ha : Thành tựu, sớm thành tựu.

    3.- Đại ý của bài Thần chú:

    Con kính cẩn cúi đầu trước ngôi Tam bảo Phật Pháp Tăng. Nguyện xin quy y theo đức Thánh Quan Tự Tại. Con nguyện đem thân mạng mà quy y với đức đại Bồ tát có lòng đại từ đại bi, mà cầu xin sớm được thành tựu sự giác ngộ để cứu độ cho hết thảy chúng sanh do mê muội đang bị khủng bố trên thế gian nầy. Do đó, con đem cả thân mạng mà quy y với đức Đại Bồ Tát có lòng đại từ bi. Một lòng thề nguyện truyền bá rộng rãi lòng từ bi của đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát; lắng nghe tâm chơn ngôn (tổng trì pháp môn tâm chơn ngôn và Phật nội chứng), vâng theo mệnh của bổn tôn là Đại bi tâm đà la ni nầy mà hết lòng xưng tụng công đức Quán Tự Tại Bồ Tát, tất cả mọi hy vọng đều được viên mãn, làm sáng tỏ tính chất đồng thể đại bi thanh tịnh viên minh và làm cho tất cả quỷ thần đều không thể đánh thắng được uy lực to lớn của Ngài. Với những kẻ có đạo tâm, không bao giờ bị vô minh phiền não mê hoặc, không bao giờ bị đắm chìm trong cảnh mê muội, u tối và được dẫn dắt tới thế giới quang minh của đức Đại Bồ Tát. Trí tuệ quang minh được biểu hiện siêu tuyệt nhất thế gian là đức Bồ Tát có công đức vô cùng vĩ đại. Có đấng quy mạng giống như đức Tự Tại Sư Tử Vương Đại Bồ Tát. Ức niệm nói chung của bản thể tâm chơn ngôn của Bồ tát cũng giống như đi ở trên không trung để thuyết giảng chánh pháp một cách lớn lao và tự tại, hoặc là làm công việc tư duy về một công việc to rộng. Cũng như các bậc vua chúa, bất kể việc gì, đều được đức Bồ tát làm một cách tự do, tự tại. Được hành động bởi một thân thể thanh tịnh, không mảy may dơ bẩn, hoặc để trừ mọi hành vi dơ bẩn của ba cái độc hại là tham, sân và si; cũng như diệt trừ mọi ác ma độc hại ở trên thế gian nầy. Như thế sẽ nhanh chóng có mái tóc đẹp như hoa sen thanh tịnh và cầm lấy được hoa sen của đức Bồ tát. Giáo hóa được nghiệp ngu si của ta và chứng ngộ được lòng yêu thương vô bờ bến. Khiến được sanh lòng hoan hỷ của Bồ tát Quán Tự tại.

    Muốn được tới cõi niết bàn (thành tựu viên mãn) sẽ được thấy cõi niết bàn, và cũng tới được cảnh giới Tất địa (nơi ngộ đạo) với Du già (tương ứng hiệp nhập) thì được tự do, vô ngại. Trong đó, cũng có kẻ không phải là loài người (mặt heo cổ xanh, có kẻ mặt sư tử), con nào từ bi thì biểu thị tay cầm hoa sen, để thâu nhiếp chánh pháp trừ ma quỷ phiền não. Nghe tiếng pháp loa vi diệu được chuyển mê khai ngộ, hết thảy đều quy y Tam bảo.

    Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát, khiến cho được tới cõi niết bàn, để trì tụng lời chơn ngôn này ở nơi niết bàn thanh tịnh, trang nghiêm.

    Trên đây là đại ý toàn bài Chú đại bi, mong quý vị đọc nhiều lần và thành tâm hành trì thì sẽ được như nguyện; đồng thời, một khi đã được thâm hiểu, xin quý vị hướng dẫn bằng hữu cùng tu tập theo, để gieo duyên với cảnh giới Thường Tịch Quang Tịnh Độ.

    Read more chudaibi.com

  2. #2

    Mặc định

    Tuyên Hóa Thượng Nhân có bài giảng về Chú Đại Bi rất hay, trong ấy Ngài giảng rõ về ý nghĩa của chú kèm theo đó là những câu chuyện làm rõ...
    Nay xin Trích một đoạn để gieo duyên:
    .......
    37. Thất na thất na

    Câu chú này được dịch là “Đại trí tuệ”, cũng dịch là “Hoằng thệ nguyện”. Đây là Bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Bảo cảnh được ví như Đại viên cảnh trí của chư Phật.

    Đại trí huệ là gì? Đó là khi chúng sanh không còn dính mắc vào vọng tưởng nữa. Có đại trí huệ, thì mỗi niệm đều là biểu hiện của trí bát nhã, mỗi tâm niệm đều lưu xuất từ Đại Quang Minh. Nếu quý vị có trí huệ chân chính thì sẽ có được Quang Minh. Còn nếu chưa thể nhập trí tuệ tự tánh, thì vẫn còn trong màn tối tăm của vô minh.

    Quang minh là ánh sáng dương, còn bóng tối vô minh là âm. Tại sao người ta ngu tối? Bởi vì lực âm trồi lên quá mạnh. Do đâu người ta có trí tuệ sáng suốt? Bởi vì ánh sáng dương lớn mạnh hơn.

    Những người có trí tuệ không có lối suy nghĩ như những kẻ phàm phu. Họ có khả năng phân biệt rõ ràng chính tà. Họ không cần phải hỏi người khác, họ biết mọi điều ngay nơi tự thân của mình. Họ không đi vào con đường tẻ, họ bước đi vào ngay chính lộ và hạ thủ công phu. Trong khi hành trì, trước tiên quý vị phải đạt được trí tuệ. Rồi quý vị phải biết rõ ràng chính tà để rồi mới tiến vào con đường chánh lộ và tránh con đường tà vạy.

    Nhưng quý vị không thể nào biết rõ việc làm nào hư ngụy nên cứ mãi khăng khăng tạo nghiệp ác. Quý vị kôhng thể nào biết được rõ ràng thế nào là phạm giới, nên cứ thế mà làm, ráng hết sức để làm cho được, cứ muốn nhìn cho được dù thực sự đó là những thứ chướng ngại. Những hành vi như thế là sự ngu muội tột cùng, biểu lộ hoàn toàn sự non yếu trí tuệ.

    Ồ! Không – Quý vị có thể phản đối – Tôi là người có trí tuệ, tôi chỉ sai lầm trong nhất thời thôi!

    Chỉ sai lầm một lần thôi cũng có nghĩa là vô minh, không có trí tuệ rồi
    . Người có đại trí tuệ không hề có tư tưởng sai lầm. Thế nên Tôn giả A Nan đã phát nguyện:

    Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng

    Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân.

    Nghĩa là:

    “Giúp cho con tiêu trừ vọng tưởng sai lầm trong muôn ức kiếp”.

    Khiến con chẳng cần trải qua a tăng kỳ kiếp mà chứng ngộ được pháp thân”.

    Tôn giả đã phát nguyện tiêu trừ vọng tưởng không những chỉ một, hai, ba, bốn, năm hay một trăm kiếp nhưng trong vô số kiếp.

    Nhưng tại sao trong tâm ta lại có quá nhiều vọng tưởng như thế? Khi một vọng tưởng đi qua, vọng tưởng khác kế tiếp theo, và khi vọng tưởng ấy tiêu mất, vọng tưởng sau lại sinh khởi tiếp nối. Giống như sóng trên mặt biển. Quý vị cứ nghĩ rằng đại dương là vật vô tình, nhưng thực sự nó chẳng phải là thứ ở ngoài tâm quý vị mà có. Biển cả cũng được lưu xuất từ trong tâm niệm của chúng sanh. Sóng biển không ngừng nổi lên rồi chìm xuống, cũng hoàn toàn giống như vọng tưởng của chúng sanh chẳng bao giờ ngừng. Nó liên tục mãi. Vọng tưởng trước vừa biến mất, vọng tưởng sau liền tiếp nối, vọng tưởng này tiếp nối vọng tưởng kia, xoay vần tương tục, nối theo nhau không dứt, như dòng thác không bao giờ ngừng. Không có vọng tưởng nào muốn rơi lại đằng sau cả, chúng đều hoàn toàn muốn phóng vọt lên phía trước. Vì sao mà quý vị lại mắc phải quá nhiều vọng tưởng như vậy? Chỉ vì không có trí tuệ. Nếu quý vị có trí tuệ, thì chẳng còn mảy may vọng tưởng và sóng cũng không còn xao động nữa. Như trong câu thơ:

    Thanh phong đồ lai

    Thủy ba bất hưng

    Nghĩa là:

    “Gió trong lành thổi đến,

    Biển không còn sóng xao”.

    Khi trong công phu mà quý vị đạt được định lực, cũng như sóng biển đã lặng yên. Khi có được định lực thì nước trí tuệ hiển hiện, không còn một gợn sóng, chẳng còn một niệm vọng tưởng nào nữa. Lúc đó là thanh tịnh chân thực. Đó là lúc:

    “Nhất trần bất nhiễm

    Vạn lự giai không”

    Thực vậy, khi một người không còn bị vướng dù chỉ một hạt bụi vô minh thì chẳng còn phải lo nghĩ một điều gì nữa cả, mọi thứ trên đời này đều là không. Đó chính là biểu hiện của đại trí tuệ.

    Người có trí tuệ thường thành công trong bất kỳ mọi việc, còn người thiếu trí tuệu thường bị thất bại trong bất kỳ việc gì mà họ nhúng tay vào. Do vậy nên trí tuệ là vô cùng quan trọng.

    Ngu muội là gì? Vô minh chính là ngu muội. Ngu muội cũng chỉ là từ vô minh mà ra. Khi vô minh sinh khởi, con người hoàn toàn bị mất sáng suốt. Quý vị hãy hỏi một người vừa mới làm một việc sai lầm xong thì rõ:

    - Tại sao anh lại làm việc đó?

    Họ sẽ trả lời:

    - Tôi không rõ nữa …

    Đó chính là do ngu muội, do sự thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ. Nhưng dù họ hành động mê lầm do vô minh, nhưng họ lại không chịu từ bỏ vô minh. Họ lại khăng khăng:

    - Tôi biết chứ. Tôi biết nó sai mà! Thật là quái lạ. Con người mê muội chỉ do vì không có trí tuệ, không đạt được Đại viên cảnh trí, vì họ không chịu công phu hành trì Bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Nếu họ tu tập ấn pháp này, thì sẽ không còn ngu muội nữa; bất luận chuyện gì xảy ra. Đó là khi:

    Phùng quỷ sát quỷ

    Phùng Phật sát Phật

    Đây cũng như việc cầm một cây dao thật bén, chặt ngay mọi vọng tưởng vừa lóe lên. Đại trí tuệ cũng như một con dao bén hay còn được ví như thanh gươm.

    Quý vị có thể nói: “Gươm trí tuệ rất nặng, không, không dễ gì cầm kiếm ấy được”! Đó là vì quý vị chưa từng cầm nó. Thực ra, sử dụng kiếm này chẳng cần sử dụng chút sức lực nào cả. Nếu quý vị chưa từng cầm nó lên thì thấy nó quá nặng. Nếu quý vị đã cầm lên rồi, thì thấy nó nhẹ. Nếu quý vị không chịu cầm lên, thì nhẹ biến thành nặng. Nếu quý vị chịu cầm lên, thì nặng biến thành nhẹ. Sao vậy? Vì quý vị đã cầm lên rồi!

    Nếu quý vị nói: “Tôi biết rằng gươm trí tuệ rất quan trọng, nhưng quá nặng. Tôi không thể nhấc lên nổi”. Và quý vị không sờ tới gươm. Thế nên gươm trí tuệ càng nặng thật. Nhưng một khi quý vị đã sờ vào kiếm, đã vung gươm lên rồi thì mọi sự hiểu biết đều bén nhọn như lưỡi gươm, chẳng còn một chút rắc rối nào nữa cả. Thế nên tôi thường nói với quý vị rằng:

    “Mọi việc đều tốt đẹp cả”. Chính là phát xuất từ đạo lý này. Nếu quý vị gặp nhiều việc rắc rối, là vì quý vị không có thanh gươm trí tuệ. Nếu quý vị có được thanh kiếm trí tuệ ấy, thì sẽ chẳng còn chuyện gì rắc rối nữa cả. Màu nhiệm là ở điểm này.

    Núi sông đất liền, lâu đài nhà cửa, thế giới y báo cũng như chánh báo đều không vượt ra ngoài tâm niệm hiện tiền của chúng ta.

    Cái gì là thế giới ý báo? Núi sông, đất liền, lâu đài nhà cửa gọi là thế giới y báo. Thế giới chánh báo là thân tâm của chúng ta, chính là nơi mà con người chúng ta thọ nhận sự báo ứng. Nếu quý vị đã hiểu được sự báo ứng khi chính mình thọ nhận, nghĩa là quý vị không còn vô minh nữa. Không còn vô minh nghĩa là có trí tuệ. Điều này được ví như tấm gương:

    Vật lai tắc ánh

    Vật khứ tắc không.

    Nghĩa là: “Vật đến liền chiếu. Vật biến hoàn không”. Tấm gương chẳng lưu giữ dấu vết gì cả. Kẻ trí thường thản nhiên với mọi chuyện và cứ để nó trôi qua mà lòng chẳng còn vướng bận điều gì.

    Mặc dù kẻ trí chẳng lưu giữ điều gì lại trong lòng, nhưng mọi vật thường tự hiển bày. Và mặc dù nó thường tự hiển bày nhưng chẳng hề bị vướng mắc.

    Chúng ta là hàng phàm phu, chưa có được đại trí tuệ, phải nỗ lực vượt bậc để thường nhớ trì tụng chú Đại Bi, hoặc thường niệm câu: “Y hê, y hê, thất na, thất na”.

    Khi đã tụng một lần rồi là không còn quên nữa, đã tụng được hai, ba lần, vài trăm lần rồi thì chẳng thể nào quên được nữa. Đó là phải cố gắng để ghi nhớ. Còn khi quý vị chỉ cần nhìn hoặc nghe lướt qua một lần rồi nhớ mãi không quên, chẳng cần phải dụng công ghi nhớ nữa, đó là khi trí tuệ của quý vị chiếu sáng như một đài gương trong.

    Người có trí tuệ đều biết rằng mọi hiện tượng đều lưu xuất từ tự tâm của mình. Nếu quý vị hiểu được điều này thì mình sẽ không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa. Sao vậy? Vì mọi sự việc đều lưu xuất từ tâm mình, nên những thứ vui buồn giận ghét đều là sở hữu của chính mình. Dù nó tốt hay xấu, cũng chẳng có vấn đề gì cả.

    Mặc dù nói về cảnh giới ấy thì rất dễ, nhưng tiếp xúc với cảnh giới ấy không phải dễ dàng gì, cần phải có công phu mới tiếp xúc được với cảnh giới ấy. Những người không có công phu sẽ nói:

    “Đối với tôi, chẳng có vấn đề gì rắc rối cả”.

    Bên ngoài thì như thế, nhưng vấn đề rắc rối đang phát sinh và chống đối với nhau ở bên trong. Những người có trí tuệ chân chính thì rất hiếm.

    Quý vị cũng nên phân biệt rõ trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất thến gian. Trí tuệ thế gian còn gọi là Thế trí biện thông, là có thể nhào nặn ngay ra một đạo lý khi nào cần đến. Nơi nào không có đạo lý, họ có thể tạo dựng ra, khiến mọi người nghe rất hợp lý. Những kẻ mê muội nghe họ nói liền nghĩ rằng:

    “Ồ! Họ đề cập đến những đạo lý rất đúng”. Thực ra, nếu quý vị có được trí tuệ chân chính, quý vị sẽ không bị đắm chìm trong mớ lý luận ngu muội của họ. Người ta thường nói: “Trong dương có âm”.

    Cũng vậy, trong trí tuệ cũng có sự ngu muội – sự ngu muội một cách trí tuệ. Mặt khác, trong âm có dương. Bên trong sự ngu muội ẩn chứa một trí tuệ. Chẳng hạn như quý vị có thể thấy một người chẳng nói năng gì cả, dường như là kẻ quê mùa dốt nát, nhưng anh ta làm những việc chân chính. Anh ta có thể hiện thân một kẻ hồ đồ mê muội, nhưng luôn luôn ứng xử khế hợp với đạo lý. Có rất nhiều người như vậy.

    Khi quan sát người khác, quý vị sẽ tự chiêm nghiệm ra chính tự thân mình có được trí tuệ sáng suốt hay không. Nếu quý vị có trí tuệ chân chính, thì quý vị không bị người klhác sai sử, dẫn dắt đến chỗ sai lầm. Còn nếu quý vị không có trí tuệ, quý vị sẽ bị người khác xui khiến làm điều xằng bậy.

    Trí tuệ và ngu muội có một mối quan hệ trực tiếp. Đó là hai mặt của một chỉnh thể. Vắng bóng vô minh thì trí tuệ hiển bày. Và vô minh sinh khởi khi thiếu vắng trí tuệ. Trong vô minh có trí tuệ và chính trong trí tuệ có bóng dáng của vô minh. Sao lại như thế? Vì trí tuệ và vô minh là một. Nếu quý vị biết vận dụng, thì đó là trí tuệ. Còn nếu không biết vận dụng thì đó là vô minh. Chẳng hạn như khi quý vị nâng thanh gươm trí tuệ lên thì đó chính là trí tuệ; còn khi quý vị buông thanh gươm ấy xuống thì đó là vô minh. Đó không phải là hai mà chỉ là một. Thế nên quý vị đừng bao giờ nói rằng mình đang đi tìm kiếm trí tuệ và đang xua đuổi vô minh. Không ai làm được việc ấy bao giờ. Chủ yếu chỉ là sự “hồi đầu”.

    Có thể lấy ví dụ của bàn tay để biểu tượng cho trí tuệ và mặt kia là biểu hiện cho vô minh. Nếu quý vị muốn cầm nắm một đồ vật bằng mặt kia của bàn tay thì không thể nào làm được cả, nhưng nếu quý vị dùng chính bàn tay của mình thì mới lấy được đồ vật. Việc không lấy được đồ vật là biểu tượng cho vô minh và việc sử dụng bàn tay để lấy được vật là biểu tượng cho trí tuệ. Đó là hai khía cạnh của chỉ một ý nghĩa chung nhất, tùy thuộc vào sự vận hành của quý vị.

    Có người lại nói: “Nay tôi đã hiểu rồi. Vô minh và trí tuệ chính là bàn tay của tôi”. Lại sai lầm nữa! Bàn tay chỉ là ví dụ. Đừng nên cho rằng trí tuệ và vô minh chính là bàn tay. Cũng giống như ví dụ ngón tay và mặt trăng (trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm). Đức Phật lấy ví dụ dùng ngón tay để chỉ cho người thấy mặt trăng. Đừng nhầm lẫn ngón tay chính là mặt trăng.

    Thất na thất na là “đại trí tuệ” và còn có nghĩa là “hoằng thệ nguyện” – là phát nguyện rộng lớn. Khi muốn hoàn thành một việc gì, phải phát thệ nguyện làm cho đến cùng. Như đức Phật A Di Đà trước khi thành chánh giác, khi đang tu tập nhân địa với hình tướng của một Tỳ kheo, Ngài đã phát 48 lời nguyện rộng lớn. Bồ tát Phổ Hiền cũng đã phát 10 Đại nguyện Vương. Bồ tát Quán Thế Âm cũng phát vô số lời nguyện cũng như các vị Tổ sư đã từng phát nguyện. Tôi đang giảng cho quý vị nghe về việc phát đại nguyện. Còn có lập nguyện được hay không là do ở quý vị. Tôi đưa đề tài này ra giảng vì tôi đoán chắc là quý vị chưa được thông hiểu. Nhưng không phải là tôi bắt buộc quý vị phải phát nguyện. Nay quý vị đang tu học Phật pháp, mỗi người nên tự mình lập hạnh nguyện, càng lớn càng tốt. Lập nguyện càng lớn thì sự thành tựu càng cao. Hiện nay chúng ta đều đang tu nhân và chưa ai thành Phật cả, chúng ta nên phát lời nguyện ở nơi nhân địa mà tu hành. Mỗi người nên viết rà lời nguyện của mình thật chi tiết. Đừng phát nguyện một cách hời hợt, qua loa, cho có nguyện mà phải thiết thực như: “Con nguyện cứu độ tất cả mọi loài chúng sanh”.

    Thật chứ? Làm sao quý vị có thể độ chúng sanh được. Khi suốt ngày quý vị cứ tìm mọi cách để được ăn ngon, mặc đẹp, ở nơi xa hoa tráng lệ. Việc cứu độ chúng sanh trước hết là độ chúng sanh nơi cái miệng chuyên nói lời vọng ngôn của quý vị, độ cái bụng ham ăn, độ cái thân ham thích sung sướng của chính mình trước đã. Cho nên quý vị phải thẳng thắn và minh bạch trong khi phát nguyện. Hiện tại mình phát nguyện gì? Tương lai sẽ ra sao? Như ở trong quá khứ, chúng ta có thể quên lãng những gì đã từng ứng dụng tu hành. Nhưng trong tương lai chúng ta sẽ thực hành điều gì? Mỗi người Phật tử đều phải nên có lời phát nguyện. Nay ở trong nhân địa, lời phát nguyện càng lớn thì trong tương lai, kết quả sẽ càng cao. Nếu quý vị đặt tất cả nguyện lực của mình vào một lỗ chân lông, thì quý vị có thể phát một thệ nguyện lớn ngay từ trong lỗ chân lông.

    Phát nguyện là một lời hứa thiêng liêng mà mọi người Phật tử đều nên thực hiện. Phát nguyện rất quan trọng, vì không có nó cũng như không có người hướng dẫn. Giống như đi đường mà không biết mình sẽ đi hướng nào, chẳng biết nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến đích. Nếu quý vị phát nguyện, cũng như khi du lịch có người hướng dẫn đường đi và nơi đến.

    Tại sao chư Phật và chư Bồ tát đều phát nguyện khi tu đạo? Vì khi đã phát nguyện rồi, mình mới tự mình hành động tương ứng với nguyện đã lập. Ví dụ như Bồ tát Địa Tạng khi tu hành ở nhân địa, Ngài đã phát lời nguyện vĩ đại:

    …“Địa ngục vị không

    Thệ bất thành Phật

    Chúng sanh độ tận

    Phương chứng Bồ đề”.

    Nghĩa là:

    “Chúng sanh độ hết

    Mới chứng Bồ đề

    Địa ngục nếu còn

    Con chưa thành Phật”.

    Nguyện lực này cực kỳ vĩ đại. Chúng ta cũng nên phát nguyện. Mỗi quý vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với những việc hằng ngày quý vị thích làm.
    Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng họa phước đành rành, thân tự chịu lấy không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối.

  3. #3

    Mặc định

    CHÚ HỘ TRÌ - ĐẠI BI
    (SANSKRIT - DỊCH ÂM - DỊCH NGHĨA)


    Dịch Việt: Nguyệt Thiên

    (Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)
    Lời tựa: Thể theo lời yêu cầu của một số thân hữu, sau khi tìm hiểu ý nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh qua văn bản Sanskrit, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu văn bản Chú Đại Bi. Do không có điều kiện tiếp cận với các thư viện lớn nên việc tầm cầu văn bản Sanskrit của chúng tôi chỉ hạn chế ở mạng internet. Ở đây, chúng tôi sẽ trình bày văn bản Sanskrit được xem là có thể tin cậy nhất về khía cạnh ngôn ngữ vì nó trình bày tương đối đầy đủ những biến cách của các từ trong câu. Văn bản ấy được viết với mẫu tự Roman và việc chuyển sang mẫu tự Devanāgarī đã do chúng tôi thực hiện. Ở đây, chúng tôi chỉ cố gắng ghi lại nghĩa Việt theo khả năng học hiểu về cổ ngữ Sanskrit nhằm mục đích trau dồi kiến thức về khía cạnh ngôn ngữ. Những điểm sai sót do thiếu hiểu biết về các lãnh vực khác, ngưỡng mong quý vị hỷ xả cho.

    ***

    CHÚ HỘ TRÌ - ĐẠI BI

    (SANSKRIT - DỊCH ÂM - DỊCH NGHĨA)



    ***



    ॥ महा करुणा धारनी ॥



    Mahā Karuṇā Dhāranī


    Chú Hộ Trì - Đại Bi




    नमो रत्नत्रयाय

    Namo ratnatrayāya

    Kính lễ Tam Bảo.



    नम आर्यावलोकितेश्वर � � �य बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

    Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākārunikāya.
    Kính lễ đức Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện, đấng sanh linh vĩ đại, có lòng bi mẫn vĩ đại.



    ॐ सर्वभयशोधनाय तस्य नमस्कृत्वा इमु आर्यावलोकितेश्वर � � � तव नमो नीलकण्ठ

    Om sarva-bhaya-śodhanāya tasya namaskṛtvā imu Āryāvalokiteśvarā tava namo Nīlakaṇṭha.

    Om! Sau khi thực việc việc kính lễ đức Avalokiteśvara thánh thiện về việc ngài đã xua tan mọi nỗi sợ hãi, thưa vị Nīlakaṇṭha, xin kính lễ ngài.



    हृदयं वर्तयिष्यामि सर्वार्थसाधनं शुभं अजेयं सर्वभूतानां भवमार्गविशोधकम्
    Hṛdayaṃ vartayiṣyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubhaṃ ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga-viśodhakaṃ.

    Tôi sẽ xoay chuyển điều cốt lõi tốt đẹp, bất bại, có sự thành tựu mọi mục đích của tất cả chúng sanh, làm cho trong sạch con đường của sự hiện hữu.



    तद्यथा ॐ आलोकाधिपति लोकातिक्रान्त
    Tadyathā: Om Ālokādhipati lokātikrānta.
    Điều ấy là như vầy: Thưa đấng Chúa Tể của Ánh Sáng! Thưa bậc Vượt Trên Thế Gian!

    एहि महाबोधिसत्त्व सर्प सर्प स्मर स्मर हृदयमं
    Ehi mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara smara hṛdayaṃ.
    Thưa vị Đại Bồ Tát, xin ngài hãy đến. Xin ngài hãy hiện đến, xin ngài hãy hiện đến. Xin ngài hãy nhớ đến, xin ngài hãy nhớ đến tâm nguyện.

    कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते
    Kuru-kuru karmuṃ dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate.
    Xin ngài hãy thể hiện, xin ngài hãy thể hiện hành động. Thưa đấng Chiến Thắng, thưa đấng Chiến Thắng Vĩ Đại, xin ngài hãy gánh vác, xin ngài hãy gánh vác.

    धर धर धारिनीराज चल चल मम विमलामूर्क्ते
    Dhara-dhara dhārinī-rāja cala-cala mama vimalā-mūrkte.
    Thưa Đức Vua của Trái Đất, xin ngài hãy nâng đỡ, xin ngài hãy nâng đỡ. Thưa vị Mūrktā Thanh Khiết, xin ngài hãy động thủ, xin ngài hãy động thủ.

    एहि एहि छिन्द छिन्द अरस् प्रचलि वशवशमं प्रनाशय​

    Ehi ehi chinda chinda aras pracali vaśa-vaśaṃ pranāśaya.
    Xin ngài hãy đến, xin ngài hãy đến. Xin ngài hãy chận đứng, xin ngài hãy mau chận đứng. Thưa ngài Pracali, xin ngài hãy làm tiêu tan mọi chất độc.



    हुलु हुलु स्मर हुलु हुलु सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु

    Hulu-hulu smara hulu-hulu sara-sara siri-siri suru-suru.[1]
    Xin ngài hãy mau mau nhớ lại. Xin ngài hãy mau mau chuyển động, chuyển động.



    भोधियभोधिय बोधय बोधय मैत्रिय नीलकण्ठ दर्शनम्

    Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitriya Nīlakaṇṭha darśanaṃ.
    Thưa vị Nīlakaṇṭha từ ái, xin ngài giúp cho giác ngộ, xin ngài giúp cho giác ngộ sự nhận thức cần được giác ngộ, cần được giác ngộ.



    प्रहरायमानाय स्वाहा सिद्धाय स्वाहा महासिद्धाय स्वाहा सिद्धयोगीश्वराय स्वाहा

    Praharāyamānāya svāhā siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā.
    Xin chào mừng vị đang giúp cho chống cự! Xin chào mừng vị đã được thành công! Xin chào mừng vị đã được thành công vĩ đại! Xin chào mừng vị Nữ Thần Yogīśvarā đã được thành công!



    नीलकण्ठाय स्वाहा वराहमुखाय स्वाहा नरसिम्हमुखाय स्वाहा
    Nīlakanthāya svāhā varāha-mukhāya svāhā narasimha-mukhāya svāhā.
    Xin chào mừng vị Nīlakanthāya (vị có cần cổ màu xanh đen)! Xin chào mừng vị Varāha-mukhāya (vị có khuôn mặt heo)! Xin chào mừng vị Narasimha-mukhāya (vị có khuôn mặt nhân sư)!

    गदाहस्ताय स्वाहा चक्रहस्ताय स्वाहा पद्महस्ताय स्वाहा
    Gadā-hastāya svāhā cakra-hastāya svāhā padma-hastāya svāhā.
    Xin chào mừng vị có cây chùy ở tay! Xin chào mừng vị có bánh xe ở tay! Xin chào mừng vị có đóa hoa sen ở tay!

    नीलकण्ठपान्दराय स्वाहा महातलि शन्करय स्वाहा
    Nīlakantha-pāndarāya svāhā Mahātali Śankaraya svāhā.
    Xin chào mừng vị Nīlakantha-pāndarāya (vị có cần cổ màu xanh đen dòng Pandu)! Xin chào mừng vị Mahātali Śankaraya (vị Mahātali đem lại lợi ích)!

    नमो रत्नत्रयाय
    Namo ratnatrayāya.
    Kính lễ Tam Bảo!

    नम आर्यावलोकितेश्वर � � �य बोधिसत्त्वाय स्वाहा
    Nama āryāvalokite-śvarāya bodhisattvāya svāhā.
    Kính lễ đức Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện! Xin chào mừng!

    BÁT NHÃ TÂM KINH
    (SANSKRIT - DỊCH ÂM - DỊCH NGHĨA)


    Dịch Việt: Nguyệt Thiên

    (Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)
    Lời tựa: Nhân dịp tình cờ tìm thấy văn bản Prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ (Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh) ở mạng internet nên chúng tôi có ý định tìm hiểu xem ý nghĩa bản văn với mục đích trau dồi thêm về phương diện ngôn ngữ. Ở đây, chúng tôi chỉ cố gắng ghi lại nghĩa Việt theo khả năng học hiểu về cổ ngữ Sanskrit. Những điểm sai sót do thiếu hiểu biết về các lãnh vực khác, ngưỡng mong quý vị hỷ xả cho.

    (http://www12.canvas.ne.jp/horai/heart-skt.gif)





    ***



    BÁT NHÃ TÂM KINH

    (SANSKRIT - DỊCH ÂM - DỊCH NGHĨA)



    ***



    ॥ प्रज्ञापारमिताहृ � � �यसूत्रम् ॥



    Prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ



    Kinh Giảng về Yếu Lý của Trí Tuệ Đến Bờ Kia (Bát Nhã Ba La Mật)





    ॥ नमः सर्वज्ञाय ॥

    Namaḥ sarvajñāya.

    Kính lễ đấng Toàn Tri.



    आर्यावलोकितत्तेश � � �वरबोधिसत्त्वो

    गंभीरायं प्रज्ञापारमितायं चर्यां चरमाणो

    व्यवलोकयति स्म । पंच स्कन्धाः ।

    तांश्च स्वभावशून्यान्पश � � �यति स्म ।

    āryāvalokiteśvarabodhisattvo

    gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

    vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

    tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

    Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện

    trong khi thực hành hạnh Ba-la-mật thâm sâu về Trí Tuệ

    đã quan sát kỹ lưỡng năm uẩn

    và đã nhìn thấy chúng có trạng thái KHÔNG ở bản thể.[1]



    इह शारिपुत्र रूपं शून्यता शून्यतैव रूपं रूपान्न पृथक् शून्यता शून्याताया न

    पृथग्रूपं यद्रूपं सा शून्यता या शून्यता तद्रूपं । एवमेव वेदनासंज्ञासंस्क � � �रविज्ञानानि ।

    iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.

    Này Śāriputra, ở đây SẮC là trạng thái KHÔNG, chính trạng thái KHÔNG là SẮC; trạng thái KHÔNG không tách rời khỏi SẮC, SẮC không tách rời khỏi trạng thái KHÔNG; cái nào là SẮC, cái ấy là trạng thái KHÔNG; cái nào là trạng thái KHÔNG, cái ấy là SẮC. Tương tợ y như thế là các THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC.[2]



    इह शारिपुत्र सर्वधर्माः शून्यतालक्शणा अनुत्पन्ना अनिरुद्धा अमला न विमला नोना न परिपूर्णाः ।

    iha śāriputra sarva-dharmāḥ śūnyatā-lakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā avimalā nonā na paripūrnāḥ.

    Này Śāriputra, ở đây tất cả các pháp có trạng thái KHÔNG là tướng trạng, thì không được sanh ra, không bị hoại diệt, không vết nhơ, không phải là khỏi bị vết nhơ, không là vơi, không bị tràn đầy.



    न विद्या नाविद्या न विद्याक्षयो नाविद्याक्षयो यावन्न जरामरणं न जरामरणक्षयो न दुःखसमुदयनिरोधमा � � �्गा न ज्ञानं न प्राप्तिरप्राप्त � � �त्वेन ।

    na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptiraprāptitvena.

    không là minh, không là vô minh, không là sự hoại diệt của minh, không là sự hoại diệt của vô minh, cho đến (các trạng thái) không là già và chết, không là sự hoại diệt của già và chết, không là Khổ-Tập-Diệt-Đạo, không là trí, không là sự đạt đến cùng với trạng thái không đạt đến.[3]



    तस्माच्छारिपुत्र शूयतायां न रूपं न वेदना न संज्ञा न संस्कारा न विज्ञानानि । न चक्षुःश्रोत्रघ्र � � �णजिह्वाकायमनांस � � । नरूपशब्दगंधरसस्प � � �रष्टव्यधर्माः । न चक्षुर्धातुर्याव � � �्न

    ननोविज्ञानधातुः ।

    tasmācchāriputra śūnyatāyām na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārā na vijñānāni. na cakṣuḥ-śrotra-ghrāṇa-jihvā-kāya-manāṃsi. na rūpa-sabda-gandha-rasa-spraṣṭavya-dharmāḥ. na cakṣur-dhātur yāvan na manovijñāna-dhātuḥ.

    Này Śāriputra, vì thế ở trạng thái KHÔNG không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có các thức, không có các mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, không có các sắc-thinh-hương-vị-xúc-pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.



    बोधिसत्त्वस्य प्रज्ञापारमितामा � � �्रित्य विहरत्यचित्तावरण � � �: ।

    चित्तावरणनास्तित � � �वादत्रस्तो विपर्यासातिक्रान � � �तो निष्ठनिर्वाणः ।

    त्र्यध्वव्यवस्थि � � �ाः सर्वबुद्धाः प्रज्ञापारमितामा श्रित्यानुत्तरां

    सम्यक् संबोधिमभिसंबुद्ध � � �ः ।

    bodhisattvasya prajñāpāramitām-āśritya viharatyacittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvād-atrasto viparyāsātikrānto niṣṭha-nirvāṇaḥ. tryadhva-vyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāramitām-āśrityānuttarāṃ samyaksaṃbodhim-abhisaṃbuddhāḥ.

    [4]Vị Bồ Tát, sau khi nương tựa vào Trí Tuệ Đến Bờ Kia, sống có sự không bị che lấp ở tâm; do không có sự hiện diện của sự che lấp ở tâm, (trở nên) không bị dao động, (được) vượt qua ảo tưởng, có Niết Bàn được hoàn mãn. Tất cả chư Phật hiện hữu ở ba thời (quá khứ-hiện tại-vị lai), sau khi nương tựa vào Trí Tuệ Đến Bờ Kia, thì được chứng đắc phẩm vị Toàn Giác vô thượng.



    तस्माज्ज्ञातव्यो प्रज्ञापारमितामह � � �मन्त्रो

    महाविद्यामन्त्रो ऽनुत्तरमन्त्रो ऽसमसममन्त्रः सर्वदुःखप्रशमनः

    सत्यममिथ्यत्वात् प्रज्ञापारमिताया � � �ुक्तो मन्त्रः ।

    tasmāj-jñātavyo prajñāpāramitā-mahāmantro mahāvidyāmantro ’nuttaramantro ’samasamamantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyam-amithyatvāt prajñāpāramitāyām-ukto mantraḥ.

    Vì thế, nên biết rằng: lời chỉ dạy[5] vĩ đại về Trí Tuệ Đến Bờ Kia là lời chỉ dạy về sự hiểu biết vĩ đại, lời chỉ dạy vô thượng, lời chỉ dạy không gì sánh bằng, có sự làm lắng dịu tất cả khổ đau, là sự thật bởi vì tính chất không sai trái, là lời chỉ dạy được nói ở Trí Tuệ Đến Bờ Kia.



    तद्यथा गते गते पारगते पारसंगते बोधि स्वाहा ॥

    tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.

    Điều ấy là như vầy: “Khi đã đi đến, khi đã đi đến, khi đã đi đến bờ kia, khi đã hội tụ ở bờ kia, phẩm vị Giác Ngộ là vật dâng hiến.”

    (gá-têêê gá-têêê paaa-rá-gá-têêê paaa-rá-xămmm-gá-têêê bô-đơhí xơ-vaaa-haaa).[6]



    ॥ इति प्रज्ञापारमिताहृ � � �यं समाप्तं ॥

    iti prajñāpāramitā-hṛdayaṃ samāptaṃ.

    Như vậy Yếu Lý của Trí Tuệ Đến Bờ Kia được đầy đủ.



    ***

    Xem thêm Chú Đại Bi.

    [1] Ở các bản dịch từ tiếng Hán có thêm: “độ nhất thiết khổ ách/vượt qua mọi khổ ách.” Không thấy đoạn này ở các bản tiếng Anh.

    [2] Ở đây đang nói về ngũ nẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.

    [3] So sánh với bản dịch từ tiếng Hán và tiếng Anh, thì văn bản này có sự đảo lộn thứ tự của đoạn này và đoạn kế.

    [4] Ở các văn bản khác có thêm: tasmād aprāptitvād / Dĩ vô sở đắc cố / Bởi không sở đắc / Therefore, O Sariputra, by reason of his nonattainment (of nirvana).

    [5] Từ mantra ở đây được ghi nghĩa Việt là “lời chỉ dạy” thay vì “chú thuật.” Sanskrit - English Dictionary ghi nghĩa của từ mantra như sau: “... ‘instrument of thought,’ speech, sacred text or speech, a prayer or song of praise ...”

    [6] Thay vì theo âm của tiếng Hán “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha” thì được ghi âm theo cách đọc của tiếng Sanskrit: Ví dụ: gá-têêê: gá = âm ngắn, têêê = âm dài, đọc là tê rồi kéo dài ra.

    http://www.paliviet.info/Sanskrit/Skrt_BatNha.htm

    *
    Hoa Sen Ngàn Cánh*

  4. #4

    Talking

    Diễn nghĩa Chú Đại bi, Nīlakantha Dhāranī của TS Huệ Dân

    Phạn ngữ mẫu chữ La tinh

    Namo ratnatrayāya namah ārya avalokiteśvarāya

    Âm Hán Phạn

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da ( Namo ratnatrayāya). Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da (Namah ārya avalokiteśvarāya).

    Ý Việt

    Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng,( Namo ratnatrayāya). Con xin quy y Bậc Thánh giả Quán thế âm (Namah ārya avalokiteśvarāya).

    Diễn nghĩa :

    Trong Phật học chữ : Namah (नम), Namas (नमस्), hay Namo có nghĩa là đem thân tâm về qui ngưỡng Phật, Pháp, Tăng.

    Chữ Namas được chia làm hai nhóm có gốc từ động từ √nam (chữ devaganari √ नम् ), chữ namas nhóm một (chữ devaganari नमस्), dạng trung tính, có nghĩa : kính chào, tôn kính, ngưỡng mộ. Trên phương diện giới từ hay liên từ : chúc tụng, ca ngợi, tán tụng.

    Động từ căn √nam (√ नम् √nam) có nghĩa : uốn cong, nghiêng xuống, chào, vinh danh, được uốn cong, tự quy phục, nhượng bộ.

    Chữ namas nhóm hai (chữ devaganari नमस्), là thân động từ phản thân của namas nhóm một, có nghĩa : vinh danh, và khi làm trực bổ cách : làm danh dự, chào hỏi, kính trọng, ngưỡng mộ.

    Chữ Namaste (chữ devaganari नमस्ते) là chữ ghép của : namas (नमस्) và te (ते), có nghĩa : tôi chào bạn, chào bạn, hân hạnh chào bạn.

    Chữ namaskāra (chữ devaganari नमस्कार) là chữ ghép của namas nhóm một và thân từ -kāra (chữ devaganari कार : người ấy làm). Chữ namaskāra dùng để diễn đạt hành động của một người đang chào hay đang tôn kính ai đó, khi họ cuối đầu và nói chữ Namas.

    Chữ namaskāram là câu chào có nghĩa : hân hạnh chào bạn.

    Namaskar hoặc Namaskaram là một trong năm hình thức chào truyền thống chính thức được đề cập trong kinh Veda. Một lời chào tôn giáo, kèm theo cung cách ép hai lòng bàn tay ép với nhau và ngón tay trỏ trở lên, trước ngực.

    Namas, dấu chấm đỏ trên trán của các phụ nữ Hinđu khi kết hôn, đó là biểu tượng để tỏ bày sự cống hiến cuộc đời cho chồng tương lai của họ.

    Chữ Ratnatrayāya

    Ratna có gốc từ tiếng Phạn रत्न, ghép từ hai chữ : rā nhóm một và -na, thân từ thuộc, nữ tính, nam tính, trung tính, có nghĩa : viên ngọc.

    Gốc thân từ rā nhóm một, √ रा, rā_1 : cho, đồng ý, giao phó.

    Gốc thân từ rā nhóm hai, रा rā_2, xuất phát từ rā nhóm một : hành động cho, hay giao phó.

    Chữ–na, ॰न, dạng biến cách : hình thức làm bổ nghĩa cho cụm từ đi chung với nó.

    Trayāya trong phạn ngữ thuộc dạng nam tính, xuất phát từ chữ त्रय traya, có gốc từ chữ tri và -ya, thân từ thuộc, nữ tính, nam tính, trung tính, có nghĩa : thứ ba, bộ ba, số ba, thuộc về số ba.

    Chữ tri, त्रि : số ba, त्रयी : gấp ba lần.

    Chữ-ya, ॰य : thuộc về, liên quan, phát sinh từ, hình dạng của một chất lượng trừu tượng.

    Chữ Triratna : Tam bảo.

    Qua định nghĩa của chữ Ratna và Trayāya trong phạn ngữ, thì ý Việt được hiểu như là ba viên ngọc và Hán Việt gọi là Tam Bảo. Như vậy, trên phương diện Phật học thì Tam bảo được xem là ba ngôi qúy báu, mà trong đó bao gồm : Phật Bảo, Pháp Bảo,Tăng Bảo.

    Tam Bảo là sự hướng dẫn tinh thần toàn hảo bằng những lý tưởng cao cả và cũng là nương tựa cho những người đang đi tìm đạo để phát triễn sự học Phật của từng cá nhân, tùy theo trình độ và hoàn cảnh khác nhau trong đời sống hiện thực.

    Như đã hiểu và thấy qua phần định nghĩa của Phạn ngữ và trong phương diện Phật học, Tam Bảo không phải là nơi để cầu xin ân huệ, trưng bày chư Phật, Bồ tát hay tấn phong các vị Hoà thượng. Mà hãy lắng nghe và sống thực hành đúng theo những lời của Đức Phật, đã dạy cho tất cả những ai đang đi và muốn đi theo bước chân của Ngài, bằng con đường Chính Đạo.

    Chữ Buddha

    Chữ Phật, phạn ngữ viết theo mẫu tự la tinh là Buddha, chữ devaganari viết बुद्ध. Chữ Buddha là quá khứ phân từ của chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : tỉnh thức, sáng suốt, thông thái, khôn ngoan.

    Động từ căn √budh nhóm một (√बुध्), có nghĩa : tự đánh thức, tự tỉnh thức, xem, tìm hiểu, khám phá, nhận thức, cảm nhận, hiểu biết, hiểu, quan sát, suy nghĩ, tập trung, khơi dậy, phục hồi, làm cho hiểu, nhớ, tiết lộ, thông báo, thông tin, tư vấn, khuyên bảo, suy nghĩ đứng đắn, cố gắng tìm hiểu.

    Chữ budh nhóm hai, có gốc từ chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : người tự tỉnh thức, người hiểu biết, thông minh, sáng suốt, khôn ngoan.

    Chữ buddhi (बुद्धि) có gốc từ chữ budh nhóm một và thân từ -ti (ति hình thể hoạt động, thuộc nữ tính), có nghĩa : tinh thần, thông minh, khả năng nhận thức, hiểu biết, trí tuệ, nghĩ, ý tưởng, giải quyết.

    Chữ Dharma (Devanagari: धर्म), Pali : dhamma. धम्म

    Chữ Dharma có gốc từ chữ dharman có nghĩa : pháp luật, quy định, điều kiện, sự trong sạch tự nhiên, tốt, đạo đức, công bằng, nhiệm vụ, một mục đích của sự tồn tại, sự trật tự tự nhiên.

    Trong Phật học Dharma : Pháp Giới. Những điều căn bản của Đức Phật dạy để giữ gìn rèn luyện bản thân trong tu Phật.

    Chữ dharman, धर्मन्, là chữ ghép từ hai chữ : dhṛ và man : trợ giúp hay nâng đỡ, nền tảng, quy định, luật thiên nhiên .

    Động từ căn √dhṛ, có nghĩa là "nắm giữ", nắm giữ tính năng hoạt động của con người trong xã hội. Cách dùng chữ này rất đa dạng tùy theo chủ đề của bản văn.

    Chữ –man, ॰मन् : hình thức làm bổ nghĩa cho cụm từ đi chung với nó.

    Chữ Sangha hay Samgha, Phạn ngữ .

    Chữ Saṃgha, संघ saṃgha, là biến cách từ chữ Saṅgha (viết từ chữ saṃhan = sam-han_1), có nghĩa : bộ sưu tập, số lượng nhiều, đám đông, hiệp hội, công ty, sự tập trung quần chúng lại.

    Trong Phật học Sangha hay Samgha : giáo đoàn , Tăng đoàn, tu viện của các Tăng, ni, cộng đồng Phật giáo.

    Chữ ārya, आर्य

    Arya là một chủ đề còn nhiều bàn luận trong giới nghiên cứu ngôn ngữ cổ, ngày nay. Tuy nhiên nó cũng có nhiều định nghĩa được xử dụng qua các bài thánh ca trong Rigveda hay các văn bản của các tôn giáo như là : Ấn giáo, đạo Jain và Phật giáo… và đôi khi được gọi chung là Arya pháp.

    ārya, आर्य, viết từ chữ अर्य,arya có gốc động từ [ṛ], thân từ có bốn dạng : Cách tách li, nam tính, nữ tính, trung tính. Thuật ngữ này là một từ trong tiếng Phạn xưa, có nguồn gốc từ thời Ấn-Ba tư, hay thời tiền Ấn-Âu.

    Arya có nhiều ý nghĩa như sau : người phục vụ với lòng nhiệt thành, tận tâm, trung tín, trung thành, thân thiện, chăm sóc, cao quý, đẳng cấp thứ ba trong 4 giai cấp Bà la môn, đức tính, quý tộc, tốt hơn, chúa, làm chủ, đáng kính, danh dự, thầy, chủ nhân, chân chính, chiến binh tinh thần, anh hùng, người đã làm việc cho sự bình đẳng của tất cả và được yêu mến tất cả mọi người, tiến bộ, văn minh, các kinh nghiệm, người tiên tiến, cấp trên,

    Trong các văn bản Phật giáo, thường thấy chữ ariya hay ārya được dùng với các danh từ như : Dhammavinayo ariyassa, Việt dịch là Phật Pháp và Giới Luật, āryasatyāni catvāry, ý Việt là Bốn chân lý cao qúy, hay Tứ diệu đế và Bát Chánh Đạo được gọi là āryamārga hay āryāṣṭāṅgikamārga hoặc ariyamagga trong tiếng Pāli.

    Những người tu Phật giữ giới luật nghiêm chỉnh theo con đường Phật giáo cũng gọi là āryas. Phản nghĩa của āryas là anāryas.

    Trong văn bản Phật giáo Trung Quốc, Arya được dịch là : thánh.

    Chữ avalokiteśvarāya, अवलोकितेश्वरस्

    Avalokiteśvaras, āvalokiteśvaro, avalokiteshvara là danh từ phong cách số ít có nghĩa là Quán Thế Âm, Quán Tự Tại hay Quan Tự Tại, tiếng Nhật gọi là Kanzeon, Kanjizai, Kanzejizai, tiếng Trung Hoa là Kuan Yin, Guān Yīn, tiếng Triều Tiên là Gwan-eum,Gwanse-eu hay Gwanseeumbosal tiếng Thái Lan là Kuan Eim hay Phra Mae Kuan Eim, tiếng Nam Dương là Kwan Im, Dewi Kwan Im, tiếng Tây Tạng là Chenrezig, tiếng Khmer Lokeśvara, tiếng Mông Cổ là Nidubarüsheckchi, Janraisag, người Hồng Kong và Quảng Đông gọi là Kwun Yum hay Kun Yum.

    Quán Thế Âm là vị Bồ Tát tượng trưng cho lòng thương yêu không bờ bến của tất cả các chư Phật. Ngài là bà Mẹ hiền trong tất cả các bà mẹ hiền. Người của Chân Lý Hoa Đạo với nhành dương liễu và bình cam lồ trên tay rưới tắt và làm diệu đi những điều phiền não đang bừng cháy trong lòng chúng sanh.

    Ngài cũng là một trong những vị Bồ Tát có diệu dụng đặc biệt là quán xét và nghe thấu tất cả tiếng đau khổ của thế gian, rồi từ bi giáo hoá cứu độ đưa chúng sanh đến nơi an vui giải thoát, cho nên cũng gọi là Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Đại-Từ Đại-Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ-tát.

    Quán Tự Tại Bồ-tát có nghĩa là Ngài Quan Thế Âm Bồ-tát dùng trí huệ Bát-nhã quán sát sự vật đúng như chân lý một cách tự tại và thoát ra ngoài các Phiền não.

    Pháp môn của Bồ Tát Quán Thế Âm là phương pháp phản văn, văn tự tánh (không xuôi dòng đuổi theo âm thanh mà trở ngược lại tánh nghe) tức là từ cái nghe để trở về tự tánh của mình. Trong văn học, Thi ca, dựa vào trong sự hóa thân đa dạng của Bồ tát, qua sự tín ngưỡng khác nhau, người ta đã dùng các hình thái để tôn thờ Ngài như sau : Quan Âm đồng tử, Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính.

    Đối với Phật Giáo không có quan niệm sơ khai các vị Bồ tát hay chư Phật có giới tính và sự sinh sản. Do đó Quán Thế Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng, theo phẩm Phổ môn, khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ cho chúng sinh, Quán Âm có khả năng hiện thân đa dạng như Phật, Bồ Tát, thiện nam, tín nữ, thân nhi đồng v.v.

    Nếu cần hiện ra thân gì để cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó như : Các ngư dân ra biển khơi thường hay cầu nguyện Phật bà Quan Âm để được bình an trong các chuyến đi của họ. Vì thế sự hóa thân này của Ngài cũng có biệt hiệu "Quan Âm Nam Hải".

    Ba ngày vía kỷ niệm của Bồ tát Quan Thế Âm : 19-2 ngày đản sinh, 19-6 ngày thành đạo, 19-9 ngày xuất gia.

    Phân tích từ :

    अवलोकितेश्वरस, Avalokiteśvara tên được chia ra làm bốn phần : अव ava tiền tố từ, có nghĩa là "xuống", Lokita, một quá khứ phân từ của √ लोक् Lok động từ, có nghĩa là "xem xét, quan sát, trông xuống" được sử dụng ở thời hiện tại trong ngữ pháp bất quy tắc Phạn ngữ, chữ इत ita viết riêng là hậu tố từ, अवलोक् Avalokita là động từ biến thành danh từ có nghĩa là "người trông xuống" và chữ cuối cùng ईश्वर īśvara có nghĩa là " Bậc điều khiển tối cao, Đấng vô thượng, Thánh nhân vĩ đại, Đấng toàn năng, vị Chúa tể".

    Bảng biến hóa thân từ của avalokiteśvara- ở dạng nam tính:

    Nam tính


    Số ít


    Số hai


    Số nhiều

    Chủ cách


    avalokiteśvaraḥ


    avalokiteśvarau


    avalokiteśvarāḥ

    Hô cách


    avalokiteśvara


    avalokiteśvarau


    avalokiteśvarāḥ

    Trực bổ cách


    avalokiteśvaram


    avalokiteśvarau


    avalokiteśvarān

    Dụng cụ cách


    avalokiteśvareṇa


    avalokiteśvarābhyām


    avalokiteśvaraiḥ

    Gián bổ cách


    avalokiteśvarāya


    avalokiteśvarābhyām


    avalokiteśvarebhyaḥ

    Đoạt cách


    avalokiteśvarāt


    avalokiteśvarābhyām


    avalokiteśvarebhyaḥ

    Sở hữu cách


    avalokiteśvarasya


    avalokiteśvarayoḥ


    avalokiteśvarāṇām

    Vị trí cách


    avalokiteśvare


    avalokiteśvarayoḥ


    avalokiteśvareṣu

    Thuật ngữ này thường được dùng để biểu thị cho chức năng của một vị Chúa được tôn kính của một nhóm người, sinh vật, thú vật hay nơi chốn. Thí dụ : chữ Lokesvara là một danh từ ghép của 2 chữ Loka ( có nghĩa là thế giới) và "isvara" (có nghĩa là Chúa hay Chúa tể). Theo quy tắc sự kết hợp âm thanh trong phạn ngữ chữ a + iśvara trở thành eśvara, như vậy chữ iśvara có chức năng là Chúa của ... ở đây nơi chốn là Thế giới.

    Do đó dịch là Chúa của Thế giới. Một thí dụ khác : Campesvara là một danh từ kết hợp của Campa (Chăm Pa tên của một vùng ở miền trung Việt Nam thời Trung cổ) và isvara "Chúa" Qua diễn đạt ở câu trên chữ Campesvara dịch là Chúa tể của Chăm Pa.

    Nếu đứng trên dạng phân tách thì danh từ Avalokiteśvara có nghĩa Chúa tể của người trông xuống nhưng trông xuống cái gì, cụm từ này chưa hoàn thành, vì thiếu hợp từ nơi chốn kèm theo chữ trông xuống đó là thế giới hay vũ trụ (loka Phạn ngữ) mà trong đó có nhiều sự sinh sống khác nhau.

    Do đó Ngài Huyền Trang dịch Avalokiteśvara như Avalokitasvara, Âm Trung Hoa là Guan Zizai thay vì Kuan Yin. Âm ngữ Guan Zizai được viết từ 3 chữ Kuan Shi Yin. Kuan có nghiã là Nhìn có tánh cách suy nghĩ sâu sắc, Shi nói về Thế giới nhân loại và Yin dùng diễn tả Âm thanh (Phạn ngữ Svara स्वर ).

    Dịch nguyên nghĩa là Nhìn hay Quan sát những tiếng kêu thế giới và chữ Kuan Shi Yin là một diễn giãi của các chữ Avalokitésvara Avalokita. Cho nên chữ Avalokitasvara của Ngài Huyền Trang dịch tương đương chính xác với những bản gốc nói về Avalokitasvara trong tiếng Phạn ở thế kỷ thứ năm.

    Vì vậy nguyên nghĩa danh từ Avalokitasvara là người có cảm nhận những tiếng kêu của chúng sinh hay những người cần giúp mình và được dùng làm Danh xưng cho vị Bồ Tát, người đã thực hiện một lời nguyện tuyệt vời để lắng nghe những lời cầu nguyện của tất cả chúng sinh trong thời gian khó khăn.

    Trong Đại thừa Đức Quan Thế Âm được người ta tín ngưỡng như : Đấng Đại Từ Bi, vị Bồ Tát giàu lòng nhân ái, Vua Sư Tử Hống (lòng can đãm dũng mãnh), Ánh sáng Quang Minh vộ tận... Quán Thế Âm cũng là một lực siêu việt của tình thương, có mặt ở khắp nơi. Một người bình thường, đứng trước một tình huống, thương tâm, quên mình lao người ra giúp đỡ kẻ bị nạn.

    Ngay chính lúc đó, Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện trong người ấy, hay nói cách khác người đó đã là sự ứng thân của Bồ tát Quán Thế Âm trong thế giới này. Bởi vì Ngài đã được tượng trưng trong truyền thống Phật giáo bằng hình ảnh một người nữ có ngàn con mắt để thấu hiểu và ngàn cánh tay để giúp đỡ chúng sinh.

    Trong các chùa thường đọc " A bà lô kiết đế xá bà la ", là phiên âm Hán Phạn của chữ "Avalôkitesvara" nghĩa là " Vị Bồ tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn nghe thấu tiếng kêu khổ não của chúng sinh".

    *
    Hoa Sen Ngàn Cánh*

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 29
    Bài mới gởi: 20-02-2012, 04:44 PM
  2. TRuyện về bùa lỗ ban(sưu tầm)
    By nghichngom85 in forum Thế Giới Bùa Ngải
    Trả lời: 14
    Bài mới gởi: 08-01-2012, 05:49 PM
  3. Niệm chú đại bi của Quan Thế Âm
    By Thien_than_000 in forum Chuyện Ma, Quỉ
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 20-04-2011, 08:11 PM
  4. Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 22-02-2011, 11:40 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •