Trang 4 trong 8 Đầu tiênĐầu tiên 12345678 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 61 tới 80 trên 159

Ðề tài: Danh lục các vị tiên

  1. #61

    Mặc định

    Bác Nhập lỹ dùng thiên nhãn mà soi lại nhé. em chỉ collect thông tin thui.

    ÔNG BÀN CỔ | PANGU | 盤古 | 盘古

    Nguồn 1 wikipedia


    Ông Bàn Cổ hai tay cầm hai mảnh trứng hỗn mang Âm Dương

    Chân dung Bàn Cổ từ Tam tài đồ hội
    Bàn Cổ (tiếng Trung phồn thể: 盤古; giản thể: 盘古; bính âm: Pángǔ) được coi là vị thần khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoại Trung Quốc. Đây cũng là vị thần đầu tiên trong Tam Thanh của Đạo giáo.
    Theo Lão giáo, Bàn Cổ là thủy tổ của loài người, do Trời sanh ra, cũng giống như bên Thiên Chúa Giáo là Adam.
    Theo Tam Hoàng Thiên Kinh, sự tích Bàn Cổ như sau:
    Tại núi Côn Lôn có một cục đá lớn đã thọ khí Âm Dương chiếu diệu rất lâu đời, nên đã thâu được các tánh linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người.
    Sau 10 tháng 16 ngày, đúng giờ Dần, một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, sản xuất một vị Linh Chơn hy hữu, một con người đầu tiên của thế gian, được gọi là Bàn Cổ.
    Vừa sanh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả, lần lần lớn lên, mình cao trăm thước, đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng.
    Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi ước đặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm búa, tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần.
    Thuở đó Trời Ðất còn mờ mịt. Ngài ước cho phân biệt Trời Ðất thì nhơn vật mới hóa sanh được. Ngài ao ước vừa dứt tiếng thì sấm nổ vang, Thiên thanh, Ðịa ninh, vạn vật sinh ra đều có đủ cả.
    Ngài liền chỉ Trời là Cha, chỉ Ðất là Mẹ, muôn dân là con. Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên cũng gọi Ngài là Thái Thượng Ðạo Quân.
    Ngài tự xưng là Thiên tử, tức là con Trời, cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của cõi thế gian nên gọi Ngài là Thiên Hoàng.
    Bàn Cổ thọ được 18.000 tuổi rồi qui Thiên.
    Tiếp theo thì có Ðịa Hoàng, rồi Nhơn Hoàng, nối nhau cai trị thiên hạ.
    Ðó là Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng, Nhơn Hoàng) vào thời khởi thủy của nước Trung Quốc.
    Nhiệm Phưởng, thế kỷ 6, đã viết huyền thoại Bàn Cổ trong quyển Thuật Dị Ký rằng:
    "Ngày xưa khi Bàn Cổ chết, đầu biến thành bốn ngọn núi, hai mắt biến thành mặt trời và mặt trăng, mỡ biến thành sông biển, râu tóc biến thành thảo mộc. Thời Tần và Hán, dân gian kể rằng đầu của Bàn Cổ là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, tay trái là Nam Nhạc, tay phải là Bắc Nhạc, và hai chân là Tây Nhạc. Các văn nhân ngày xưa kể rằng nước mắt của Bàn Cổ là sông, hơi thở là gió, giọng nói là sấm, đồng tử trong mắt là ánh sáng."


    nguồn 2 http://vnthuquan.net/truyen/truyen.a...83a3q3m3237nvn


    Huyền Thoại Ông Bàn Cổ

    Tg Nguyễn Xuân Quang

    Chúng ta đã nghe nhiều về ông Bàn Cổ .... bây giờ xin nhận diện chân tướng ông Bàn Cổ xem cho rõ thật hư ra sao.
    Theo cổ thư Trung Hoa viết vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch (nghĩa là đã rất muộn, đã liên hệ nhiều với Nam Man), thời kỳ Hỗn Mang hay Hỗn Ðộn (Chaos) vũ trụ giống như một cái trứng gà. Lúc đó đất trời chưa có. Từ trái trứng này đẻ ra ông Bàn Cổ (Bangu), thường được vẽ bằng hình một người lùn hai tay cầm cái trứng hỗn mang Âm Dương. Phần nặng của trứng lắng xuống thành đất, phần nhẹ bay lên thành bầu trời. Trong suốt thời kỳ 18 ngàn năm khoảng cách giữa trời và đất tăng dần, cứ tăng 3 mét mỗi ngày và ông Bàn Cổ cũng trưởng thành theo cái đà đó nên thân thể ông luôn luôn chống giữ được trời đất không bị xẹp lép trở lại. Khi Bàn Cổ chết những phần thân thể của ông trở thành những yếu tố thiên nhiên. Tùy theo thời kỳ, tùy theo sách vở, chi tiết về sự cấu tạo vũ trụ viết thay đổi. Về đời Hán hay trước đó ít lâu thì đầu Bàn Cổ thành Ðông Sơn (Núi phía Ðông), bao tử thành Trung sơn, tay trái Nam sơn, tay phải Bắc sơn và chân Tây sơn. Sách vở khác lại cho rằng đầu cho ra núi bốn phương, mắt cho ra trời, trăng, thịt cho ra sông biển, tóc đẻ ra cây cỏ... sách vở viết vào thời khác lại cho rằng nước mắt của Bàn Cổ tạo ra sông biển, hơi thở là gió, mắt là chớp và tiếng nói là sấm... sách khác lại nói thân Bàn Cổ cho ra bốn phương chính và năm ngọn núi chính (có liên hệ gì với Ngũ Lĩnh chăng ?), máu thành sông biển, thịt là đất đai... và bọ chét trên người ông biến thành loài người...
    Với truyền thuyết về trái trứng và Bàn Cổ thấy xuất hiện rất muộn trong cổ thư Trung Hoa và viết không thống nhất rất hỗn độn vá víu... như thế rõ ràng là Bàn Cổ không phải của người Trung Hoa. Quan niệm vũ trụ là một cái trứng là của Nam Man chúng ta (ăn khớp với việc bà Âu Cơ đẻ ra trứng). Chúng tôi đã chứng minh trái trứng vũ trụ này là vị tổ tối cao tối thượng của chúng ta. Ðó chính là Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông hay Thần Nang (nang là từ nôm không phải là Hán Việt, nang ruột thịt với nàng). Trung Hoa đã lấy ông tổ thần Nang này của Hừng Việt.
    Ông Bàn Cổ do trứng vũ trụ đẻ ra, tức là do Mẹ Thần Trứng Vũ Trụ Thần Nông hay Thần Nang đẻ ra. Vậy Bàn Cổ cũng phải là của chúng ta. Bắt buộc.
    Thật vậy Bàn Cổ của Nam Man, của Hừng Việt.
    Ta có thể tìm thấy dấu tích Bàn cổ nơi Hừng Việt Nam qua nhiều địa hạt:

    1.Ngữ học
    Không biết người Trung Hoa cắt nghĩa từ Bangu, Bàn Cổ như thế nào nhưng chúng tôi sẽ cắt nghĩa theo Việt ngữ. Việt ngữ Bàn Cổ có Bàn cùng âm với ban là đỏ ví dụ lên ban sởi (ban đỏ), nổi ban (nổi vẩn đỏ). Trung Nam gọi chứng bệnh sốt, nổi mần đỏ ở da là ban, trong khi người Bắc gọi là lên sởi. Ban sởi là từ ghép điệp nghĩa. Sởi = ban. Sởi là sưởi (o=uo, hồng = hường), ngày nay hiểu sưởi là hơ lửa cho ấm như sưởi ấm, lò sưởi. Vậy sưởi cũng như ban, bàn liên hệ tới đỏ, tới nóng, lửa, đỏ, tới mặt trời. Bệnh sởi là bệnh nóng sốt nổi đỏ ở da.
    Từ Cổ cùng Âm với Cố. Cố là tổ như ta thường nói ông cố tổ. Vậy Bàn Cổ là ông Tổ Ðỏ, ông Tổ Mặt Trời.
    Chúng ta thường gọi ông Bàn Cổ là ông Bành Tổ. Chúng ta đã nói trại đi, thật ra phải gọi là ông Bàng Tổ. Bàng là bàn, là ban, là đỏ như cây bàng là cây có lá trở thành đỏ thắm về mùa thu. Trịnh Công Sơn trong bài "Mùa Thu Hà Nội" có câu "Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ...". Bàng tổ là ông tổ đỏ. Hiểu như thế ta thấy ngay Bàn Cổ và Bàng Tổ đều là ông Tổ Ðỏ. Người Trung Hoa gọi chúng ta là Xích Quỉ, quỉ đỏ. Vậy ông Bàn Cổ, ông Bành Tổ, ông Bàng Tổ phải là của dân Ðỏ.
    Bàn Cổ, Bàng Tổ là ông tổ của họ Hồng Bàng.

    2. Truyền Thuyết Nam Man Hừng Việt
    Việt Nam

    Ở trên ta thấy ông Bàng Tổ là một người khổng lồ, lớn dần với thời gian, mỗi ngày cao thêm ba mét để chống trời. Lúc vũ trụ mới tạo lập từ cái trứng hãy còn mềm ông Bàng Tổ đã dùng thân mình làm cây cột chống trời để nóc trời không xụp xuống, xẹp lép lại. Nói một cách khác ông Bàng Tổ là một ông thần trụ trời. Bàng Tổ chính là Ông Trụ Trời trong truyện thần thoại Việt Nam:
    "Thuở trời đất còn mịt mù hỗn độn, tự nhiên hiện lên một vị thần to lớn khác thường, đầu đội trời, chân đạp đất, đào đất vác đá đắp thành một cái cột to cao để chống trời lên mà phân chia ra trời đất. Trời như một cái vung úp, đất bằng như một cái mâm vuông...
    Dấu vết cột chống trời ngày nay người ta cho là ở núi Thạch Môn, thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt cũng gọi là núi Không Lộ (Ðường Lên Trời) hay Khổng Lồ hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột Chống Trời). Dân chúng còn câu hát lưu hành nhắc nhở đến công việc của ông trụ trời vào thuở khai thiên lập địa:

    Nhất ông đếm cát,
    Nhì ông tát bể,
    Ba ông kể sao,
    Bốn ông đào sông,
    Năm ông trồng cây,
    Sáu ông xây rú,
    Bẩy ông trụ trời".


    Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Hóa Toàn Thư tr.66)
    Bài hát này kể các vị thần làm việc lúc khai thiên lập địa không theo thứ tự sinh đẻ.

    3. Thần Thoại Mán

    Thần thoại Mán nói về vũ trụ tạo sinh có kể rằng khi trời đất còn mù mờ đầu tiên có hai người xuất hiện là Nhiêu vương và Bàn Cổ. Hai con mắt của Nhiêu vương sinh ra mặt trời, mặt trăng. Còn loài người do tâm của Bàn Cổ sinh ra trong đó có Bàn Vũ. Bàn Vũ sau là tổ người Mán (Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Hóa Toàn Thư tr.131).
    Ở đây ta thấy người Mán, một tộc Nam Man nhận đích danh Bàn Cổ là ông tổ của mình. Người Trung Hoa gọi chúng ta là Nam Man đã bóp méo nghĩa từ man đi gắn thêm nghĩa thóa mạ là mọi rợ vào. Man của Hừng Việt có nghĩa rất cao đẹp (có bài viết riêng về Man Di). Ở đây chỉ xin nói qua loa một chút thôi. Về ngữ học Mán, Mường, Mọi... đều là man cả. Thời thái cổ chúng ta là Man, là Mán, là Mường... Theo b=m ta có bàn = màn = man. Vậy Bàn cổ = man cổ = Man tổ. Ta đã biết bàn, ban, bang là đỏ vậy man cũng hàm nghĩa là đỏ. Man là Xích quỉ! Nam man là Xích quỉ phương Nam. Bàng Cổ là tổ của (Nam) Man, Xích quỉ thì đúng đứt đuôi con nòng nọc rồi.
    Với đầy đủ chứng tích vừa kể, rõ như ban ngày Bàn Cổ là do Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông hay Thần Nang đẻ ra và là tổ của Hừng Việt Xích quỉ. Anthony Christie trong Chinese Mythology, Library of The World s Myths and Legends, đã hai lần xác quyết trứng vũ trụ và ông Bàn Cổ là của Nam Man: "These stories are late in the versions... and it is likely that the tradition of their southern origin is basically correct..." (p.55) ("Những truyện này muộn trong những tường thuật... và giống như là gốc gác từ miền nam của truyền thuyết có cơ bản là đúng...") và "The most extensive account of the creation, involving a giant called Pangu has survived only in texts from the third to sixth centuries A.D. and there is a good reason to think that this story was not incorporated into Chinese Tradition until after the assimilation of the southern region" (p.51) ("Cái đáng kể về tạo sinh sâu rộng nhất liên can tới một ông khổng lồ gọi là Bàn Cổ chỉ còn thấy trong các bài viết từ thế kỷ thứ 3 tới thứ 6 sau Tây Lịch và có lý do chính đáng để nghĩ rằng truyện này không được đưa vào truyền thuyết Trung Hoa cho tới sau khi đã đồng hóa miền nam.") (tr. 51).

    BÀN CỔ VÀ TRIẾT THUYẾT ÂM DƯƠNG

    Trong nghệ thuật tạo hình cổ Trung Hoa, Bàn Cổ thường được mô tả là một người lùn, hình thù cổ quái, cầm trong tay cái trứng hỗn mang Âm Dương.
    Hình: Bàn Cổ cầm trong tay trứng Hỗn Mang (Chaos) Âm Dương, sống 18.000 năm. Thạch bản, thế kỷ 19, Bảo tàng Viện British, London.
    Ðây cũng là một cái "dấu đầu lòi đuôi" của những kể nhận vơ của người khác làm của mình. Theo truyền thuyết Trung Hoa thì Bàn Cổ là một ông khổng lồ, mỗi ngày cao ba mét làm trụ chống trời. Hãy làm một con tính nhỏ, ta thấy trong 18.000 năm, Bàn Cổ cao 19.440 km (tính theo tháng âm lịch có ba mươi ngày). Trong khi đó trong các tranh vẽ, tượng, đồ gốm... Bàn Cổ là một lão lùn tịt dị dạng. Truyền thuyết và hình tượng không ăn khớp với nhau, lệch lạc, rõ ràng trống đánh xuôi kèn thổi ngược, ăn vụng không biết chùi mép.
    Vì là con Mẹ trứng Không gian Thần Nông nên Bàng Tổ cầm trong tay trứng vũ trụ. Ðây là cái trứng hỗn mang (Chaos) có hai phần Aâm Dương tạo sinh ra trời đất. Ðây là nền móng của triết thuyết Aâm Dương mà từ xưa tới nay Ðông Tây vẫn cho là của Trung Hoa. Không. Trăm phần trăm là không phải người Trung Hoa sáng tạo ra thuyết Yin Yang. Người Trung Hoa đã lấy Thần Nông, đã lấy Bàn Cổ tất nhiên họ lấy luôn triết thuyết Âm Dương của Hừng Việt Nam Man thờ mặt trời.
    Thật vậy chúng tôi đã khám phá ra những chứng tích nguồn cội, căn bản của thuyết âm dương còn rành rành ở các địa danh nơi đất tổ Lạc Việt cũng như như thấy ở truyền thuyết của các tộc khác thờ mặt trời họ Hồng Bàng.
    Việt Nam
    Mẹ trứng vũ trụ Thần Nông, Thần Nang là Âm. Trứng là tiêu biểu cho phần sinh dục nữ. Cái trứng hay noãn nang, dạ con, lỗ sinh đẻ phái nữ đều có hình hay được biểu thị bằng hình tròn hoặc chữ o tròn như quả trứng gà (với nghĩa thuôn tròn) hay chữ "o lớn" "omega" của Hy Lạp ví dụ trứng là tròng gần cận với tròn ; dạ con tương đương với lòng (lòng dạ là từ ghép điệp nghĩa) mà lòng = tròng như thế lòng, tròng gần cận với tròn; bộ phận sinh dục nữ l... có từ lỗ và cũng gần cận với lòng (dạ); Latin ovum , trứng, Anh ngữ oology , trứng học...; Pháp ngữ oeuf , trứng... đều khởi đầu bằng chữ o; Anh ngữ womb , dạ con có wom(b)= wom = vòm (khum tròn); dạ con của người trông giống và được diễn tả bằng chữ omega (sẽ có bài viết riêng)... Không gian và mặt trời khi biểu thị bằng hình tròn đều mang tính âm và đều là mẹ trứng vũ trụ và mẹ mặt trời, mẹ tròn (đi đôi với con vuông) và về toán học mẹ trứng không gian, mẹ trời hình đĩa tròn được biểu thị bằng con số không zéro.
    Tóm lại chữ o, omega, vòng tròn, hình trứng (hình trái soan), hình vòm, cái lỗ biểu hiệu cho Âm.
    Ông Bàng Tổ Trụ Trời với hình ảnh cái trụ chống mang hình ảnh và ý nghĩa đực hay Dương. Theo cách đọc Cổ Việt ch=tr mà một vài vùng ở Bắc Việt ngày nay còn nói, ta thấy chống (trụ) là trống (đực) như gà trống. Chống liên hệ chông (que nhọn) với chồng (ngược với vợ). Cái trụ, cái chống, cái nọc, cái nõ, cái cọc, cái que, cái cây là biểu hiệu cho bộ phận sinh dục nam, cho đực cho Dương. Ông Bàng Tổ Trụ Trời là yếu tố Dương. Về toán học ông trụ trời mang hình ảnh cái que được biểu thị bằng một cái gạch đứng như cái que, cái trụ tức là số 1. Khi nói trời là số một là ta đã nói tới trời với yếu tố Dương, phụ quyền đã lấn áp mẫu quyền.
    Xin giải thích tại sao trời, vũ trụ nhiều khi dùng lẫn lộn, lúc có nghĩa là không, lúc có nghĩa là một. Thoạt đầu con người thờ Mẹ Nang, Mẹ Trời đĩa tròn sau đó với thời gian có sự "cướp quyền" giữa phụ quyền (phụ hệ) và mẫu quyền (mẫu hệ) nên đã có sự hoán đổi nghĩa trời tròn với tính phái âm nghĩa là số không với trời có nghĩa dương tức số một. Ta thấy những tộc khi còn thờ mẹ vũ trụ, mẹ trời thì trời là số không còn khi đã không còn thờ mẹ trời nữa mà chuyển qua thờ cha trời thì gọi trời chuyển sang nghĩa là một. Ví dụ các tộc Ấn Âu như Pháp, Anh, Ðức... không thờ mẹ trời nên gọi vũ trụ không gian là universe, univers, universum có un, uni có nghĩa là một; gọi mặt trời sun (Anh), soleil (Pháp), sonne (Ðức), sol (Tây Ban Nha), sole (Ý), sol (Bồ)... liên hệ với solo, seulement, solamente, sólo (Tây Ban Nha) solo, soltanto (Ý), só, somente (Bồ)... (một mình); Trung Hoa không thờ mẹ trời nên gọi không gian là vũ trụ với trụ là que là một. Trong khi đó chúng ta gọi không gian là nông, nang, tròng, lòng, trứng, không... hàm nghĩa số không. Chúng ta gọi trời là mặt cùng vần với mắt mà mắt là tròng, là tròn biểu thị bằng vòng tròn như con số không. Mặt cũng cùng vần với mất là không còn gì; với mất là chết mà chết là hết, là trở về hư vô (tức là số không).
    Cái trứng tròn Âm và cái trụ chống trời Dương hòa hợp lại sinh ra vũ trụ muôn loài. Cái trứng vũ trụ âm không có "chống" (hai nghĩa) không tạo sinh, sinh nở được. Ðây là nguyên lý sâu sa của sự tạo sinh ra nhân vật Bàng Tổ Trụ Trời.
    Trở lại truyền thuyết Ông Trụ Trời của Việt Nam. Dấu vết cột chống trời ngày nay người ta cho là ở núi Thạch Môn, thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt cũng gọi là núi Không Lộ (Ðường lên trời) hay Khổng Lồ hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột chống trời). Núi này thuộc tỉnh Sơn Tây nằm đâu đó gần núi Tản Viên. Chúng ta đã biết theo một nghĩa Tản Viên là núi Trứng (tản, đản là trứng, chúng ta thường ăn phì tản , trứng đen ngâm thuốc Bắc trong món bát bửu đồ lạnh hay ăn với bún thang; đản bạch là lòng trắng trứng). Ðiểm này giải thích tại sao gọi núi Tản là Viên. Hiển nhiên Viên có một nghĩa là tròn. Tản Viên là Trứng Tròn.
    Như vậy núi Tản Viên Trứng Tròn biểu tượng của mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông và núi Kình Thiên Trụ biểu tượng cho ông Bàng Tổ Trụ Trời là hai yếu tố âm dương cốt lõi của vũ trụ quan của chúng ta.
    Mặt khác chúng ta thường nghe giải thích Tản Viên là cái núi hình tán vì núi trông như cái lọng. Ðiều này cũng không sai vì tán lọng cũng có nghĩa là trứng vì phần trên tròn hay khum tròn như mặt trời hay vòm trời. Trong các đền thờ của chúng ta ngày nay còn thờ lọng đỏ biểu tượng cho mặt trời, vòm trời. Ta cũng có thể kiểm chứng lại bằng ngữ học. Tán là lọng mà lọng gần cận với lòng, tròng nghĩa là với trứng. Ta cũng có cái ô (dù) ruột thịt với tán, lọng. Trong từ ô có chữ o tròn như quả trứng gà, nghĩa là ô cũng như lọng có hàm nghĩa trứng. Trong bài "Cái Ðầu Lâu Hoa Cái Nhà Mày" khi nói đến từ mắt, chúng tôi có nói ô (lỗ nhỏ để nhìn như cửa ô) liên hệ với mắt. Mà mắt là tròng, trứng do đó ô liên hệ với trứng, với mặt trời tròn.
    Như thế Tản Viên dù hiểu theo nghĩa lọng, tán cũng có nghĩa là trứng biểu tượng cho Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông.
    Ngoài ra núi Tản Viên còn gọi là núi Nùng. Nùng là chuyển hóa với nòng, lòng, tròng nghĩa là trứng. Nùng còn có một nghĩa nữa là một (Thái ngữ nung là một), sẽ khai triển ở một dịp khác.
    Trứng Tản Viên và Kình Thiên Trụ đã kết hợp lại tạo ra vũ trụ, dòng giống Việt.
    Nhật Bản
    Theo truyền thuyết, sau khi đứng trên cây cầu nổi trên trời dùng cái giáo quậy biển, khi nhấc lên những giọt nước rơi xuống tạo thành những hòn đảo nước Nhật ngày nay, hai anh em Izanagi và Izanami xuống đảo. Họ dựng một cây trụ trời và rồi hai người đi vòng quanh ngược chiều với ý định nếu gặp nhau họ sẽ lấy nhau...
    Hai người đã đi giáp một đường hình vòng tròn. Khi gặp nhau người con gái mừng rỡ mở miệng gọi người con trai trước khiến Izanagi tức giận nên kết quả họ sinh ra hai người con tật nguyền và họ từ bỏ. Hai người về trời trở lại. Thần cho biết đó là do lỗi người con gái mở miệng nói trước và khuyên là lần này xuống đất Nhật phải để người con trai nói trước. Hai người làm đúng theo lời thần dặn nên đẻ ra đầy đàn con cháu trong đó có Oh-yashima-guni (Ðất-Tám Ðảo-Vĩ Ðại, tên cổ của nước Nhật).
    Ở đây ta cũng thấy cái trứng do hai người đi vòng quanh và cây trụ. Nhưng đã viết theo tính trọng nam khinh nữ của người Nhật. Cái trụ trồng trước đi theo hình vòng tròn sau và con gái mở miệng nói trước, tỏ tình trước với trai là con gái hư.

    Ai Cập
    Khi viết về Thần Nông trong số trước chúng tôi đã đề Cập đến Âm Dương của Ai Cập, một tộc cũng thờ mặt trời như chúng ta. Ai Cập ngữ Ankh , life, sự sống, đời, thường biểu tượng bằng hình chữ thập trên đầu có lỗ hình quả trứng mà các học giả thường gọi là "cái chìa khóa của sự sống" ("key of life") (xem hình).
    Cho tới bây giờ chưa ai biết rằng đây là biểu tượng Âm Dương của Ai Cập. Theo chúng tôi đây là trái trứng và cái cọc sinh ra đời sống. Ðây chính là biểu tượng âm dương của Ai Cập. Ai Cập ngữ Ankh liên hệ với Phạn ngữ anda (trứng).
    Thêm nữa, các tác giả Tây phương ngày nay cũng đã phủ nhận Bàn Cổ và triết thuyết Yin Yang có gốc là của người Trung Hoa. Richard Cavendish trong An Illustrated Encyclopedia of Mythology cũng xác nhận Bàn Cổ, Âm Dương là của Nam Man: "A tradition from the Yangtze delta says that P an-ku and his wife represent yang and ying, as do the two halves of the egg from which P an-ku was born" (tr.60) (Một truyền thuyết từ vùng châu thổ sông Dương Tử nói rằng Bàn Cổ và vợ tiêu biểu cho dương và âm giống như hai phần của quả trứng từ đó Bàn Cổ được sinh ra".)
    Chúng tôi cũng đã khám phá ra dấu tích của mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông và Bàn Cổ trên trống đồng Ðông Sơn (sẽ viết rõ trong Bí Mật Trống Ðồng Ðông Sơn).
    Như thế vũ trụ quan của chúng ta nói riêng của Hừng Việt nói chung cho thấy vụ trũ trời đất, con người sinh ra từ yếu tố âm là Mẹ Trứng Thần Nông hay Thần Nang và yếu tố dương là Bàng Tổ Trụ Trời.
    Ðể kết thúc chúng tôi xin vén tấm "nhiễu điều phủ lấy giá gương" hé mở cho thấy cái bóng của Âu Cơ và Hừng Vương trong tấm gương Thần Nang Bàng Tổ.
    Thần Nang Bàng Tổ tạo sinh ra vũ trụ, đất trời, trần thế, con người, Xích quỉ. Còn Âu Cơ đẻ ra Hùng Vương và các dòng vua cai trị nhân gian con người, Xích quỉ. Thần Nang là hình, Âu Cơ là bóng của Thần Nang. Cả hai đều là trứng tạo sinh. Bàng Tổ là hình, Hừng Vương là bóng của Bàng Tổ. Hãy đối chiếu vài điểm tương đồng giữa Bàng Tổ và Hừng Vương:
    Bàng Tổ và Hừng Vương đều từ trứng đẻ ra
    Bàng Tổ và Hừng Vương đều có nghĩa là tổ Ðỏ.
    Bàng Tổ và Hừng Vương người sống 18.000 năm hay 18 thiên kỷ, kẻ có 18 đời. Cả hai gặp nhau ở con số 18.
    Bàng Tổ là bình minh của vũ trụ trời đất, thế gian; Hừng Vương là rạng đông của Việt tộc, của Man, Mán, Mường... của Xích quỉ, con người v.v...

    Tóm lại Bàn Cổ, Bành Tổ, Bàng Tổ là ông Trụ Trời, sinh ra thế gian và con người là của Nam Man Hừng Việt, là ông tổ Ðỏ của họ Hồng Bàng. Chúng ta còn chứng tích rành rành của Bàng Tổ nơi đất tổ lập quốc là núi Thạch Môn, Không Lộ, Kình Thiên Trụ ở tỉnh Sơn Tây. Ðộc giả theo dõi tới đây đã thấy rằng Thần Nông Trứng Vũ Trụ, Bàng Tổ Trụ Trời không phải của người Trung Hoa thì triết thuyết Âm Dương Kinh dịch nếu ai cho là của người Trung Hoa cần phải suy nghĩ lại.

    nguồn 3: http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/ch...pter160104.htm

    Chuyện Bàn Cổ mở ra Trời Đất





    Truyền thuyết thời thái cổ, Trời Đất không chia, cả vũ trụ như một quả trứng lớn, bên trong hỗn độn, đen tối một màu, không phân chia trên dưới phải trái, đông nam tây bắc. Nhưng trong trứng gà thai nghén một anh hùng vĩ đại, đó là Bàn Cổ khai thiên lập địa. Bàn Cổ thai nghén 18 nghìn năm trong trứng gà, cuối cùng đã bừng tỉnh từ trong giấc ngủ say đắm. Anh mở mắt ra, thấy xung quanh tối đen như mực, cả người nóng nực khó chịu, rất khó thở. Anh muốn đứng dậy, nhưng vỏ trứng gà bọc chặt lấy thân anh, không sao duỗi được chân tay. Bàn Cổ nổi giận, nắm lấy một chiếc rìu có sẵn, dùng sức vung lên, chỉ nghe một tiếng nổ lớn, long tai nhức óc, quả trứng gà bị vỡ, trong đó thứ nhẹ và trong không ngừng bay lên, biến thành Trời, một số thứ nặng và đục thì từ từ lắng xuống, biến thành Đất.
    Bàn Cổ đã khai thiên lập địa, rất vui mừng, nhưng anh sợ Trời Đất lại hợp lại với nhau, liền lấy đầu đội Trời, chân đạp đất, hiển thần thông, một ngày chín biến hoá. Anh mỗi ngày cao một trượng, Trời cũng mỗi ngày lên cao một trượng, Đất cũng dày thêm một trượng. Như vậy đã qua 18 nghìn năm. Lúc này Bàn Cổ đã trở thành người khổng lồ đầu đội Trời, chân đạp Đất, thân người cao chín vạn dặm. Cứ như vậy không biết lại trải qua bao nhiêu vạn năm, cuối cùng Trời đất trở nên vững chắc, sẽ không hợp lại với nhau nữa. Lúc này Bàn Cổ mới yên tâm. Nhưng vị anh hùng khai thiên lập địa này đã kiệt sức, không còn sức để đứng vững nữa, thân hình khổng lồ của anh ngã xuống Đất.
    Bàn Cổ sắp chết, toàn thân xảy ra biến đổi to lớn. Mắt trái của anh biến thành Mặt Trời đỏ chói, mắt phải trở thành Mặt Trăng trắng ngần, trút hơi thở cuối cùng biến thành gió và mây, tiếng nói phát ra cuối cùng biến thành tiếng sấm, tóc và râu của anh biến thành các vì sao lấp lánh, đầu và tay biến thành bốn cực Mặt Đất và núi cao, máu trở thành sông ngòi, đường gân biến thành đường sá, bắp thịt trở thành đất đai phì nhiêu, da và lông trở thành cây cối hoa cỏ, răng và xương trở thành vàng bạc đồng sắt, đá quý, mồ hôi của anh trở thành nước mưa và sương mai. Từ đó bắt đầu có thế giới.

    Nguồn tiếng Anh (http://www.livingmyths.com/Chinese.htm)
    Pangu and the Creation of the World

    This myth is similar to many creation myths worldwide, in which the world is formed out of the body of a primal being.

    In the beginning there was darkness everywhere, and Chaos ruled. PanguWithin the darkness there formed an egg, and inside the egg the giant Pangu came into being. For aeons, safely inside the egg, Pangu slept and grew. When he had grown to gigantic size he stretched his huge limbs and in so doing broke the egg. The lighter parts of the egg floated upwards to form the heavens and the denser parts sank downwards, to become the earth. And so was formed earth and sky, Yin and Yang.

    Pangu saw what had happened and he was pleased. But he feared that heaven and earth might meld together again, so he placed himself between them, his head holding up the sky and his feet firmly upon the earth. Pangu continued to grow at a rate of ten feet a day for 18,000 years, so increasing the distance between heaven and earth, until they seemed fixed and secure, 30,000 miles apart. Now exhausted, Pangu went back to sleep and never woke up.

    Pangu died, and his body went to make the world and all its elements. The wind and clouds were formed from his breath, his voice was thunder and lightning, his eyes became the sun and moon, his arms and his legs became the four directions of the compass and his trunk became the mountains. His flesh turned into the soil and the trees that grow on it, his blood into the rivers that flow and his veins into paths men travel. His body hair became the grass and herbs, and his skin the same, while precious stones and minerals were formed from his bones and teeth. His sweat became the dew and the hair of his head became the stars that trail throughout heaven. As for the parasites on his body, these became the divers races of humankind.

    Although Pangu is dead, some say he is still responsible for the weather, which fluctuates according to his moods.
    Commentary

    Despite the fact that this tale is accepted as a legacy of ancient China, it is probable that is was imported from South East Asia However, it is usually ascribed to Ko Hung, Taoist writer of the fourth century CE, who also wrote on the preparation of an elixir of life, and similar subjects. He also wrote Biographies of Spirits and Immortals, which is a prime source of mythological material.
    The Cosmic Egg

    Myths of a ‘cosmic egg’ are common to many cultures, signifying the origins of conscious life. In some versions the egg is produced by a mother figure of some description, and even where this is absent, it is present by implication. At one level it merely dramatizes the experience of every individual, starting existence in the egg-shape of the womb, which is at first a container and a totality. Conscious, separate existence is achieved when the container is breached, but ends at death, when the constituents of the body return to the earth to become part of the cycle of life.

    Rock BuddhaThe myth of Pangu on this small level gives meaning to each individual life, and may be a way of processing the idea that the world existed long before we did and will continue long after death. Creation myths embody the internal process of increasing consciousness of the world.
    A Buddha showing Chinese influence (actually a rock painting on a Scottish island)

    The creation motif

    On a larger scale, creation myths are a way for the conscious mind to attempt to explain the infinite and to make sense of a boundless universe. The conscious mind cannot truly conceive of something that has no beginning. However, creation myths of this sort have factors in common with modern scientific theory. The cracking open of the egg itself echoes the theme of the Big Bang, while the shape of the egg connects with Einstein's theory of curved space.

    According to the Big Bang theory, all matter was at first compressed into an unimaginably dense single point. A reaction took place which caused this to explode and expand into the stars and galaxies. Steve Eddy and Nicholas Campion in The New Astrology (Bloomsbury, 1999) write:

    On the physical level [the primal waters] are analogous to the state of the universe immediately after the Big Bang … composed largely of hydrogen (the H in H2O, or water) in a vast ocean of unformed potential.

    The myth of Pangu also reflects an animistic view of the world, prevalent in so-called primitive cultures, in which everything is seen as alive, even rocks and soil. It is a vibrant view of creation, and conveys an instinctual respect, a willingness to work with a living earth, rather than an intention to subdue inert matter.

    Human beings, in the myth, have a fairly lowly position. Rather than standing at the centre of the cosmos they are fairly insignificant, taking their place in the natural order. This perspective is echoed in Chinese paintings, where tiny figures are dwarfed by the sweeping vistas of natural features, mountains and waterfalls on varying levels. The development of a spiritual consciousness confers humility and balance.

    Nguồn 4 thư viện Cao Đài http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/b/b1-053.htm
    Bàn Cổ:


    • 盤古
    • A: The first ancestor of man from the Chinese legends.
    • P: Le premier ancêtre de l'homme d'après les légendes chinoises.
    Theo Lão giáo, Bàn Cổ là thủy tổ của loài người, do Trời sanh ra, cũng giống như bên Thiên Chúa Giáo là Adam.
    Theo Tam Hoàng Thiên Kinh, sự tích Bàn Cổ như sau:
    Tại núi Côn Lôn có một cục đá lớn đã thọ khí Âm Dương chiếu diệu rất lâu đời, nên đã thâu được các tánh linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người.
    Sau 10 tháng 16 ngày, đúng giờ Dần, một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, sản xuất một vị Linh Chơn hy hữu, một con người đầu tiên của thế gian, được gọi là Bàn Cổ.
    Vừa sanh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả, lần lần lớn lên, mình cao trăm thước, đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng.
    Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi ước đặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm búa, tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần.
    Thuở đó Trời Ðất còn mờ mịt. Ngài ước cho phân biệt Trời Ðất thì nhơn vật mới hóa sanh được. Ngài ao ước vừa dứt tiếng thì sấm nổ vang, Thiên thanh, Ðịa ninh, vạn vật sinh ra đều có đủ cả.
    Ngài liền chỉ Trời là Cha, chỉ Ðất là Mẹ, muôn dân là con. Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên cũng gọi Ngài là Thái Thượng Ðạo Quân.
    Ngài tự xưng là Thiên tử, tức là con Trời, cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của cõi thế gian nên gọi Ngài là Thiên Hoàng.
    Bàn Cổ thọ được 18.000 tuổi rồi qui Thiên.
    Tiếp theo thì có Ðịa Hoàng, rồi Nhơn Hoàng, nối nhau cai trị thiên hạ.
    Ðó là Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng, Nhơn Hoàng) vào thời khởi thủy của nước Tàu.


    Nguồn 5 (Tam ngũ lịch ký)
    BÀN CỔ KHAI THIÊN


    Ngày xửa ngày xưa, trời và đất liên kết với nhau thành một khối, nhưng giữa trời và đất thai nghén một người khổng lồ tên là Bàn Cổ. Trãi qua một vạn tám ngàn năm, Bàn Cổ tỉnh dậy, bị trời đất trên dưới bốn phía đè nén không cách gì đứng lên được, thế là ông ta dùng sức mạnh mở trời ! Sau một tiếng “cạch” lớn vang trời, trong cảnh tối tăm giữa trời đất xuất hiện một luống ánh sáng, trời từ từ lên cao, bày ra bầu trời trong xanh; đất chậm chạp trầm xuống tích tụ thành một vùng rộng lớn rất dày. Trời và đất từ đó chia đôi.

    Bàn Cổ lo lắng trời và đất sẽ hợp lại nữa, bèn thẳng tay chống đở trời cao, chân đạp xuống đất, mà thân thể của ông ta cũng theo chiều cao của trời mà không ngừng cao thêm.

    Một vạn tám ngàn năm sau thì Bàn Cổ mệt và chết.
    Last edited by tnkhong; 08-05-2011 at 02:10 PM.
    0_

  2. #62

    Mặc định

    GIAO CHỈ ĐẠO SỸ
    Ai có thông tin gì về vị này không? Nghe tên có lẽ là người Việt Nam thời xưa.
    P/s: Có lẽ chúng ta không nên phân biệt dân tộc trong việc học đạo. Đó mới chính là Đạo Nhân các bạn à :D

  3. #63

    Mặc định

    bác soi thử xem Khuất Nguyên bây giờ ở đâu. tội nghiệp ông này
    Tiếng nước Sở trong bài Ly tao có giống tiếng Việt mình không
    KN tự nhận là dòng dõi Cao Dương
    Bài thơ Đông Hoàng Thái Nhất miêu tả thần mặt trời như thật
    0_

  4. #64

    Mặc định

    Uông Đông Đình hiệu Thể Chân Sơn Chân Nhân. Tác phẩm Đan Kinh như: Thể Chân Sơn Lục Ngữ, Tính Mệnh Yếu Chỉ, Kim Đan Huyền Yếu, Giáo Ngoại tâm Pháp ...

  5. #65
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của nhaply
    Gia nhập
    Apr 2008
    Bài gởi
    1,968

    Mặc định

    Bàn cổ có ở list 4. Giao chỉ đạo sỹ là người VN, xem thần tiên truyện của cát hồng thiên sư. Uông Đông Đình, Đông hoàng thái nhất (cần bổ sung tiếng hán) sẽ cho vào list 6.

    Xếp Khuất Nguyên vào dân tục tam thần vì nguồn gốc tết đoan ngọ, nói riêng với huynh tnkhong là thấy KN ở văn xương các, áo trắng phao, râu dài tới bụng, cầm phất trần tay phải. Ngàn năm sau thật là khác ngàn năm trước.
    Last edited by nhaply; 08-05-2011 at 11:32 PM.

  6. #66

    Mặc định

    Đệ vừa xem lại có thêm Ngô Thiên Trật sư ông, vị này truyền pháp cho Uông Đông Đình.

  7. #67

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Big_foot Xem Bài Gởi
    Cụ Hồ không lấy vợ chứ đâu có đi tu.
    Cụ Hồ là 1 thiền sư :thinking:
    Nguồn: Thích Chơn Quang
    "Đừng cố sử dụng kiến thức Phật học để thành tín đồ; hãy sử dụng nó để bạn trở nên tốt hơn"

  8. #68

    Mặc định

    Đưa mấy vị này vào nè
    Khương Thái Công (Khương Thượng Tử Nha) , Ngũ Nhạc Sơn Thần, Lê Sơn Thánh Mẫu, Ðông Phương Lão Tổ, Quan Thánh Ðế Quân (Quan Công) , Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Diêu Trì Kim Mẫu , Thái Thượng Ðạo Tổ, Khổng Thánh Tiên Sư, Lý Thái Bạch , Hồng Quân Lão Tổ, Ðấu Chiến Thắng Phật (Tề Thiên Ðại Thánh) , Ngươn Thỉ Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ Nam Cực Chưởng Giáo (Nam Cực Tiên Ông) , Xích Mi Lão Tổ, Quỉ Cốc Thoàn Sư, Ngọc Ðảnh Chơn Nhơn, Linh Bửu Ðại Pháp Sư, Vân Trung Tử, Lục Yểm Chơn Nhơn, Xích Tinh Tử, Quản Thành Tử, Huỳnh Long Chơn Nhơn, Liễu Nhứt Chơn Nhơn (Tôn Tẩn) , Hậu Sư Thánh Chí (Trương Vĩnh Ký) , Trần Ðoàn Lão Tổ, Ðông Phương Lão Tổ (Ðông Phương Sóc) , Tây Phương Lão Tổ (Tây Phương Sóc) , Hải Triều Thánh Nhơn, Trường Tiếu Tiên, Ðông (Tây, Nam, Trung, Bắc) Ba Ðế Quân, Ðộng Ðình Hồ Tiên Trưởng, Vô Danh Tiên Trưởng, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo) , Ðạo Hạnh Chơn Nhơn, Cù Lưu Tôn, Thanh Hư Ðạo Ðức Chơn Nhơn, Ðào Hoa Thánh Mẫu, Vân Hương Thánh Mẫu, Thanh Hoa Thánh Mẫu, Bát Tiên (Tào Quốc Cựu, Hớn Chung Ly, Hàn Tương Tử, Lâm Thể Hòa, Lý Thiết Quả, Trương Quả Lão, Lữ Ðồng Tân, Hà Tiên Cô) , Thất (Nhứt, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục) Nương Tiên Nữ, Bạch Hạc Ðồng Tử
    Nguồn: lượm ở đạo Cao Đài
    Last edited by Cửu Phẩm Liên Hoa; 09-05-2011 at 12:59 AM.
    "Đừng cố sử dụng kiến thức Phật học để thành tín đồ; hãy sử dụng nó để bạn trở nên tốt hơn"

  9. #69
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của nhaply
    Gia nhập
    Apr 2008
    Bài gởi
    1,968

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Cửu Phẩm Liên Hoa Xem Bài Gởi
    Đưa mấy vị này vào nè
    Khương Thái Công (Khương Thượng Tử Nha) , Ngũ Nhạc Sơn Thần, Lê Sơn Thánh Mẫu, Ðông Phương Lão Tổ, Quan Thánh Ðế Quân (Quan Công) , Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Diêu Trì Kim Mẫu , Thái Thượng Ðạo Tổ, Khổng Thánh Tiên Sư, Lý Thái Bạch , Hồng Quân Lão Tổ, Ðấu Chiến Thắng Phật (Tề Thiên Ðại Thánh) , Ngươn Thỉ Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ Nam Cực Chưởng Giáo (Nam Cực Tiên Ông) , Xích Mi Lão Tổ, Quỉ Cốc Thoàn Sư, Ngọc Ðảnh Chơn Nhơn, Linh Bửu Ðại Pháp Sư, Vân Trung Tử, Lục Yểm Chơn Nhơn, Xích Tinh Tử, Quản Thành Tử, Huỳnh Long Chơn Nhơn, Liễu Nhứt Chơn Nhơn (Tôn Tẩn) , Hậu Sư Thánh Chí (Trương Vĩnh Ký) , Trần Ðoàn Lão Tổ, Ðông Phương Lão Tổ (Ðông Phương Sóc) , Tây Phương Lão Tổ (Tây Phương Sóc) , Hải Triều Thánh Nhơn, Trường Tiếu Tiên, Ðông (Tây, Nam, Trung, Bắc) Ba Ðế Quân, Ðộng Ðình Hồ Tiên Trưởng, Vô Danh Tiên Trưởng, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo) , Ðạo Hạnh Chơn Nhơn, Cù Lưu Tôn, Thanh Hư Ðạo Ðức Chơn Nhơn, Ðào Hoa Thánh Mẫu, Vân Hương Thánh Mẫu, Thanh Hoa Thánh Mẫu, Bát Tiên (Tào Quốc Cựu, Hớn Chung Ly, Hàn Tương Tử, Lâm Thể Hòa, Lý Thiết Quả, Trương Quả Lão, Lữ Ðồng Tân, Hà Tiên Cô) , Thất (Nhứt, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục) Nương Tiên Nữ, Bạch Hạc Ðồng Tử
    Nguồn: lượm ở đạo Cao Đài
    hầu hết đều có trong các list đã nêu, số chưa có thì đang lập và xem xét.

  10. #70
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của nhaply
    Gia nhập
    Apr 2008
    Bài gởi
    1,968

    Mặc định

    LIST 6

    GIA CÁT KHỔNG MINH
    LƯU BÁ ÔN
    CHÍ THÁNH TIÊN SƯ KHỔNG TỬ

    MẶC TỬ
    LỖ BAN
    HÀN PHI TỬ
    DƯƠNG CHU
    TRÂU DIỄN
    KHUẤT NGUYÊN
    NHIÊN ĐĂNG ĐẠO NHÂN
    HOÀNG THIÊN HÓA
    NA TRA
    DƯƠNG TIỄN
    LÔI CHẤN TỬ
    HÀNG ĐỘC LONG
    TIẾT ÁT HỔ
    KIM TRA
    MỘC TRA


    thập nhị kim tiên:

    XÍCH TINH TỬ
    QUẢNG THÀNH TỬ
    THÁI ẤT CHÂN NHÂN
    LINH BỬU ĐẠI PHÁP SƯ
    ĐẠO ĐỨC CHÂN QUÂN
    CÙ LƯU TÔN
    VĂN THÙ QUẢNG PHÁP THIÊN TÔN
    PHỔ HIỀN CHÂN NHÂN
    TỪ HÀNG ĐẠO NHÂN
    HUỲNH LONG CHÂN NHÂN
    NGỌC ĐỈNH CHÂN NHÂN
    ĐẠO HẠNH THIÊN TÔN

    ĐỘ ÁCH CHÂN NHÂN
    LỤC YỂM
    NAM CỰC TIÊN ÔNG
    HUYỀN ĐÔ ĐẠI PHÁP SƯ
    BẠCH HẠC ĐỒNG TỬ
    THỂ VÂN ĐỒNG TỬ
    HUỲNH CÂN LỰC SỸ
    VÂN TRUNG TỬ
    LÝ HÀM HƯ
    Last edited by nhaply; 10-05-2011 at 12:24 AM.

  11. #71

    Mặc định

    Dịch truyện Tàu, soạn bài ca
    Đêm thanh trằn trọc đáng là thi nhân
    Rừng nho biển thánh đã từng
    Gõ đầu trẻ nốt phù vân đoạn đường

    Một đời thờ phụng văn chương
    Ngợi ca đạo nghĩa coi thường lợi danh
    Mặc ai điên đảo thế tình
    Đôi vầng nhựt nguyệt phận mình đung đưa

    Gió đùn tóc trắng nắng mưa
    Vũng Gù đôi lá thuyền vừa buông neo
    Vỗ xanh lục bát bọt bèo
    Ngả Tư mây trắng phiêu diêu cõi người

    Một đời ông những khóc cười
    Gập ghềnh nhân thế chơi vơi bóng hình
    Huê Mỹ Thạnh mảnh trăng xanh
    Nổi chìm bao khúc huê tình đắm say

    Phong trần cõng một vai đầy
    Vẫn phong phanh mái ngói gầy âm dương
    Chỉ còn để lại văn chương
    Rồi âm thầm quyến khói hương về trời

    Thơ dầm cát bụi kiếp người
    Từng qua cay đắng ngọt bùi chát chua
    Tặng đời sau mấy vần thơ
    Đôi con sách nát bụi mờ thời gian

    Trần Phong Sắc
    ----------------------------
    Hữu tâm vô tướng....
    Hữu tâm vô ý.....
    Hữu tâm vô lệ.....
    Tịch tịch vô tâm.

  12. #72

    Mặc định

    Xin trích ngang chút về Trần Phong Sắc
    ----------------------------
    Hữu tâm vô tướng....
    Hữu tâm vô ý.....
    Hữu tâm vô lệ.....
    Tịch tịch vô tâm.

  13. #73

    Mặc định Trần Phong Sắc

    Xin nói về vị này chút xíu nhe...

    Vào đầu thế kỷ 20, ở Nam Kỳ có 3 dịch giả truyện Tàu cùng tên Sắt: người thứ nhứt là Tân Châu Nguyễn Chánh Sắt, người thứ hai là Nguyễn Kỳ Sắt, và người thứ ba là Tân An (1) Trần Phong Sắc. Cùng với Nguyễn Chánh sắt, Nguyễn An Khuông, Mộng Huê Lầu (Lê Hoằng Hựu... Trần Phong Sắc là một trong những dịch giả Nho học uyên bác, thạo chữ Quốc Ngữ, dịch nhiều bộ truyện Tàu nhứt, gây ảnh hưởng sâu rộng đến cả thế hệ nam nữ thanh niên, trung niên và ngay lớp phụ lão nữa. Trần Phong Sắc sống cuộc đời trầm lặng, âm thầm dịch sách, sáng tác . Sự đóng góp của ông vào gia tài văn hoá nước nhà buổi sơ khai thật đồ sộ, nhưng các nhà làm văn học bỏ quên ông, không dành cho ông một chỗ đứng khiêm nhượng nào trong Văn học sử miền Nam. Rất tiếc không sách báo nào đề cập đến thân thế, sự nghiệp của ông nên muốn viết về tiểu sử của Trần Phong Sắc rất khó khăn. Chúng tôi phải sưu tầm, lượm lặt rải rác, phỏng vấn nhiều vị bô lão từng sống ở Tân An, Mỹ Tho và nhứt là tham khảo cuốn Địa phương chí "Tân An Ngày Xưa" của Đào Văn Hội để viết lại bài nầy.

    Tuy là một dịch giả có biệt tài, dịch hàng 40 quyển truyện Tàu, sáng tác hàng mấy chục bài ca cổ điển, nhưng ông không sống được bằng nghề ấy. Nghề chánh của ông là thầy giáo dạy môn Luân Lý tại trường tiểu học Tân An trong thời gian từ năm 1916 đến năm 1930. Trần Phong Sắc là người hữu tài vô mạng. Bình sanh, bao nhiêu công lao trí lực để dành làm giàu cho nhà xuất bản, đời sống vật chất của ông suốt đời cũng không dư giả chi, đến chết lại lâm cảnh nghèo. Dường như ông lấy chuyện dịch truyện, sáng tác bài ca như một sở thích làm vui, không mấy chú trọng đến tiền bạc. Nghe nói rằng giới trí thức đương thời ở Tân An hễ nhắc tới ông thì họ mỉm cười, nụ cười khinh bạc, mỉa mai vì họ cho rằng Trần Phong Sắc là một người gàn, có lẽ họ chưa hiểu ông. Dù dạy học, dịch sách viết bài ca, lãnh vực nào Trần Phong Sắc cũng làm đầy đủ, nhiệt tình và xuất sắc, để lại cho hậu thế nhiều quyển truyện xưa, bài ca đến nay, lớp người hậu bối vẫn còn nhắc nhở.

    Trần Phong Sắc là người làng Huê Mỹ Thạnh, phủ Tân An, sau là tỉnh Tân An, nhà ở ngã tư gần Cầu Quây trong chợ Tân An. Kể về tướng mạo, một người từng học với ông là Đào Văn Hội (năm 1918) đã kể về ông như sau:

    - Ông Trần Phong Sắc tướng tá xấu, mang đầu tóc to tướng, nước da ngâm ngâm đen, mắt lé nặng. Lúc đó (1918) ông dạy môn Luân Lý ở các lớp tiểu học (Tân An). Khi đi dạy, ông bịt chiếc khăn nhiễu đã phai màu, mặc cái áo xuyến dài cũ, mang đôi giày hàm ếch xập xệ. Ông vẫn đi bộ luôn từ xóm Ngã Tư tới trường, trong túi áo trắng bên trong kè kè những sách .

    Chính quyền địa phương bổ nhiệm ông dạy môn Luân Lý từ lớp Năm đến lớp Nhì, lương tháng mười mấy đồng bạc. Học sinh thường gọi ông là "thầy ma-ranh" (morale) hoặc "ông kẹ lửa", vì trong lớp đứa nào trững giỡn thái qúa, ông "tặng" cho cái cú nháng lửa và cho điểm 0 . Trần Phong Sắc sống cuộc đời trầm lặng mấy mươi năm ở tỉnh lẻ, dù có tài nhưng ông không khoe khoang, ít giao du, thù tạc bạn bè như các đồng nghiệp khác lúc bấy giờ. Ông chỉ chơi thân với một vài người, trong đó có ông huyện Ngô Văn Chiêu, người sáng lập ra đạo Cao Đài sau nầy, ông Cao Văn Lỏi, ông Một Kim...Tính tình Trần Phong Sắc rất hiền lành. Ông dùng hết thì giờ ngoài việc dạy học để dịch truyện Tàu, viết lời ca (hầu hết bằng chữ Hán) trong các bài ca cổ điển. Khi đi dạy học, trong giờ ra chơi của học sinh, Trần Phong Sắc thường ngồi lại lớp, lấy sách chữ Hán ra đọc, trong khi những thầy giáo khác tụ tập chuyện trò cười đùa . Có lẽ vào thời đó môn Luân Lý bị coi thường mà ông Trần Phong Sắc lại quá lôi thôi, hiền hậu nên các bạn đồng nghiệp ít kính nể, và cũng không dạy học trò kính trọng ông ..Lớp ông dạy, học trò thường nói chuyện ồn ào như cái chợ, không coi ông ra gì cả. Ngôi nhà ông ở là một kiểu nhà xưa ba gian, lợp ngói âm dương, nền đất vách ván, thấp.. Trước nhà có một hàng rào bằng cây, quét vôi trắng toát và viết đầy những chữ Nho. Cửa ngõ nhà là hai trụ gạch, phía trên có một tảng đá xanh to gác ngang dày một tấc, rộng 40cm và ngang 1,2m, đứng xa xa trông như một cái am. Ngoài ra ông cùng một số bạn đồng tâm như Bộ Thọ (Lê Kiển Thọ), Một Kim (Đoàn Văn Kim), thầy giáo Nguyễn Văn Ngộ, Ngô Văn Chiêu thường lập đàn cầu cơ để chữa bịnh cho bá tánh không lấy tiền. Trong nhóm nầy riêng Trần Phong Sắc là người ăn chay trường. người ta kể lại trong một lần cầu cơ:"Ông giáo Vân ngồi đồng dương, ông Bộ Thọ ngồi đồng âm, Trần Phong Sắc làm phép đàn, ông Đoàn Văn Kim ghi chép và Ngô Văn Chiêu làm độc giả. Cơ lên mạnh cho biềt:

    "Ngũ chơn bữu khí lâm triều thế

    Giá hạc đằng vân xiển tự nguyên..."

    Lúc ấy cơ Đức Cao Đài tiên ông giáng cơ, cơ gõ mạnh và bảo ông Trần Phong Sắc sửa lại hai câu thơ ấy. Vốn là một nhà Nho sành sõi, uyên bác về Hán Văn, nhưng vì không biết Cao Đài tiên ông là ai, nên Trần Phong Sắc mới trả lời một cách suồng sã rằng:

    - Bài thỉnh nầy ra 100 năm rồi, từ bên Trung Quốc qua đây không ai dám cho là sai, nay ngài bảo sửa, nói vậy là thiệt trật hay sao ?

    Tiên ông quơ cơ đập vào đầu ông Trần Phong Sắc vì vô lễ. Ông lẹ làng sụt xuống né khỏi. Kế Đức Cao Đài tiên ông kêu gọi Ngô Văn Chiêu bảo sửa. Ông Chiêu sửa lại như sau:

    "Bửu chơn ngũ khí lâm triều thế.."

    Từ đó về sau ông Trần Phong Sắc không làm phép đàn nữa.

    Năm 1920 ông huyện Ngô Văn Chiêu đổi đi trấn nhậm tại Hà Tiên. Cả Toà hành chánh tỉnh (tham biện cùng nhân viên văn phòng) có làm lễ tiễn đưa. Ông Trần Phong Sắc có làm bài thơ thù tạc:

    "Mừng nay quan Huyện đổi Hà Tiên

    Có đức trời cho đặng có quyền

    Trăm năm Vũng Gù (tên cũ của Tân An) còn tiếng mến

    Một đường sau trước nổi danh hiền.

    Hòn Nghệ cầm báu đưa theo gió,

    Đảnh Hạc hoa tươi rắm tới triền.

    Âm chất sẽ ngồi xe ngựa mã

    Trùng phùng đồng ước hội Đào Viên!"

    Nhắc lại cuộc đời dạy học của Trần Phong Sắc, ông Đào Văn Hội kể lại:"Môn Luân Lý của ông Trần Phong Sắc thường dạy vào buổi chiều, tùy theo lớp mà dạy từ 4 giờ tới 4 giờ rưỡi hay 5 giờ. Ông giảng dạy bổn phận làm con đối với cha mẹ, học trò đối với thầy, nhân dân đối với chánh phủ, anh chị em, bè bạn cư xử với nhau ... Rồi ông lên bảng đen viết 1 câu lối 9, 10 chữ Hán, và viết luôn câu giải nghĩa. Chữ ông viết rất đẹp, sắc sảo như dao cắt. Ông bắt chúng tôi chép vào tập vở trình ông chấm điểm. Nhưng chữ Nho ngoằn ngoèo khó viết đối với những bàn tay non nớt và chúng tôi viết chẳng khác nào vẽ bùa! Thế mà được ông khuyên 9 đến 10 điểm ngon lành!

    Gần 40 tuổi, Trần Phong Sắc tái hôn với một cô thôn nữ. Có người cắc cớ hỏi ông tại sao không kết hôn với một goá phụ tuổi từ 30 đến 40, có phải là xứng đào xứng kép chăng. Quý độc giả có thể đoán được ông trả lời thế nào không?

    Ông bảo rằng:"Thà rằng cưới con gái đồng trinh, còn đàn bà goá chồng, phải để cho người ta thủ tiết thờ chồng mới phải đaọ thành hiền!"

    Vẫn theo lời ông Đào Văn Hội:"Tôi không biết thuở mẫu thân ông sanh tiền, ông thờ mẹ hiếu thảo thế nào mà sau khi mẹ ông quá vãng, ông cho tạc tượng gỗ một người đàn bà, trên đầu gắn tóc giả, mặc y phục đàng hoàng để thờ trên cái gác nhà ông. Sớm mai và chiều hai buổi, ông dọn cơm nước nhang đèn trước tượng, cúng lạy kính cẩn. Sự tử như sanh" (Cung phụng người chết cũng như người sống).



    MỘT DỊCH GIẢ CÓ TÀI

    Truyện Tàu được dịch ra lần đầu tiên ở nước ta từ năm 1904, đó là bộ "Tam Quốc Chí", được đăng trên tờ báo "Nông Cổ Mín Đàm". Từ đó, nhiều người có kiến thức Hán văn và chữ Quốc ngữ liên tục dịch cho đến năm 1932. Trong số hơn 30 dịch giả (xem thêm bài Nguyễn Chánh Sắt, đăng trên báo "Đời Sống" ở Houston) thì Trần Phong Sắc là một người dịch nhiều bộ nhứt (gần 20 bộ), gây ảnh hưởng lớn lao cho cả dân chúng Nam Kỳ vào đầu thế kỷ nầy. Ảnh hưởng truyện Tàu đã góp phần hình thành một nhơn sinh quan đặc biệt của người dân miền Nam mà nét luân lý nổi bật qua các câu châm ngôn "Trọng nghĩa khinh tài", anh em bè bạn ăn ở với nhau có thủy chung, trước sau không thay đổi. Trong cuộc sống, hễ gặp bất bình thì ra tay can thiệp, cứu giúp: "Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả" (thấy điều nghĩa không ra tay hành động không phải kẻ anh hùng), hoặc "Hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly..." (có nghĩa là sự giúp đở lẫn nhau khi lâm hoạn nạn, sống chết có nhau khi đã thề làm bạn...) Trong khi ngoài Bắc, Nguyễn Đỗ Mục nổi danh nhờ dịch các bộ tiểu thuyết diễm tình Trung Hoa như:

    . Dư Chi Phụ (Chồng tôi)

    . Dư Chi Thê (Vợ tôi)

    . Song Phụng Kỳ Duyên ...

    thì ở Nam Kỳ, nhà Nho và nhà giáo Trần Phong Sắc cũng nổi tiếng với hàng mấy chục quyển truyện Tàu. Các truyện Trần Phong Sắc đã dịch như:

    . Phong Thần

    . Ngũ Hổ Bình Tây

    . Tam Quốc Chí

    . Ngũ Hổ Bình Nam

    . La Thông Tảo Bắc

    . Dương Văn Quảng Bình Nam

    . Tiết Nhơn Quý Chinh Đông

    . Nhạc Phi Diễn Nghĩa

    . Tiết Đinh San Chinh Tây

    . Anh Hùng Náo Tam Môn Giai

    . Phi Long Diễn Nghĩa

    . Hậu Anh Hùng

    . Tam Hạ Ham Đường

    . Phong Kiếm Xuân Thu

    . Tàn Đường

    . Tây Hán

    . Vạn Huê Lầu

    . Đông Hán

    . Quần Anh Kiệt

    . Phấn Trang Lầu

    . Tái Sanh Duyên

    . Càn Long Hạ Giang Nam

    . Chánh Đức Du Giang Nam

    . Tam Hạp Minh Châu Bửu Kiếm

    . Tây Du Diễn Nghĩa

    . Đông Du Bát Tiên

    . Bắc Du Chơn Võ

    . Nam Du Huê Quang v.v...

    Trong các bộ truyện Tàu kể trên, một bộ gồm nhiều quyển, có khi một bộ nhiều dịch giả chia nhau dịch. Nhiều bộ đồ sộ, dịch lại rai hàng chục năm như bộ "Đông Châu Liệt Quốc" gồm 15 quyển, được các dịch giả dịch từ năm 1906 đến năm 1929, nghĩa là phải 23 năm mới xong! Bộ "Đông Châu Liệt Quốc" được các ông Nguyễn Chánh Sắt. Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều, Trần Đình Nghị, Nguyễn Kỳ Sắt và Trần Phong Sắc dịch . Còn bộ "La Thông Tảo Bắc" được Trần Phong Sắc dịch cùng vớơi nữ dịch giả Phạm Thị Phượng. Tuy thì giờ dành hết cho việc dịch truyện Tàu, nhưng Trần Phong Sắc cũng đam mê sáng tác lời ca cho những bản nhạc cổ điển. Những truyện dịch của ông được in tại Sài Gòn, Chợ Lớn do các nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết, Đinh Thái Sơn, Đặng Lễ Nghi..để phát hành khắp Nam, Trung, Bắc và Miên, Lào nữa.

    Văn phong dịch của Trần Phong Sắc rất trôi chảy, thích hợp với mọi từng lớp và mọi lứa tuổi. Vì lẽ đó từ người nông dân đến người trí thức đều hiểu được và say mê. Hồi còn nhỏ, tôi cũng phải đọc truyện Tàu hàng ngày cho ông nội tôi nghe để ...lấy tiền ăn bánh. Đọc mãi tôi cũng thấy say mê cốt chuyện hấp dẫn đó. Trong các bản dịch, lẻ tẻ Trần Phong Sắc chêm vào một bài thơ Đường bát cú hay tứ tuyệt, chứng tỏ ông có tâm hồn thi sĩ và nền Hán văn vững vàng. Những bài thơ ấy được đặt ở đầu mỗi chương để bình luận hay tóm lược câu chuyện. Trong truyện "Phong Thần", ông kết thúc bằng bài thơ:

    "Trằn trọc đêm thanh mấy khắc chầy,

    "Phong thần diễn dịch, giải niềm Tây.

    "Sắc tài, phép tắc bày ra đủ,

    "Chép để khuyên răn phỉ nguyện nầy."

    Còn trong bộ "Chánh Đức Du Giang Nam", ông có làm mấy câu thơ:

    "Trần Thiện can vua kính họ Lương,

    "Phong làm thừa tướng giúp triều đường.

    "Sắc bà Quốc Thái sai tìm chúa,

    "Chánh Đức về ngay hưởng thái bường (thái bình)"

    Trong truyện Phong Thần nói về thời hồng hoang lịch sử Trung Hoa, nhiều chuyện huyễn hoặc mà ngày nay ta cho là bịa đặt, mỗi khi một vị tiên xuất trận đối địch, thường ngâm một bài thơ rồi mới so tài đấu phép. Qua ngòi bút linh hoạt của Trần Phong Sắc, nhiều đoạn diễn tả tình nghĩa thầy trò một cách thân ái người nghiêm minh như đoạn Thái Ất mượn tay đạo hữu Văn Thù sửa trị tánh nết hung hăng của Na Tra Linh Châu Tử. Không những tế nghị trong văn tình cảm mà trong khi tả cảnh các tướng Phiên đấu chiến, giọng văn của ông cũng biến đổi:"Mạnh mẽ, gọn gàng, đằng đằng sát khí như tiếng binh khí chạm nhau chan chát..." Chúng tôi nhớ lại một đoạn tả cảnh ấy như sau:

    " ...kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài, một qua một lại, một tới một lui, bốn mươi hiệp cầm đồng..."

    Đôi khi nhà Nho đạo mạo Trần Phong Sắc cũng dùng lối văn hài hước, chọc cười độc giả. Thí dụ hồi:"Lưu Kim Đính dựng bảng chiêu phu tại núi Song Toả, có Cao Quân Bảo đi ngang qua, đập bảng ấy đi, khiến Lưu Kim Đính nổi giận. Tức thì đôi nam nữ anh hùng, anh thư nhứt tề hỗn chiến, sáu mươi hiệp thắng bại bất phân đao lớn, giáo dài, trai mạnh, gái dạn ..."



    NGƯỜI TIỀN PHONG SÁNG TÁC NHIỀU BÀI CA CỔ ĐIỂN

    Ở vùng Thủ Thừa, Vàm Cỏ, Tân An vào đầu thế kỷ 20 nhạc cổ phát triển mạnh. Những thầy đờn nổi danh ở vùng nầy hồi thập niên 1930 như Hai Nghĩa, Mười Tốt, Tư Trinh... Các ca sĩ, nhạc công đó sở dĩ nổi danh là nhờ những ông như Lê Văn Tiếng và Trần Phong Sắc, là những người đặt lời cho các bài ca cổ điển như Ngũ đối, Long đảng, Vạn giá...

    Ông Tiếng còn gọi là Cử Thiện, quê ở Thủ Thừa, cùng hợp soạn "Cầm Ca Tân Điệu" được coi như một bộ sưu tập khá đầy đủ các bản đàn cùng lời ca Cải lương ở giai đoạn phôi thai.

    Tuy không biết đàn, nhưng dựa vào các Âm điệu (notes) cổ điển, Trần Phong Sắc đặt nhiều bài ca mà nhiều danh ca cổ nhạc Nam Kỳ thời đó rất ưa thích. Chẳng hạn bạn "Lưu Thủy Hành Vân" có âm điệu như vầy:

    "Xự cống xê xang hò,

    "(là) xự cống xê xang hò,

    "Xế xang hò (là) họ xự xang

    "Xế xang còn xang xê cống...

    Rồi Trần Phong Sắc dựa vào âm điệu đó đặt lời "Ngoạn Hứng Hoa Viên" bằng chữ Hán:

    "Ngoạn hứng hoa viên, hề,

    "Tình nguyện hứng hoa viên, hề,

    "Nhứt nhựt thanh nhàn thị tiện,

    "Lung linh đào lan mai trước..."

    Tập "Cầm Ca Tân Điệu" do nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết Sài Gòn, in xong năm 1925, trong đó Trần Phong Sắc đặt nhiều bài ca như:

    . Lưu Thủy Hành Vân

    . Dạ Cổ Hoài Lang (tiền thân bản Vọng Cổ)

    . Long Hổ Hội

    . Ngũ Điểm

    . Bài Tạ

    . Khổng Minh Toạ Lầu

    . Tây Thi

    . Cổ Bản

    . Lưu Thủy

    . Phú Lục

    . Bình Bán

    . Xuân Tình

    . Tứ Đại Cảnh

    . Tứ Đại Oán

    . Văn Thiên Tường

    . Cửu Khúc Giang Nam...

    Dân địa phương Tân An thường kể lại một giai thoại về trận hoả hoạn lớn năm 1916, trong đó nhà ông Trần Phong Sắc nằm dưới ngọn gió lùa cháy tới, người nhờ ông biết "vẽ bùa", nên ngọn lửa trệch qua căn nhà khác. Chuyện ấy không biết đúng hay không nhưng chúng tôi cũng xin thuật lại để độc giả nghe chơi.

    "Năm 1916, xóm Ngã Tư bị một trận hoả hoạn lớn vào buổi chiều nắng gắt. Thời bấy giờ phương tiện cứu hoả thô sơ, không đủ sức dập tắt ngọn lửa, nên bà Hoả thiêu rụi háng trăm căn nhà lá. Heo nhốt trong chuồng cũng chết bộn, may không có tai nạn về người . Xóm hoả hoạn ấy cách nhà ông Trần Phong Sắc một cái rạch nhỏ mà ngọn gió thổi về phía nhà ông nữa. Theo nhiều người chứng kiến: Ông Trần Phong Sắc đem một cái hình nhơn cao độ vài tấc tây để trên phiến đá xanh trước cửa ngõ, tay cầm lá cờ, ông đọc điều gì như lâm râm khấn vái một chặp, đoạn phất cờ trên tay hình nộm mấy lượt. Lạ thay, ngọn lửa đương cháy mãnh liệt, hướng về nhà ông, sắp leo qua rạch tấn công mái nhà ông, rồi bỗng quay lại, tạt qua hướng khác. Trận hoả hoạn đó nhà ông thoát nạn".

    Có những người để lại sự nghiệp lớn cho đời nhưng ít được người đời nhắc tới mà Trần Phong Sắc là một trong những người ấy.

    Chú thích:

    (1) Chúng tôi quen gọi theo quê quán của Trần Phong Sắc là Tân An để phân biệt với cụ Nguyễn Chánh Sắt quê ở Tân châu, cũng là bút hiệu. Bút hiệu của Trần Phong Sắc là Đằng Huy.
    ----------------------------
    Hữu tâm vô tướng....
    Hữu tâm vô ý.....
    Hữu tâm vô lệ.....
    Tịch tịch vô tâm.

  14. #74
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của nhaply
    Gia nhập
    Apr 2008
    Bài gởi
    1,968

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Big_foot Xem Bài Gởi
    Đệ vừa xem lại có thêm Ngô Thiên Trật sư ông, vị này truyền pháp cho Uông Đông Đình.
    có thể nói rõ thêm chút để mọi người biết

  15. #75

    Mặc định

    Về cuốn THỂ CHÂN SƠN NHÂN CHÂN QUYẾT NGỮ LỤC đệ chỉ có đoạn đầu. của huynh thiengiac0712 bên daogiakhicong.org nhưng hình như huynh Thiện Giác cũng ở diễn đàn.
    Còn đây là đoạn trích :

    (Mấy dòng này do người dịch ghi thêm vào để giới thiệu tiểu sử của tác giả, trích từ sách Tây Phái Tính Mệnh Song Tu của Trần Dục Chiếu tiên sinh.
    Uông Đông Đình (1838-1932) , người tỉnh An Huy huyện Hưu Trữ làng Phượng Hồ . Tên là Uông Khải Hoạch , tự Đông Đình , hiệu là Thể Chân Sơn Nhân . Thuở nhỏ theo nho học , nhưng hâm mộ huyền học đạo pháp , sưu tầm đan kinh tử thư , bác lãm kinh sử đạo tịch , bước đầu vì chưa gặp cao sư bí quyết , nên tu luyện không thành, bèn lãng tích giang hồ , đến các danh sơn , tìm hỏi danh sư hơn 12 vị . Ngày nọ khi qua Khuông Lư , ngẫu nhiên gặp được Ngô Thiên Trật sư ông , thấy phong cách phong thần sái thoát , bèn thỉnh vấn huyền chỉ , đáp rằng : “Con tuy có tiên duyên , chỉ sợ trước siêng sau bỏ.” kế dùng lễ đệ tử mà tiếp , phục tuân đan quyết , được truyền thất phản cửu hoàn kim dịch đại đan pháp quyết , cùng huyền diệu của hỏa hậu thứ tự . Sau đến Vũ Hán, lại gặp Kha Hoài Kinh , Kha Tái Thư , Lí Vân Lam , Chu Tuấn Phu … các người họp thành “Bát nhân đàm đạo hội” , đồng tham thiết cứu , đốn ngộ toàn chỉ (xem trong Hưu Trữ Huyền Chí , bài tựa của Tính Mệnh Yếu Chỉ. Sau do đệ tử mời thỉnh , đến truyền đạo ở Thượng Hải. Thầy nói :từng học được của Lí Hàm Hư tổ nay phải đến Thượng Hải để truyền thụ tu đạo bí yếu .

  16. #76

    Mặc định

    Gọi linh Nhaply mao mao về diễn đàn....alo alo xích lô
    ----------------------------
    Hữu tâm vô tướng....
    Hữu tâm vô ý.....
    Hữu tâm vô lệ.....
    Tịch tịch vô tâm.

  17. #77

    Mặc định

    Huynh NhapLy hình như viết sai tên Lục Tổ Tây Ninh ở list 2.

  18. #78

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Big_foot Xem Bài Gởi
    Huynh NhapLy hình như viết sai tên Lục Tổ Tây Ninh ở list 2.
    Ha Ha ....em thông cảm ...cái tật ráng làm cho xong rồi mới đi ăn đó mà...mà ngủ thì ngủ như chết.
    ----------------------------
    Hữu tâm vô tướng....
    Hữu tâm vô ý.....
    Hữu tâm vô lệ.....
    Tịch tịch vô tâm.

  19. #79

    Mặc định

    Sao anh không vào yahoo, em có 1 số thắc mắc mà không thấy trả lời. À wên sáng anh gửi bài kinh gì vậy ?

  20. #80

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Big_foot Xem Bài Gởi
    Sao anh không vào yahoo, em có 1 số thắc mắc mà không thấy trả lời. À wên sáng anh gửi bài kinh gì vậy ?
    Anh onlien Yahoo rồi mà....( sorry Spam nhe )
    ----------------------------
    Hữu tâm vô tướng....
    Hữu tâm vô ý.....
    Hữu tâm vô lệ.....
    Tịch tịch vô tâm.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Hành trình về phương Đông
    By Itdepx in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 19
    Bài mới gởi: 16-09-2013, 08:57 PM
  2. kinh nói về tái sinh
    By joo_minh in forum Đạo Phật
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 10-03-2012, 07:56 AM
  3. Cõi Vô Hình (1/2)-Không phải kiến giải tôn giáo
    By Copykinhsach in forum Đạo Phật
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 11-04-2011, 09:41 AM
  4. KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN M.E.L
    By tuanvu_quynh1949 in forum Luân xa, Nhân điện, Cảm Xạ, Yoga, Thôi miên học.
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-04-2011, 03:26 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •