kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Vị vua đầu tiên viết chiếu nhận lỗi với dân

  1. #1
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định Vị vua đầu tiên viết chiếu nhận lỗi với dân

    Lịch sử Việt Nam trải hàng ngàn năm phát triển với hơn 100 đời vua nối nhau trị vì. Có nhiều câu chuyện kỳ thú, khó tin liên quan đến các vị vua nước Việt mà không mấy người biết được.

    Trần Anh Tông bị ném vỡ đầu

    Trần Anh Tông là vị vua thứ 4 của nhà Trần, ở ngôi 21 năm (1293 - 1314), được sử sách đánh giá là “khéo nối chí giữ nghiệp, cho nên đất nước được thái bình, chính trị tốt đẹp, văn vật, chế độ dần thịnh lên, cũng là bậc vua tốt của triều Trần” (Đại Việt sử ký toàn thư).

    Để tiếp cận với đời sống nhân dân, vua Trần Anh Tông thường đi vi hành và có lần ông đã bị ném vỡ đầu. Sử cho biết như sau: “Vua thích vi hành, cứ đêm đêm lại lên kiệu cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trong kinh kỳ, gà gáy mới trở về cung. Có đêm ra đến quân phường bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu vua. Người theo hầu thét lên: kiệu vua đấy; bọn chúng biết nhà vua mới tan chạy cả. Một hôm thượng hoàng thấy đầu vua có vết thương, vặn hỏi, vua cứ thú thực mà thưa. Thượng hoàng giận dữ hồi lâu” (Đại Việt sử ký toàn thư).

    Vua Tự Đức thi văn đỗ hạng... bét

    Là người thông minh, giỏi văn, hay chữ nên hoàng đế thứ 4 của triều Nguyễn là Tự Đức rất tự cao tự đại mặc dù bề ngoài luôn tỏ ra khiêm tốn. Có lần vua nói: Trẫm không đi thi nhưng nếu đi thi nhất định trẫm sẽ đỗ Trạng nguyên.


    Vua Tự Đức

    Lý Nam Đế từng là một chú tiểu

    Lý Nam Đế tên thật là Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm Tân Dậu (541) lật đổ chính quyền đô hộ, xây dựng một chính quyền tự chủ của nhà nước Vạn Xuân, ông xưng đế và trở thành vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

    Lý Bí xuất thân trong một gia đình “đời đời là hào hữu”, cha là Lý Toản, tù trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái Châu (nay là Thanh Hóa). Là con độc nhất trong gia đình, từ nhỏ đã tỏ rõ là người thông minh, hiểu biết, thế nhưng ông sớm phải sống trong cảnh mồ côi, khi lên 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ lâm bệnh qua đời; Lý Bí được người chú ruột đón về nuôi dưỡng. Một hôm có vị thiền sư đến làm lễ tại ngôi chùa trong làng, tình cờ nhìn thấy Lý Bí. Ngắm dung mạo cậu bé khôi ngô, thiền sư biết là người sau này có thể làm lên sự nghiệp. Biết hoàn cảnh đáng thương của Lý Bí, thiền sư liền đến gặp người chú xin đem cậu bé về làm “con nuôi cửa Phật”. Từ đó Lý Bí trở thành chú tiểu, theo Pháp tổ thiền sư về chùa Linh Bảo ở đất Giang Xá (nay thuộc xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội).

    Được vị thiền sư hết lòng dạy bảo, lại thông minh chăm chỉ nên qua hơn 10 năm đèn sách, rèn luyện, Lý Bí trở thành nhân vật thiên tư lỗi lạc, văn võ toàn tài. Mọi người ai cũng quý mến, tin phục, sau đó đồng lòng suy tôn ông lên làm thủ lĩnh địa phương và sau này, chú tiểu năm nào đã phất cờ đại nghĩa, lật đổ ách đô hộ gần 500 năm của Bắc triều, đặt những nền móng đầu tiên cho sự ra đời quốc gia phong kiến độc lập.

    Vua đầu tiên nhận lỗi với thần dân

    Vua Lý Cao Tông chính là người đầu tiên làm “thiên tử” thay trời hành đạo mà lại dũng cảm thừa nhận trước thần dân sai lầm của mình.

    Dưới thời Lý Cao Tông, triều chính bắt đầu đi xuống, loạn lạc nổi lên khắp nơi. Sử chép: “Vua chơi bời không điều độ, hình chính không rõ ràng, giặc cướp như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy kém… Kinh Thi có câu: Bên trong mê sắc đẹp, bên ngoài mê săn bắn, ham rượu, thích nhạc, nhà cao tường đẹp, người nào phạm một trong các điều ấy tất phải diệt vong, mà vua thì phạm đủ các điều ấy, còn làm gì được…” (Đại Việt sử ký toàn thư).

    Đến mùa thu, tháng 8 năm Đinh Mão (1207), vua Lý Cao Tông thấy giặc cướp nổi lên như ong bèn hối lại lỗi xưa, nhân đó hạ chiếu nhận lỗi, bài chiếu viết rằng: “Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn, ở tận nơi cửu trùng, không biết được cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọn tiểu nhân mà gây nên oán với kẻ dưới. Dân đã oán thì trẫm còn biết dựa vào ai? Nay trẫm sẽ sửa lỗi, cùng dân đổi mới. Ai có ruộng đất, sản nghiệp bị sung công sẽ được hoàn lại” (Đại Việt sử lược).


    Từ tù nhân trở thành hoàng đế

    Câu chuyện lạ lùng này liên quan đến vua Lê Hiển Tông, vị hoàng đế thứ 26 của nhà Hậu Lê. Ông là con trai trưởng của Lê Thuần Tông, sinh năm Đinh Dậu (1717), mất năm Bính Ngọ (1786), thọ 69 tuổi. Lê Hiển Tông là một trong số những vị vua có tuổi thọ cao nhất và là vị vua thọ nhất triều Hậu Lê. Vị hoàng đế này cũng là một trong những người ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Việt Nam và là người làm vua lâu nhất triều Hậu Lê.

    Chuyện lên ngôi của Lê Hiển Tông chứa đựng nhiều yếu tố may mắn. Khi còn là hoàng tử, vì có người chú là hoàng thân Lê Duy Mật nổi binh đánh lại họ Trịnh nhằm khôi phục quyền lực cho vua Lê, do đó ông bị chúa Trịnh Giang nghi ngờ đem giam cầm ở nhà viên quan nội thị Hồng quận công.

    Năm Canh Thân (1740) Trịnh Doanh lên ngôi chúa mới chuyển hoàng tử đến giam ở nhà cậu mình là Vũ Tất Thận. Đêm trước đó, Vũ Tất Thận “mơ thấy thiên tử tới nhà, cờ quạt phấp phới, nhã nhạc vang lừng, rõ ra cảnh tượng của đời thái bình” (Hoàng Lê nhất thống chí). Sáng hôm sau thấy quân lính giải hoàng tử đến nhà, ông ta rất kinh ngạc cho là ứng vào giấc mộng của mình bèn kể lại với chúa. Trịnh Doanh thấy vậy cho là người có phúc lớn bèn đón hoàng tử về tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Cảnh Hưng.

    Đôi mắt sáng như sao của vua Quang Trung

    Vua Quang Trung sinh năm Quý Dậu (1753), hồi nhỏ có tên là Hồ Thơm, con thứ của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng. Khi trưởng thành ông đổi họ Hồ sang họ Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Thơm, sau đó được thầy học đổi tên là Nguyễn Huệ, ngoài ra ông còn có các tên khác là Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Quang Bình… Các sách sử đều mô tả Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối.



    Đôi mắt lạ nhất của Quang Trung theo sách sử cho biết nó khiến nhiều người khi thấy thần sắc của ông “đều run sợ, hãi hùng… không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt” (Hoàng Lê nhất thống chí). Đôi mắt này được mô tả như sau: “đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược).

    Vua Gia Long bị ngã lộn cổ xuống huyệt mộ

    Cuộc đời vua Gia Long, vị hoàng đế khai sáng vương triều Nguyễn, có nhiều giai thoại kỳ lạ trong thời kỳ bôn ba gian khổ để mưu đồ phục quốc. Tuy nhiên một chuyện lạ có thật ít người biết, đó là chuyện vua đã bị ngã xuống huyệt mộ của mẹ mình là bà Hiếu Khang hoàng thái hậu vào tháng giêng năm Nhâm Thân (1812) và lạ hơn nữa là cách hành xử của quan lại trước cú ngã của vua. Sách Quốc sử di biên viết: “Trước đây sai Thị trung trực học sĩ Lê Quý Kiệt sửa sơn lăng; Quý Kiệt nói đào đến huyệt tất có đất ngũ sắc, rồi quả nhiên đúng, vua cho là lạ ngày càng khen thưởng. Đến lúc làm nhà bên mộ, mưa gió to, vua xảy chân ngã, quan lại đều sợ tản đi hết. Phò mã Trương Văn Minh đỡ vua dậy đưa ra khỏi huyệt”.

    (Còn tiếp...)

    Lê Thái Dũng

    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  2. #2
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Bên trong mê sắc đẹp, bên ngoài mê săn bắn, ham rượu, thích nhạc, nhà cao tường đẹp, người nào phạm một trong các điều ấy tất phải diệt vong, mà vua thì phạm đủ các điều ấy, còn làm gì được…” (Đại Việt sử ký toàn thư).
    mình cũng phải tạ lỗi với dân chúng thôi...
    haiz...........................

  3. #3
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định Minh Mạng bỏ trống ngôi hoàng hậu vì giận vợ

    Càng đi sâu vào sử cũ nước nhà, chúng ta càng khám phá thêm những điều kỳ thú về các vị vua, từ người ít tiếng tăm cho đến những người danh tiếng lẫy lừng mà cuộc đời tưởng chừng như đã rõ ràng nhiều chuyện.

    Được làm vua nhờ... ăn vạ

    Lý Cao Tông (còn có tên là Long Trát) sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tị (1173) là người được truyền ngôi một cách may mắn nhất. Chuyện rằng ngôi Thái tử vốn thuộc về anh trai của Long Trát là Long Xưởng, nhưng do mắc nhiều khuyết điểm nên Long Xưởng bị phế làm dân và Lý Anh Tông chưa biết chọn ai thay vào ngôi vị thái tử.

    Một hôm Lý Anh Tông đùa chơi với người con trai thứ sáu là Long Trát. Cậu bé 2 tuổi thấy vua cha đội mũ liền khóc đòi. Vua chưa kịp tháo mũ ra thì cậu khóc thét lên, lúc cầm được mũ rồi thì cười thích thú. Hành động của cậu bé được Lý Anh Tông cho đó là điềm lạ nên mới lập Long Trát làm Thái tử. Đến tháng 4 năm Ất Mùi (1175) sau khi vua mất, Thái tử lên kế vị ngôi báu, trở thành vị vua thứ 7 của triều Lý.

    Vua đi chơi đêm bị cướp mất gươm, ấn


    Vua bị cướp, mà vật bị cướp lại là biểu tượng của quyền lực tối cao là chuyện rất khó tin nhưng hoàn toàn có thật, được chính sử và nhiều tài liệu ghi lại.

    Trần Dụ Tông là vị vua thứ 7 của nhà Trần, tên thật là Trần Hạo, làm vua 28 năm (1341-1369). Thời kỳ đầu ông chăm lo chính sự nhưng về sau lại lao vào ăn chơi sa đọa, ham mê tửu sắc làm triều chính suy vi, dân tình đói khổ, giặc giã nổi lên khắp nơi… Vì là người ham chơi nên Trần Dụ Tông hay đi thăm thú, ngoạn cảnh nhiều nơi. Vào một đêm mùa hạ, tháng 6 năm Bính Ngọ (1366), vua đi chơi ở hương Mễ Sở (nay thuộc Hưng Yên) đến canh ba mới trở về kinh, khi đến sông Chử Gia thì bị kẻ cướp chặn đường lấy mất cả gươm báu lẫn ấn báu.

    Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Tháng 6, vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy Trần Ngô Lang ở hương Mễ Sở, đến canh ba mới về. Khi tới sông Chử Gia bị cướp mất ấn báu, gươm báu”. Một số tài liệu khác cũng chép tương tự, như Việt sử địa dư viết: “Trần Dụ Tông, niên hiệu Đại Trị năm thứ 9 (1366), vua đi chơi hương Mễ Sở, khi trở về đến bãi Chử Gia bị cướp, mất cả ấn báu và gươm báu”… Sau khi bị cướp, Trần Dụ Tông cho đó là điềm chẳng lành, khó mà sống lâu nên càng thả sức chơi bời, cơ nghiệp nhà Trần ngày càng suy thoái.

    Được phong làm Thái tử khi cha chưa lên ngôi


    Người được chọn vào ngôi vị Thái tử là người sẽ kế thừa ngôi báu sau này, nhưng trong lịch sử phong kiến Việt Nam có một trường hợp độc nhất vô nhị được cha phong làm Thái tử trong khi người cha đó chưa làm vua, đó là chuyện của Hồ Hán Thương.

    Hồ Hán Thương là vị vua thứ 2 và cũng là vua cuối cùng của nhà Hồ. Triều đại nhà Hồ được thành lập vào tháng 3 năm Canh Thìn (1400) sau khi Hồ Qúy Ly cướp ngôi của cháu ngoại là Trần An (Trần Thiếu Đế), thế nhưng trước đó, vào tháng giêng cùng năm, khi chưa làm vua nhưng Hồ Quý Ly đã lập Hồ Hán Thương làm thái tử với ý định chọn người con thứ này nối nghiệp mình.

    Vua đóng giả làm sư

    Trong lịch sử Việt Nam có một số vị vua từ bỏ địa vị tôn quý để xuất gia tu hành, trở thành những vị sư như trường hợp của Trần Nhân Tông, Lý Huệ Tông…. Riêng vua Mạc Mậu Hợp cũng làm sư, nhưng không phải muốn “học đạo cứu đời” mà chỉ làm một ông sư giả để cứu mạng chính mình.

    Năm Nhâm Thìn (1592) quân nhà Lê do Trịnh Tùng chỉ huy mở cuộc tổng phản công đánh ra bắc. Quân Mạc thua to. Vua Mạc Mậu Hợp kinh sợ bỏ chạy khỏi Thăng Long rồi trốn vào ngôi chùa Mô Khuê ở Phượng Nhãn (nay thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang). Quân lính đi lùng bắt, được dân cho biết “ông sư giả” này đang ẩn trong chùa đã được 11 ngày rồi. Lính kéo vào chùa “thấy một ông sư ngồi xếp bằng gõ mõ liền hỏi, Mạc Mậu Hợp đáp: "Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này, chén muối đĩa rau hàng ngày trai dưỡng, thắp hương thờ Phật, công đức chuyên làm. Thấy nhà sư ăn nói hoạt bát khiêm tốn, quân lính biết ngay là Mạc Mậu Hợp liền bắt giữ” (Đại Việt thông sử).

    Sau đó Mạc Mậu Hợp bị đưa về Thăng Long treo sống 3 ngày, sau đó bị chém đầu tại bãi Bồ Đề (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội), thủ cấp bị đưa vào Thanh Hóa, hai mắt bị đóng rồi bêu ở ngoài chợ.

    Lê Thần Tông phải lấy bác dâu làm vợ


    Cuộc đời của Lê Thần Tông, ông vua thứ 17 của nhà Hậu Lê có rất nhiều điểm đặc biệt như hai lần làm vua, có nhiều con làm vua nhất, có vợ là người phương Tây, có con nuôi là người phương Tây… Trong số những chuyện lạ về vua, có chuyện ông phải lấy bác dâu làm vợ.


    Tượng Trịnh Thị Ngọc Trúc ở chùa Mật Sơn

    Tháng 5 năm Canh Ngọ (1630) chúa Trịnh Tráng đem con gái là Trịnh Thị Ngọc Trúc gả cho Lê Thần Tông, ép lập làm Hoàng hậu. Điều đáng nói, đây lại là bác dâu của vua, bà là vợ Cường quận công Lê Trụ, bác họ của Lê Thần Tông và đã có 4 con với ông này. Sử chép: “Khi ấy, Lê Trụ bị giam trong ngục. Vương đem Ngọc Trúc gả cho vua, vua lấy vào cung” (Đại Việt sử ký toàn thư). Thấy trái với luân thường đạo lý, triều thần ra sức can ngăn nhưng ở thời xã hội đảo điên, vua chỉ là bù nhìn mà thôi nên Lê Thần Tông vẫn phải cam chịu mà nói rằng: “Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy” (Đại Việt sử ký toàn thư).

    Minh Mạng bỏ trống ngôi Hoàng hậu vì giận vợ

    Nhiều người lầm tưởng rằng vua Minh Mạng đặt ra lệ “Tứ bất” là không lập Hoàng hậu, không lập Thái tử, không phong lấy tể tướng, không lấy Trạng nguyên (có sách chép là không phong vương). Thế nhưng không hề có văn bản nào quy định về điều này.



    Vua Minh Mạng

    Riêng về trường hợp không lập Hoàng hậu, không phải vì Minh Mạng lo ngại thế lực bên họ hàng của Hoàng hậu can thiệp vào chính sự, lũng loạn triều chính mà lý do là vì vua giận vợ. Sách Quốc sử di biên cho biết như sau: “Chính cung húy là Kiều, con gái Doanh tượng quan… Đệ nhị cung tên húy là Hinh, con gái Lê Tông Chất… Có lần vua hơi se mình, chính cung cùng đệ nhị cung cùng đi cầu đảo ở chùa Thiên Mạc. Nhị cung nói rằng: Nếu phải tội với trời thì không cầu đảo vào đâu được. Đến lúc vua khỏi, chính cung đem câu nói ấy tâu với vua. Vua giận lắm, cho nên ngôi hoàng hậu vẫn để trống, bàn mãi không quyết định được”.
    (Còn tiếp…)

    Lê Thái Dũng

    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  4. #4
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định Vua cũng khổ vì... liệt dương

    Không gì đau khổ bằng có hàng nghìn giai nhân tuyệt sắc xung quanh mà không thể làm gì được. Thế mà có những vị hoàng đế lâm vào bi kịch đó.


    Hoàng đế Trần Dụ Tông

    Đây là vị vua thứ bảy của nhà Trần, sống ở thế kỷ 14, lên ngôi khi mới 5 tuổi. Chuyện bị bệnh liệt dương và chữa khỏi của ông vua này được kể lại rất ly kỳ: Năm bốn tuổi, khi còn là hoàng tử, ông bị rơi xuống nước khi đi chơi thuyền trên hồ với vua cha là thượng hoàng Minh Tông và các cung nữ. Khi được vớt lên thì hoàng tử gần như đã chết. Thầy thuốc nổi tiếng Trâu Canh đã kích thích các huyệt đạo để cứu sống cậu bé nhưng “tiên đoán” rằng sau này bệnh nhân sẽ bị liệt dương. Điều này đã được chứng minh khi nhà vua cưới vợ năm 14 tuổi.


    Để chữa bệnh cho vua, Trâu Canh đề ra một phương thuốc vô cùng kỳ quái và thất đức: giết một bé trai, lấy mật hoà với dương khởi thạch để uống, và phải thông dâm với chị hay em ruột mới hiệu nghiệm. Dụ Tông làm theo, sai giết người làm thuốc, thông dâm với chị ruột là Thiên Ninh công chúa, và đã khỏi bệnh.



    Ngày nay, nhiều ý kiến cho rằng căn bệnh liệt dương của Trần Dụ Tông đến rồi đi đều do mưu ma chước quỷ của vị thầy thuốc hữu tài vô hạnh Trâu Canh. Chính lời “tiên đoán” của ông ta rằng Dụ Tông lớn lên sẽ bị liệt dương đã ám ảnh cậu bé suốt thời thơ ấu như một lời nguyền khắc nghiệt, khiến nạn nhân bị bất lực do tâm lý. Còn phương thuốc kỳ quái kia cũng là cách Trâu Canh “giải lời nguyền”, cởi bỏ áp lực tâm lý cho nhà vua, nên khả năng đàn ông xuất hiện trở lại.


    Dân gian lại có một câu chuyện khác về cách điều trị bệnh bất lực cho Dụ Tông: Trâu Canh thuở hàn vi một lần đi bắt cá dưới ao do dây buộc giỏ cá bị đứt nên đã bứt đại sợi dây leo để buộc giỏ ngang lưng, không ngờ thấy dương vật tự nhiên “trỗi dậy” khiến ông không dám lên bờ. Khi cởi sợi dây ra thì hiện tượng này biến mất. Thử đi thử lại nhiều lần thấy kết quả vẫn vậy, Trâu Canh biết là cây thuốc thần. Đến khi triều đình thông báo tìm người chữa bệnh liệt dương cho vua, Trâu Canh đã dùng dây leo này chữa khỏi bệnh cho Dụ Tông.


    Các nhà khoa học thời nay cho rằng, việc dùng cây dây leo kia cũng có một phần cơ sở khoa học, giống như một cách chữa rối loạn cương mà thời hiện đại sử dụng: kích thích làm cương dương vật, sau đó thắt ở gốc dương vật để máu từ đấy không rút đi. Hình ảnh sợi dây buộc ngang lưng trong câu chuyện có thể là cách nói bóng gió rằng Trâu Canh đã giúp Trần Dụ Tông giao hợp được bằng cách hướng dẫn buộc dây vào gốc dương vật đã cương.


    Hoàng đế Khải Định

    Chính vì Khải Định mắc bệnh liệt dương nên người con duy nhất của ông – vua Bảo Đại – mới bị nghi ngờ là giọt máu hoang của người khác. Nhiều tài liệu kể rằng Khải Định không có khả năng và cũng không thích “gần gũi” đàn bà, chỉ thích nhìn đàn ông. Vì thế khi xem diễn trò, ông chỉ muốn kép nam biểu diễn, kể cả vai nữ. Ông cũng rất thích trau chuốt chuyện ăn mặc, trang điểm, thậm chí còn luôn đầu tư chế ra các kiểu y phục mới.



    Vua Khải Định.

    Trong các thú vui của vua Khải Ðịnh không có tình dục. Các bà vợ ôngđều phải sống cảnh cô đơn, lạnh lẽo, trong khi ông chồng mải mê đánh bạc. Mặc dù vậy, vì hám danh lợi, nhiều vị quan vẫn muốn tiến con gái cho hoàng thượng để kiếm chác, thế nên vị vua bất lực này vẫn có tới 12 bà vợ. Chuyện kể rằng có lần, một ông quan tỏ ý dâng con gái mình cho Khải Định, nhà vua thản nhiên bảo: "Ở đây là cái chùa, ai muốn tu thì cứ đưa vào tu". Câu nói này như một lời cảnh báo cho ông bố kia, rằng nếu muốn con gái chịu cảnh phòng the lạnh lẽo suốt đời thì… tùy.
    Phạm Hoàng
    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  5. #5
    Nhất Đẳng Avatar của Nhóc¯Sock
    Gia nhập
    Jan 2011
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục Tầng 19 sắp lên tầng thứ 9 của tiên giới là MÂY
    Bài gởi
    1,021

    Mặc định

    ôg khải định này tục wá =]]
    Đừng có tô đậm lên nhaĐã bảo là k tô đậm rồi mà đúng là người việt nam:laughing:

  6. #6
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định

    Vua Trần Nhân Tông có màu da như vàng ròng


    Các vị quân vương là “thiên tử” thay trời hành đạo nhưng cũng phải nếm đủ mùi vị của cuộc sống với muôn vẻ bi hài.


    Trần Nhân Tông có màu da như vàng ròng

    Trần Nhân Tông là một minh quân trong lịch sử Việt Nam, là người lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến trong Nguyên Mông xâm lược lần thứ 3, là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền đặc trưng của Phật giáo Việt Nam.


    Ảnh thờ Trần Nhân Tông

    Trần Nhân Tông còn có tên là Kim Phật, cái tên đặc biệt này xuất phát từ nước da lạ kỳ của vua. Sách Đại Việt sử ký toàn thư không ghi cụ thể về điều đó mà chỉ cho biết vua “được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng. Hai cung (tức Thượng hoàng Thái Tông và vua Thánh Tông) đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử”.

    Trong sách Thiền Tông bản hạnh thì ghi mẹ vua là Nguyên Thánh Hoàng thái hậu nằm mộng thấy thần trao cho hai thanh kiếm và bảo bà lựa chọn rồi từ đó có mang mà sinh ra vua. Đặc biệt, trong Thánh Đăng ngữ lục chép rõ về nước da của Trần Nhân Tông như sau: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật...”.

    Trần Duệ Tông chết vì chủ quan

    Trần Dụ Tông tên thật là Trần Kính, lên ngôi báu năm Nhâm Tý (1372). Sử sách đánh giá vị hoàng đế này là “người ương bướng, tự theo ý mình, không nghe lời can, kinh thường quân giặc nên tai vạ đến mình” (Đại Việt sử ký toàn thư).

    Chuyện rằng, vua thấy Chiêm Thành luôn xâm phạm bờ cõi, bèn thân chinh đem quân đi trừng phạt. Tháng 1 năm Đinh Tị (1377) quân Chiêm chống không nổi liền rút lui, khi Trần Duệ Tông đến gần kinh đô Đồ Bàn thì có người Chiêm trá hàng nói rằng vua Chiêm đã bỏ thành chạy rồi, cần tiến binh ngay. Tướng Đỗ Lễ can ngăn, khuyên vua suy xét kỹ. Nhưng Trần Duệ Tông cho rằng Đỗ Lễ hèn nhát rồi cứ cho tiến quân vào thành Đồ Bàn. Quân Chiêm bất ngờ đổ ra vây hãm. Quân Trần thua to. Trần Duệ Tông và nhiều tướng sĩ chết trong trận này.

    Hồ Hán Thương lập cơ quan y tế đầu tiên

    Dưới triều Hồ, nhiều chính sách cải cách có những điểm rất tiến bộ. Một trong số đó là việc thiết lập cơ quan y tế cấp quốc gia. Cơ quan y tế đó do vua Hồ Hán Thương lập ra tháng 9 Quý Mùi (1403) để chữa trị bệnh tật cho người dân mà không có sự phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Phương sĩ Nguyễn Đại Năng, người ở Giáp Sơn có thuật dùng lửa cứu hoặc lấy kim châm để chữa bệnh cho người, Hán Thương bổ làm chức Quảng Tế thự thừa. Đặt quan thuộc Quảng Tế bắt đầu từ đó”.
    Như vậy cơ quan y tế công cộng đầu tiên ở nước ta có tên gọi là Quảng Tế (một số sách chép là Quảng Tế hựu, Quảng tế thự, Quảng tế thực…) và người đứng đầu cơ sở này giữ chức Quảng Tế tự thừa .

    Nhân vật Nguyễn Đại Năng quê ở Giáp Sơn (nay là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) là một danh y, nhà châm cứu tài năng, để lại một tác phẩm nổi tiếng là sách “Châm cứu tiếp hiệu diễn ca” ghi cách chữa 130 bệnh dùng 140 huyệt châm cứu, trong đó có 11 huyệt do người Việt tìm ra. Đây là tác phẩm chuyên ngành châm cứu đầu tiên ở nước ta.

    Con hổ xám và sự ra đời của vua Lê Thái Tổ

    Lê Thái Tổ tên thật là Lê Lợi. Ông sinh vào giờ Tý, ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385). Truyền rằng ở thôn Như Áng, gần nhà vua “có một cây quế, dưới cây quế có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai. Từ khi Hoàng đế ra đời, thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho đó là một sự lạ.

    Tượng Đài Lê Lợi ở TP Thanh Hóa
    Ngày Hoàng đế sinh thì trong nhà có hào quang đỏ chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt bay khắp làng. Khi lớn lên, ngài thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng mồm rộng; sống mũi cao. Xương mi mắt gồ lên; bả vai bên tả có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ; tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường” (Đại Việt thông sử).

    Mạc Mậu Hợp bị sét đánh suýt chết

    Mạc Mậu Hợp là vị vua thứ năm của nhà Mạc, ở ngôi 31 năm (1562 - 1592). Mạc Mậu Hợp “chỉ ham chơi bời, say đắm tửu sắc, không để ý đến việc nước” (Đại Việt thông sử) nên cơ nghiệp dần suy vong. Kết cục phải bỏ chạy khỏi Thăng Long, con cháu sau này chỉ giữ được một phần đất nhỏ ở Cao Bằng, Tuyên Quang mà thôi…

    Mạc Mậu Hợp có lần đang ở trong cung thì bị sét đánh, tuy vua không chết nhưng bị liệt mất nửa người, sau một thời gian chữa trị mới bình phục. Chuyện này xảy ra vào năm Mậu Dần (1578), sách Đại Việt thông sử cho biết: “Ngày 21 tháng 2, Mậu Hợp ở trong cung, bị sét đánh vào cung, thành chứng “bán thân bất toại”, sau chữa thuốc lại khỏi, bèn đổi niên hiệu năm ấy làm niên hiệu Diên Thành thứ nhất”. Đến năm Tân Tị (1581) Mạc Mậu Hợp lại bị bệnh “thong manh”, mắt mờ hầu như không nhìn thấy gì, lần bị bệnh này vua phải chữa trị đến mấy năm con mắt mới trở lại bình thường.

    Minh Mạng phải tự chèo thuyền tránh hổ

    Lịch sử Trung Quốc có một số hoàng đế cho lập chợ ngay trong hoàng cung, sai cung nữ, thái giám đóng giả người mua kẻ bán để vua đi xem nhằm tìm cái thú vui dân dã. Ở Việt Nam, vua Minh Mạng đã từng làm như vậy. Thậm chí ông còn có sở thích xem voi và hổ đấu nhau nên đã cho xây cả chuồng nuôi hổ, chính vì thế có lần vua bị hổ xổng ra lao đến gần khiến ông phải tự mình chèo thuyền tránh họa. Chuyện này được sách Quốc sử di biên ghi lại tóm lược như sau:

    “Vua thích làm cung điện và ngự uyển, xây nhà thủy tạ, nhà chơi mát ở phố Chợ, sai cung nhân bán hàng, có nội giám làm cung sứ, mua bán theo giá. Vua thường ngự thủ liễn đi chơi chợ, đến thì ăn uống để mua vui. Lại làm chuồng hổ ở núi Thiên Mạc, bốn mặt xây tường để nuôi hổ, thường ngự trên tường xem voi đánh nhau với hổ… Một hôm, vua ngự thuyền rồng, có hổ xông ra đến gần thuyền vua, vua tự cầm lái bơi theo để giữ mình, có người lính đánh bắt được hổ, vua gia thưởng quân công một thứ”.

    Vua Đồng Khánh thích trang điểm

    Nếu như vua Khải Định là người nổi tiếng với cách ăn mặc diêm dúa, lai căng nửa Âu nửa Á thì cha của ông là vua Đồng Khánh lại là người ưa trang điểm. Đây là vị vua thứ 9 của nhà Nguyễn, được Pháp đưa lên ngôi năm Ất Tị (1885) lấy niên hiệu là Đồng Khánh sau khi Pháp phế bỏ vị vua yêu nước Hàm Nghi.

    Đồng Khánh là ông vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền bảo hộ của Pháp, tiếp xúc với nền văn minh Tây phương và ưa thích các mặt hàng, đồ vật của châu Âu. Trong sinh hoạt thường nhật, ông vua rất chú ý đến ngoại hình và ưa thích trang điểm.

    Một người Pháp tên là F. Baille từng được gặp vua Đồng Khánh đã kể lại trong bài "Les Annamite" như sau: “Hằng ngày một toán cung nữ được chọn trong tất cả đẳng cấp phục dịch Đức vua. Ba mươi người chia nhau canh gác hậu cung của Ngài, năm nàng luôn ở cạnh Ngài, luân phiên săn sóc, trang điểm cho Ngài. Các nàng thay quần áo cho Ngài, chải chuốt bộ móng tay cho dài hơn ngón tay, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa chung quanh đầu Ngài. Sau cùng, chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt quanh Ngài sao cho thật hoàn hảo”.

    (Còn tiếp)

    Lê Thái Dũng

    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  7. #7

    Mặc định

    Các bài này mình đọc hết roài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Ý nghĩa của 64 quẻ và 384 hào
    By Bin571 in forum Dịch Học
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 08-07-2012, 04:04 PM
  2. TỐ NỮ KINH 2
    By thaiduong162 in forum Y, Dược Thuật
    Trả lời: 8
    Bài mới gởi: 05-06-2012, 03:13 PM
  3. TỬ VI NGHIỆM LÝ TOÀN THƯ
    By thaiduong162 in forum Tử Vi
    Trả lời: 16
    Bài mới gởi: 01-10-2011, 08:13 PM
  4. BÍ MẬT THÚ VỊ VỀ LINH HỒN LUYỆN NGỤC
    By satyaa in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 28-04-2011, 10:26 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •