Trang 1 trong 3 123 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 44

Ðề tài: xin cho biết kết quả tụng thần chú LĂNG NGHIêM

  1. #1

    Mặc định xin cho biết kết quả tụng thần chú LĂNG NGHIêM

    có rất nhiều người tụng thần chú lăng nghiêm
    và có nhiều kết quả ....
    xin các bạn kể ra ....

  2. #2

  3. #3

    Mặc định

    Chào các bạn,

    Chắc bạn 5thanhcuchi sắp sửa đầu tư lớn công sức để tụng chú LĂNG NGHIÊM, nên nghiên cứu trước xem có đáng công không. Đúng là thời buổi kinh THẾ thị trường !?

    Kính chào,

  4. #4

    Mặc định

    Kính gửi đạo hửu 5thanhcuchi,
    Nếu có gì mạo phạm xin đạo hửu bỏ quá cho

    Thành Phật có Pháp Hoa

    Khai tuệ có Lăng Nghiêm


    Tôi rất hoan hỷ giảng Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Pháp Hoa, vì hai bộ kinh này giúp khai mở trí tuệ và giúp thành Phật. Chẳng những tôi hoan hỷ mà còn mong muốn mỗi Phật tử đều nghiên cứu để am tường đạo lý trong Kinh, đặc biệt là Kinh Lăng Nghiêm.

    Nói đến Kinh Lăng Nghiêm, tôi nhớ tại Trung Qưốc có một vị Trí Giả Ðại Sư bình sanh chỉ nghe tên bộ Kinh này là liền ao ước được trì tụng. Hằng ngày, Ngài hướng về Ấn Ðộ rập đầu lễ bái, hy vọng có thể thấy tận mắt bộ kinh này. Ngài lễ bái suốt mười tám năm mà vẫn chưa thấy được bộ kinh. Trí tuệ của Trí Giả Ðại Sư rất vượt bực, và biện tài của Ngài rất là vô ngại, nhưng Ngài vẫn hết sức thành kính lễ bái bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Như vậy đủ chứng tỏ tầm quan trọng của bộ Kinh này.

    Kinh Lăng Nghiêm còn lưu hành trên thế gian, thì thiên ma ngoại đạo đều không dám xuất hiện. Bất hạnh thay, vào thời Mạt-pháp Kinh Lăng Nghiêm sẽ là bộ kinh bị mất trước tiên. Một khi bộ Kinh Lăng Nghiêm này không còn trên thế gian nữa, thiên ma ngoại đạo sẽ mặc sức lộng hành.

    Thậm chí hiện nay có một số người tự xưng là chuyên gia về Phật học mạo nhận là học giả từng nghiên cứu Phật-pháp, hoặc là giáo sư khoa học Phật học của một trường đại học nào đó, và công nhiên đề xướng rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả, do người Trung Quốc ngụy tạo. Quý vị hãy nghĩ xem tuy rằng có rất nhiều thánh nhơn xuất hiện ở Trung Quốc nhưng tôi tin chắc rằng sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được vị thánh nhân đã tạo ra Kinh Lăng Nghiêm đó. Cho nên tôi tuyệt đối tin rằng bộ Kinh Lăng Nghiêm này là thật, là chính xác, và là một bộ kinh khả dĩ hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Vì trong Chú Lăng Nghiêm toàn là những câu thần chú dùng để hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Từ câu chú đầu tiên đến câu chú cuối cùng, mỗi câu đều có một sự diệu dụng và uy lực bất khả tư nghì của nó. Cho nên, Phật vì Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm.

    Trước kia, tại Hương Cảng, có người đã phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm ra Anh văn, nhưng lại xén bỏ đoạn Kinh văn về nghi quỹ thiết lập "Lăng Nghiêm Ðàn," ngay cả Chú Lăng Nghiêm cũng bị loại bỏ. Vị dịch giả ấy nói rằng người Tây phương chẳng ai tin Chú Lăng Nghiêm và cũng chẳng ai tụng Chú này, bởi họ cho rằng Chú là những gì mê tín và không tin ở công dụng của Chú. Cho nên trong bản dịch Anh ngữ ấy không có đoạn nói về cách "thiết đàn" và cách tu trì "Lăng Nghiêm Ðại Pháp."

    Từ khi tôi đến các quốc gia Tây phương, nhất là qua kinh nghiệm bản thân ở Mỹ, tôi nhận thấy rất nhiều người Tây phương thích trì tụng Chú Lăng Nghiêm, và chẳng những hoan hỷ trì tụng mà còn học thuộc lòng nữa.

    Tại Kim Sơn Thánh Tự tôi có một đệ tử vào hai thời công phu sáng tối đều cùng chúng tôi trì tụng Chú Lăng Nghiêm và chỉ tụng mỗi ngày hai thời như thế mà trong hai mươi sáu ngày là y đã thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm!

    Tại Mỹ Quốc môn học tôi đưa ra khảo hạch trước tiên là khi học thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm; ai trả bài thông suốt thì đậu; ai không thuộc thì tạm thời bị đánh rớt. Ðó là quy định của khóa tu mùa hè năm 1968. Bấy giờ, có một người học thuộc trong hai mươi sáu ngày, và có một người trong hai mươi tám ngày. Cho nên hiện nay có rất nhiều Phật giáo đồ Tây phương biết đến Chú Lăng Nghiêm.

    Quý Phật tử hãy nghĩ xem, vì sao những kẻ mạo nhận là chuyên gia Phật học, những kẻ tự xưng là học giả, hoặc khoe khoang mình là giáo sư của trường đại học nào đó, lại chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì những gì nói trong Kinh Lăng Nghiêm đều có đề cập đến khuyết điểm cùng những sai lầm của họ. Như trong Kinh có dạy rõ rằng: "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (bốn điều răn dạy về tánh thanh tịnh), là không được phỉ báng. Những kẻ này chẳng muốn dứt bỏ khuyết điểm của họ nên mới chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là do người Trung Quốc tạo ra.

    Vậy, ban đầu do ai chủ trương như thế? Là do người Nhật. Thế người Nhật nói là ai nói với họ? Truy nguyên ra là một vị Pháp-sư Trung Quốc đã mách họ, bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả. Tôi chẳng rõ vị Pháp-sư này có hiểu Kinh Lăng Nghiêm chăng? Tôi không cần phải nêu danh tánh vị Pháp-sư này ra vì chuyện đã xưa rồi. Như vậy, do "cái sai loan truyền cái sai" mà nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả.

    Việc này đủ chứng minh rằng Phật-pháp đang suy tàn, là do người trong hàng ngũ Phật giáo tạo ra tin đồn này, từng bước từng bước khiến cho người ta sinh ra hoài nghi, rồi dần dần không tin nữa. Vì hồ nghi không tin nên bộ Kinh này được xếp cất trên gác cao. Xếp lên xó gác thì chẳng khác gì hủy diệt. Vì chẳng còn ai nghiên cứu hoặc quan tâm đến nữa, thì lâu dần Kinh tất bị hủy diệt. Chẳng phải vì Kinh không có chữ, hoặc vì khan hiếm giấy, mà là vì dần dà người ta quên hẳn nó đi.

    Vì sao có người đề xướng Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì họ không muốn tuân theo quy củ. Trong Kinh nói rằng 50 ấm ma có vô số phép thần thông song đều không đáng kể. Bởi vậy khi họ có đôi chút thần thông, thì họ cho là nếu có thần thông thì cũng bị xem là giả thôi. Cho nên những kẻ mưu cầu thần thông đều không thích kinh này.

    Tôi nghe nói hiện nay tại Nhật Bản có một vị có thần thông, dùng tay chỉ ngọn nến thì ngọn nến bốc cháy, không hiểu có đúng như vậy hay không? Ngày 14 sắp tới tôi sẽ đi Nhật Bản và có thể sẽ viếng thăm vị này. Từ lâu ông ta hy vọng được gặp tôi. Lần này gặp mặt chúng tôi có thể cùng nhau trao đổi ý kiến.

    Tầm quan trọng của Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm không thể nào nói cho hết được, và tương lai cũng không nói hết được sự diệu dụng, cho nên nói rằng bất khả tư nghì.

    Hôm nay tôi thành thật trình bày với quý vị tầm mức diệu dụng của Chú Lăng Nghiêm này.

    Khi xưa lúc tôi ở tại Ðông Bắc, mỗi khi gặp người có bệnh tôi nhất định làm cho họ lành bịnh. Tôi lấy oai lực gì làm cho họ khỏi bịnh. Ðó là oai lực của Chú Lăng Nghiêm.

    Trong Chú Lăng Nghiêm có tất cả năm bộ:

    Ðông Phương có:
    A Súc Phật - Kim Cang Bộ

    Nam Phương có:
    Bảo Sinh Phật - Bảo Sanh Bộ

    Trung Ương có:
    Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Bộ

    Tây Phương có:
    A Di Ðà Phật - Liên Hoa Bộ

    Bắc Phương có:
    Thành Tựu Phật - Yết Ma Bộ

    tất cả gồm năm bộ. Năm bộ này cai quản năm đại ma quân ở năm phương trên thế giới, cho nên khi trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì năm đại ma quân có năm phương đều cúi đầu phủ phục, không dám cưỡng lại oai lực của Chú Lăng Nghiêm.

    Công năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có:

    1. Tức tai Pháp
    2. Hàng phục Pháp
    3. Tăng ích Pháp
    4. Thành tựu Pháp
    5. Câu triệu Pháp.

    1. Tức tai Pháp (Pháp giải trừ tai ương). Một khi chúng ta trì Chú lăng Nghiêm thì hết thảy tai ương đều được giải trừ.

    2. Hàng phục Pháp (Pháp làm cho hàng phục). Bất luận đối phương là thứ thiên ma ngoại đạo gì chăng nữa, một khi chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm thì pháp lực của chúng ma liền bị phá vỡ, chúng sẽ bị hàng phục dễ dàng.

    3. Tăng ích Pháp (Pháp giúp tăng trưởng lợi ích). Thí dụ chúng ta tu đạo, Chú Lăng Nghiêm sẽ giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng bồ đề tâm, tăng trưởng nguyện lực mọi thứ đều tăng trưởng. Ðó là pháp làm gia tăng sự lợi ích.

    4. Thành tựu Pháp (Pháp giúp cho được thành tựu). Chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm, thì bất luận chúng ta tu pháp môn gì, chú này cũng sẽ giúp chúng ta được thành tựu.

    5. Lại còn một loại nữa là Câu triệu Pháp (Pháp thâu tóm về). Pháp này có thể dùng khi chúng ta gặp thiên ma ngoại đạo và muốn bắt chúng, cũng như trên thế gian cảnh sát bắt kẻ phạm tội vậy. Bất luận là thiên ma hay ngoại đạo, nếu chúng ta muốn bắt giữ chúng thì hết thảy Hộ Pháp Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, và tám muôn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát tức khắc bắt giữ chúng. Ðó là Câu Triệu Pháp.

    Chú Lăng Nghiêm gồm năm hội, và được phân ra trên ba mươi bộ pháp. Lúc tôi ở Ðông Bắc tôi nhờ vào công lực của Chú Lăng Nghiêm để trị bịnh. Nhưng chẳng phải ai ai cũng tùy tiện sử dụng Chú Lăng Nghiêm được, nếu có dùng chú này chăng nữa thì cũng không sử dụng được toàn bộ, vì chú này bao gồm trên ba mươi bộ pháp.

    Khi nghe tôi nói như vậy thì có một số giáo sư đại học ở Mỹ không hiểu Phật-pháp nói rằng "A! Hóa ra Chú Lăng Nghiêm là do nhiều bài chú nhỏ chắp nối lại mà thành!" Quý Phật tử nghĩ xem, đúng là làm trò cười cho thiên hạ! Chính họ cũng chẳng hiểu ất giáp gì cả, nên mới lấy bộ óc chứa đầy kiến thức khoa học của một giáo sư đại học mà suy đoán tầm mức bất khả tư nghị của Chú Lăng Nghiêm.

    Vì sao tôi lại nhắc đến Chú Lăng Nghiêm? Vì Phật do Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm. Nếu chẳng có Chú Lăng Nghiêm thì căn bản chẳng có Kinh Lăng Nghiêm.

    Do đó vị phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm sang Anh ngữ nói trên đã bỏ Chú Lăng Nghiêm và cũng không dịch phần nghi quy kết đàn. Như vậy, có thể nói rằng bản dịch Anh ngữ ấy chẳng khác gì người mất đầu. Một người không có đầu thì còn chi hữu dụng nữa? Cho nên người phiên dịch Kinh điển không được tự mình phán đoán, không được dùng cái trí tuệ hoặc cái tri kiến nông cạn, hạn hẹp của mình mà cắt câu lấy nghĩa, tự tiện thêm bớt, làm sai lệch ý văn. Người có thái độ như vậy đối với Kinh điển thì không thể chấp nhận được.

    Hiện nay tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta đang thực hiện công tác phiên dịch Kinh điển. Phàm những lời trong Kinh phải tuyệt đối lưu giữ, không được "bỏ đầu xén chân." Lại cũng không thể như vị giáo sư nào đó đã phiên dịch "lưỡng túc tôn" đấng đầy đủ cả hai, nghĩa là phước huệ là "đấng hai chân." Ông đã dịch: "Quy y Phật, đấng hai chân."

    Dịch như vậy không thể nói là chẳng đúng, tuy nhiên ít nhiều cũng có lệch lạc không tương hợp với ý chính của Kinh. Bởi vậy, tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta phải hết sức cẩn thận trong công tác phiên dịch Kinh điển, không được tùy tiện "thủ tiêu" bất cứ một đoạn nào trong Kinh. Hôm nay giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi nhân tiện trình bày cho quý Phật tử rõ.

    http://tinhdo.net/luangiaikinhsach/5...hthulangnghiem
    Last edited by khachtrangian; 20-06-2008 at 07:19 PM.

  5. #5

    Mặc định

    - A Nan! Những câu vi diệu, bí mật của "Phật Đảnh Quang Tụ, thuần trắng chẳng ô nhiễm" này, sanh ra tất cả chư Phật:

    - Mười phương Như Lai do tâm chú này, được thành Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác.

    - Mười phương Như Lai trì tâm chú này, uốn dẹp tà ma, chế phục ngoại đạo.

    - Mười phương Như Lai vận tâm chú này, ngồi bửu liên hoa, ứng hiện trong vô số quốc độ.

    - Mười phương Như Lai dùng tâm chú này, nơi vô số quốc độ, chuyển đại pháp luân.

    - Mười phương Như Lai trì tâm chú này, hay ở nơi mười phương xoa đảnh thọ ký cho hàng Bồ Tát, Thanh Văn, cho đến người chưa chứng quả vị.

    - Mười phương Như Lai nương tâm chú này, hay ở nơi mười phương cứu vớt các khổ như: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đui, điếc, ngọng, câm và bát khổ, những tai nạn lớn nhỏ đồng thời được giải thoát; các nạn: giặc, binh, vua, ngục, bão, lụt, lửa, nước cho đến đói khát nghèo nàn, ngay đó tiêu tan.

    - Mười phương Như Lai tùy theo tâm chú này, hay ở nơi mười phương phụng sự thiện tri thức, trong tứ oai nghi được cúng dường như ý; nơi pháp hội của hằng sa Như Lai, được suy tôn là Đại Pháp Vương Tử.

    - Mười phương Như Lai hành theo tâm chú này, hay ở nơi mười phương nhiếp thọ người có nhân duyên, khiến hàng Tiểu Thừa nghe tạng bí mật, chẳng sanh kinh sợ.

    - Mười phương Như Lai tụng tâm chú này, thành Vô Thượng Giác, ngồi dưới cây Bồ Đề vào Đại Niết Bàn.

    - Mười phương Như Lai truyền tâm chú này, sau khi diệt độ, phó chúc Phật Pháp, trụ trì cứu cánh, nghiêm tịnh giới luật, thảy đều trong sạch.

    - Như ta thuyết chú "Phật Đảnh Quang tụ chẳng ô nhiễm" này, từ sáng đến tối chẳng dứt tiếng, trong đó những chữ và câu cũng chẳng trùng điệp, nếu từ đây ngộ nhập, mới biết tất cả hữu tình vô tình cũng thường thuyết chú này, nên gọi "Đảnh Như Lai" vậy.

    - Hàng hữu học các ngươi chưa ra khỏi luân hồi phát tâm chí thành tu chứng quả A La Hán, nếu chẳng trì chú này mà ngồi đạo tràng, muốn khiến thân tâm xa lìa các ma sự thì chẳng có chỗ đúng.

    - A Nan! Nếu có chúng sanh trong các thế giới, tùy theo vật dụng trong đất nước, hoặc lá, giấy, vải trắng để biên chép chú này, đựng trong túi nhỏ, nếu người ấy ngu muội chẳng thể tụng nhớ thì đeo trên mình, hoặc để trong nhà, nên biết người ấy trọn đời chẳng bị các thứ độc hại.

    - A Nan! Nay ta vì ngươi thuyết chú này, cứu giúp thế gian được đại vô úy, thành tựu trí xuất thế gian cho chúng sanh.

    - Sau khi ta diệt độ, chúng sanh trong đời mạt pháp, có người biết tự trì tụng, hoặc dạy người khác trì tụng chú này, nên biết những chúng sanh trì tụng như thế, lửa chẳng thể đốt, nước chẳng thể chìm, độc chẳng thể hại, cho đến tất cả ác chú của các Thiên Long, quỷ thần, yêu tinh, ma mị đều chẳng thể dính mắc, tâm được chánh thọ, tất cả bùa chú, yểm cổ, kim ngân độc dược, cỏ, cây, sâu, rắn, độc khí muôn loài, vào miệng người ấy đều thành cam lồ. Tất cả ác tinh, quỷ thần, dù có độc tâm hại người, đối với người ấy cũng chẳng thể khởi ác; các ác quỷ vương Tần Na, Dạ Ca (đầu heo mũi voi) cùng các quyến thuộc, đều thọ ơn Phật, thường gia hộ người ấy.

    - A Nan nên biết! Chú này thường có tám vạn bốn ngàn vô số chủng tộc Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương, mỗi mỗi đều có quyến thuộc, ngày đêm hộ vệ. Giả sử có chúng sanh nơi tâm tán loạn, chẳng thể vào Tam Ma Địa, miệng niệm tâm trì, thì các vị Kim Cang Vương thường theo ủng hộ thiện nam tử ấy, huống là người có tâm quyết định vào Đạo Bồ Đề, các vị Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương này, khiến người ấy phát ra thần thức, thân tâm tinh tấn, ngay đó được nhớ lại những việc từ tám vạn bốn ngàn hằng sa kiếp đến nay, đều rõ ràng chẳng có nghi hoặc. Từ kiếp thứ nhất cho đến thân cuối cùng, đời đời chẳng sanh vào các loài Dược Xoa, La Sát, quỷ bệnh tật, quỷ thúi, quỷ yểm mị, quỷ hút tinh khí, cùng các loài ngạ quỷ có hình vô hình, có tưởng vô tưởng, và những xứ ác độc.

    - Thiện tri thức ấy, hoặc đọc tụng, biên chép, hoặc đeo giữ và cúng dường tâm chú này thì kiếp kiếp chẳng sanh vào những nơi nghèo nàn hèn hạ và chỗ chẳng an lành.

    - Các chúng sanh này, dẫu cho tự thân chẳng làm phước nghiệp, mười phương Như Lai cũng ban công đức cho họ, do đó được trong vô số kiếp thường với chư Phật đồng sanh một chỗ, vô lượng công đức như chùm quả ác xoa, đồng một chỗ huân tu, trọn chẳng chia cách. Cho nên, Tâm chú này hay khiến người đã phá giới được giới căn trong sạch, người chưa đắc giới khiến cho đắc giới, người chẳng tinh tấn, chẳng trí huệ, chẳng trong sạch, chẳng trai giới, thảy đều thành tựu.

    - A Nan! Thiện nam tử ấy, giả sử trước kia có phạm giới cấm, thì sau khi trì chú, các tội phá giới chẳng kể nặng nhẹ, đều được tiêu diệt, dù đã uống rượu, ăn ngũ tân, và các thứ bất tịnh, tất cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên, quỷ thần, chẳng cho là có lỗi; dù mặc y áo rách rưới, khi đi khi đứng, đồng như trong sạch; dù chẳng lập đàn, chẳng vào đạo tràng, cũng chẳng hành đạo, mà trì tụng chú này, với công đức vào đàn, hành đạo, chẳng có sai khác.

    - Nếu trước kia tạo các tội nặng ngũ nghịch, vô gián, những tội Tứ khí, Bát khí của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni (bằng như tử hình của người đời), thì khi tụng chú này rồi, cũng như gió mạnh thổi tan đống cát, những nghiệp nặng như vậy đều trừ sạch, chẳng còn mảy may.

    - A Nan! Nếu có chúng sanh từ vô số kiếp đến nay, có tất cả những tội chướng nặng nhẹ, tuy trong các đời trước chưa kịp sám hối, nay nếu biết đọc tụng, biên chép chú này, giữ đeo trên mình hay để nơi chỗ ở, thì những nghiệp tích chứa từ trước, đều tiêu như nước sôi làm tan băng tuyết, chẳng bao lâu sẽ được vô sanh nhẫn.

    - Lại nữa A Nan! Nếu có người đàn bà chưa có con, mong cầu có thai, chí tâm tưởng niệm, hoặc đeo chú này, thì được sanh những đứa con trai gái có phước đức trí huệ, cầu sống lâu được sống lâu, cầu phước báo được phước báo, cho đến cầu thân mạng sức mạnh đều được như thế. Sau khi chết, tùy nguyện vãng sanh trong mười phương quốc độ, chắc chắn chẳng sanh nơi biên địa, dòng hạ tiện, huống là các tạp hình!

    - A Nan! Nếu các quốc độ, châu huyện, làng xóm bị nạn đói kém, ôn dịch; hoặc những nơi bị bịnh loạn, giặc cướp đánh nhau và tất cả những nơi có tai nạn khác, viết thần chú này dán nơi bốn cửa thành, và những thấp miếu hoặc trên các tràng phan, khiến chúng sanh trong nước thừa phụng chú này, cung kính lễ bái, nhất tâm cúng dường; khiến nhân dân mỗi mỗi đeo chú trong mình, hoặc để nơi chỗ ở, thì tất cả tai nạn thảy đều tiêu diệt.

    - A Nan! Nếu chúng sanh nơi các quốc độ, hễ chỗ nào có chú này, thì Thiên Long vui mừng, mưa gió thuận thời, ngũ cốc được mùa, dân chúng an vui; những tai chướng do tất cả ác tinh biến quái ở mọi nơi, đều chẳng sanh khởi, người chẳng chết yểu, gông, cùm, xiềng, xích, chẳng dính vào mình, ngày đêm ngủ yên, thường chẳng ác mộng.

    - A Nan! Cõi Ta Bà này có tám vạn bốn ngàn tai biến ác tinh, do 28 đại ác tinh làm thượng thủ; lại có 8 đại ác tinh làm chủ, xuất hiện trên đời với nhiều hình dạng, hay gây các tai họa kỳ lạ cho chúng sanh. Hễ có chú này thì thảy đều tiêu diệt, trong phạm vi 12 do tuần, các tai biến hung dữ, trọn chẳng thể xâm nhập.

    - Cho nên Như Lai thuyết chú này, bảo hộ người tu hành sơ học đời vị lai, vào Tam Ma Địa, thân tâm thư thái, được đại yên ổn chẳng bị tất cả tà ma, quỷ thần, và những oán thù, nghiệp cũ nợ xưa từ vô thỉ đến quấy hại.

    - Ngươi và hàng hữu học trong chúng, với người tu hành đời vị lai, y pháp trì giới trong đạo tràng, được vị thầy truyền giới trong sạch, đối với tâm chú này chẳng sanh nghi hoặc, thì cái thân do cha mẹ sanh của người này, nếu chẳng được tâm thông, mười phương Như Lai bèn thành vọng ngữ.

    Nói xong, vô số Kim Cang đều nhất thời đảnh lễ bạch Phật:

    - Như lời Phật dạy, chúng con xin thành tâm bảo hộ người tu đạo Bồ Đề.

    Bấy giờ, Phạn Vương và Đế Thích, Tứ Thiên Vương cũng đồng thời đảnh lễ bạch Phật:

    - Nếu có người tu học như thế, chúng con xin hết lòng bảo hộ, khiến họ suốt đời việc làm thỏa nguyện.

    Còn có vô số Quỷ Vương chắp tay đảnh lễ bạch Phật:

    - Chúng con cũng thệ nguyện hộ trì cho người ấy, khiến tâm Bồ Đề mau được viên mãn.

    Còn có vô số Nhật Nguyệt Thiên tử, Phong Sư, Vũ Sư, Vân sư, Lôi Sư, cùng với Điện Sư, Tuần Quan, Chư Tinh và quyến thuộc đảnh lễ bạch Phật:

    - Chúng con cũng bảo hộ người tu hành ấy an lập đạo tràng, được vô sở úy.

    Còn có vô số Sơn Thần, Hải Thần, Phong Thần, cõi Trời Vô Sắc, tất cả tinh kỳ trên mặt đất, dưới nước và trên không, đồng thời đảnh lễ bạch Phật:

    - Chúng con cũng bảo hộ người tu hành ấy được thành Bồ Đề, trọn chẳng ma sự.

    Khi ấy, tám vạn bốn ngàn ức hằng sa Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật:

    - Như chúng con tu thành Bồ Đề đã lâu, mà chẳng thủ chứng Niết Bàn, thường theo chú này, cứu giúp những người chơn tu Tam Ma Địa trong đời mạt pháp. Thế Tôn, những người tu tâm cầu chánh định như thế, dù ở đạo tràng hay lúc kinh hành, cho đến lúc đi dạo chơi, con và đồ chúng thường theo hộ vệ người ấy. Dẫu cho Ma vương, Đại Tự Tại Thiên muốn tìm cách quấy phá, trọn chẳng thể được. Các quỷ thần nhỏ phải cách xa người ấy ngoài mười do tuần, chỉ trừ khi họ đã phát tâm tu thiền chánh pháp thì mới được gần người ấy. Thế Tôn, nếu những ác ma hay quyến thuộc ma, muốn đến xâm nhiễu người ấy, thì con dùng chày Kim Cang đập nát đầu họ như vi trần, khiến người ấy việc làm thỏa nguyện.

    LƯỢC GIẢI
    Tâm tức là Chú, Chú tức là Tâm, Tâm và Chú bất nhị, nên gọi là Tâm Chú. Người muốn nhờ thần lực của Tâm Chú, trước tiên phải giữ giới trong sạch, chẳng khởi một niệm tham cầu, tức là quên cả sự đang tụng chú và sự nhờ cậy chú lực, như thế mới gọi là "tâm niệm trong sạch, thuần trắng chẳng ô nhiễm", được đến chỗ bất nhị cũa Tâm chú. Lúc ấy, sự diệu dụng của tự tánh (tâm chú) tự hiện, thì tất cả đều được thành tựu như lời kinh nói; nếu chẳng làm như thế, lại có thể trở thành tai họa, vì chư Hộ Pháp Long Thiên, tánh hay kính mến người thiện và trừng phạt kẻ ác vậy
    .

    http://www.lotusmedia.net/unicode/Th...DL/quyen07.htm

  6. #6

    Mặc định

    II. Trì chú

    1. Ðịnh nghĩa


    Chú, tiếng Phạn là Ðà-la-ni, dịch là tác trì hoặc tổng trì. Trong Ðại trí độ luận có nói: “Ðà-la-ni, tiếng Hoa là năng trì hoặc năng giá. Nghĩa là có khả năng gìn giữ tập hợp các pháp thiện khiến không rời không mất, giống như đồ đựng nước nguyên vẹn thì nước không bị rò rỉ; đồng thời có khả năng ngăn chặn khiến tâm ác không sanh, không tạo pháp bất thiện” .

    2. Chủng loại của Ðà-la-ni

    - Pháp Ðà-la-ni còn gọi là Văn Ðà-la-ni: nghĩa là đối với Phật pháp nghe được rồi thì có thể ghi nhớ, giữ gìn không để quên mất .

    - Nghĩa Ðà-la-ni: nghĩa là đối với nghĩa lý sâu xa của các pháp có thể tổng trì2 không để quên mất.

    - Chú Ðà-la-ni: Là ngôn ngữ bí mật được nói ra trong khi tu thiền định của chư Phật và Bồ-tát, thần nghiệm không thể nghĩ bàn, gọi là “chú”ù. Chú Ðà-la-ni, người năng trì ngôn ngữ của chú không được để mất thiện căn.

    - Nhẫn Ðà-la-ni: Nhẫn nghĩa là an trú vào bất động, lấy trí vô phân biệt làm thể của nhẫn, khiến an trụ vào thật tướng các pháp mà nhẫn. Không khởi vọng tưởng phân biệt, gọi là Nhẫn Ðà-la-ni.

    Trên đây lược nói bốn loại (căn cứ vào Trí độ luận thì còn có vô số Ðà-la-ni). Hàng tín đồ Phật giáo trì chú đa số theo loại thứ ba, hoặc đa số không hiểu nghĩa Ðà-la-ni.

    3. Phương pháp tụng niệm

    - Âm thanh niệm tụng: Phát ra âm thanh tụng niệm lớn.

    - Kim cang niệm tụng: Ngậm miệng, lưỡi niệm thầm.

    - Tam-ma-địa niệm tụng: Dùng định tâm, niệm thầm chơn ngôn.

    - Chơn thật niệm tụng: Trụ nơi định tâm, quán tưởng thật tướng đại biểu của chơn ngôn

    Lại chiếu theo cách tu hành của Mật tông, cần phải tay bắt ấn cùng với sự quán tưởng... mong cầu tam mật thân ngữ ý tương ưng3.

    4. Các chú trì tụng hàng ngày và công hiệu của việc trì chú :

    - Chú Lăng Nghiêm: Ðược rút ra từ trong “Kinh Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm”, có oai lực rất lớn nên được gọi là vua trong các loại chú. Các hàng đại đức cao Tăng đa số đều hành trì chú này. Oai lực của chú này có khả năng tiêu trừ dục niệm đã sanh, chưa sanh và khiến nó không phát sanh nữa. Nó có khả năng ức chế mọi tà chú, phá trừ tất cả ma chướng.


    - Chú Ðại bi: Ðược rút ra từ trong “Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế AÂm Bồ-tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-la-ni”, đây là chú mà đức Thiên Quang Tịnh Trụ Như Lai đã dạy cho Bồ-tát Quan Thế AÂm vào thời quá khứ. Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế; nhân vì thương xót chúng sanh ở thế giới Ta-bà bị ác duyên bủa trói, chịu khổ vô lượng, nên Bồ-tát Quan Thế AÂm tụng ra chú này mong chúng sanh ở cõi này có thể tu trì mà được lợi ích. Ngàn tay, ngàn mắt là tượng trưng cho trí tuệ vô lượng, diệu đức vô lượng, do đó sự linh cảm của chú này uy lực vô biên. Nếu chí thành đọc tụng chú này thì có thể diệt vô lượng vô biên tội nghiệp, có thể trị các loại bệnh khó trị.

    - Tiêu tai kiết tường thần chú: Chú này được rút ra từ trong Kinh “Tiêu Tai Kiết Tường”, là chú được nói lúc đức Phật ở trên cung trời Tịnh Cư. Trong kinh có nói, nếu muốn tránh tai nạn có thể phát sanh thì phải thiết lập đạo tràng, rồi y theo nghi thức, tụng niệm chú này một trăm lẻ tám biến thì có thể tiêu trừ hết tai nạn .

    - Phật mẫu Chuẩn đề thần chú: Chú này được rút ra từ trong “Kinh Chuẩn Ðề Ðà-la-ni”. Trong kinh có nói, niệm chú này hết chín mươi vạn biến thì có thể tiêu trừ hết các trọng tội ngũ nghịch, thập ác4.

    - Dược Sư quán đảnh chơn ngôn: Chú này rút ra từ trong “Kinh Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Ðức”. Trong kinh có nói, nếu chúng sanh nào mắc phải những thứ bệnh thì chỉ cần lấy một ly nước sạch, thành tâm niệm chú này một trăm lẻ tám biến rồi uống thì bệnh tật sẽ thuyên giảm và lành hẳn.

    - Thất Phật diệt tội chơn ngôn: Nhân duyên chú này là nhân vì Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi thương hàng Phật tử vào thời mạt pháp phạm tội tứ trọng ngũ nghịch mà không có cách nào sám hối nên thỉnh ý Phật chỉ dạy. Ðức Phật nhân đó mà nói chú này .

    - Vãng sanh tịnh độ thần chú (chú vãng sanh): Ðược rút ra từ trong Kinh “Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðoä Ðà-la-ni” .

    - Phương pháp niệm chú này: Thân thể phải sạch sẽ, súc miệng, thắp hương, chắp tay quỳ trước bàn Phật, thành kính tụng niệm thì có thể diệt được nghiệp chướng; sau khi chết, tự nhiên sanh về thế giới Cực lạc .

    http://www.quangduc.com/coban/154niemtinpg08.html

  7. #7

    Mặc định

    Mình thấy bạn cần chú LĂNG NGHIÊM nên đã sưu tầm cho bạn đây,chúc bạn may mắn và nhanh thành đạt:
    Nam-Mô-Lăng-Nghiêm Hội-Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

    Diệu trạm tổng trì bất động tôn,
    Thủ-Lăng-Nghiêm-Vương thế hi hữu,
    Tiêu Ngã ức kiếp điên-đảo tưởng.
    Bất lịch tăng-kỳ hoạch pháp thân,
    Nguyện kim đắc quả thành bảo-vương,
    Hườn độ như thị hằng sa chúng,
    Tương thử thâm tâm phụng trần sát,
    Thị tắc danh vị báo Phật ân:
    Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứng minh,
    Ngũ-trược ác-thế thệ tiên nhập,
    Như nhứt chúng sanh vị thành Phật,
    Chung bất ư thử thủ nê-hoàn.
    Đại –hùng đại -lực đại -từ-bi,
    Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc,
    Linh ngã tảo đăng vô -thượng giác,
    Ư thập phương giới tọa đạo tràng ;
    Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong,
    Thước –ca –ra tâm vô động chuyển.

    Nam-mô thường-trụ thập-phương Phật.
    Nam-mô thường-trụ thập-phương Pháp.
    Nam-mô thường-trụ thập-phương Tăng.
    Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
    Nam-mô Phật Đảnh Thủ-Lăng-Nghiêm.
    Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
    Nam-mô Kim-Cang-Tạng Bồ-Tát.

    Nhĩ thời Thế-Tôn,
    Tùng nhục-kế trung,
    Dõng bá bảo-quang,
    Quang trung dõng xuất ,
    Thiên diệp bảo liên,
    Hữu hóa Như-Lai,
    Tọa bảo hoa trung,
    Đảnh phóng thập đạo,
    Bá bảo quang-minh,
    Nhứt nhứt quang-minh,
    Giai biến thị hiện,
    Thập hằng hà sa,
    Kim-Cang mật tích,
    Kình sơn trì sử,
    Biến hư-không giới,
    Đại chúng ngưỡng quan,
    Ủy ái kiêm bảo,
    Cầu Phật ai hựu,
    Nhứt tâm thính Phật,
    Vô-kiến đảnh tướng ,
    Phóng quang như La-Lai,
    Tuyên thuyết thần chú:



    Đệ Nhất

    01. Nam-mô tát đát tha
    02. Tô già đa da
    03. A ra ha đế
    04. Tam-miệu tam bồ đà tỏa
    05. Nam mô tát đát tha
    06. Phật đà cu tri sắc ni sam
    07. Nam-mô tát bà
    08. Bột đà bột địa
    09. Tát đa bệ tệ
    10. Nam-mô tát đa nẩm
    11. Tam-miệu tam bồ đà
    12. Cu tri nẩm
    13. Ta xá ra bà ca
    14. Tăng già nẩm
    15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm.
    16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.
    17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm.
    18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm.
    19. Tam-miệu dà ba ra
    20. Ðể ba đa na nẩm.
    21. Nam-mô đề bà ly sắc nỏa.
    22. Nam-mô tất đà da
    23. Tỳ địa da
    24. Ðà ra ly sắc nỏa.
    25. Xá ba noa
    26. Yết ra ha
    27. Ta ha ta ra ma tha nẩm
    28. Nam-mô bạt ra ha ma ni
    29. Nam-mô nhơn dà ra da
    30. Nam-mô bà dà bà đế
    31. Lô đà ra da.
    32. Ô ma bát đế
    33. Ta hê dạ da.
    34. Nam-mô bà dà bà đế
    35. Na ra dả
    36. Noa da
    37. Bàn dá ma ha tam mộ đà da
    38. Nam-mô tất yết rị đa da
    39. Nam-mô bà dà bà đế
    40. Ma ha ca ra da
    41. Ðịa rị bác lặc na
    42. Dà ra tỳ đà ra
    43. Ba noa ca ra da.
    44. A địa mục đế
    45. Thi ma xá na nê
    46. Bà tất nê
    47. Ma đát rị dà noa
    48. Nam-mô tất yết rị đa da
    49. Nam-mô bà dà bà đế
    50. Ða tha dà đa câu ra da
    51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da.
    52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da.
    53. Nam-mô ma ni câu ra da
    54. Nam-mô dà xà câu ra da
    55. Nam-mô bà dà bà đế
    56. Ðế rị trà
    57. Du ra tây na.
    58. Ba ra ha ra noa ra xà da
    59. Ða tha dà đa da
    60. Nam-mô bà dà bà đế
    61. Nam-mô A di đa bà da
    62. Ða tha dà đa da
    63. A ra ha đế.
    64. Tam-miệu tam bồ đà da
    65. Nam-mô bà dà bà đế
    66. A sô bệ da
    67. Ða tha dà đa da
    68. A ra ha đế
    69. Tam-miệu tam bồ đà da
    70. Nam-mô bà dà bà đế
    71. Bệ xa xà da
    72. Câu lô phệ trụ rị da
    73. Bác ra bà ra xà da
    74. Ða tha dà đa da.
    75. Nam-mô bà dà bà đế
    76. Tam bổ sư bí đa
    77. Tát lân nại ra lặc xà da
    78. Ða tha dà đa da
    79. A ra ha đế
    80. Tam-miệu tam bồ đà da
    81. Nam-mô bà dà bà đế
    82. Xá kê dã mẫu na duệ
    83. Ða tha dà đa da
    84. A ra ha đế
    85. Tam-miệu tam bồ đà da
    86. Nam-mô bà dà bà đế
    87. Lặc đát na kê đô ra xà da
    88. Ða tha dà đa da
    89. A ra ha đế
    90. Tam-miệu tam bồ đà da
    91. Ðế biều
    92. Nam-mô tát yết rị đa
    93. ế đàm bà dà bà đa
    94. Tát đác tha dà đô sắc ni sam
    95. Tát đác đa bát đác lam
    96. Nam-mô a bà ra thị đam
    97. Bác ra đế
    98. Dương kỳ ra
    99. Tát ra bà
    100. Bộ đa yết ra ha
    101. Ni yết ra ha
    102. Yết ca ra ha ni
    103. Bạt ra bí địa da
    104. Sất đà nể
    105. A ca ra
    106. Mật rị trụ
    107. Bát rị đác ra da
    108. Nảnh yết rị
    109. Tát ra bà
    110. Bàn đà na
    111. Mục xoa ni
    112. Tát ra bà
    113. Ðột sắc tra
    114. Ðột tất phạp
    115. Bát na nể
    116. Phạt ra ni
    117. Giả đô ra
    118. Thất đế nẩm
    119. Yết ra ha
    120. Ta ha tát ra nhã xà
    121. Tỳ đa băng ta na yết rị
    122. A sắc tra băng xá đế nẩm
    123. Na xoa sát đác ra nhã xà
    124. Ba ra tát đà na yết rị
    125. A sắc tra nẩm
    126. Ma ha yết ra ha nhã xà
    127. Tỳ đa băng tát na yết rị
    128. Tát bà xá đô lô
    129. Nể bà ra nhã xà
    130. Hô lam đột tất phạp
    131. Nan giá na xá ni
    132. Bí sa xá
    133. Tất đác ra
    134. A kiết ni
    135. Ô đà ca ra nhã xà
    136. A bát ra thị đa câu ra
    137. Ma ha bác ra chiến trì
    138. Ma ha điệp đa
    139. Ma ha đế xà
    140 Ma ha thuế đa xà bà ra
    141. Ma ha bạt ra bàn đà ra
    142. Bà tất nể
    143. A rị da đa ra
    144. Tỳ rị câu tri
    145. Thệ bà tỳ xà da
    146. Bạt xà ra ma lễ để
    147. Tỳ xá lô đa
    148. Bột đằng dõng ca
    149. Bạt xà ra chế hắt na a giá
    150. Ma ra chế bà
    151. Bát ra chất đa
    152. Bạt xà ra thiện trì
    153. Tỳ xá ra giá
    154. Phiến đa xá
    155. Bệ để bà
    156. Bổ thị đa
    157. Tô ma lô ba
    158. Ma ha thuế đa
    159. A rị da đa ra
    160. Ma ha bà ra a bác ra
    161. Bạt xà ra thương yết ra chế bà
    162. Bạt xà ra câu ma rị
    163. Câu lam đà rị
    164. Bạt xà ra hắt tát đa giá
    165. Tỳ địa da
    166. Kiền dá na
    167. Ma rị ca
    168. Khuất tô mẫu
    169. Bà yết ra đá na
    170. Bệ lô giá na
    171. Câu rị da
    172. Dạ ra thố
    173. Sắc ni sam
    174. Tỳ chiếc lam bà ma ni giá.
    175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.
    176. Lồ xà na
    177. Bạt xà ra đốn trỉ giá
    178. Thuế đa giá
    179. Ca ma ra
    180. Sát sa thi
    181. Ba ra bà.
    182. ế đế di đế
    183. Mẫu đà ra
    184. Yết noa.
    185. Ta bệ ra sám
    186. Quật phạm đô
    187. ấn thố na mạ mạ tỏa.

    Ðệ Nhị

    188. Ô Hồng
    189. Rị sắc yết noa
    190. Bác lặc xá tất đa
    191. Tát đác tha
    192. Già đô sắc ni sam
    193. Hổ hồng đô lô ung
    194. Chiêm bà na
    195. Hổ hồng đô lô ung
    196. Tất đam bà na
    197. Hổ hồng đô lô ung
    198. Ba ra sắc địa da
    199. Tam bác xoa
    200. Noa yết ra
    201. Hổ hồng đô lô ung
    202. Tát bà dược xoa
    203. Hắt ra sát ta
    204. Yết ra ha nhã xà
    205. Tỳ đằng băng tát na yết ra
    206. Hổ hồng đô lô ung
    207. Giả đô ra
    208. Thi để nẩm
    209. Yết ra ha
    210. Ta ha tát ra nẩm
    211. Tỳ đằng băng tát na ra
    212. Hổ hồng đô lô ung
    213. Ra xoa
    214. Bà già phạm
    215. Tát đác tha
    216. Già đô sắc ni sam
    217. Ba ra điểm
    218. Xà kiết rị
    219. Ma ha ta ha tát ra
    220. Bột thọ ta ha tát ra
    221. Thất rị sa
    222. Câu tri ta ha tát nê
    223. Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa
    224. Tra tra anh ca
    225. Ma ha bạt xà lô đà ra
    226. Ðế rị bồ bà na
    227. Man trà ra
    228. Ô hồng
    229. Ta tất đế
    230. Bạt bà đô
    231. Mạ mạ
    232. ấn thố na mạ mạ tỏa.

    Ðệ Tam

    233. Ra xà bà dạ
    234. Chủ ra bạt dạ
    235. A kỳ ni bà dạ
    236. Ô đà ca bà dạ
    237. Tỳ xa bà dạ
    238. Xá tát đa ra bà dạ
    239. Bà ra chước yết ra bà dạ
    240. Ðột sắc xoa bà dạ
    241. A xá nể bà dạ
    242. A ca ra
    243. Mật rị trụ bà dạ
    244. Ðà ra nị bộ di kiếm
    245. Ba già ba đà bà dạ
    246. Ô ra ca bà đa bà dạ
    247. Lặc xà đàn trà bà dạ
    248. Na dà bà dạ
    249. Tỳ điều đát bà dạ
    250. Tô ba ra noa bà dạ
    251. Dược xoa yết ra ha
    252. Ra xoa tư yết ra ha
    253. Tất rị đa yết ra ha
    254. Tỳ xá giá yết ra ha
    255. Bô đa yết ra ha
    256. Cưu bàn trà yết ra ha
    257. Bổ đơn na yết ra ha
    258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha
    259. Tất kiền độ yết ra ha
    260. A bá tất ma ra yết ra ha
    261. Ô đàn ma đà yết ra ha
    262. Xa dạ yết ra ha
    263. Hê rị bà đế yết ra ha
    264. Xả đa ha rị nẩm
    265. Yết bà ha rị nẩm
    266. Lô địa ra ha rị nẩm
    267. Mang ta ha rị nẩm
    268. Mê đà ha rị nẩm
    269. Ma xà ha rị nẩm
    270. Xà đa ha rị nữ
    271. Thị tỷ đa ha rị nẩm
    272. Tỳ đa ha rị nẩm
    273. Bà đa ha rị nẩm
    274. A du giá ha rị nữ
    275. Chất đa ha rị nữ
    276. Ðế sam tát bệ sam
    277. Tát bà yết ra ha nẩm
    278. Tỳ đà dạ xà
    279. Sân đà dạ di
    280. Kê ra dạ di
    281. Ba rị bạt ra giả ca
    282. Hất rị đởm
    283. Tỳ đà dạ xà
    284. Sân đà dạ di
    285. Kê ra dạ di
    286. Trà diễn ni
    287. Hất rị đởm
    288. Tỳ đà dạ xà
    289. Sân đà dạ di
    290. Kê ra dạ di
    291. Ma ha bát du bát đác dạ
    292. Lô đà ra
    293. Hất rị đởm
    294. Tỳ đà dạ xà
    295. Sân đà dạ di
    296. Kê ra dạ di
    297. Na ra dạ noa
    298. Hất rị đởm
    299. Tỳ đà dạ xà
    300. Sân đà dạ di
    301. Kê ra dạ di
    302. Ðát đỏa dà lô trà tây
    303. Hất rị đởm
    304. Tỳ đà dạ xà
    305. Sân đà dạ di
    306. Kê ra dạ di
    307. Ma ha ca ra
    308. Ma đác rị già noa
    309. Hất rị đởm
    310. Tỳ đà dạ xà
    311. Sân đà dạ di
    312. Kê ra dạ di
    313. Ca ba rị ca
    314. Hất rị đởm
    315. Tỳ đà dạ xà
    316. Sân đà dạ di.
    317. Kê ra dạ di
    318. Xà dạ yết ra
    319. Ma độ yết ra
    320. Tát bà ra tha ta đạt na
    321. Hất rị đởm
    322. Tỳ đà dạ xà
    323. Sân dà dạ di
    324. Kê ra dạ di
    325. Giả đốt ra
    326. Bà kỳ nể
    327. Hất rị đởm
    328. Tỳ đà dạ xà
    329. Sân đà dạ di
    330. Kê ra dạ di
    331. Tỳ rị dương hất rị tri
    332. Nan đà kê sa ra
    333. Dà noa bác đế
    334. Sách hê dạ
    335. Hất rị đởm
    336. Tỳ đà dạ xà
    337. Sân đà dạ di
    338. Kê ra dạ di
    339. Na yết na xá ra bà noa
    340. Hất rị đởm
    341. Tỳ đà dạ xà
    342. Sân đà dạ di
    343. Kê ra dạ di
    344. A-la-hán
    345. Hất rị đởm
    346. Tỳ đà dạ xà
    347. Sân đà dạ di
    348. Kê ra dạ di
    349. Tỳ đa ra dà
    350. Hất rị đởm
    351. Tỳ đà dạ xà
    352. Sân đà dạ di
    353. Kê ra dạ di
    354. Bạt xà ra ba nể
    355. Câu hê dạ câu hê dạ
    356. Ca địa bát đế
    357. Hất rị đởm
    358. Tỳ đà dạ xà
    359. Sân đà dạ di
    360. Kê ra dạ di
    361. Ra xoa vỏng
    362. Bà dà phạm
    363. ấn thố na mạ mạ tỏa

    Ðệ Tứ

    364. Bà dà phạm
    365. Tát đác đa bát đác ra
    366. Nam-mô tý đô đế
    367. A tất đa na ra lặc ca
    368. Ba ra bà
    369. Tất phổ tra
    370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị
    371. Thập Phật ra thập Phật ra
    372. Ðà ra đà ra
    373. Tần đà ra tần đà ra
    374. Sân đà sân đà
    375. Hổ hồng hổ hồng.
    376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.
    377. Ta ha
    378. Hê hê phấn
    379. A mâu ca da phấn
    380. A ba ra đề ha da phấn
    381. Ba ra bà ra đà phấn
    382. A tố ra
    383. Tỳ đà ra
    384. Ba ca phấn
    385. Tát bà đề bệ tệ phấn
    386. Tát bà na dà tệ phấn
    387. Tát bà dược xoa tệ phấn
    388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn
    389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn
    390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn
    391. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn.
    392. Tát bà đột sáp tỷ lê
    393. Hất sắc đế tệ phấn
    394. Tát bà thập bà lê tệ phấn
    395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn
    396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.
    397. Tát bà địa đế kê tệ phấn
    398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn
    399. Tát bà tệ đà da
    400. Ra thệ giá lê tệ phấn
    401. Xà dạ yết ra
    402. Ma độ yết ra
    403. Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn.
    404. Tỳ địa dạ
    405. Giá lê tệ phấn
    406. Giả đô ra
    407. Phược kỳ nể tệ phấn
    408. Bạt xà ra
    409. Câu ma rị;
    410. Tỳ đà dạ
    411. La thệ tệ phấn
    412. Ma ha ba ra đinh dương
    413. Xoa kỳ rị tệ phấn
    414. Bạt xà ra thương yết ra dạ
    415. Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn
    416. Ma ha ca ra dạ
    417. Ma ha mạt đát rị ca noa
    418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn.
    419. Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn
    420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn
    421. A kỳ ni duệ phấn
    422. Ma ha yết rị duệ phấn
    423. yết ra đàn tri duệ phấn
    424. Miệc đát rị duệ phấn
    425. Lao đát rị duệ phấn
    426. Giá văn trà duệ phấn
    427. Yết la ra đác rị duệ phấn.
    428. Ca bát rị duệ phấn
    429. A địa mục chất đa
    430. Ca thi ma xá na
    431. Bà tư nể duệ phấn
    432. Diễn kiết chất
    433. Tát đỏa bà tỏa
    434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.

    Ðệ Ngũ

    435. Ðột sắc tra chất đa
    436. A mạt đác rị chất đa
    437. Ô xà ha ra
    438. Dà ba ha ra
    439. Lô địa ra ha ra
    440. Ta bà ha ra
    441. Ma xà ha ra
    442. Xà đa ha ra
    443. Thị tỉ đa ha ra
    444. Bạt lược dạ ha ra
    445. Kiền đà ha ra
    446. Bố sữ ba ha ra
    447. Phả ra ha ra
    448. Bà tả ha ra
    449. Bát ba chất đa
    450. Ðột sắc tra chất đa.
    451. Lao đà ra chất đa
    452. Dược xoa yết ra ha
    453. Ra sát ta yết ra ha
    454. Bế lệ đa yết ra ha
    455. Tỳ xá giá yết ra ha
    456. Bộ đa yết ra ha
    457. Cưu bàn trà yết ra ha
    458. Tất kiền đà yết ra ha
    459. Ô đát ma đà yết ra ha
    460. Xa dạ yết ra ha
    461. A bá tất ma ra yết ra ha.
    462. Trạch khê cách
    463. Trà kỳ ni yết ra ha
    464. Rị Phật đế yết ra ha
    465. Xà di ca yết ra ha
    466. Xá câu ni yết ra ha
    467. Lao đà ra
    468. Nan địa ca yết ra ha
    469. A lam bà yết ra ha
    470. Kiền độ ba ni yết ra ha
    471. Thập phạt ra
    472. Yên ca hê ca
    473. Trị đế dược ca
    474. Ðát lệ đế dược ca
    475. Giả đột thác ca
    476. Ni đề thập phạt ra
    477. Tỉ sam ma thập phạt ra
    478. Bạt để ca
    479. Tỷ để ca
    480. Thất lệ sắc mật ca
    481. Ta nể bát để ca
    482. Tát bà thập phạt ra
    483. Thất lô kiết đế
    484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm
    485. A ỷ lô kiềm
    486. Mục khê lô kiềm
    487. Yết rị đột lô kiềm
    488. Yết ra ha
    489. Yết lam yết noa du lam
    490. Ðản đa du lam
    491. Hất rị dạ du lam
    492. Mạt mạ du lam
    493. Bạt rị thất bà du lam
    494. Tỷ lật sắc tra du lam
    495. Ô đà ra du lam
    496. Yết tri du lam
    497. Bạt tất đế du lam
    498. Ô lô du lam
    499. Thường dà du lam
    500. Hắc tất đa du lam
    501. Bạt đà du lam
    502. Ta phòng án dà
    503. Bát ra trượng dà du lam
    504. Bộ đa tỷ đa trà
    505. Trà kỳ ni
    506. Thập bà ra
    507. Ðà đột lô ca
    508. Kiến đốt lô kiết tri
    509. Bà lộ đa tỳ
    510. Tát bát lô
    511. Ha lăng già
    512. Du sa đát ra
    513. Ta na yết ra
    514. Tỳ sa dụ ca
    515. A kỳ ni
    516. Ô đà ca
    517. Mạt ra bệ ra
    518. Kiến đa ra
    519. A ca ra
    520. Mật rị đốt
    521. Ðát liểm bộ ca
    522. Ðịa lật lặc tra
    523. Tỷ rị sắc chất ca
    524. Tát bà na câu ra
    525. Tứ dẫn dà tệ
    526. Yết ra rị dược xoa
    527. Ðác ra sô
    528. Mạt ra thị
    529. Phệ đế sam
    530. Ta bệ sam
    531. Tất đát đa bát đác ra
    532. Ma ha bạt xà lô
    533. Sắc ni sam
    534. Ma ha bát lặc trượng kỳ lam
    535. Dạ ba đột đà
    536. Xá dụ xà na
    537. Biện đát lệ noa
    538. Tỳ đà da
    539. Bàn đàm ca lô di
    540. Ðế thù
    541. Bàn đàm ca lô di
    542. Bát ra tỳ đà
    543. Bàn đàm ca lô di
    544. Ðát điệt tha
    545. Án
    546. A na lệ
    547. Tỳ xá đề
    548. Bệ ra
    549. Bạt xà ra
    550. Ðà rị
    551. Bàn đà bàn đà nể
    552. Bạt xà ra bán ni phấn
    553. Hổ hồng đô lô ung phấn
    554. Ta bà ha.
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  8. #8

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi smartboy Xem Bài Gởi
    len google search thi biet
    Nói vậy cũng nói được.
    Nếu ai cũng nói vậy thì cần cái diễn đàn này làm gì nữa.

  9. #9
    Đai Nâu Avatar của beothixau
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Hà Nội
    Bài gởi
    445

    Mặc định

    545. Án
    546. A na lệ
    547. Tỳ xá đề
    548. Bệ ra
    549. Bạt xà ra
    550. Ðà rị
    551. Bàn đà bàn đà nể
    552. Bạt xà ra bán ni phấn
    553. Hổ hồng đô lô ung phấn
    554. Ta bà ha.
    ---

    Đọc đoạn này là đủ kinh dị. Tôi có thời gian bị nghiện chú này. Phải mất 1 thời gian tương đối, cùng với nhiều cái giá phải trả mới bỏ được chú Lăng Nghiêm.

    Nhưng gọi là "bỏ" cho tinh vi vậy thôi, chứ Lăng Nghiêm đã trở thành 1 phần của tôi ngày hnay. Uy lực của nó thế nào tùy người tùy căn mà ứng nghiệm. Theo ý kiến cá nhân thì khi ở thời kỳ đầu của quá trình tu tập bạn nên đọc tụng những loại kinh - chú hiền hơn 1 chút.
    Đang túc tắc trèo xuống :D

  10. #10

    Mặc định

    “Người khôn ăn nói nửa chừng. Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo. Người khôn ăn nói quanh co. Để cho đứa dại nửa lo nửa mừng” ...:confused::o

  11. #11

    Mặc định

    Xin hỏi các huynh có người nói chỉ cần tụng tâm chú Lăng Nghiêm thì công dụng như tụng cả bài chú, có người lại nói cần phải tụng cả bài chú mới linh nghiệm. Vậy là sao ạ?

  12. #12
    Đai Nâu Avatar của beothixau
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Hà Nội
    Bài gởi
    445

    Mặc định

    Tại hạ nửa dại nửa khôn
    Nghe vãng khách nói bồn chồn mừng lo
    Khôn dại hay là nhỏ to
    Kiểu gì cũng chết, thôi lo đừng mừng
    Vãng khách ăn nói cầm chừng
    Chắc người hiểu biết mới chưng kiểu này?
    Đang túc tắc trèo xuống :D

  13. #13

    Mặc định

    Tôi không khoái cái vụ ăn nói úp úp mở mở , giải thích kiểu nào cũng đúng . Khi cần nói , tôi nói thẳng thừng ra , không lo làm phật lòng người khác , không thẹn với mình là được .

  14. #14

    Mặc định

    Mình nghĩ nếu bạn nào chú tâm đọc Lục Đại Minh Chú : "OM MANI PED ME HUM" mỗi ngày với lòng từ bi và tin vào phật pháp cũng sẽ có công đức vô hạn....Vài lời cùng các Huynh Tỉ muội....
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  15. #15
    Đai Nâu Avatar của beothixau
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Hà Nội
    Bài gởi
    445

    Mặc định

    Mỗi chú đều có năng lực riêng, có ưu và nhược riêng. Tùy duyên và gặp chú, chọn chú và tụng chú. Không có duyên với chú thì lại có duyên với... cô hehe. Cứ hiểu rằng việc tu không phụ thuộc vào việc tụng chú hay không, ko phụ thuộc vào bất cứ việc gì cả, thì đó là bạn đang tu ở đằng cấp sành điệu rồi :D
    Đang túc tắc trèo xuống :D

  16. #16

    Mặc định

    kinh nay là có thật và thiêng vô cùng,các bạn cố mà học kẻo hoài

  17. #17
    Đai Nâu Avatar của beothixau
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Hà Nội
    Bài gởi
    445

    Mặc định

    Ừa, right!
    Đang túc tắc trèo xuống :D

  18. #18

    Mặc định

    Thần chú lăng nghiêm lên thực hành . Nhưng giữ giới đựơc thì hãy tụng còn không thì chọn chú nào không cần giới mà tụng ^^!
    Sự vi diệu của âm thanh thật tuyệt vời (hẻm biết nó là chú hay không ^^!) .

  19. #19

    Mặc định

    Hiếm người biết được thần, phật, ma có gần mình không .
    Thật dễ mà thật khó ^^!
    Nói cho bà con gần ma hơn ^^!

  20. #20
    Đai Nâu Avatar của beothixau
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Hà Nội
    Bài gởi
    445

    Mặc định

    Huynh này người cũng muốn gần mà ma cũng muốn gần. Nhìn cái mắt tít lên kìa. Dê dễ xợ ^^!

    Việc tụng chú chả liên quan đến việc giữ giới. Nếu mà liên quan thì chắc là tít mắt như huynh còn lâu mới được tụng hehe ^^!
    Đang túc tắc trèo xuống :D

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •