kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: ĐƯA VÀO MẬT TÔNG

  1. #1
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định ĐƯA VÀO MẬT TÔNG

    ĐƯA VÀO MẬT TÔNG

    Nguyên tác: Introduction to Tantra

    Tác giả: Lama Thubten Yeshe
    Biên tập: Jonathan Landaw

    Chuyển ngữ: Thích nữ Trí Hải



    Lời nói đầu


    Tài liệu làm nên tập sách nhỏ này để giới thiệu Phật giáo mật tông - một đề tài thường bị ngộ nhận - được biên tập từ những bài giảng trong khoảng thời gian 1975-1983 của Thubten Yeshe, vị sư Tây tạng đã quá cố, người được môn đệ khắp thế giới trìu mến gọi là Lama Yeshe (Thầy).

    Tiểu sử ngài đã được nói trong cuốn Dẫn nhập vào Năng lực Trí tuệ, một loạt bài chọn lọc từ những buổi giảng nhân dịp ngài viếng thăm Bắc Mỹ cùng với Lama Thubten Zopa Rinpoche. Ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm vắn tắt. Lama Yeshe ra đời ở Tolung gần Lhasa vào năm 1935, sáu tuổi đã vào tu viện Sera, ở đấy ngài được hấp thụ một nền giáo dục rộng rãi về thế học và phật học. Sau khi Tây tạng bị chiếm năm 1959, ngài hoàn tất việc học ở trại tị nạn Buxaduar đông nam Ấn, và đi định cư gần tháp Boudhanath, ngoại biên Kathmandu, Nepal. Ở đây ngài khởi sự tiếp xúc nhiều người tây phương. Năm 1971 ngài cùng Lama Zopa sáng lập trung tâm Tu viện Đại thừa trên đỉnh đồi Kopan, tổ chức những khóa giảng hàng năm lôi cuốn học viên ngày càng đông. Những học viên này về sau đã mở thêm hơn ba mươi trung tâm tu học. Trong mười năm cuối đời, Lama Yeshe thường lui tới những trung tâm này để diễn giảng, tổ chức các khóa huấn luyện lãnh đạo, và quan trọng hơn cả, gây cảm hứng cho mọi người, làm tấm gương thân giáo về hạnh lợi tha không mỏi mệt. Cuối cùng, vào ngày 3 tháng 3 năm 1984, tại bệnh viện Cedars-Sinai ở Los-Angeles, vào sáng sớm đầu năm âm lịch, ngài viên tịch vì chứng suy tim trầm trọng đã trên 12 năm đe dọa mạng sống ngài.

    Ý nghĩ viết sách này đã manh nha từ 1981, khi Lama Yeshe thấy cần có một tác phẩm giới thiệu mật tông Phật giáo một cách dễ hiểu, không quá nặng thuật ngữ chuyên môn. Mặc dù các truyền thống Phật giáo Tây tạng đều xem mật điển là giáo lý sâu sắc và cao siêu nhất của Phật, Lama Yeshe vẫn cho rằng thông điệp cốt tủy của mật tông vốn vô cùng giản dị trong sáng, và hết sức phù hợp với đời sống hiện nay. Như ngài đã nhiều lần nói, người ta tìm cách khai thác bao nhiêu nguồn năng lượng hữu hiệu trong thiên nhiên, nhưng vẫn chưa hề biết đến cái năng lượng còn ghê gớm hơn tất cả, mãnh liệt hơn cả nguyên tử năng ẩn tàng trong mỗi người. Bao lâu năng lượng này chưa được khám phá, thì đời ta vẫn còn bị phân hóa vô mục đích, và ta vẫn làm nạn nhân cho những thế lực tinh thần cảm xúc đã tạo nên bi kịch thời đại.


    Thực hành mật tông cốt là để động đến tài nguyên nội tâm đang tàng ẩn ấy, và sử dụng nó tối đa. Sự thực hành ấy đem lại cho ta cơ hội tốt nhất để thoát khỏi những áp lực nói trên, và chuyển hóa đời mình thành một cái gì toàn vẹn, có ý nghĩa, điều mà ai cũng khát khao đạt đến.

    Theo Lama Yeshe, mật tông rất phù hợp với thế giới hiện nay vì nó đầy tính "khoa học." Nói cách khác, đây không phải là một hệ thống giáo điều phải được chấp nhận bằng đức tin, được xem là thẩm quyền tối thượng. Kỳ thực đây là một cuộc thăm dò từng bước thực tiễn thân phận con người, để tự khám phá thực chất của mình. Những kết quả của sự thám hiểm ấy có thể kiểm chứng được bằng quan sát và thực nghiệm. Nhờ nhấn mạnh kinh nghiệm trực tiếp mà mật tông hấp dẫn được đa số người tây phương lâu nay bị vỡ mộng vì theo những tôn giáo đòi hỏi đức tin mù quáng. Hơn nữa, như những chương sau sẽ chứng minh, mật tông là một đường lối tu tập đầy tính hỉ lạc và xác quyết - những đức tính hoàn toàn vắng bóng trong nhiều hình thức tín ngưỡng hiện nay, vốn là những biến tướng của các truyền thống tôn giáo đã có một thời oanh liệt.

    Vào mùa đông 1982-83, một cuộc nhập thất tập thể được tổ chức gần Cecina ở Ý, mục đích là duyệt lại những bài ghi các buổi giảng mật tông của Lama Yeshe để xuất bản. Những thành viên tham dự nhập thất được cung cấp hàng trăm bài giảng mật tông mà Lama Yeshe đã giảng bằng Anh ngữ trong thập niên trước đấy. Mỗi thành viên tập trung vào một số đề tài liên hệ đến một pháp tu mật tông. Kết quả công trình của họ cũng như của những người biên tập về sau, là một số bài ghi đã được xuất bản dưới hình thức và ngôn ngữ không khác mấy với ngôn ngữ mà chính Lama Yeshe đã sử dụng lúc đầu.

    Song song với việc tập trung vào một loạt bài giảng đặc biệt, những người biên tập còn xem kỹ mỗi bài ghi để tìm những thể tài chính yếu mà Lama Yeshe thường đề cập bằng nhiều cách, mỗi khi giảng. Bằng cách ấy một số lớn tư liệu đã được chọn lọc từ nhiều nguồn, và xếp đặt lại theo chủ đề. Ở đây những biên tập viên tập trung chú ý vào các tư liệu đề cập đến chủ đề "Mật tông" nói chung, mà để qua một bên những giải thích chi tiết về những pháp tu đặc biệt. Những chi tiết này sẽ được biên tập và xuất bản riêng.

    Sau đó, người biên tập tác phẩm này đã xếp đặt lại các tư liệu đã được chọn lọc, ngõ hầu trình bày một tác phẩm có tính cách liên kết, nhất thống. Khi hoàn tất, bản sơ thảo đã được đọc lại cho Lama Yeshe nghe tại Dharamsala, Ấn độ, vào tháng tư năm 1983. Ngài đã cho nhiều hiệu đính, giải thích và gợi ý để cải thiện về nội dung cũng như hình thức, cách trình bày vấn đề. Trong năm đó ngài cũng tiếp tục vòng quanh thế giới để diễn giảng, và những bài tuyển chọn từ các buổi giảng này - nhất là những buổi giảng tại Pomaia, Ý và Boulder Creek, California- đã được in vào bản thảo.

    Tôi những hi vọng toàn bộ bản thảo này sẽ được Lama Yeshe duyệt lại một lần nữa, song sự thực đã không được như thế. Nhiều tháng sau khi ngài viên tịch, công việc tôi trên bản thảo hầu như hoàn toàn ngưng trệ, vì với tôi thực vô cùng cam go để biên tập trong khi phải chấp nhận sự kiện đau buồn là kể từ đây không bao giờ còn được nghe lại giọng nói tiếng cười ngọt ngào khi ngài thốt lên những lời dạy ấy. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ tử tế và kiên trì của nhiều bạn hữu, cuối cùng bản thảo cũng đã hoàn tất để cống hiến bạn đọc như tình trạng của nó hiện nay.

    Nhưng tôi không thể làm sự cống hiến này mà không kèm theo vài lời xin lỗi hay ít nhất, giải thích. Ai đã từng nghe Lama Yeshe giảng cũng đều đồng ý không thể nào ghi lên máy in cái hiệu lực phi thường của ngài đối với thính giả. Như nhiều bậc thầy vĩ đại, chính sự hiện diện của ngài đã khai thị rất nhiều, đã là tia lửa đem lại vô biên năng lực và hiệu quả cho những gì ngài dạy, hơn là thứ ngôn ngữ hoàn toàn không chính thống và thường sai văn phạm, mà ngài sử dụng. Tuyển tập những lời dạy truyền khẩu của ngài mà bạn đang xem - đã được trau chuốt lại thành một thứ Anh ngữ khá chuẩn- vì thế đối với những người đã từng nghe Lama Yeshe nói, sẽ có vẻ không giống gì mấy với nguyên văn. Lại nữa, không thể nào nói rằng một tác phẩm như thế này có thể tự hào đại diện được cho quan điểm của Lama Yeshe về mật điển. Cũng như ngày xưa, bao nhiêu người nghe Phật là bấy nhiêu trình độ tiếp nhận, những lời dạy của Lama Yeshe cũng vậy. Bởi thế nếu ai nghĩ giáo lý ấy chỉ có một lối giải thích khả dĩ chấp nhận, thì thực là hợm hĩnh. Tất cả những gì mà một biên tập viên như tôi có thể làm là, lắng nghe buổi giảng hoặc băng giảng, cẩn thận đọc các bài ghi, rồi cố trình bày rõ những gì mình nghe được bằng tâm khảm trong khi làm quen với giáo lý. Do thế, nếu có người cùng đọc một bài ghi hoặc cùng nghe một băng giảng rồi viết lại, thì họ có thể cho ra một tác phẩm với nội dung và lời lẽ khác hẳn sách này.

    Về tính đa diện của lời dạy Lama Yeshe, Lama Zopa Rinpoche cũng nói: "Phần đông giảng sư chỉ giảng những gì mình biết, có khi không hợp với nhu cầu thính giả. Nhưng với Thầy tôi, mỗi khi ngài giảng, không có gì cố định. Ngài không chỉ giảng một đề tài duy nhất. Thính chúng mỗi người kẹt một cách khác - vấn đề tâm linh, vấn đề cá nhân, vấn đề gia đình - nhưng cùng lúc Thầy có thể nói với tất cả. Và sau khi nghe Thầy, mỗi người đều tìm được giải đáp cho vấn đề riêng tư. Có người đến nghe vì muốn tìm thanh thản tâm hồn, nhưng cũng có người chỉ để xem một ông tu sĩ Tây tạng trông ra làm sao. Nhưng sau khi nghe ngài nói, tất cả đều ra về với một tâm trạng vui vẻ, cảm thấy đã tìm được một giải đáp nào đó cho những vấn đề của mình.

    Nói theo ngôn ngữ mật tông - đề tài sách này - thì Lama Yeshe có cái năng lực kỳ diệu là đánh động được trọng tâm của sự bình an, trí tuệ và phúc lạc nơi những người ngài tiếp xúc. Có lẽ lời dạy sâu sắc nhất của ngài là, mỗi người có sẵn trong tâm không những giải đáp cho vấn đề mình, mà còn tiềm năng sống một cuộc đời cao cả hơn mình tưởng. Bằng tấm gương xả kỷ, bất chấp bệnh tim trầm trọng, Lama Yeshe chứng tỏ bản thân ngài đã đạt đến tiềm năng ấy. Ngài đã làm một nguồn cảm hứng cho tất cả những người quen biết, đem lại cho họ niềm tin vững chắc chính mình cũng có cái tiềm năng vô giới hạn đang sẵn sàng được khơi mở.

    Từ đầu chí cuối tác phẩm này, một dẫn nhập vào đề tài mật tông sâu rộng, thể theo ước muốn của Lama Yeshe, chúng tôi đã cố tránh dùng những thuật ngữ chuyên môn và những chi tiết liên hệ đến lịch sử: Lama Yeshe muốn trao truyền hương vị của giáo lý mật tông một cách càng giản dị càng hay. Nhưng mỗi khi thuật ngữ mật tông được xử dụng, dù bằng Anh ngữ, Phạn ngữ hay Tạng ngữ, thì những từ ngữ này sẽ được giải thích ở cuối sách. Với những ai muốn khám phá thêm về những đề tài nêu trong sách, có một bảng liệt kê những sách nên đọc, cùng với ghi chú vắn tắt, cũng ở cuối sách.

    Tác phẩm này không thể xuất hiện nếu không nhờ sự cọng tác của rất nhiều người, ở đây chỉ có thể ghi nhận một số ít trong đó. Lời cảm ơn sâu xa nhất của tôi xin gửi đến trước tiên là những thành viên trong ban nhập thất để biên tập, tài liệu của họ đã được tuyển chọn đầu tiên để viết sách này: Hermes Brandt, Lee Bray, Robyn Brentano, Stehen Carlier, Sharon Gross và Nick Ribush. Ở giai đoạn biên tập tài liệu về sau, gia đình Aryatara ở Jaegendorf và Munich đã dành cho tôi nhiều thì giờ và ưu ái của họ, như gia đình Philipsen ở Dronten, Hà lan, Geoff Jukes ở Luân đôn. Đối với sự nâng đỡ tử tế của họ, tôi thật khó lòng diễn tả cho hết niềm tri ân. Tôi còn phải đặc biệt tri ân Yeshe Khandro về sự khích lệ và giúp đỡ vô giá. Và cuối cùng, xin cảm ơn tất cả những vị liên hệ nhà XB Wisdom về sự kiên trì sâu xa của họ qua nhiều tháng trời để hoàn tất sách này từ dạng bản thảo cho đến hình thức cuốn sách hiện tại; nhất là Robina Coutrin, người đã đóng góp công sức cho tác phẩm này trong mọi giai đoạn phát triển của nó.


    ---o0o---

    1 - SỰ TRONG SÁNG NGUYÊN ỦY



    NGƯỜI KHAI SÁNG ĐẠO PHẬT




    Giáo lý và thực hành mà người ta gọi là Mật điển Phật giáo có thể nói đã bắt nguồn từ 2500 năm trước, vào thời đức Phật Thích ca Mâu Ni. Đức Phật lịch sử- để phân biệt với những đấng giác ngộ khác xuất hiện trước hay sau ngài- ra đời làm một thái tử xứ Ấn tên Siddhartha vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch. Theo thuyền thuyết, trong 29 năm đầu đời ngài hầu như bị giam hãm trong những lâu đài hoan lạc do phụ vương Suddhodana xây cho con trai. Cuối cùng, khi tiếp xúc cảnh già, bệnh, chết, ngài đã thoát ly cung vua và lên đường tìm phương chấm dứt mọi khổ đau bất mãn.

    Trong sáu năm ngài tu tập khổ hạnh gắt gao, cố đạt đến sự làm chủ thân tâm, chỉ để thấy rằng cực đoan ép xác này cũng sai lầm như đời sống đam mê khoái lạc của ngài trước đấy. Cuối cùng, nhờ theo trung đạo không đam mê dục lạc cũng không ép xác khổ hạnh, và tránh tất cả những cực đoan khác nữa, ngài đã có thể nhổ gốc rễ mọi khổ đau và vô minh vi tế nhất ra khỏi tâm trí, trở thành một con người hoàn toàn tỉnh thức, sáng suốt: một vị Phật. Trong 45 năm còn lại của đời ngài, ngài đã giảng dạy Trung đạo trong lối sống và trong sự tu tập bằng nhiều đường lối khác nhau, cốt sao phù hợp với tính tình, khả năng từng hạng người.

    Giáo lý của Phật, mà Phạn ngữ gọi là Dharma hay Pháp, là cái giữ gìn chúng ta khỏi đau khổ và nguyên nhân của đau khổ. Pháp ấy chứa đựng hàng ngàn phương cách khác nhau để vượt qua những chướng ngại về tâm và thân đã làm cho chúng ta không được an vui hạnh phúc. Tất cả phương pháp ấy bao gồm trong hai loại là kinh điển và mật điển, còn gọi là hai thừa, cỗ xe. Hai thừa này có nhiều điểm bất đồng, song nền tảng chung của kinh thừa và mật thừa là, bản chất của tâm ta tự căn để, vốn trong sáng.

    TÍNH TRONG SÁNG CĂN ĐỂ CỦA TỰ TÂM

    Theo giáo lý Phật, dù trong hiện tại ta có thể mê lầm rối ren đến mức nào đi nữa, bản chất căn để, tinh túy của con người chúng ta vẫn trong sạch thuần tịnh. Cũng như mây có thể tạm che khuất mặt trời song không thể phá hủy cái khả năng chiếu sáng của mặt trời, tương tự như thế, những nỗi đau buồn của thân tâm trong giai đoạn - như tâm trạng lo âu bối rối và nỗi khổ mà nó gây ra - chỉ có thể tạm che mờ chứ không thể phá hủy hay ngay cả động đến bản chất thanh tịnh căn để của tâm ta. Tự thẳm sâu tâm ta cũng như tất cả hữu tình, đều đang an trú suối nguồn bất tận của tình yêu và trí tuệ. Mục đích cuối cùng của mọi pháp tu dù thuộc Phật giáo hay không, đều cốt làm hiển lộ cái bản chất ấy, tiếp xúc với cái bản lai thanh tịnh ấy.

    Khi đã phát triển tính trong sáng nơi chính mình, đức bi mẫn và tình yêu bên trong mình, ta có thể thấy sự trong sáng ấy, đức từ bi ấy phản chiếu nơi người. Nhưng khi chưa tiếp xúc được với những đức tính ấy nơi mình, ta sẽ thấy mọi người đều xấu xa, hạn cuộc. Vì bất cứ gì ta thấy bên ngoài chỉ là cái bóng của thực tại trong tâm ta chiếu ra.

    Sự có mặt của bản tâm thuần tịnh không phải là vấn đề nhắm mắt tin theo hay chấp nhận một giáo điều, mà là một dữ kiện có thể thực nghiệm. Vô số người trong quá khứ đã khám phá kho tàng lớn lao ấy nơi tự tâm, kho tàng của bình an, tình yêu và tuệ giác. Bao nhiêu bậc thầy vĩ đại đã cho biết ta có thể khám phá bản chất sâu xa của chính mình để được niềm phúc lạc vô song mà sự khám phá ấy đương nhiên mang lại. Đức phật Thích Ca Mâu Ni là bậc đạo sư đầy từ mẫn như thế, và tất cả giáo lý cùng phương pháp của ngài dạy, là cốt giúp ta đạt đến cái tiềm năng tối cao ấy của con người.

    Theo thuật ngữ Phật giáo, mục đích tối hậu của tiến hóa nhân loại là giác ngộ, thành Phật. Điều này thể hiện khi tất cả mê muội tham sân si và những gì che mờ tâm thức được tận trừ, và khi tất cả thiện tính trong ta hoàn toàn được khai triển. Sự thành tựu viên mãn ấy, sự tỉnh thức trọn vẹn ấy mang đặc tính là tuệ giác vô biên, lòng bi mẫn vô hạn và năng lực hay phương tiện vô cùng.

    PHƯƠNG PHÁP MẬT TÔNG

    Theo Kinh thừa, con đường thành tựu tuệ giác là một tiến trình tuần tự thanh lọc tâm thức khỏi những lỗi lầm và giới hạn, để thay vào đấy, phát huy những đức tính như trí tuệ, từ bi. Con đường này bao gồm việc tạo những nhân tố đặc biệt như giữ giới, phát triển khả năng tập trung và đào luyện thiền minh sát, vân vân, để tương lai sẽ đạt được sự tỉnh thức toàn vẹn. Chính vì nhấn mạnh đến việc tạo nhân tố cho một kết quả tương lai, mà phương pháp kinh thừa hay tiệm giáo đôi khi còn gọi là "nhân thừa" (nhân với nghĩa nguyên nhân) để đưa đến giác ngộ.

    So với phương pháp tiệm giáo của kinh thừa, thì mật thừa là con đường tiến đến giác ngộ nhanh hơn rất nhiều. Mặc dù hành giả mật thừa cũng không xao lãng việc gieo nhân như hành giả Kinh thừa, song họ lấy hậu quả tương lai của sự tu hành làm khởi điểm tu tập. Nói cách khác, hành giả mật thừa tập nghĩ, nói và làm ngay trong hiện tại như thể họ đã là một đức phật. Vì phương pháp mãnh liệt này - đưa hậu quả toàn giác vào giây phút hiện tại, khi đang tu - mà mật tông còn được gọi là "quả thừa" đưa đến giác ngộ.

    Theo mật tông, sự toàn vẹn không phải đang chờ đợi chúng ta ở một thời điểm nào trong tương lai, theo kiểu suy tư "Nếu bây giờ tôi tu hành nghiêm túc, tương lai tôi sẽ thành Phật" hay "Nếu đời này tôi có đạo đức, đời sau tôi sẽ được lên thiên đàng." Theo mật tông, thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại; song chúng ta lại bị vướng bận những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy không thể khác, vân vân. Đấy là lý do ta có những xung đột nội tâm và xung đột với người khác. Mọi xung đột này sẽ tan biến nếu ta luyện tập theo quan điểm mật tông, nghĩa là nhận chân rằng mỗi một người nam hay nữ bản chất đều tự đầy đủ, toàn vẹn. Hơn thế nữa, mỗi người nam nữ đều chứa cả hai năng lực âm dương. Thực tế là mỗi người trong chúng ta đều là một hợp thể của tất cả năng lực vũ trụ. Tất cả những gì ta cần để được toàn vẹn đều đã sẵn trong ta ngay giờ phút này, chỉ có điều là ta có khả năng nhận thức điều ấy hay không. Đấy là cái nhìn theo mật giáo.


    NGUYÊN LÝ CHUYỂN HÓA

    Có thể nói tất cả pháp tu mật tông đều bao hàm nguyên lý chuyển hóa. Như khoa học tân thời chứng minh, vũ trụ vật chất với muôn vàn sắc thái, từ phân tử nhỏ nhất đến tinh vân lớn nhất, chỉ là một trạng thái không ngừng chuyển hóa và tiến hóa từ một dạng năng lượng này đến dạng năng lượng khác. Chính thân thể và tâm trí chúng ta cũng là năng lượng: ta mạnh khỏe hay đau ốm, tâm trí quân bình hay mất quân bình, đều tùy thuộc sự kiện các năng lượng tâm vật lý trong ta có hòa điệu hay không. Nhờ thực hành mật tông đúng pháp, tất cả năng lượng trong ta, kể cả những năng lượng vi tế song rất mãnh liệt mà thường ta không ý thức đến, đều được xử dụng để tựu thành sự chuyển hóa quan trọng nhất trong mọi cuộc chuyển hóa, đó là từ một con người phàm tình mê muội hạn cuộc trong vỏ sò bản ngã trở thành một con người hoàn toàn tỉnh giác có lòng bi mẫn và tri kiến bao la.

    Làm sao ta làm được một cuộc chuyển hóa phi thường như vậy? Tìm đâu ra những nguyên liệu cần thiết để đem lại một sự thay đổi sâu xa đến thế? Ta không cần phải kiếm đâu cho xa. Không cần phải rút năng lượng ấy từ hạt nhân nguyên tử, cũng không phải dùng phi thuyền phóng vào không gian để tìm năng lượng ấy nơi hành tinh xa xôi nào. Kỳ thực, cái năng lượng cốt cán để làm cuộc chuyển hóa sâu xa ấy là năng lượng của chính những dục vọng trong ta.
    Last edited by splen; 15-11-2010 at 07:56 PM.
    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  2. #2

    Mặc định

    "...Theo mật tông, thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại; song chúng ta lại bị vướng bận những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy không thể khác, vân vân. Đấy là lý do ta có những xung đột nội tâm và xung đột với người khác. Mọi xung đột này sẽ tan biến nếu ta luyện tập theo quan điểm mật tông..."

    Ở những trú xứ phức tạp mọi chuyện còn vướng bận lu bu hơn nữa các Thầy ơi !

    "...So với phương pháp tiệm giáo của kinh thừa, thì mật thừa là con đường tiến đến giác ngộ nhanh hơn rất nhiều. Mặc dù hành giả mật thừa cũng không xao lãng việc gieo nhân như hành giả Kinh thừa, song họ lấy hậu quả tương lai của sự tu hành làm khởi điểm tu tập. Nói cách khác, hành giả mật thừa tập nghĩ, nói và làm ngay trong hiện tại như thể họ đã là một đức phật. Vì phương pháp mãnh liệt này - đưa hậu quả toàn giác vào giây phút hiện tại, khi đang tu - mà mật tông còn được gọi là "quả thừa" đưa đến giác ngộ..."

    Tuyệt vời ! thật phúc cho ai.

  3. #3
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định

    2 - HAM MUỐN VÀ HẠNH PHÚC

    DỤC VỌNG, BẤT MÃN VÀ TỰ CHẾ

    Chúng ta sống trong cõi dục nghĩa là thế giới của những ham muốn. Từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, và cả trong những giấc mơ, chúng ta đều bị dục vọng lôi kéo. Mỗi giác quan ta khao khát món ăn riêng của nó: Mắt ta ham nhìn những dáng màu hấp dẫn, tai ta ham nghe những âm thanh dễ chịu; mũi ta hăng hái đánh hơi những mùi thơm và vội vàng quay đi trước những mùi khó chịu; lưỡi ta tìm kiếm những vị ngon mới lạ, và xúc giác ta thì luôn luôn khát khao gặp gỡ những loại xúc khác nhau. Lòng ham muốn đối với sự kích thích giác quan ấy đã ăn sâu gốc rễ trong ta đến nỗi nếu bị cô lập khỏi sắc thanh hương vị xúc trong một thời gian dài, ta sẽ khởi sự có những ảo giác về chúng.

    Nhưng ham muốn không chỉ cuộc vào những gì ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ. Tâm ta cũng theo đuổi tư tưởng một cách hăm hở không kém lưỡi chạy theo vị ngon. Những thứ trừu tượng như tri thức, danh tiếng, sự an ninh bảo đảm, sự hài lòng... cũng được theo đuổi một cách nồng nhiệt như thể đấy là những vật có thể cầm nắm trong tay hay thấy được bằng con mắt. Quả thế, dục vọng lan tràn khắp nơi, đến nỗi ta không chắc có một thứ gì ta làm mà lại không bị điều động bởi dục vọng. Bất kể ta hoạt động trong lãnh vực nào- thương mại, thể thao hay tâm linh- chính lòng ham muốn dưới một hình thức này hay khác, đã thúc đẩy ta thành công trong lãnh vực ấy. Lòng ham muốn là một phần bất khả phân trong đời sống, đến nỗi người ta coi cuộc đời mà không có ham muốn thì chẳng khác gì một cái chết đang sống.

    Đằng sau tất cả ham muốn của chúng ta là sự mong mỏi được hạnh phúc. Về phương diện này, quả thực mọi người đều bình đẳng, vì tất cả chúng ta đều muốn được hạnh phúc, mặc dù có thể mỗi người định nghĩa hạnh phúc một cách. Không ai trong chúng ta lại mong muốn dù một chút xíu khổ đau hay thất vọng. Nếu xét kỹ, ta có thể thấy rằng mọi hành vi của ta đều được khởi động bởi lòng ham muốn có được kinh nghiệm dễ chịu, hoặc muốn tránh những sự khó chịu.

    Nhưng mặc dù ta chỉ mong muốn thuần hạnh phúc, cuộc đời ta lại dẫy đầy khổ đau bất mãn. Những sở hữu ta yêu quý và làm lụng nhọc nhằn để có được, bỗng tan vỡ, mất mát hoặc bị trộm mang đi. Hoặc nếu có còn, thì nó cũng hết đem lại cho ta niềm lạc thú. Người chồng hay vợ yêu quý chẳng bao lâu lại hóa thành kẻ thù số một của ta, hoặc bỗng lăn ra chết giữa lúc hương lửa đang nồng, để ta ở lại bơ vơ trơ trọi. Chúng ta khao khát có được một việc làm, nhưng khi tìm được việc thì nó trở thành một gánh nặng đốt cháy hết thì giờ và năng lực của ta. Danh tiếng ta bị bôi nhọ, làn da óng ả của ta bắt đầu có nếp nhăn, trí thông minh của ta bắt đầu tàn lụn. Bằng những kiểu cách như thế, cái hạnh phúc mà ta khao khát vuột khỏi tầm tay ta. Đôi khi dường như thể rằng, càng cố được hạnh phúc bao nhiêu, ta lại càng đâm ra khổ sở bấy nhiêu. Về phương diện này, cuộc đời dường như là một cuộc chạy đua vô nghĩa; những nỗ lực của ta để tìm hạnh phúc chỉ có đưa chúng ta đi lòng vòng cho đến cuối cùng ta phải kiệt sức, tuyệt vọng.

    Nhiều triết gia và đạo sư đã mô tả cái vòng lẩn quẩn của sự bất mãn triền miên ấy, và đưa ra những khuyến cáo làm cách nào để thoát ly khỏi nó, hay ít nhất làm cách nào để chịu đựng nổi nó. Đức Thích Ca Mâu Ni chẳng hạn, gọi tình trạng bất mãn triền miên này là samsara, một từ Phạn ngữ có nghĩa là quay vòng tròn, và đưa ra nhiều phương pháp thoát ly. Trong giáo lý nổi tiếng nhất của ngài, ngài dạy nguồn gốc mọi rắc rối và tuyệt vọng chính là ham muốn do ngu si thúc đẩy. Giải thoát hay niết bàn được thành đạt nhờ nhổ tận gốc rễ tất cả những ham muốn như vậy từ trong tâm ta.

    Vì mắt tai mũi lưỡi chúng ta chính là những cửa ngõ của ham muốn, nên những ai mong giải thoát khỏi vòng đau khổ, cần nhất đừng tin cậy vào năm giác quan. Chúng phải được xem là đang kềm chế tâm thức ta một cách thiếu lành mạnh, và ta phải đối xử với chúng hết sức thận trọng. Bởi thế, người nào theo đường lối tu tập này để tự giải thoát, thì đặc biệt chế ngự năm giác quan. Hành giả canh chừng cẩn mật cửa ngõ năm giác quan, và triệt để hoài nghi bất cứ gì muốn xâm nhập chúng. Chẳng hạn, khi một nhan sắc khả ái xuất hiện - như hình dáng một người nam hay nữ - thì hành giả phải bén nhạy xem chừng mối nguy hiểm có thể xảy ra là bị nó hớp hồn. Trong khi tu theo lối này, chúng ta phải phấn đấu với cái khuynh hướng mù quáng đâm đầu theo những đối tượng hấp dẫn, để từ đó trở thành nạn nhân của khổ đau tuyệt vọng - phấn đấu bằng cách luyện mình tập trung vào những khía cạnh xấu nơi đối tượng, để giảm bớt lòng ham muốn của ta đối với nó. Ví dụ, ta có thể hóa giải lòng đam mê đối với một người đẹp bằng cách tập trung vào những bộ phận dơ uế nơi người ấy. Mục đích của cách tu tập này là để làm cho dục vọng khỏi quấy động tâm ta, kết quả nhắm đến là đạt được sự thanh bình an tĩnh không bị giao động trước những thăng trầm của cuộc sống.

    Lối tu thận trọng này được xem là thua xa con đường mật tông, một pháp tu sử dụng chính năng lượng của dục vọng. Nhưng nói thế không có nghĩa rằng pháp tu nói trên không có giá trị gì. Ngược lại, điều thiết cốt là phải biết thời điểm thích nghi để rút sự chú ý ra khỏi những đối tượng quấy nhiễu tâm mình. Nhưng nếu chúng ta chỉ có biết một cách đối phó duy nhất là tránh né những đối tượng gợi ham muốn, thì ta sẽ bị giới hạn gắt gao, không tiến xa mấy trên đường tu tâm luyện tính.


    Phương pháp mật tông khác hẳn. Thay vì xem lạc thú và ham muốn như thể là chuyện mà ta cần né tránh bằng mọi giá, mật tông nhận chân rằng cái năng lượng hùng mãnh trong ta, được dục vọng đánh thức, chính là một nguồn năng lượng thiết yếu trên đường tu tập. Chính vì mục đích duy nhất là thực chứng tiềm năng cao nhất nơi con người chúng ta, mà mật tông tìm cách chuyển hóa tất cả mọi kinh nghiệm - kể cả kinh nghiệm không có vẻ gì là tôn giáo - biến nó thành con đường thành tựu đạo quả. Chính vì cuộc đời hiện tại của chúng ta gắn liền một cách mật thiết với dục vọng, mà ta cần phải xử dụng năng lượng hùng mãnh của ham muốn, nếu ta mong chuyển hóa đời mình thành một cái gì siêu việt.

    Như vậy cái lý của mật tông kỳ thực rất đơn giản: kinh nghiệm lạc thú thông thường của ta có thể được xử dụng làm tài nguyên để đạt đến cái kinh nghiệm hỉ lạc tuyệt đối về tính toàn vẹn, hay giác ngộ. Điều tự nhiên là : những tính chất của tâm thức khi được đào luyện, sẽ sản sinh ra một cái gì tương tự, chứ không chống trái với nó. Điều này đúng cho những tâm trạng tốt cũng như xấu. Như bất mãn không bao giờ có thể trở thành thỏa mãn, khổ đau cũng vậy, không thể tự nhiên mà chuyển thành an vui hạnh phúc. Theo mật tông, ta không hi vọng đạt đến mục tiêu là hạnh phúc viên mãn phổ quát trong khi tự làm cho mình càng ngày càng khổ sở một cách có bài bản, hệ thống. Điều này trái với lối vận hành tự nhiên của mọi sự trong thực tế. Chỉ nhờ trong hiện tại, ta đào luyện những kinh nghiệm nhỏ về an tịnh và toại ý, mà ta có thể thành tựu mục tiêu bình an thanh tịnh trong tương lai. Tương tự như thế, nhờ khéo sử dụng năng lượng của ham muốn và nhờ tích lũy thói quen thưởng thức cái mà ta có thể gọi là lạc thú chân thực, ta mới hi vọng đạt thành niềm phúc lạc vĩnh cửu của toàn giác.


    TÔN GIÁO VÀ SỰ CHỐI BỎ LẠC THÚ

    Thế nhưng dường như có một trái ngược lớn lao giữa sự thưởng thức khoái lạc và sự theo đuổi một đường lối tu hành. Quả thế, với nhiều người, tôn giáo chỉ có nghĩa là từ bỏ những tiết mục vui thú của cuộc đời. Tôn giáo được người ta xem như là lắc đầu trước dục vọng, từ chối tính tự nhiên, không được tự do phát biểu. Thảo nào mà tổ chức tôn giáo thường bị mang tiếng không tốt. Thay vì là một phương pháp giúp ta vượt qua những giới hạn của mình, tôn giáo lại được xem như hình thái đàn áp nặng nề nhất. Tôn giáo mà như thế thì chẳng khác gì một kiểu mê tín dị đoan cần được bác bỏ nếu ta thực sự muốn giải thoát, tự do. Một điều bất hạnh là, nhiều xã hội đã dùng tôn giáo làm phương tiện đàn áp và kiểm soát về mặt chính trị, nên lối phê phán khắt khe này thành ra có lý.

    Không những các nhà chỉ trích tổ chức tôn giáo cho rằng tôn giáo đàn áp hay hạn chế bản chất căn để của con người, mà chính những người thực hành tôn giáo cũng có quan niệm như thế. Không thiếu gì người cho rằng cái cách thích đáng để tuân giữ giới luật là phải từ khước bản chất con người giản đơn của mình. Họ đâm ra hoài nghi về lạc thú đến nỗi nghĩ rằng đau khổ thực sự có giá trị: "Vì là người có tôn giáo, tôi không được phép hưởng lạc thú." Mặc dù mục đích họ là đạt đến một hình thức an bình hạnh phúc vĩnh cửu nào đó, họ nhất quyết từ khước không cho phép mình thưởng thức những lạc thú trong cuộc sống hàng ngày. Họ xem lạc thú là chướng ngại cho sự tu hành, và nếu tình cờ cảm thấy chút thú vui, họ đâm ra vô cùng áy náy. Thậm chí họ không thể thưởng thức một thỏi sô cô la mà không nghĩ mình thực tội lỗi, tham ăn. Thay vì chấp nhận và thưởng thức cái gì đang xảy đến đúng như thực trạng, họ lại tự tạo ra gút mắc của mặc cảm phạm tội và tự thống trách: "Trong khi bao nhiêu người trên thế giới đang chết đói, khổ sở, sao ta dám buông thả mình!"

    Tất cả những thái độ ấy thực hoàn toàn sai lạc. Không có lý do gì để cảm thấy phạm tội về khoái lạc; điều ấy cũng lầm không kém sự bám lấy những lạc thú thoáng qua và mong chúng đem lại thỏa mãn tuyệt đối. Kỳ thực đấy cũng là một dạng chấp thủ khác, một kiểu giam hãm mình vào quan điểm hạn cuộc về tự ngã, không biết đến tiềm năng vô hạn của mình. Mặc cảm phạm tội ấy chỉ là một quái thai của đời sống tâm linh, tuyệt đối không phải là thái độ tâm linh đích thực. Nếu ta thực sự hài lòng với hoàn cảnh - vẫn an nhiên tự tại cho dù gặp khổ hay vui - thì thực hành khổ hạnh có thể có lý phần nào. Khổ hạnh có thể lợi lạc khi ta sử dụng nó để thêm ý thức về giải thoát, hoặc để hiểu được cái gì là thực sự quan trọng trong đời. Nhưng hiếm khi ta từ khước một điều gì vì những lý do chính đáng. Chúng ta ép mình vào một trạng huống đau khổ vì tưởng rằng khổ đau tự nó đã đáng đồng tiền bát gạo. Nhưng thực sự không phải thế. Nếu cứ ngụp lặn trong khổ đau thì hậu quả duy nhất là, chúng ta càng thêm đau khổ. Mặt khác, nếu biết cách nếm trải hạnh phúc mà không có bám víu và mặc cảm phạm tội, thì ta có thể đào luyện những mức độ kinh nghiệm ngày càng sâu xa, và cuối cùng đạt đến tiềm năng toàn vẹn của mình, nguồn hạnh phúc không thể tưởng.

    Nếu phương pháp sợ hãi, ức chế mà tôi đã chỉ trích trên kia là sai lầm, thì cái gì mới là đường lối thiện xảo của một người quả tình mong thực chứng tiềm năng cao cả nhất? Nói đơn giản, đó là: giữ tâm liên tục trong trạng thái càng an vui hạnh phúc càng tốt. Thay vì sống bám víu, bất mãn, rối ren, khổ sở với mặc cảm phạm tội, ta nên cố cải tiến tâm mình bằng cách phát triển những mức độ hiểu biết ngày càng sâu xa, khéo kiểm soát những năng lượng tâm vật lý trong mình, để đạt đến một đời sống cao đẹp với những hình thái phúc lạc càng ngày càng cao. Một phương pháp như thế có ý nghĩa vô vàn hơn là cố tình từ khước những kinh nghiệm lạc thú hàng ngày. Đấy là cái lý của mật tông.


    ĐỨC PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG HƯỞNG LẠC

    Trong cuộc đời đức phật Thích ca Mâu ni, có những giai đoạn chứng minh sự thù thắng của phương pháp sử dụng ham muốn, hơn là phương pháp ép xác, đè nén dục vọng. Lúc từ bỏ đời sống đam mê khoái lạc và khởi sự đi tìm phương pháp diệt khổ vào năm 29 tuổi, thái tử Tất đạt đa đã tu ép xác khổ hạnh gắt gao. Như nhiều người ở Ấn nay vẫn còn làm, thái tử đã tìm cách nhổ tận gốc rễ những nguyên nhân của khổ đau bất mãn bằng cách hành hạ các giác quan mình, nhiếp phục chúng. Ngài nhịn ăn, từ bỏ các tiện nghi đến nỗi cuối cùng thân thể ngài chỉ còn là một bộ xương. Sau sáu năm khổ hạnh, ngài thấy phương pháp ấy vô hiệu. Thay vì đưa ngài tiến gần mục tiêu giải thoát, nó chỉ làm ngài kiệt sức, không thể sáng suốt suy nghĩ và thiền định. Ngài quyết định từ bỏ phương pháp ấy và theo một phương pháp tu tâm thích hợp hơn. Theo truyền thuyết, ngài đã chấm dứt tuyệt thực và nhận một bát cháo do tín nữ Sujata dâng cúng. Thực phẩm này đã đem lại một hiệu quả thần tình cho cơ thể và tâm trí, khiến ngài ngập tràn dũng mãnh, sáng suốt và phúc lạc. Sự bừng dậy của năng lực tâm vật lý không những giúp ngài thêm cương quyết mà còn gia tăng khả năng đạt đến toàn giác, mục tiêu chính yếu của ngài. Sự kiện ngài chỉ ngồi thiền có một đêm dưới cội Bồ đề rồi đạt toàn giác, chứng tỏ đã đúng lúc Ngài nên từ bỏ lối tu khổ hạnh. Theo lối nhìn của mật tông, những sự cố này cho thấy rằng biết xử dụng lạc thú là một phương pháp sâu xa và hiệu quả hơn ép xác khổ hạnh rất nhiều.

    Về sau, khi Phật đã nổi tiếng là một bậc đạo sư có thể hướng dẫn nhiều hạng người đạt đến giác ngộ, có lần một ông vua đã xin ngài chỉ dạy một phương pháp tu hành thích hợp cho một người bận nhiều phận sự đa đoan. Vua nói: "Con có phận sự chăm lo cho thần dân, con thực không nên bỏ bê quần chúng. Con không thể làm như ngài, từ bỏ mọi sự để vào rừng tu khổ hạnh. Con cần biết cách làm sao có thể dùng ngay sinh hoạt của một vương gia làm đường lối tu hành. Bởi thế, xin đức Thế tôn dạy cho con cách chuyển hóa những hành vi thường nhật của một vị vua thành pháp tu." Đức Phật trả lời quả thực ngài có một phương pháp như vậy, đó là pháp thực hành mật tông. "Với phương pháp này nhà vua có thể tiếp tục thi hành phận sự của mình, mà lại không cần phải từ bỏ một thứ lạc thú vương giả nào hết trọi." Phật còn nói với vua rằng quả thế, vua có thể vui thú hết ga mà đồng thời vẫn tiến dần đến giác ngộ.

    Giáo lý mà Phật dạy cho ông vua ấy chính là Mật điển Bánh xe Thời gian (Kalachakra, Thời luân), và hệ truyền thừa của phái này cùng tất cả giáo lý mật tông khác cho đến ngày nay vẫn tồn tại đầy năng lực, chưa bao giờ gián đoạn. Vô số người Ấn và Tây tạng đã đạt ngộ nhờ theo những phương pháp này, bởi thế không lý do gì người ngày nay lại không được lợi lạc nhờ áp dụng pháp tu ấy.


    SỰ TU TẬP MẬT TÔNG NGÀY NAY

    Mật tông đặc biệt thích hợp với tinh thần thời nay, vì đấy là con đường nhanh nhất, dễ lôi cuốn những người vốn khoái có hiệu lực tức thì. Hơn nữa, cốt tủy đường lối mật tông là phương pháp chuyển hóa, mà nguyên lý chuyển hóa năng lượng- ít nhất trên bình diện vật chất- ngày nay đã khá quen thuộc. Cuối cùng, trong khi sự bùng nổ lớn của sức mạnh ham muốn trong thế kỷ này được xem như một chướng ngại trầm trọng cho phần lớn các tôn giáo, thì nó lại rất tốt cho sự thực hành mật tông, vì tông này xem ham muốn là chất liệu thúc đẩy ta tiến đến mục đích cao nhất. Chỉ có một con đường duy nhất là mật tông- một phương pháp chú trọng kinh nghiệm trực tiếp hơn lòng tin mù quáng- mới có thể đánh thức chúng ta tỉnh dậy từ những kiểu sống tự hủy diệt, và đem lại cho ta cơ hội thành tựu bản thân một cách viên mãn.

    Tuy nhiên, muốn được lợi lạc thực thụ trong lối tu hành này, chúng ta cần ý thức rõ vài điểm quan trọng. Trước hết là động lực thúc đẩy ta tu mật tông phải thực trong sáng. Điều này sẽ nói rõ hơn ở chương 6, ở đây chỉ cần nói rằng, chúng ta không thể nào gặt hái lợi lạc vô biên từ pháp tu này nếu động lực tu hành của ta chỉ tập trung vào an lạc cho tự ngã. Hạng người duy nhất tu mật tông có hiệu quả là người quan tâm trước hết đến lợi ích cho người khác, và thấy con đường mật tông là lối tu nhanh nhất, hữu hiệu nhất để thành đạt mục tiêu vị tha ấy.

    Thứ đến, ta phải có đủ kiên trì và kỷ luật tự giác để khởi sự tu hành có thứ lớp. Nhiều người nghĩ: "Mật tông là lối tu cao nhất, nên tôi không cần quan tâm đến những tập luyện dẫn nhập" rồi họ nhảy bổ vào những giáo lý cao cấp; việc ấy vừa điên rồ vừa ngạo mạn, và lại khá nguy hiểm. Kẻ nào có thái độ nóng nảy thiếu thực tế như vậy thì hoàn toàn không đủ tư cách thụ giáo mật tông.

    Cuối cùng, thực vô cùng quan trọng để phân biệt tinh yếu của mật tông với những sắc thái văn hóa của mật tông hiện thời. Điều tôi muốn nói là, không ích gì cho một người xứ khác phải giống người Tây tạng, hay bất cứ người đông phương nào. Ví dụ, tập tụng kinh bằng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ, thì không phải là cách để ta đạt đến tiềm năng cao nhất của mình. Không có gì siêu việt khi thay thế những quy ước của một nền văn hóa này với một nền văn hóa khác. Những người tu kiểu hời hợt này cuối cùng chỉ rước lấy hoang mang lẫn lộn không biết mình là ai, hay mình phải làm gì. Dĩ nhiên trong giai đoạn chuyển tiếp của mật giáo từ đông sang tây, sẽ rất lợi ích nếu người ta học được Tạng ngữ vân vân. Nhưng ta nên nhớ mật tông là cái gì còn sâu xa hơn vô vàn. Cái điều mà mật tông dạy cho ta là một phương pháp để thoát ly tất cả những giới hạn ràng buộc tri kiến của ta về ta là ai, ta có thể trở thành gì. Nếu đến với mật tông bằng một tâm trí minh mẫn và quyết tâm rút được tinh hoa của giáo lý, thì chắc chắn ta có thể mang lại cho đời mình sự toàn vẹn và hạnh phúc tâm linh mà tất cả chúng ta đang tìm

    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  4. #4
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định

    3 - Lạc thú, Thất vọng và Thỏa mãn



    MẬT TÔNG VÀ SỰ HƯỞNG LẠC

    Vai trò của mật tông là chuyển hóa tất cả lạc thú thành kinh nghiệm siêu việt có tỉnh giác bén nhạy sâu xa. Thay vì khuyên ta tránh xa lạc thú thế tục như nhiều truyền thống tôn giáo khác, mật tông nhấn mạnh rằng tốt hơn con người ta nên cứ hưởng lạc tự nhiên, nhưng chuyển cái năng lượng của lạc thú thành con đường nhanh chóng hiệu nghiệm đưa đến sự toại ý và giác ngộ hoàn toàn. Đây là cách thiện xảo nhất để xử dụng tiềm năng con người quý báu của chúng ta.

    Qua phương pháp chuyển hóa sâu xa, mật tông chứng minh rằng con người vốn có khả năng thưởng thức hạnh phúc vô hạn mà đồng thời thoát khỏi những mê vọng vốn thường nhiễm độc lạc thú. Trái với những gì một số người có thể tưởng, vui thú khoái lạc chẳng có gì là sai quấy. Điều sai quấy là cái cách ngu si ta bám víu lạc thú, biến nó từ một nguồn vui trở thành nguyên nhân của khổ đau bất hạnh. Khoái lạc tự chúng không là vấn đề, mà vấn đề chính là sự bám víu chấp thủ vào khoái lạc. Bởi thế, nếu có thể thoát ly thói quen bám víu, thì ta có thể tha hồ vui thú mà không bị những rắc rối vẫn thường kèm theo sự tìm kiếm khoái lạc.

    Nếu hiểu đúng nghĩa sự chuyển hóa, thì bất cứ gì ta làm trong một ngày 24 giờ, đều có thể mang ta tiến gần hơn đến mục tiêu giác ngộ. Tất cả mọi hành động của ta- đi bộ, ăn uống, và ngay cả tiểu tiện- đều có thể đưa vào con đường tu tập. Ngay cả giấc ngủ ta, mà thông thường chỉ là bóng đen của vô thức hay sự hỗn mang của mộng mị, cũng có thể được chuyển thành kinh nghiệm quang sắc của trí giác vi tế sâu xa.

    Có lẽ những điều trên đây nghe thực vô lý. Cố nhiên những phương pháp tiệm tu, kể cả lối tu theo kinh điển trong đạo Phật, đều nhấn mạnh rằng những vọng tưởng như ham muốn, ganh tị...trong đời sống hàng ngày của ta luôn luôn là xấu, cần xem như chất độc. Chúng ta luôn được nhắc nhở về những hậu quả nguy hiểm của chúng, và được chỉ dẫn phải tránh ảnh hưởng chúng càng xa càng tốt. Nhưng như trên đã nói, mật tông lại theo đường lối khác. Mặc dù cũng nhấn mạnh tham ái chấp thủ là nguồn gốc khổ đau bất mãn, và do thế cần được khắc phục, mật tông lại dạy một phương pháp thiện xảo là sử dụng năng lượng của chính những vọng tưởng ấy để đào sâu sự tỉnh thức trong ta, thúc nhanh tiến trình tu tập. Như lương y có thể lấy cây độc để chế thuốc, cũng vậy hành giả mật tông thiện xảo có thể xử dụng năng lượng của tham sân một cách có lợi. Chắc chắn điều này có thể làm được lắm.

    NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA SỰ TOÀN VẸN

    Mật tông không những dạy ta tận dụng những kinh nghiệm khoái lạc thường nhật, mà còn chỉ cho ta làm thế nào để khởi động một kinh nghiệm lạc thú sâu xa nồng nàn hơn, đem lại thỏa mãn nhiều hơn là những khoái lạc mà giác quan thông thường có thể đem lại.

    Hiện tại mỗi khi tìm khoái lạc, chúng ta thường chỉ hướng đến những đối tượng bên ngoài mà ta ham muốn. Khi không thể tìm được hay không nắm giữ được đối tượng, thì ta đâm ra bất mãn sầu khổ. Ví dụ nhiều người đang đi tìm người yêu trong mộng tưởng của mình - một kẻ nào có thể làm suối nguồn hạnh phúc bất tận - nhưng dù có sưu tập nhiều bồ bịch đến đâu, họ cũng không bao giờ thực hiện được giấc mộng về người yêu lý tưởng.

    Cái điều ta không nhận ra là, trong mỗi con người chúng ta đều sẵn có một suối nguồn vô biên đầy đủ năng lượng thuộc nam tính và nữ tính. Bao nhiêu vấn đề rắc rối xảy đến cho chúng ta chỉ vì hoặc chúng ta không biết đến, hoặc chúng ta đè nén những gì ta sẵn có trong mình. Đàn ông cố che giấu khía cạnh nữ tính nơi mình, còn phụ nữ thì lại sợ bộc lộ năng lượng nam tính trong họ. Kết quả là ta luôn luôn cảm thấy mình bị tách rời khỏi một cái gì mình rất cần đến. Ta thấy mình không còn nguyên vẹn, và do đó ta quay sang người khác, mong tìm những đức tính mà ta không có, để có được cảm giác toàn vẹn. Do vậy nhiều lối hành xử của ta bị nhiễm tính bất an, chiếm hữu. Quả thế, tất cả vấn đề trên thế giới, từ nỗi lo sợ của một cá nhân cho đến chiến tranh giữa các quốc gia, đều có thể nói đã bắt nguồn từ cảm giác thiếu thốn này.

    Khi cần, những thiền gia vĩ đại có thể sống biệt lập hàng nhiều năm mà không cảm thấy cô đơn. Vậy mà chúng ta có thể vô cùng khó chịu nếu phải xa người bạn gái hay bạn trai của mình dù chỉ một ngày! Tại sao có sự khác biệt lớn lao ấy giữa chúng ta và thiền giả? Điều này có quan hệ đến những năng lượng nam tính và nữ tính trong ta. Khi những năng lượng này còn mất quân bình, bị phân chia manh mún, thì chúng ta vẫn còn mãi khát khao tụ hội với người khác, và không bao giờ được thỏa mãn. Nhưng nếu năng lượng âm dương bên trong ta được đầy đủ, thì không bao giờ ta cảm thấy cô đơn.

    Mật tông cung ứng nhiều phương pháp thần diệu để tiếp xúc với tính toàn vẹn nguyên ủy trong ta. Nghệ thuật mật tông có đầy những biểu tượng hợp nhất và toàn vẹn, diễn tả tiềm năng của ta để đạt đến viên mãn. Những hình ảnh chư thần giao hợp -mà một số người nghiên cứu Phật giáo Tây tạng cho là dấu hiệu suy đồi - kỳ thực là một biểu tượng của sự hợp nhất những năng lượng âm dương trong mỗi con người. Ở bình diện sâu xa hơn, sự giao hợp của họ còn biểu trưng mục đích của pháp hành trì cao nhất trong mật tông, là phát sinh đại lạc vi tế nhất, một tâm trạng vô cùng thích hợp để thâm nhập thực tại tuyệt đối giải thoát ta vĩnh viễn khỏi đau khổ mê mờ. Ở bình diện này, nam thần tượng trưng cho đại lạc và nữ thần là trí bất nhị. Vậy sự giao hợp của họ hoàn toàn không dính đến chuyện thỏa mãn giác quan, mà ám chỉ trạng thái trí tuệ đầy hỉ lạc toàn vẹn, vượt ngoài ham muốn giác quan thường tình.

    Với những người đã thuần thục, chỉ cần chiêm ngưỡng hình tượng ấy cũng đủ giúp họ phục hồi sự liên lạc hai năng lượng âm dương trong bản thể. Nhưng muốn tái lập mối liên lạc ấy, điều tối cần là phải đoạn tuyệt ảnh hưởng của cái tâm phân biệt nhị nguyên, vì chính tâm phân biệt này đã khiến ta trở thành xa lạ với thực thể sâu xa trong mình. Chính vì vậy mà những biểu tượng và hình ảnh xử dụng trong mật tông có thể hữu hiệu hơn danh từ suông, để đưa ta đi vào bản chất nguyên ủy.

    BỐN LOẠI MẬT ĐIỂN

    Có bốn loại hay trình độ mật điển Phật giáo : mật điển thiên về hành động, mật điển thiên về tư duy, mật điển du già và tối thượng du già. Mỗi hạng dành cho một loại hành giả đặc biệt; và điều khác biệt giữa hạng này hạng kia là mức độ năng lượng ham muốn mà hành giả có đủ thiện xảo để hướng nó vào con đường tu tập. Theo truyền thống, những trình độ khác nhau về năng lượng lạc được ví dụ với mức thân mật tính dục trong quan hệ nam nữ. Hành giả mật tông bậc hạ có thể xử dụng để chuyển hóa năng lượng lạc khởi lên nơi một người lúc nhìn người yêu. Ở mức độ hai, năng lượng trao nhau nụ cười có thể được chuyển hóa. Ở mức độ ba, năng lượng cầm tay nhau được xử dụng để chuyển hóa, trong khi hành giả thuộc mật điển tối thượng du già thì có được cái thiện xảo để hướng ngay cả năng lượng của sự giao hợp tính dục vào con đường tu tập. Hình ảnh vô cùng mãnh liệt này cho ta một khái niệm về tầm mức càng lúc càng tăng của cái năng lượng có thể được chuyển hóa nhờ thực hành mật tông.

    Một câu hỏi thực tế là, làm thế nào kỹ thuật chuyển hóa mật tông được vận hành có hiệu lực cho mỗi người. Nói rằng "mật tông xem ham muốn là con đường đến giác ngộ" chẳng có ý nghĩa gì lắm. Điều quan trọng là, sau khi quan sát kỹ những khả năng và kinh nghiệm của chính mình, phải tìm cách xác định trong hiện tại, ta xử lý cái năng lượng ham muốn của mình như thế nào. Ta phải tự hỏi mình có thể "quản lý" bao nhiêu lạc thú giác quan mà không trở thành điên dại. Hành trì mật tông cuối cùng có thể đánh thức trạng thái tâm sâu xa vi tế, nguồn phúc lạc kỳ diệu, song điều ấy không có nghĩa hiện tại ta nên lăn xả vào các ham muốn không cần phân biệt, chỉ vì chúng cũng có thể đưa đến một thứ lạc thú nào đó. Ta phải thành thực nhận ra những giới hạn của mình, và phải thực tế tự xét khả năng nếu muốn tu mật tông có chút nào kết quả.

    Một trong những chướng ngại lớn nhất cho việc tu hành là sự kiêu căng hợm hĩnh. Mối nguy này lại đặc biệt lớn lao trong sự thực hành mật tông. Khi nghe nói mật tông xử dụng ngay dục vọng để tu, ta có thể tưởng mình chỉ việc tự nhiên lăn xả vào những thèm khát bất trị, hoặc gia tăng số lượng ham muốn có sẵn, thế là ta đã thành một hành giả chân chính. Một số người quả có thái độ như vậy, thực hoàn toàn sai lạc. Ta không bao giờ nên quên rằng, nếu ngụp lặn trong dục vọng mà đồng nghĩa với hành trì mật tông, thì tất cả chúng ta đã thành những hành giả mật tông thượng thặng từ khuya! Mặc dù đời chúng ta đầy dẫy những ham muốn đủ thứ không bao giờ được thỏa mãn, điều duy nhất ta có được là sự bất mãn càng ngày càng tăng.

    Tại sao ra cơ sự ấy? Tại sao những ham muốn của ta luôn dẫn đến bất mãn và tuyệt vọng? Nếu không hiểu được điều này, thì tất cả cuộc nói chuyện về xử dụng ham muốn làm con đường giác ngộ, chỉ là chuyện đùa.

    DỤC VỌNG VÀ SỰ MÉO MÓ

    Khi ham muốn một đối tượng, nhận thức của ta về đối tượng ấy thường bị méo mó vì đam mê. Ví dụ rõ nhất là ham muốn thuộc tính dục. Thử xét trường hợp một người đàn ông đang say đắm một phụ nữ. Dù phụ nữ ấy được cho là dễ coi, cũng không đến nỗi chim sa cá lặn như anh kia vì dục vọng đã phóng đại sắc đẹp của nàng một cách lố bịch. Càng bị ám bởi lòng ham muốn, thì trí tưởng tượng của anh ta về cô nàng càng xa thực tế, "trông gà hóa cuốc." Cuối cùng, hình ảnh ấy đi đến chỗ không còn ăn nhập gì đến sự thực. Khi ấy, thay vì bị lôi cuốn bởi bản thân người phụ nữ, anh ta lại mê say cái hình bóng của nàng do chính anh tạo nên.

    Khuynh hướng phóng chiếu và khuếch đại này không hạn cuộc vào một nền văn hóa nào, đấy là một hiện tượng phổ quát trong vũ trụ. Khi hai người nhìn nhau bằng con mắt của ham muốn quá trớn, thì người này vẽ ra một câu chuyện thần kỳ về người kia. "Ôi đẹp khôn tả! Từ trong ra ngoài không chỗ nào chê được!" Họ thuần dựng lên một huyền thoại về đối tượng mình tôn thờ. Do si mê và dục vọng, người này trở nên mù quáng trước những điểm xấu của người kia, còn những điểm tốt thì lại thổi phồng quá cỡ thợ mộc. Sự quá đáng này chính là kiểu giải thích mê tín dị đoan, sự phóng chiếu của một cái tâm bị mờ ám vì dục vọng.

    Có thể nói trong mọi ham muốn thông thường của chúng ta đều có ít nhiều khuynh hướng thổi phồng này. Chúng ta nói quá đáng về giá trị của bất cứ thứ gì mình thích, và hoàn toàn không thấy được bản chất thực của nó. Chẳng hạn, ta quên khuấy đi rằng cái đối tượng ham mê của ta- dù đấy là người hay vật- đang thay đổi không ngừng, cũng như chính ta đang thay đổi. Ta làm như thể đối tượng ấy sẽ mãi mãi đẹp đẽ đáng ưa, sẽ đem lại cho ta niềm vui vĩnh cửu, thỏa mãn lâu dài. Một quan niệm về trường tồn như thế dĩ nhiên hoàn toàn mất liên lạc với hiện thực, và khi bám víu vào nó là ta chỉ có nước sẵn sàng rước lấy thất vọng ê chề.

    Tuy nhiên, cho là trường cửu những gì mình ưa thích không phải là điều ta nghĩ bằng ý thức. Nếu ai hỏi "Bạn có nghĩ người bạn trai -hay bạn gái, hay chiếc xe mới, hay bất cứ gì- của bạn sẽ trường tồn và mãi mãi đẹp như thế không?" ngay lập tức ta sẽ trả lời "dĩ nhiên không!" Chúng ta đã quá quen thuộc với sự đổi thay, tàn tạ, già chết nên khó mà trả lời cách khác. Nhưng với phần đông, cái biết này chỉ là tri thức suông. Đó là một ý tưởng ta biết bằng óc não nhưng tim ta chưa thực chứng. Nếu kiểm soát lại thái độ sâu xa tự tâm khảm đối với những gì mình ưa thích, ta sẽ khám phá rằng sự bám víu vào trường tồn vẫn còn ở lì trong đó không mảy may thay đổi, mặc dù trên bình diện tri thức, ta có thể hiểu biết rất nhiều về tiến trình đổi thay. Hãy nhìn cách ta hồi hộp ra sao mỗi khi vướng vào ham muốn mãnh liệt đối với người nào hay vật gì. Ta có bị giao động nhiều đến thế không, nếu ta không có những mong mỏi thiếu thực tế?

    Đừng hiểu sai chỗ này. Tôi không cố khắt khe bảo rằng mọi ý tưởng của ta đều nông cạn, hay mọi phản ứng cảm xúc của ta đều méo mó. Tôi chỉ cố khám phá một tình trạng mà mọi người khắp nơi đều đã thân chứng: đó là, mặc dù những ham muốn của ta cốt yếu là để đem lại cho ta hạnh phúc, song chúng ta vẫn mãi hoài bất mãn vì những ước mơ không toại. Nếu ta không hiểu lý do điều này, thì bao nhiêu hi vọng sử dụng ham muốn để đạt đến phúc lạc viên mãn của giác ngộ, sẽ phải tiêu dên.

    NGUỒN GỐC CỦA BẤT MÃN

    Vậy lỗi tại chỗ nào? Ai hay cái gì phải chịu trách nhiệm về nỗi thất bại triền miên của ta trong việc cảm thụ hạnh phúc an bình mà ta hằng tìm kiếm một cách vô vọng? Để trả lời câu hỏi này, ta hãy nhìn kỹ lại một lần nữa cái kiểu vận hành của ham muốn thông thường trong ta. Vì cảm thấy mình chưa toàn vẹn, bất an và không thỏa, ta tìm kiếm bên ngoài để có được một người nào hay một vật gì có thể khiến ta cảm thấy toàn vẹn, đầy đủ. Ta thường suy nghĩ một cách hữu thức hoặc vô thức như sau: "Nếu tôi có được điều này điều kia, thì tôi sẽ sung sướng." Được thúc đẩy bởi tư tưởng ấy, chúng ta cố chiếm hữu bất cứ đối tượng nào có triển vọng thỏa mãn ham muốn ta nhất. Trong quá trình ấy ta biến đối tượng thành một thần tượng, đánh giá quá mức những khía cạnh tốt của nó đến nỗi nó không còn giống gì với bản chất thực sự của nó nữa.

    Trong nỗ lực để đạt được đối tượng ham muốn mà ta đánh giá quá mức ấy, ta có thể thành công hoặc không. Nếu sau bao nhiêu cố gắng mà ta không thành công, đối tượng ham muốn vẫn ở ngoài tầm tay ta, thì dĩ nhiên ta bị thất vọng; càng ham muốn đối tượng bao nhiêu ta càng sầu khổ bấy nhiêu vì không chiếm hữu được nó.

    Nhưng nếu ta thành công, có được điều ta mong mỏi, thì sao? Điều ta gặp được và điều ta mong mỏi gặp được hóa ra là hai chuyện khác xa nhau. Vì những gì ta có được không phải là hình ảnh từ lâu ta mơ ước - giải pháp toàn vẹn vĩnh cửu cho những vấn đề của ta - mà chỉ là một cái gì cũng bất toàn, vô thường như chính ta. Người hay vật mà ta có được ấy quả có đem lại cho ta một lạc thú nhất thời, nhưng không bao giờ đáp ứng đúng những kỳ vọng ta đã đặt vào nó. Bởi thế sớm muộn gì ta cũng cảm thấy mình bị đánh lừa, và đâm ra não nề tuyệt vọng.

    Bây giờ, hãy trở lại câu hỏi trên kia: ta phải trách cứ ai về nỗi bất hạnh của mình? Thông thường một cách phi lý, ta đổ thừa cho đối tượng ham muốn: "Nếu nàng dễ coi hơn một chút..." "Nếu anh ấy đối xử với tôi tốt hơn..." "Nếu chiếc xe ấy chạy nhanh hơn, mới hơn..." Nếu được như thế nọ thế kia. Ta luôn suy luận nước đôi như vậy mỗi khi thất vọng với cái ta có trong hiện tại, và tự hỏi có cách nào thay thế nó bằng một thứ gì sẽ bảo đảm đem lại cho ta cái hạnh phúc mà ta ước mơ. Điều kế tiếp ta biết được là, ta lại đang đi tìm một người vợ mới, hay chồng mới, hay xe mới, đặt hết hi vọng vào đối tượng mới này, nhưng rồi cũng chỉ là không tưởng như niềm hi vọng ta đã từng đặt nơi cái đối tượng ta mới vừa gạt ra. Với kiểu ấy ta cứ tiếp tục quay vòng tròn, đổi thứ này lấy thứ khác mà không bao giờ tiến gần hơn chút nào đến cái hạnh phúc ta mong mỏi.

    LỐI GIẢI QUYẾT THEO MẬT TÔNG

    Mật tông giải quyết vấn đề này một cách triệt để, đấy là hoàn toàn chuyển lối nhìn thông thường của ta. Đây là điểm then chốt trong phương pháp mật tông. Cái năng lượng ham muốn đã đẩy chúng ta từ bất mãn này đến bất mãn khác, sẽ được chuyển thành tuệ giác và phúc lạc, nhờ phương pháp "luyện vàng" của mật tông. Hành giả tập trung tia laser của tuệ lạc này để đâm ngay vào trái tim thực tại, cắt đứt những cái bóng sai lạc về sự vật.

    Những tầng lớp mê mờ ngăn ta cảm nghiệm tính toàn vẹn của tiềm năng con người, bị nhổ tận gốc bởi tính giác đầy hoan lạc ấy. Như vậy năng lượng dục vọng thay vì làm tăng nỗi bất mãn nơi ta, bây giờ được dùng để phá hủy chính nguyên nhân của bất mãn, là sự ngu si cố hữu của ta về bản chất thực tại.

    Theo truyền thống mật tông Tây tạng, sự chuyển hóa năng lượng ham muốn được ví dụ như sau. Có vài loại côn trùng từ bọng cây sinh ra, chu kỳ sống của nó khởi sự từ lúc nó ấp trứng trong ruột thân cây. Khi lớn lên, chúng lấy thân cây làm thực phẩm, ăn thứ gỗ từ đấy nó đã sinh ra. Phép chuyển hóa của mật tông cũng vậy: dục vọng bất mãn làm phát sinh tuệ giác sâu xa, rồi tuệ giác này lại đốt cháy tất cả những phiền não che mờ tâm thức, kể cả những dục vọng đã làm phát sinh ra tuệ giác.

    Vậy ta có thể thấy rằng dục vọng có hai nhiệm vụ trái ngược hẳn nhau, một mê mờ một giác ngộ. Trong mật tông, kinh nghiệm hoan lạc do dục vọng phát sinh mở rộng tâm ta đến độ nó giúp ta vượt qua mọi giới hạn của mình; trong khi thông thường lạc thú phát sinh do sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng ham muốn thì lại thu hẹp tầm chú ý của ta, và dẫn đến tâm hạn cuộc vì bị ám ảnh bởi ý muốn có thêm lạc thú. Bị mê mẩn trong những cảm giác hoan lạc, ta thường mất ý thức về toàn thể, và rơi vào trạng thái u mê ám chướng. Tâm trí ta thu hẹp lại quanh đối tượng, và càng bám víu đối tượng để được thêm thỏa mãn, ta càng xa rời thực tại. Có thể bảo rằng, khi đã ở dưới bùa lực của ham muốn mãnh liệt, thì ta gần như bị hôn mê bất tỉnh. Khi bừng tỉnh, ta mới thấy rằng lạc thú mà ta dù có nếm được cũng đã biến mất, chỉ còn lại một nỗi chán chường bất mãn nguyên xi như lúc ban đầu.

    Nói cách khác, thông thường khoái lạc của chúng ta bị đen tối vì vô minh vây phủ. Mặc dù có vài hứng khởi thoáng qua, cũng không có ý thức minh mẫn, không có ánh sáng. Thực hành mật tông là cốt để hợp nhất kinh nghiệm lạc thú với ánh sáng. Sự hợp nhất này như đã nói, được biểu trưng bằng hình ảnh nam nữ thần giao hợp, ám chỉ sự hợp nhất giữa năng lượng dương tính là phúc lạc và âm tính là trí tuệ bất nhị sâu xa. Hai thứ này cuối cùng phải hợp nhất thì ta mới đạt đến tự tính chân thực sâu xa nhất của mình. Nhưng hiện tại ta không có được sự hợp nhất giữa hoan lạc và trí tuệ như thế, nên ta phải nỗ lực khá nhiều để đào luyện cái kinh nghiệm toàn vẹn ấy.

    MỘT CHÚT DÈ DẶT

    Chính vì thói quen thâm căn cố đế của chúng ta là, mỗi khi bám víu một lạc thú nào, ta lại rơi ngay vào trạng thái u mê đần độn, cho nên thực phi lý nếu nghĩ rằng ta có thể chuyển hóa ngay tức khắc năng lượng ham muốn nồng nhiệt của mình thành tâm sáng suốt thanh tịnh và khoáng đạt. Mặc dù mật tông là con đường nhanh nhất để thành tựu kinh nghiệm giác ngộ, ta vẫn phải tiến tuần tự qua các giai đoạn tùy khả năng mình, nếu không ta sẽ vướng vào một gánh nặng mà ta không đủ sức mang. Ta sẽ bị nguy khốn như tình trạng những nước nghèo vì nôn nóng canh tân đã vội vã rước vào mình quá nhiều, nên hậu quả bất hạnh là đời sống giản dị tương đối quân bình của họ bị xáo trộn. Như thế, mặc dù kỹ nghệ hóa là cốt đem lại phúc lợi, hậu quả thực sự lại là xáo trộn bất mãn còn nhiều hơn trước. Cũng vậy, nếu cứ tưởng mình chuyển hóa được những năng lượng lạc thú, rồi thực hành mật tông khi chưa đủ khả năng chuyển hóa, thì chỉ tổ đưa đến tình trạng rối ren hơn.
    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  5. #5
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định

    4 - LẬT ĐỔ KHỐNG CHẾ CỦA NGOẠI CẢNH




    VƯỢT NGOÀI GIỚI HẠN: QUÁN MÌNH NHƯ CHƯ THIÊN

    Ta có thể thấy năng lượng ham muốn trong ta có thể tác động theo hai cách hoàn toàn trái ngược. Nhờ phương pháp chuyển hóa của mật tông, năng lượng này có thể biến thành ánh sáng trí tuệ đầy phúc lạc, một sức mạnh trên đường phát triển tâm linh. Nhưng thông thường, năng lượng ham muốn này bị tiêu hao vào những mẫu mực chấp thủ và bám víu, chỉ có làm giảm ý thức sáng suốt và tăng cường vô minh bất mãn trong ta. Một trong những việc chính của hành giả là nhận thức rõ những yếu tố nào đã khiến ta rơi vào vòng bất mãn triền miên, rồi áp dụng phương pháp chữa trị sự tác hại của chúng một cách hữu hiệu nhất. Chỉ khi ấy ta mới thực sử dụng tốt năng lực chuyển hóa của mật tông.

    Theo mật tông, thì sở dĩ chúng ta bị tóm bẫy trong vòng bất mãn là vì lối nhìn hẹp hòi ngộp thở của chúng ta về thực tại. Chúng ta bám lấy một quan niệm rất giới hạn về ta là ai, và ta có thể trở thành cái gì. Hậu quả là hình ảnh của ta về chính mình thực thấp thỏi và tiêu cực, khiến chúng ta cảm thấy hoàn toàn bất xứng và vô vọng. Bao lâu mà quan niệm của ta về chính mình còn thảm hại như thế, thì cuộc đời ta vẫn còn vô nghĩa. Nhiều người nghĩ rằng người ta không hơn gì giống khỉ, và tâm con người chỉ là một loạt những phản xạ hóa học và xung động điện não. Một quan niệm như thế thu gọn con người thành một đống vật chất, và chối bỏ mọi chiều hướng cao siêu của hiện hữu loài người. Với những người thực sự tin vào một quan điểm hẹp hòi như thế về ý nghĩa con người, thì mục đích sống là để làm gì? Có lẽ chỉ để hưởng thụ càng nhiều khoái lạc càng hay, trước khi tàn tạ trở về bản chất nguyên ủy là cát bụi. Một lối nhìn bi thảm như thế có lẽ đã là nguyên nhân cho sự tha hóa của con người trong xã hội hiện nay.

    Mật tông phản đối cách nhìn thấp kém phi lý ấy đối với tiềm năng con người, bằng cách chỉ cho ta làm thế nào để tự xem mình và người khác là đẹp một cách siêu việt- quả thế, không khác gì những nam thần nữ thần hết trọi. Một trong những lối hành trì thiết yếu ở mọi cấp bực mật tông, là đánh tan những khái niệm phàm tình của ta về chính ta, rồi từ không gian trống rỗng trong đó những khái niệm phàm tình đã biến mất, nổi lên thân thể tràn ngập ánh sáng của một vị trời, biểu hiện tính trong sáng nguyên ủy, bản thể sâu xa nhất trong ta. Càng luyện tập để tự thấy mình thành những vị trời thiền như vậy, ta càng ít thấy mình bị trói buộc bởi những thất vọng ngang trái trong đời. Pháp quán này đem lại cho ta năng lực kiểm soát cuộc đời ta, tự tạo cho mình một hoàn cảnh thuần tịnh trong đó bản chất trong sáng nhất của ta có thể hiển lộ.

    Ta không nên lẫn lộn những vị trời thiền trong mật tông với những nam thần nữ thần đề cập trong các thần thoại tôn giáo khác. Ở đây, vị thần (hay chư thiên) mà ta chọn làm hình ảnh mình, chỉ là biểu tượng của những đức tính cốt yếu của Con người Toàn giác đang tiềm ẩn trong ta. Theo thuật ngữ tâm lý học, vị thần trong mật tông là một mẫu người lý tưởng trong ta, tầng tâm thức vi tế nhất của ta. Trong pháp tu mật tông, ta tập trung chú ý vào một hình ảnh như vậy, đồng hóa mình với nó, để đánh thức những khía cạnh sâu xa nhất của bản thể mình và biến chúng thành hiện thực. Một sự thực đơn giản là, nếu ta tự xem mình bản chất vốn trong sạch, mạnh mẽ, có khả năng, thì ta sẽ thực thụ phát triển được những đức tính ấy. Nhưng nếu ta cứ tiếp tục nghĩ mình là u mê, rồ dại, thì cuối cùng ta sẽ trở thành như thế thực.

    Để lấy một ví dụ về sự chuyển hóa của mật tông, ta có thể quán mình là đức Văn thù, một vị thần màu vàng hơi đỏ, tay phải cầm gươm bén của phân biệt trí, tay trái cầm quyển kinh Bát nhã. Dù nam hay nữ đều có thể quán hình ảnh này, vì pháp quán mật tông hoàn toàn siêu việt nhận thức thông thường về nam nữ. Nhưng một hình ảnh được quán tưởng như vậy thì kỳ thực không phải là Văn thù. Chính cái trí tuệ trong một tâm thức không bị che mờ, đã triển khai toàn vẹn tiềm năng của nó, mới đích thực là Văn thù. Và mục đích sự quán mình thành vị thần ấy là để mau chóng phát triển được cái tuệ giác sẵn có trong ta. Cái gươm hai lưỡi của đức Văn thù chẳng hạn, tượng trưng khả năng của trí giác có thể phân biệt chính tà bằng cách cắt đứt mọi ngộ nhận và dị đoan mê tín. Càng đồng hóa mình với vị thần ấy và quen thuộc với những đức tính mà ngài tiêu biểu, thì ta càng kích động tâm ta một cách sâu xa để tăng trưởng những đức tính như ngài.

    Lúc đầu, sự quán tưởng mình thành một vị thần chỉ có tính chất giả tạo. Nhưng càng kiên trì trong pháp quán tưởng chư thần, ta có thể thấy được vị thần một cách rõ rệt khác xa hình ảnh ta tạo tác. Tâm ta sẽ thực sự trở thành tâm của vị thần, và những kinh nghiệm giác quan thông thường của ta - thấy nghe ngửi nếm vân vân- sẽ được chuyển hóa thành những phúc lạc của chư thiên. Đây không phải là huyền thoại, mà những chuyển hóa như vậy đã là kinh nghiệm thân chứng của vô số thiền giả mật tông trong quá khứ. Và không lý do gì ta lại không có được những kết quả siêu việt như thế, nếu ta nỗ lực đúng mức.


    NHỮNG THẮC MẮC

    Bạn có thể đặt câu hỏi: "Nhưng tại sao tôi phải quán mình là Văn thù hay bất cứ vị thần nào khác? Quán mình thành một người nam hay nữ nào, đối với tôi cũng đã đủ khó. Vậy tại sao tôi phải thay hình đổi dạng mà khoác vào một cái lốt khác, lốt của Văn thù?"

    Điều cần nhớ là, quán Văn thù không phải để có ra một tướng nào khác với ta hiện tại. Ngay giờ phút này, chúng ta đã sẵn có trong mình những đức tính sâu xa của một hiện thân thánh thiện như thế. Quán mình là thiên thần cốt để nhận chân và đào luyện những đức tính đến chỗ viên mãn, thay vì tự giam hãm mình một cách khốn khổ trong mặc cảm tự ti: "Tôi thực xấu xí, ngu đần, yếu hèn, vô giá trị."

    Có thể bạn vẫn tự hỏi: "Nhưng tại sao Văn thù hay bất cứ vị thần nào của mật tông, lại có thể là tinh hoa của bản thể tôi chứ? Tôi trông không giống gì với bất cứ vị thần nào trong đó cả. Tôi không phải màu cam, màu xanh hay màu lục; tôi cũng không có nhiều mặt và quá nhiều tay như những vị thần ấy." Dĩ nhiên sẽ có những phản đối như vậy khởi lên, nhưng để an tâm, trước hết ta hãy xét kỹ xem thực sự ta nghĩ mình là ai.

    Trước hết cái mặt hiện tại của bạn không phải là bạn, xương thịt không phải là bạn. Máu huyết, bắp thịt hay bất cứ phần tử nào trong cơ thể bạn cũng đều không phải là phần cốt yếu để cho biết bạn là ai. Có thể nói thân thể bạn giống như một con người máy vì tự nó, nó không có khả năng vận hành, mà phải được điều động bởi một cái gì khác. Hệt như chương trình máy vi tính điều khiển người máy, làm cho nó hoạt động, cũng vậy chính cái tâm bạn- hay ý, hay linh hồn, v.v.- đã đem lại đời sống cho thân xác. Bởi thế, muốn tìm thực chất mình là cái gì, muốn biết cái gì chịu trách nhiệm về lối sống của mình, thì bạn phải nhìn vào tâm của bạn.

    Điều kế tiếp cần nhận thức là, từ sơ sinh cho đến bây giờ, bạn đã hiện thân nhiều cách khác nhau. Không có ai trong chúng ta là cố định không thay đổi. Ví dụ khi nổi giận thì bạn trông như một ác quỷ, trong khi vào những lúc khác, khi tâm tràn ngập yêu thương, bạn không khác gì một thiên thần. Những hiện tướng này -lúc giận lúc vui, lúc ganh ghét, lúc tử tế, khi xót thương, lúc ngu đần, khi khôn khéo- không có tướng nào sinh khởi chính yếu từ cái thân vật lý của bạn cả; chúng đều sinh khởi từ năng lực tâm lý. Tâm có khả năng sản sinh ra hàng ngàn cảm xúc và thái độ khác nhau, còn thân thể thì chỉ có đi theo sự dẫn đạo của tâm, không có sự chọn lựa nào. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn thường tự cho mình là thân hơn là tâm. Chúng ta cứ nghĩ chủ tể là thân chứ không phải tâm, và hầu như trở thành những tên nô lệ cho thân xác mình. Hãy bật truyền hình lên xem, để thấy rõ nền văn hóa hiện đại dành biết bao nhiêu năng lượng để phục vụ thân xác, mà quá ít năng lượng để đào luyện tâm linh. Thảo nào thế giới không hỗn loạn.

    Chú trọng thân xác hơn tâm hồn không phải là sai lầm duy nhất của chúng ta. Ta lại còn không nhận thức được rằng cái thân vật lý thô phù này không phải là cái thân thể duy nhất mà ta sở hữu. Điều này sẽ đề cập nhiều hơn trong chương 10, ở đây chỉ cần nói vắn tắt. Trong hình dạng vật lý thường ngày của ta, còn có một thân vi tế hơn, gọi là thân tâm lý vì nó tương quan mật thiết với những tầng tâm thức sâu xa. Chính từ nơi những tầng tâm thức vi tế này, phát sinh cái năng lượng của trí tuệ đầy phúc lạc, một thứ năng lượng có khả năng chuyển hóa cuộc đời ta một cách triệt để. Chư thần mật tông biểu trưng cho sự phát triển toàn vẹn của năng lượng trí tuệ đầy phúc lạc ấy, và bởi thế ta có thể nói rằng, dù có bao nhiêu mặt và màu sắc gì đi nữa, một vị thần như vậy đều tiêu biểu tinh túy và tiềm năng của ta. Bởi vậy, pháp thiền quán chư thiên không phải là việc tưởng tượng cái điều bất khả, mà là một phương pháp hết sức thực tiễn. Nó giúp ta sống đúng theo khả tính cao nhất của mình, nhờ tập luyện có phương pháp để chuyển hóa tâm thức một cách sâu xa.

    Lúc đầu pháp thiền quán này có thể dường như xa lạ không thực tiễn, nhưng hiệu lực của những kỹ thuật tương tự đã chứng tỏ nó có giá trị như thế nào, ngay cả dưới mắt người đa nghi. Chẳng hạn, nhiều tài liệu cho biết có những người mắc bệnh ung thư và các chứng nan y, đã tự chữa lành chỉ nhờ quán tưởng. Thay vì bám lấy quan niệm "thân thể tôi bị ung thư, tôi đang chết" những người này quán mình hoàn toàn lành mạnh. Họ xua đuổi hình ảnh bệnh hoạn ra khỏi tâm trí, thay bằng hình ảnh tràn trề ánh sáng và sinh lực. Trong nhiều trường hợp, phương pháp này đã chứng tỏ có hiệu quả sau khi các y sĩ đã bó tay.

    Sức khỏe thân tâm cốt yếu là một vấn đề của hình ảnh do ta tự tạo. Những người chuyên có ý nghĩ đen tối về bản thân, bất cứ vì lý do gì, sẽ ở mãi trong tình trạng khốn khổ, trong khi những người nhận chân được tài nguyên nội tâm phong phú của mình, có thể vượt qua những tình huống khó khăn nhất. Pháp thiền quán chư thiên là một trong những phương pháp hiệu nghiệm nhất để nâng cao hình ảnh ta tự tạo về chính mình. Bởi thế mật tông mới là một phương pháp thần tốc để đạt đến sự thể hiện tiềm năng hùng mãnh nhất trong ta.

    Chấp tướng là chướng ngại lớn nhất khiến ta không thể chuyển hóa mình thành một vị trời. Bao lâu ta còn duy trì cái thấy thông thường về bản thân, thì không còn chỗ nào cho việc nhìn mình dưới hình ảnh một thực thể giác ngộ. Chúng ta không thể nào thực sự thấy mình có một thân thể bằng ánh sáng thuần tịnh như chư thiên, nếu ta cứ tiếp tục tự đồng hóa với cái hình tướng vật lý thô kệch. Và ta cũng sẽ không bao giờ tiếp xúc được với bản thể thanh tịnh của mình, nếu cứ tưởng bản tính mình chỉ là những vọng tưởng và khái niệm thô thiển đi qua tâm thức.

    Bởi thế, muốn đạt đến niềm phúc lạc của sự thành tựu bản thân, ta phải tìm cách giải thoát khỏi sự khống chế của tướng và quan niệm thông thường. Chúng ta phải cảm thấy tự tâm khảm rằng, thực vô cùng tai hại cho ta nếu cứ tiếp tục có lối nhìn thô thiển hạn cuộc như hiện tại đối với thân tâm mình và hình ảnh của chính mình. Sự chấp tướng ngây ngô như vậy chỉ làm cho ta càng ngày càng mờ mịt, bất an, bất mãn.

    Bất cứ khuynh hướng bất định, lo sợ nào mà ta có, đều là triệu chứng của tâm lý nhị nguyên, cái tâm luôn luôn phân vân với trăm tư tưởng trái ngược như: "Tôi hi vọng tôi trông bảnh bao, nhưng tôi e sợ rằng tôi trông thật tồi." Điều này cũng chứng tỏ thông thường chúng ta làm những phán đoán thực nông cạn như thế nào về bản thân mình. Chung quy, tướng ngoài không thực là thước đo giá trị con người nam hay nữ. Vậy mà những khuyết điểm nhỏ nhặt nhất về thân, có thực hay tưởng tượng, cũng đủ làm cho ta vô cùng lo lắng. Có nhiều người tự thấy mình xấu xí, vô giá trị, tự khinh ghét mình đến nỗi nhịn ăn mà chết. Đây là một điển hình cực đoan, song tôi nghĩ hầu hết chúng ta, vì một lý do này hay khác, đều tự hạ giá và tự làm cho mình khốn khổ.


    TÂM HƯỚNG NGOẠI

    Đôi khi dường như rằng tâm ta cùng lúc chạy khắp mọi hướng, nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác trong một cuộc tìm kiếm vô vọng, mà không biết tìm cái gì. Chúng ta đang tìm một cái không tên, một cái gì sẽ làm thỏa mãn niềm khát khao được ổn định, an ninh bảo đảm. Ta đi từ đối tượng này sang đối tượng khác với hi vọng cái kinh nghiệm kế tiếp sẽ chứa đựng điều ta đang mong mỏi. Kết quả là tâm thức ta luôn luôn bị phân tán. Thực khó mà tập trung tất cả chú ý vào công việc đang làm, vì một phần tâm ta đã bất mãn và bắt đầu đi tìm một cái gì khác. Ngay cả khi đang làm một việc mình thích, ta cũng dễ dàng đánh mất sự tập trung. Do vậy, không những ta không thể khám phá được ý nghĩa và mục đích nào cao cả hơn cho cuộc đời mình, mà ta còn không thành công cả trong những việc vặt hiện tại.

    Hậu quả tất yếu của cái thấy hẹp hòi do chấp tướng ấy là khuynh hướng đi tìm giải đáp ở ngoài tâm (hướng ngoại tìm cầu). Vì đã quen tự xem mình là bất toàn, thiếu thốn một cái gì thực cần thiết, nên ta không bao giờ nghĩ đến chuyện hướng vào tài nguyên và năng lực nội tâm để tìm giải đáp cho những rắc rối của mình. Ngược lại, ta nghĩ rằng nếu ta làm cách nào có được một cái gì đó ở bên ngoài, thì ta sẽ thỏa mãn ước mơ. Nhưng cách suy nghĩ như vậy thực rõ ràng là vô lối. Có con người nào hay vật gì ta mơ ước mà ta có thể chiếm hữu hoàn toàn làm của mình, để tâm hồn ta thực sự được nghỉ ngơi trên đường kiếm tìm an ổn hay không? Dù là người đàn ông hay đàn bà đẹp nhất thế giới, hay bộ y phục thời trang nhất, viên ngọc quý nhất, hay tư tưởng hay ho mới lạ nhất ... cũng đều không có khả năng dập tắt những khát khao của ta, bao lâu nội tâm ta vẫn còn thiếu thốn bất toàn. Bao lâu ta còn nghĩ rằng ta có thể nhờ cái gì bên ngoài để lẩn trốn những rắc rối cuộc đời, thì ta vẫn còn vô phương đạt đến niềm an lạc nội tâm chân thực. Sự sở hữu tài sản hay quyền lực chắc chắn không phải là giải pháp. Hãy nhìn tỉ lệ cao về nghiện ngập, li dị và tự sát ở những quốc gia giàu có trên thế giới, để thấy rằng sở hữu vật chất mà thôi không đủ làm cho con người hết bất an được.

    Cho dù ta tìm giải đáp bằng cách quay lưng với vật chất để hướng đến một thực tại tâm linh cao cả, thì quan niệm hẹp hòi về bản ngã của ta cũng làm cho những lợi ích mà ta có thể đạt đến, đều trở nên hạn cuộc một cách trầm trọng. Điều khá thông thường đối với những hành giả tâm linh, là thấy có một hố ngăn không thể nào lấp được giữa chính mình đang ngụp lặn trong sình lầy, với một thực thể cao siêu nào đó ở trên trời. Càng nghĩ mình kém cỏi, vô năng bao nhiêu, ta càng có những lời cầu xin thảm não bấy nhiêu. Chẳng hạn ta kêu réo: "Lạy Chúa cứu con! Xin Phật giúp con!" Nhưng bao lâu ta còn tự giam hãm mình trong sự thương thân trách phận, thì e rằng ta sẽ không có được lợi lạc bao nhiêu.


    THỬ THÁCH CỦA CUỘC THÁM HIỂM NỘI TÂM

    Phương pháp mật tông quán mình là một vị trời, thì trái ngược hẳn với thái độ tự thương hại như trên. Càng có khả năng quán mình là một thân tâm bằng ánh sáng thuần tịnh, ta càng tự mở lòng ra để đón nhận những năng lực tốt lành hiện hữu bên trong và bên ngoài ta. Chúng ta đã đề cập sự kiện nhờ phép quán tưởng có tính sáng tạo, mà ta có thể đánh thức những năng lực bẩm sinh để tự chữa lành ngay cả những chứng bệnh ghê gớm nhất. Ví dụ này chứng tỏ thân và tâm có tương quan mật thiết, và trong hai cái đó thì tâm mới là yếu tố chủ chốt hình thành cuộc đời ta. Nếu ta có hình ảnh tốt lành về chính mình, thì tự nhiên hành vi của ta đầy tự tin, và sẽ gây cho người khác những ấn tượng về năng lực và sinh động. Ngược lại, nếu ta có ý tưởng thấp kém về bản thân, thì ta trông có vẻ yếu đuối vô năng, sẽ rước lấy nhiều rắc rối và dễ dàng gặp nạn tai tật bệnh.

    Đã nhiều lần kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng, đời ta thành công hay thất bại, khỏe mạnh hay đau yếu, đẹp hay xấu, vui hay buồn, cốt yếu là do thái độ tinh thần của ta. Thế mà mỗi khi gặp rắc rối trong đời, ta lại có thói quen tìm giải pháp ở bên ngoài. Thay vì nhìn thẳng vào nội tâm để phát triển một thái độ khả dĩ chuyển hóa đời mình theo chiều hướng tốt, thì chúng ta lại theo một phương sách nông cạn, là cố sửa đổi những hoàn cảnh bên ngoài để giải quyết những vấn đề bên trong. Nhưng điều này không bao giờ đem lại cho ta thỏa mãn lâu bền. Dù có thay đổi lối sống bên ngoài đủ cách, mà không kèm theo một chuyển hóa sâu xa ở nội tâm, thì cũng chỉ thành công một giai đoạn. Sớm muộn gì những rắc rối cũng sẽ trở lại, và ta sẽ vẫn khó chịu bất mãn như trước.

    Mặc dù tất cả chúng ta đều có bản tính trong sáng nguyên ủy, song ta không dễ gì bắt liên lạc được với nó. Bởi vì cái cách vận hành thô tháo của tâm ta thường làm chìm nghỉm sự rung động vi tế của bản tính ấy, đến nỗi ta không còn ý thức gì đến hiện hữu của nó. Nếu thực sự muốn liên lạc với bản chất sâu xa của mình, ta phải chấm dứt mọi xao lãng tâm trí và nới lỏng kềm tỏa của những danh tướng vẫn trói buộc ta. Nói cách khác, ta cần tạo ra một không gian trong đó bản chất thuần tịnh nguyên ủy của ta có thể vận hành không gián đoạn. Khi ấy thì không phải ta hợm hĩnh gì khi dùng phương pháp mật tông để quán mình thành một vị trời; mà đúng hơn, ta đang làm hiển lộ những đức tính thánh thiện vốn luôn luôn hiện hữu trong thẳm sâu bản thể.

    Những cách chuẩn bị khác nhau trước khi thực hành mật tông chính là những phương pháp để tạo ra không gian cần thiết ấy. Nếu ta cố xử dụng những năng lực chuyển hóa cực kỳ mãnh liệt của mật tông, mà không luyện tập theo những chuẩn bị tiên quyết này, thì sự tu luyện không thể nào thành công được. Một chiếc phi cơ phản lực có thể là cách nhanh nhất để di chuyển, nhưng nếu đưa một người chưa được huấn luyện ngồi vào ghế phi công thì chỉ có rước lấy hậu quả khốc hại. Cũng thế, mặc dù mật tông là cỗ xe nhanh nhất để đạt toàn giác, song nếu áp dụng những phương pháp mật tông trong khi thân tâm chưa được chuẩn bị thì thật là liều lĩnh, và hoàn toàn không hiểu gì về mục đích của mật tông.
    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  6. #6
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định

    5 - NGOI LÊN TỪ NỖI BẤT MÃN



    Những điều kiện tiên quyết để thực hành mật tông là từ bỏ, bồ đề tâm và chính kiến về tính không. Kinh thừa gọi đấy là ba khía cạnh chính để đạt giác ngộ. Ở đây, ta sẽ thảo luận ba khía cạnh ấy dưới những chương mang tựa đề Ngoi lên, Mở ra và Tan vào, cốt nhấn mạnh việc tu tập ba tâm thái ấy là điều kiện cho sự chuyển hóa của mật tông,

    Trước hết, từ bỏ chính là để cho tâm thức ngoi lên khỏi những mối lo hạn cuộc thường tình, mà chú trọng đến việc nhận ra tiềm năng vô hạn của nó.


    TỪ BỎ LÀ GÌ

    Chúng ta đã nói đến vài phương pháp chuẩn bị để tạo không gian trong tâm ta. Ví dụ, ta chỉ có thể thực hành mật tông hữu hiệu khi đã chấm dứt ảo tưởng đối với các dục vọng. Ta phải nhận thức sâu xa từ đáy lòng rằng, sự bám víu không bao giờ đưa đến thỏa mãn, mà chỉ đem lại khổ đau thất vọng. Nếu không thấy được rằng sự bám víu khoái lạc giác quan buộc chặt chúng ta vào bánh xe sinh tử, thì khi tu mật tông ta sẽ lặp lại lỗi lầm ta đã phạm khi theo đuổi khoái lạc: Mỗi khi được một cảm giác phúc lạc, ta sẽ bám lấy nó như một cái gì thực hữu nội tại, có thể đem lại cho ta niềm vui bất tận. Như một con nhện chờ ruồi, ta sẽ tham lam chộp lấy bất kỳ kinh nghiệm hấp dẫn nào xảy đến. Cố mà vắt ép cho ra khoái lạc từ mọi sự như thế quả là hoàn toàn mê muội. Nếu còn thái độ thiếu thực tiễn ấy, ta sẽ không bao giờ biết đến hạnh phúc chân thực là gì. Nếu không buông bỏ thái độ bám víu, vô tình ta đã biến việc tu mật tông của mình thành ra một hành trình lòng vòng vô nghĩa.

    Vậy trước hết ta cần phải phát triển một mức độ từ bỏ nào đó. Vì người ta thường lầm lẫn sự từ bỏ với tâm trạng sợ hãi khước từ mà tôi đã chỉ trích trước đây, nên có lẽ tôi nên khởi sự bằng cách mô tả cái gì không phải là từ bỏ.

    Khi gặp một điều rắc rối, ta có thể từ chối nó bằng cách gạt bỏ hoặc tránh né. Đây có thể gọi là từ bỏ, song không phải là từ bỏ vòng lẩn quẩn. Hoặc khi tim ta tan nát vì gây gổ với bạn, ta bèn dời đi thành phố khác để tránh đau khổ thêm. Đây cũng không phải là từ bỏ. Hoặc vì chịu hết nổi đời sống tụ hội, ta trốn vào rừng rồi tuyên bố "tôi ngao ngán chốn bụi hồng!" Khi sống như một con thú rừng, không một tiện nghi nào của nền văn minh, đương nhiên ta cũng từ bỏ một cái gì, song đấy vẫn chưa phải là sự từ bỏ chân thực.

    Ta có thể tưởng rằng từ bỏ có liên quan đến sự tuân thủ giới luật, rằng khi học pháp và thực hành thiền quán là ta trở thành một người từ bỏ chính hiệu. Nhưng chưa hẳn thế, bởi vì khi bị ai chế nhạo, bị cho là quái gở lập dị, mà tâm ta còn giao động thì điều ấy chứng tỏ ta chưa từ bỏ gì hết. Nó chứng tỏ ta còn bám víu tập quán thế tục như bám víu một đối tượng giác quan thông thường. Nói cách khác, do thái độ chấp thủ, ta đã biến sự tu tập thành một thứ bám víu dưới hình thức khác.

    Từ bỏ chân chính có nghĩa là ta không còn nương vào khoái lạc giác quan để được hạnh phúc, vì thấy rõ không mong gì có được thỏa mãn sâu xa từ nơi những hiện tượng phù du hạn cuộc. Điều quan trọng là cần hiểu rõ điểm này. Từ bỏ không phải đồng nghĩa với khước từ lạc thú hay chối bỏ hạnh phúc, mà có nghĩa "không còn mong đợi gì nơi những lạc thú thông thường." Chính những mong đợi ấy đã biến lạc thú thành đau khổ. Cần nhắc lại, lạc thú không có gì sai quấy, mà chính thái độ bám víu, thổi phồng, bóp méo và ô nhiễm của ta đối với lạc thú mới là cái cần từ bỏ.


    TU TẬP GIẢI THOÁT

    Danh từ "từ bỏ" theo Tạng ngữ có nghĩa đen là sự "quyết định ngoi lên." Nó ám chỉ một quyết tâm sâu xa nhất định ngoi lên khỏi những bất mãn thất vọng triền miên của đời sống tầm thường. Nói đơn giản, từ bỏ là cái cảm giác hoàn toàn ngấy chán trước những vấn đề không ngừng tái diễn, đến nỗi cuối cùng ta hết khát khao ham muốn thứ này thứ nọ, và khởi sự tìm cách làm cho đời ta có ý nghĩa, thỏa lòng. Vậy đào luyện sự từ bỏ, hay quyết định ngoi lên, cũng chính là tự giải thoát khỏi những thói dính mắc đã làm trì trệ chúng ta, khiến ta không thực nghiệm được tiềm năng con người viên mãn nhất trong mình.

    Trong đời có những lúc các giác quan ta tự động rút lui khỏi những đối tượng, khiến ta cảm nghiệm được một cái gì có thể gọi là giải thoát tự nhiên, một sự từ bỏ không cần cố gắng. Vào những lúc như vậy, không có gì để cho ta bám víu chấp thủ, và ngay cả đối tượng giác quan hấp dẫn nhất cũng vô hiệu, không thể lôi cuốn hay làm xao lãng tâm ta. Nhưng thường thì chúng ta không thể nào tự tại giải thoát mỗi khi gặp những đối tượng thuộc kinh nghiệm giác quan. Ta luôn luôn bị dính mắc, bị thôi miên bởi một dòng thác bất tận những ấn tượng giác quan, và mãi mãi đi tìm cái gì khác hơn, mới lạ hơn, khả dĩ kích động tâm ta, làm ta lưu ý. Có một chiếc xe hơi chưa đủ, ta cần hai chiếc. Khi đã có hai chiếc xe, ta cũng chưa vừa lòng: ta cần thêm một chiếc thuyền. Rồi có chiếc thuyền này chưa đủ, ta muốn một chiếc lớn hơn. Cứ thế tiếp tục cho đến vô tận. Đấy là sự bất mãn không bao giờ chán đủ, cái hoàn toàn ngược với tâm từ bỏ hay thực sự ngoi lên.

    Có lẽ chúng ta cần tập sống đơn giản tự nhiên hơn, giải thoát hơn đối với những tiện nghi vật chất, giải thoát sự bám víu hết cái này tới cái khác. Không phải tôi nói vậy vì ganh tị với những người khá giả. Tôi cũng không nói các bạn thật không tốt vì quá giàu trong khi người khác quá nghèo. Tôi chỉ muốn tìm ra giải đáp cho câu hỏi: "Tại sao chúng ta bất mãn?"

    Chúng ta luôn luôn có thể tìm một lý do nào đó bên ngoài để đổ thừa nó đã gây nên bất mãn cho ta. "Vì thiếu cái này, cái nọ" nhưng đấy không bao giờ là lý do thực thụ của nỗi bất an, thất vọng trong ta. Cái thực sự thiếu thốn nằm ngay trong tâm ta, và tất cả chúng ta cần phải nhận ra điều ấy.

    Sự toại ý hài lòng không tùy thuộc vào đối tượng vật chất, mà do tính giản đơn bình dị trong tâm.

    Giải thoát có nghĩa là sống giản dị hơn, thoải mái hơn. Nó không có nghĩa hoàn toàn khước từ mọi sự; mà chỉ có nghĩa là buông lơi sự bám chặt của ta, thư dãn hơn một chút. Có rất nhiều niềm vui trên đời, nhưng nếu tâm đầy lo âu chấp thủ, bám lấy của cải bạc tiền, thì tài sản chỉ có làm cho ta càng ngày càng bất hạnh. Nếu bạn không biết buông thư và hài lòng với những gì mình có, không biết thưởng thức vẻ đẹp tự nhiên của vạn vật, không biết sống giản dị, thì dù sở hữu tất cả tiền của trên thế giới bạn vẫn khốn khổ như thường.

    Vậy, từ bỏ không có nghĩa là bỏ những lạc thú. Hoàn toàn không phải thế! Toàn bộ triết lý Phật nói chung và mật tông nói riêng là, vì con người có tiềm năng hầu như vô hạn, nên phải làm sao đạt đến lạc thú tột đỉnh mà ta có thể đạt. Sự từ bỏ chân thực căn cứ trên nhận thức rằng, những lạc thú thông thường của chúng ta thực không đáng, chỉ thuộc hạng nhì. Chúng trở thành vô nghĩa khi sánh với hỉ lạc phi thường mà ta có được sau khi đánh thức những năng lượng tiềm ẩn trong ta, để hoàn thành tiềm năng cao cả nhất.

    Lạc thú giác quan chẳng những chỉ thuộc hạng nhì, mà nếu bám lấy chúng, ta lại còn không thể nào cảm thụ hạnh phúc thù thắng của Giác ngộ. Thái độ giữ chặt, vắt ép cho có được lạc thú, là một độc tố làm cùn nhụt tính trong sáng nguyên ủy của ta, làm ta ngày càng sa lầy trong thế giới giác quan, và càng cách xa bản lai diện mục. Phát triển sự từ bỏ có nghĩa là nhận chân được rằng, chính sự đam mê lạc thú giác quan đã ngăn cản ta thưởng thức hạnh phúc thù thắng viên mãn.

    Nhờ phát triển sự từ bỏ đúng cách, ta sẽ nghỉ ngơi, không còn cố theo đuổi những khoái lạc giác quan như thường lệ. Càng hiểu rõ chúng không thể đem cho ta hạnh phúc bền lâu như ta mong mỏi, ta càng buông thư không chờ đợi gì, và trở nên thực tiễn. Thay vì có thái độ quá khích như theo đuổi hoặc chạy trốn dục lạc vì mặc cảm phạm tội, ta sẽ có cảm giác thoải mái hơn. Những tình huống khó chịu không còn phiền nhiễu ta lắm. Nếu cảm thụ một điều dễ chịu, ta đón nhận nó một cách tự nhiên, thưởng thức niềm vui nó mang lại mà không đòi hỏi chờ đợi gì thêm từ nơi nó. Ta có thể buông thư kiểu ấy không phải chỉ vì ta hiểu được rằng những lạc thú ấy thực phù du, mà hơn nữa, vì ta còn bận để mắt đến một hình thái cao hơn về hạnh phúc, đó là sự đạt đến bản tính nguyên ủy của mình. Khi có một mục đích siêu việt như thế trong tâm, ta sẽ không còn háo hức với những lạc thú thoáng qua, cũng không quá buồn khổ khi mọi sự đang tuột giốc. Nói cách khác, thay vì quay về nương tựa các đối tượng giác quan để giải quyết nỗi bất hạnh của mình, ta sẽ đặt hết niềm tin tưởng vào tiềm năng nội tâm ta.


    TỪ BỎ QUY Y SAI LẠC

    Thuật ngữ Phật giáo dùng tiếng "quy y" để chỉ sự công bố niềm tin đối với bậc đạo sư, với Pháp và Tăng: "Con quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng". Ở đây tôi mượn từ ngữ này để nêu lên một điều rằng, sự "quy y" những lạc thú tạm bợ, nhất thời, chính là việc mà tất cả chúng ta đang làm vào mọi lúc, với một niềm sùng tín không khác gì tín ngưỡng tôn giáo. Ví dụ, ta có ý nghĩ "Ôi buồn quá, có lẽ tôi nên đi tắm biển." Thế là ta lái xe ra biển, nhào xuống nước bơi lội như một con cá rồi nằm phơi nắng trên bãi cát. Khi đã chán, ta nghĩ: "Bây giờ đói quá, không biết quày giải khát ở đâu?" Ta độn càng nhiều thực phẩm càng hay, ngốn ngấu những cốc cô ca, kem lạnh, sô cô la... với hi vọng tìm thỏa mãn. Ta "quy y" những thứ ấy xem như một lối thoát ra khỏi tình trạng chán chường buồn bã của mình, chỉ để cuối cùng trở thành mập phì và cháy da vì nắng.

    Khi nói đến quy y, đạo Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoạn tuyệt với cái lối đi tìm thỏa mãn một cách vô vọng ấy. Quy y chân thật là một sự thay đổi thái độ, do thấy những chuyện phù phiếm ta thường bám víu, rốt cuộc chẳng có chút giá trị nào. Khi thấy rõ bản chất "không khả ý" nơi những sự vật ta hằng theo đuổi, thì nỗi hăm hở của ta để có được chúng sẽ tự động giảm bớt, sự chấp thủ của ta cũng rút dần. Ta hết bị tung qua ném lại bởi những cơ hội chuyển biến trên đời. Ta có được khoảng trống để khởi sự động tới cái tiềm năng trong ta.
    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

  7. #7
    Lục Đẳng Avatar của splen
    Gia nhập
    Nov 2009
    Nơi cư ngụ
    Trung Sơn
    Bài gởi
    8,027

    Mặc định

    6. MỞ RỘNG CÕI LÒNG



    VÌ MÌNH HAY VÌ NGƯỜI

    Từ trước đến nay chúng ta chỉ bàn đến con đường tu tập để tự độ, đạt đến hạnh phúc viên mãn cho chính mình. Khi đã nhận ra rằng thói quen chạy theo những đối tượng ham muốn chỉ tổ làm ta vướng vào vòng bất mãn triền miên, ta càng ngày càng muốn tác động đến một tầng sâu hơn của bản ngã. Ta muốn cảm thụ một loại hạnh phúc vững bền, không bị hoàn cảnh hay thời gian làm biến chất. Nhưng sự khát khao thoát vòng lẩn quẩn "ham muốn- bất mãn" ấy chưa đủ, vì như thế là ta chỉ quan tâm đến hạnh phúc riêng mình. Có lẽ trước đây dục vọng của ta hạn cuộc vào đối tượng giác quan, bây giờ tu tập từ bỏ, thì dục vọng ấy lại hướng về mục tiêu thực chứng tiềm năng sâu xa nhất của bản ngã. Nhưng trọng tâm vẫn là cái tôi: "tôi muốn thế này, không muốn thế kia."

    Thái độ hẹp hòi ấy- chỉ bận tâm đến hạnh phúc và giải thoát riêng mình- làm cho ta không thể nào trực nhận được tiềm năng bao la của tâm thức. Lối suy tư vị kỷ như thế chỉ chú trọng sự an lạc của một cái tôi duy nhất, không thiết gì đến hạnh phúc của vô số người như ta, cùng gặp những rắc rối tương tự. Quan niệm hẹp hòi cực đoan ấy đương nhiên làm cho lòng ta khép lại. Dù không thực tình nói ra, điều ấy không khác gì nghĩ "Tôi là con người quan trọng nhất thế giới. Ai chết mặc ai, không dính gì đến tôi. Chỉ có hạnh phúc mình là đáng kể."

    Bao lâu còn tập trung toàn lực vào hạnh phúc riêng mình, dù là hạnh phúc thế tục hay siêu thế, thì ta không thể kinh nghiệm cái bao la của một tâm hồn rộng mở. Cách duy nhất để đạt cái thấy toàn diện của giác ngộ là giải thoát mình ra khỏi sự hạn cuộc của ngã chấp ngã ái này. Các bậc thánh hiền đều nói thói ích kỷ hẹp hòi chỉ làm cho tâm hồn ngột ngạt. Nếu muốn đạt đến tiềm năng cao nhất của mình- hay được vài thỏa mãn thường nhật cũng thế- ta phải khắc phục thói vị kỷ và nghĩ đến hạnh phúc người khác càng nhiều càng hay. Đây là cách duy nhất để đạt đến một tâm hồn khoáng đạt, để có được hạnh phúc lâu bền.

    Sự hồi hướng chỉ có nghĩa rằng, khi đã tạo được những năng lực tốt lành trong tâm, bạn quyết định san sẻ hạnh phúc ấy với càng nhiều người càng tốt. Theo Phật giáo, nếu không hồi hướng (nghĩ đến mọi người) thì không bao giờ ta được thỏa mãn hoàn toàn, mà vẫn cảm thấy chán chường, cô độc. Panchen Lama nói trong tác phẩm Cúng dường đạo sư: "Ích kỷ là nhân của mọi khổ đau bất mãn, nhưng thương tất cả hữu tình hơn tự thương thân và coi họ như mẹ ruột, là nền tảng cho mọi thực chứng và tri kiến. Bởi thế, xin bậc thầy gia trì cho con cái năng lực chuyển hóa thói ích kỷ trong con thành sự quan tâm đến mọi người." Đây không phải triết lý rắc rối gì, mà rất đơn giản. Muốn biết thói ích kỷ, tự thương thân là nguyên nhân của mọi rối ren bất mãn, ta chỉ cần nhìn vào những kinh nghiệm trong đời cũng đủ thấy.

    Đức Panchen lama còn khuyên ta hãy nhìn đức phật Thích ca đã làm gì với cuộc đời ngài. Ngài đã từ bỏ mọi bám víu vào tự ngã, hoàn toàn hiến mình cho hạnh phúc của chúng sinh, và hậu quả là ngài đã đạt đến hạnh phúc tột đỉnh của sự toàn giác. Rồi hãy nhìn chúng ta: chúng ta luôn bị ám ảnh bởi cái tôi, tôi, tôi- thế nhưng điều duy nhất ta có được chỉ là khổ đau và bất mãn không dứt. Đây là một sự thực đơn giản, không do thẩm quyền của đức Panchen Lama hay bất cứ ai, ta mới thấy được sự thực ấy. Bằng chứng là cuộc đời của chính ta và của tất cả mọi người. Xét kỹ ta sẽ thấy rõ là ích kỷ hẹp hòi luôn luôn dẫn đến thất vọng, còn tính vị tha mở rộng lòng với mọi người sẽ đem lại an lạc hạnh phúc.


    ĐỘNG LỰC TÂM BỒ ĐỀ

    Chúng ta đã thấy thói bám víu những đối tượng giác quan đã ngăn cản ta không cảm nghiệm được niềm hạnh phúc thỏa mãn mà tất cả chúng ta đều mong mỏi. Bởi thế, nếu thành thực muốn đạt đến cái vui thù thắng nhất của con người, thì ta cần tạo một không gian trong tâm thức bằng cách phát triển một thái độ từ bỏ. Nghĩa là, ta cần phải bỏ thói chạy theo khoái lạc mới có thể cảm nghiệm niềm vui chân thực. Cũng tương tự như thế, bao lâu còn bị ám ảnh bởi hạnh phúc riêng mình, thì ta sẽ không bao giờ nếm được hạnh phúc tối thượng của một tâm toàn giác. Nói khác đi, nếu ta mong đạt đến cứu cánh cao nhất thì ta phải đào luyện cái động lực cao nhất cho con đường tu luyện tâm. Thuật ngữ Phật giáo gọi sự khởi động lực cao nhất này là phát tâm bồ đề. Đấy là động lực thúc đẩy ta đạt đến toàn giác (bồ đề hay Phật quả) để có thể làm lợi lạc tối đa cho những người khác. Chỉ nhờ quên mình để làm việc cho hạnh phúc của tất cả hữu tình- nghĩa là đào luyện tâm bồ đề rộng mở- thì chính chúng ta mới có thể cảm thụ được hạnh phúc tối thượng.

    Thái độ vị tha của tâm bồ đề là năng lực mạnh mẽ để chuyển hóa tâm ta một cách toàn triệt. Ta có thể biết sự thực của điều này qua kinh nghiệm bản thân, đấy không phải là một điều gì ta phải tin theo một cách mù quáng. Khi bạn đã phát triển tâm bồ đề thì tất cả mọi điều tốt lành trên đời tự nhiên được cuốn hút tới nơi bạn, tuôn xuống trên bạn như mưa rào. Hiện tại, bởi vì tâm ta đầy những ý tưởng vị kỷ, nên hầu như những gì kéo đến nơi ta chỉ có thuần là bất hạnh. Nhưng khi có tâm bồ đề, thì tự nhiên chúng ta lôi cuốn đến mình những bạn tốt, thực phẩm tốt và đủ mọi thứ tốt đẹp khác.

    Như đức Dalai Lama đã từng nói, nếu bạn muốn ích kỷ, thì ít nhất cũng hãy ích kỷ một cách khôn ngoan. Điều ngài muốn nói là, nhìn theo một cách nào đó thì bồ đề tâm giống như một sự ích kỷ to lớn: khi bằng tâm từ mẫn, bạn hiến mình cho tất cả mọi người, thì bạn được trở lại nhiều hạnh phúc vô vàn lần hơn nếu bạn làm cách gì khác. Thông thường ta được quá ít niềm vui, mà nó lại dễ bị mất. Bởi thế nếu muốn được hạnh phúc thực nhiều, thì điều duy nhất cần làm là hoàn toàn hiến mình để mưu cầu an lạc cho tất cả.


    THOÁT KHỎI NGÃ ÁI

    Ta không nên nghĩ rằng bồ đề tâm là một thái độ tôn giáo, một điều gì ta phải tin tưởng và chấp nhận bằng đức tin. Nhãn quan đầy thương xót cao thượng này là hậu quả trực tiếp của tuệ giác trong sáng nhìn thấu suốt thực chất cốt tủy của chính ta và của tất cả mọi người. Khi ta cứ khăng khăng chỉ quan tâm đến mình, thì những rắc rối dường như không thể nào vượt nổi. Bận tâm đến những ý nghĩ về cái tôi, tâm ta đầy những lo âu xao xuyến như "Có lẽ tôi trông không bảnh bao lắm," "Chắc người ta sẽ không ưa tôi," "Không biết tôi có thành công không," vân vân. Mọi sự liên hệ đến cái tôi đều trở thành một vấn đề, một nỗi lo ngại, một đe dọa cho hạnh phúc an lạc của ta.

    Cách duy nhất để bứt ra khỏi sự ám ảnh điên đầu ấy về chính mình, là mở lòng ra với những người khác. Khi thực tình quan tâm đến hạnh phúc của một người nào, tự nhiên ta không còn nghĩ đến bản thân, ít nhất trong một giai đoạn. Khi sự thương xót người khác thay chỗ cho tự thương thân, thì ta sẽ khám phá được những kho tàng năng lực và trí tuệ ẩn nấp trong ta. Có thể bảo rằng chỉ cần có được tâm xót thương ấy cũng đã là một thứ kinh nghiệm về giác ngộ. Khi đã tạo được cái không gian mở rộng ấy trong tâm thức, ta trở nên rộng rãi bao la hơn nhiều. Thay vì giam hãm trong thực tại nhỏ bé của bản ngã, ta di chuyển vào một phạm vi lớn rộng hơn, quan tâm đến tất cả mọi người. Điều này tự nhiên sẽ giải thoát ta ra khỏi phần lớn những vấn đề của bản ngã.

    Trong đời, quá nhiều lúc chúng ta gây náo động về những chuyện nhỏ nhặt không đáng gì, đến nỗi làm cho "cái sảy nảy cái ung", những trục trặc nhỏ biến thành những vấn đề trọng đại. Nhưng khi ta đã phát tâm bồ đề quảng đại, thì những chuyện vặt trở thành không quan trọng, không còn quấy rầy ta được. Khi gánh nặng ngã chấp đã rơi khỏi đôi vai, ta sẽ nếm được một hương vị nhỏ của tự do giải thoát vốn thường đi kèm với giác ngộ. Những kinh nghiệm như thế thực khích lệ, cho ta thấy một cách hùng hồn giá trị thực tiễn của việc chuyển hóa tự tâm.


    NHỮNG HIỂU SAI VỀ TÂM BỒ ĐỀ

    Khi mới nghe qua về bồ đề tâm, nhiều người lầm lẫn nó với một tâm trạng ướt át cảm xúc, kiểu như "Ôi tôi mong mỏi xiết bao cho mọi người được sung sướng! Nghĩ đến sự đau khổ của họ tôi không chịu nổi." Họ cảm thấy quá thương tâm trước sự thiếu thốn cùng khổ của người khác đến nỗi họ đâm ra buồn nản. Bồ đề tâm hoàn toàn không phải thế, nó không dính dấp gì đến thái độ cuống cuồng tê liệt của tâm hồn. Trái lại, bồ đề tâm thì trong sáng thoải mái, vừa có một trí tuệ bình thản mà vừa có tâm thương xót sâu xa. Đấy là thái độ mở rộng lòng, trải tâm quảng đại ra càng nhiều càng tốt.

    Lại còn một ý tưởng sai lầm khác người ta thường có khi mới nghe giáo lý về tâm bồ đề. Khi nghe nói cần phát triển toàn vẹn tiềm năng nội tâm thì việc lợi tha mới hoàn hảo, ta tưởng hiện tại mình không thể làm gì được để giúp ích, mà phải chờ đến khi thành phật. "Trước hết tôi phải rán học nhiều năm, rồi khởi sự tu tập. Sau một thời gian tôi sẽ phát tâm từ bỏ và tâm bồ đề, rồi sau một thời gian dài khi đạt giác ngộ, tôi sẽ khởi sự giúp đỡ người khác." Thái độ suy nghĩ ấy hoàn toàn sai lạc, như thế là ta chỉ có rước lấy gánh nặng của một quan niệm chặt cứng về đường lối tu tập. Đó cũng là một cái tròng khác, một ảo tưởng khác. Nếu ta cương quyết tin vào một chương trình cố định như thế cho cuộc đời mình, thì có thể rằng chưa gì cái chết đã tới, trong khi ta chưa cất được bước nào!

    Sự thực là, trong khi luyện tâm từ, tâm bi, trí tuệ và những tri kiến khác đưa đến giác ngộ, là ta đang liên tục giúp đỡ người khác. Trước hết, chỉ cần sống một đời giản dị, tâm nguyện luôn khắc phục thói ngã ái, là chúng ta đã làm lợi lạc người khác một cách tự nhiên. Thứ nữa, mỗi giai đoạn trong quá trình tu tập từ đầu chí cuối đều có năng lực và hiệu lực riêng, tu ngang chặng nào ta đều có thể giúp đỡ người khác theo chặng ấy. Một cách thực tiễn là ta nên giúp đỡ người khác theo giới hạn hiện tại của khả năng mình. Cái ý nghĩ rằng ta không làm được gì nếu chưa giác ngộ, kỳ thực chỉ là một ý tưởng ích kỷ, vô minh, chứng tỏ hoàn toàn không hiểu tu nghĩa là gì.

    Sự hiểu lầm này có liên quan đến một thái độ ta vẫn có suốt đời. Chẳng hạn khi còn đi học, ta nghĩ; "Tôi phải học những môn đáng chán này để thi đậu, lãnh bằng cấp, kiếm được việc làm tốt, được nhiều tiền, rồi tôi sẽ sung sướng." Những sự nhấn mạnh về tương lai kiểu như "Khi nào tôi có nhiều tiền" "khi nào tôi có nhà riêng" "Khi nào tôi về hưu"...dễ dàng chuyển qua lĩnh vực tu hành: "Chờ khi nào tôi tu xong" "Chờ khi nào tôi giác ngộ"... Nhưng suy nghĩ kiểu ấy thực hoàn toàn là vọng tưởng. Giấc mơ thiếu thực tế về một tương lai không tưởng ấy làm cho những hành vi hiện tại của ta cũng không thực tế chút nào.

    Sự tu hành chân chính là việc mà ta luôn làm ngày này qua ngày khác. Hãy làm bất cứ gì có thể, với mức độ tri thức hiện tại, và cống hiến tất cả cho mọi người. Ta chỉ cần sống đời mình một cách giản dị, làm hết khả năng. Điều này sẽ vô cùng lợi lạc cho người khác; ta không cần phải đợi đến khi thành phật mới có thể khởi sự hành động.


    TU TẬP TÂM XẢ: NỀN TẢNG C-A LÒNG THƯƠNG XÓT BAO LA

    Nếu bạn có được một cái thấy trong sáng giản dị về bồ đề tâm, và cố thực hành theo đó trong cuộc sống hàng ngày, thực nghiệm bồ đề tâm bằng cách mở lòng ra với người khác trong tất cả mọi hành vi, thì cũng đã là tu tâm luyện tính. Dĩ nhiên sự phát tâm bồ đề đích thực- xem người khác hơn chính bản thân- là một thực chứng sâu xa còn lâu ta mới đạt được. Phát tâm bồ đề quảng đại không phải chỉ cần mong muốn là được, mà còn phải theo một tiến trình tu hành tuần tự.

    Theo tôi, đạo Phật hay ở chỗ đưa ra một đường lối tu tâm thực tiễn. Giáo lý không nói "Bồ đề tâm thực tuyệt vì Phật đã dạy thế." Trái lại, giáo lý cho ta những phương pháp phát triển tâm bồ đề, rồi ta sẽ tự mình thấy được nó có hiệu nghiệm không, có kỳ diệu hay không.

    Theo phương pháp ấy, trước tiên ta cần một cái tâm quân bình. Cũng như đất bằng là nền tảng để xây nhà, tâm xả - thái độ xem mọi người bình đẳng - là nền tảng để đào luyện bồ đề tâm. Những hành giả quá khứ đã kinh nghiệm rằng, khi có được tâm bình đẳng ấy, ta có thể phát triển tâm bồ đề một cách dễ dàng. Nhưng vì đã quen phân biệt quá rạch ròi giữa bạn, thù và dửng dưng, ta không dễ gì đạt đến tâm bình đẳng. Do thói ham muốn chấp thủ mãnh liệt, ta ràng buộc với người thân, tẩy chay kẻ thù, còn với vô số người mà ta cho là vô thưởng vô phạt, thì ta tảng lờ coi như không có. Khi còn bị thói thương ghét ấy chi phối, ta sẽ không bao giờ đào luyện được tâm bồ đề tôn quý trong tim ta.

    Tâm xả không phải là một khái niệm tri thức, một ý tưởng để nghiền ngẫm, mà là một tâm thái đặc biệt ta đạt được nhờ thường xuyên làm quen với nó. Muốn được tâm xả, cần phải nỗ lực lớn lao. Nói cách khác, phải luyện tâm, chuyển hóa thái độ cố hữu ta thường có đối với người khác. Ví dụ, khi gặp một nhóm người mới tại khóa thiền, tôi coi người nào cũng như người nào không phân biệt. Trước đây tôi chưa từng gặp họ - họ như những tai nấm mới mọc lên - nên cũng chưa có thì giờ để sinh sự thương ai ghét ai, tôi coi tất cả như nhau. Nếu đem tâm bình đẳng này đối xử với thân hữu, kẻ thù và những phê bình gia tôi không ưa, thì tôi có thể phát triển tâm xả đối với tất cả mọi người.

    Có một kỷ thuật thiền rất chi tiết để đào luyện một tâm quân bình như vậy. Vắn tắt, hãy tưởng tượng ba người : bạn thân nhất, kẻ thù ta ghét nhất, và người lạ. Có thể tưởng tượng bạn sau lưng, kẻ thù và người lạ trước mặt, xung quanh là tất cả hữu tình mang thân người. Khi đã vây quanh mình bằng những hình ảnh ấy, ta cẩn thận xem xét những cảm tưởng của mình đối với mỗi hạng người nói trên, và phân tích tại sao ta phân loại theo kiểu ấy.

    Khi tự hỏi tại sao trong số ấy, mình chỉ cảm thấy gần gũi một người, còn những người khác thì không, ta sẽ khám phá lý do thật nông nổi, chỉ căn cứ một vài sự tình cờ. Chẳng hạn ta gọi người đầu là "bạn" vì mỗi khi nghĩ đến họ, ta nhớ lại sự tử tế của họ đối với mình. Người thứ hai có vẻ là "thù" vì ta nhớ lại vài việc khả ố y đã làm hay đã nói với ta. Còn người thứ ba sở dĩ ta cho "xa lạ" chỉ vì ta không nhớ y đã từng giúp hay hại gì mình.

    Những lý do để có ba phản ứng khác nhau ấy thực ra rất vô lối. Nếu thành thực moi tìm trong trí nhớ, chắc chắn ta sẽ lôi ra được nhiều sự vụ khiến cho sự phân loại thành ba hạng của ta không ăn khớp cho lắm. Ta rất có thể nhớ lại kẻ thù ta chúa ghét đã từng xử tốt với ta, người ta thương yêu rất mực đã từng làm ta tức giận, còn người ta xem dửng dưng cũng đã từng là người rất thân thiết. Nghĩ kỹ, ta không thể nào tiếp tục lối nhìn thiên vị hiện tại. Và khi nghĩ mỗi hữu tình từ những đời quá khứ xa xưa đều đã có lúc tốt lúc xấu với ta hệt như những thân hữu và kẻ thù trong đời này, thì ta sẽ thấy tất cả đều giống nhau, ai cũng từng là bạn là kẻ thù và xa lạ, nhiều lần tái diễn.

    Khi luyện tâm theo cách ấy, những cảm giác thương bạn, ghét thù và dửng dưng với người lạ bắt đầu lắng dịu. Đây là dấu hiệu ta có được một mức độ xả nào đó. Hãy bám sát cảm giác ấy, nhờ thực tập, cuối cùng nó sẽ nhập tâm.

    Quán tâm xả là cách tốt nhất để phát sinh sức khỏe tâm thần. Thay vì trả một trăm Mỹ kim mỗi giờ cho y sĩ tâm bệnh, bạn hãy quán tâm xả! Nhắm mắt lại, gạt ra ngoài mọi cảm giác vật lý. Từ bỏ năm nhận thức giác quan, để tâm chìm sâu vào ý thức nồng nàn về kinh nghiệm xả. Bạn chắc chắn sẽ trở nên quân bình hơn, cởi mở và thanh thản hơn. Dù chỉ thiền quán như thế mười phút, khi xuất thiền bạn cũng gặp một thế giới khác hẳn.

    Người ta thường hiểu lầm về sự tu xả. Nhiều người tưởng nó có nghĩa là trở nên dửng dưng với tất cả mọi người. Họ sợ rằng nếu bớt ràng buộc với thân quyến bạn bè, thì tình yêu mến của họ sẽ biến mất. Nhưng khỏi cần lo điều ấy. Khi có tâm xả chân thực, thì không thể nào ta đóng cửa lòng mình lại với bất cứ một ai.

    Càng tập xem mọi người bình đẳng, không phân loại bạn, thù và dửng dưng, thì tim ta càng mở rộng, khả năng yêu thương của ta càng tăng. Nhờ thoát khỏi những thành kiến, ta có thể thấy mọi người đều mong được hạnh phúc, đều tối kị khổ đau. Từ căn bản bình đẳng này, ta có thể đào luyện từ (sự tử tế) và bi (xót thương) bao quát, để cuối cùng thực chứng trọn vẹn tâm bồ đề, cái tâm rộng mở hoàn toàn phụng hiến cho lợi lạc chúng sinh.


    TU MẬT TÔNG CẦN TÂM BỒ ĐỀ

    Phát tâm bồ đề là điều kiện tiên quyết để tu mật tông có kết quả. Theo các bậc thầy, muốn đủ tư cách tu mật tông, ta phải có động lực bồ đề tâm rất mạnh. Những hành giả mật tông chân chính mong mỏi đi con đường nhanh nhất đến giác ngộ không phải vì mong mau giải thoát, mà vì mang nặng tâm thương xót chúng sinh. Họ thấy mình càng lâu giác ngộ thì chúng sinh càng phải đợi chờ. Cỗ xe mật thừa chớp nhoáng như vậy cốt dành cho những người hết lòng muốn giúp đỡ người khác càng nhiều càng tốt, càng nhanh chóng càng hay.

    Mặc dù bồ đề tâm là điều kiện tiên quyết để thực hành mật tông, song ngược lại, tu mật tông cũng là để tăng cường tâm bồ đề.

    Có rất nhiều thần mật tông, như Quán tự tại, Văn thù, Tara... ta được làm phép để tu quán. Nhưng mục tiêu sự tu tập ấy không gì khác hơn là để phát triển, nới rộng tâm nguyện bồ đề. Chư thần mật tông không có lý do tồn tại nào khác. Tất cả pháp quán mật tông đều vì mục tiêu duy nhất là phát triển tâm bồ đề cực mạnh.

    Lấy ví dụ quán đức Quán tự tại với ngàn cánh tay. Tất cả lý do ta muốn thành một thực thể ánh sáng ngàn tay, cốt là để cứu giúp cả ngàn chúng sinh đau khổ. Chứ còn lý do nào khác để mong có nhiều tay đến thế? Nhưng nếu không thấy thoải mái khi quán mình ra như vậy, bạn có thể quán tưởng theo nền văn hóa của mình, thể hiện bản chất nội tại của mình dưới dạng Jesus, thánh Francis, Quan âm hay bất cứ vị thánh nào khác. Quan âm hay Jesus không khác gì nhau, bản chất tinh túy của các ngài là sự quên mình để phụng sự chúng sinh. Bởi vậy khi ta cố được như các ngài, nhờ thực hành mật tông, cầu nguyện hay bất cứ phương pháp nào khác, là để có thể phụng sự người khác một cách vô ngã. Sự quên mình vì người là ý nghĩa đích thực của tâm bồ đề, đấy là lý do bồ đề tâm không chỉ là điều kiện tiên quyết, mà còn là kết quả quan trọng nhất của mật tông.
    Cuộc Đời Cứ Thế Xoay Tròn – Người Người Vẫn Thế Mê Muội.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 12
    Bài mới gởi: 26-08-2013, 10:11 AM
  2. Ấn chứng cầu đạo của anh T (phái Mật Tông - Hà Nội)
    By ailatoi in forum Đạo Học - Học Đạo
    Trả lời: 27
    Bài mới gởi: 04-11-2011, 01:56 PM
  3. Kinh Văn Thù Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
    By 123456789 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 21-04-2011, 09:56 PM
  4. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 13-11-2010, 01:37 AM
  5. Mật Tông Tâm Pháp. Tập I
    By Minh Nguyệt in forum Mật Tông
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 14-09-2010, 11:29 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •