kết quả từ 1 tới 9 trên 9

Ðề tài: Quan điểm Của Phật Giáo Về Việc Tự Sát!

  1. #1

    Mặc định Quan điểm Của Phật Giáo Về Việc Tự Sát!

    Soạn dịch: Thích Nguyên Tạng
    Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu.

    Xin cho biết quan điểm của Phật giáo như thế nào về vấn đề tự sát ?

    - Kirti Tsenshab Rinpoche : Đối với người Phật tử, tự giết mình là một tội rất lớn. Vì sao ? Bởi vì có được thân người là một trong những điều khó và làm bị thương hoặc hủy diệt thân ấy là một điều sai lầm rất lớn. Tự tử thường bắt nguồn từ kết quả của những cơn nóng giận. Chỉ có giận dữ người khác mà không làm gì được nên trở lại giết chết mình. Đối với một người không theo đạo Phật cũng thế, tự tử là một hành vi đáng trách và tội lỗi. Sau khi chết, thần thức của họ không có một nơi nào khác là phải lao theo nghiệp ác của mình. Vì thế chúng ta phải nghĩ cách làm thế nào để giúp họ vượt qua những cơn khủng hoảng tinh thần và nỗi khổ đau của họ. Ở trong tình trạng rối loạn, bế tắc và tuyệt vọng, cơn khủng hoảng trầm trọng này có thể đẩy con người đến chỗ tự sát.

    - Garje Khamtul Rinpoche : Nhà Phật cho rằng tự tử là một điều tồi tệ nhất mà con người có thể làm. Đây là một hành động tiêu cực khiến cho thần thức của kẻ ấy gặp khó khăn trong việc tái sinh. Theo truyền thống của Phật giáo Tây Tạng thì có hàng trăm vị nam và nữ thần ở trong thân của chúng ta, nếu phạm vào tội tự sát, đồng thời ta cũng giết cả họ. Còn theo Phật giáo Đại Thừa thì dưới chân của mỗi sợi tóc thì có hàng ngàn tế bào sống khác ..., khi ta giết ta thì đồng thời ta cũng hủy diệt chúng.

    - Geshe Lamrimpa : Theo Phật giáo thì tự tử là một hành vi tiêu cực và là nguyên nhân khiến cho thần thức của người ấy rơi rớt vào cõi xấu.

    - Dilgo Khyentse Rinpoche : Khi một người tự tử, thần thức của họ thường phải đi theo nghiệp xấu của mình, rất có thể họ sẽ bị một ác ma bắt lấy và chiếm đoạt sinh lực. Để giúp cho những người này, các vị thầy có năng lực phải làm nhiều lễ cầu siêu đặc biệt như năm cuộc lễ và những nghi thức khác để siêu độ thần thức cho người chết.

    Trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam, có nhiều Tăng sĩ đã tự thiêu, với động cơ là làm cho thế giới chú ý đến nỗi khổ đau chiến tranh ở VN. Việc tự thiêu của họ phải chăng là hành vi tiêu cực ?

    - Geshe Lamrimpa : Các vị Bồ Tát được phép thực thi một số hành vi mà người thường cho đó là tiêu cực. Tuy nhiên, theo Phật giáo Nguyên thủy thì phản đối hành động này, vì thế tự tử luôn được xem là hành vi tiêu cực trong truyền thống này. Nếu bạn phân tích kỹ hơn, xem động cơ khiến các vị Tăng này tự thiêu là gì thì chúng ta mới phán quyết là tiêu cực hay tích cực. Trong một bộ kinh của Phật giáo có ghi lại câu chuyện về một vị Tỳ kheo trẻ bị một phụ nữ ép buộc phải lấy bà ta. Vị này biết rõ rằng nếu mình chịu lấy thì sẽ phá bỏ giới luật ; mặt khác, nếu không chịu lấy bà ta sẽ vu khống rằng mình đã có những hành vi tồi bại. Vì thế, để giải quyết tình cảnh bế tắc này mà không phạm giới, vị ấy quyết định tự kết liễu đời mình. Suy nghĩ như thế rồi, vị ấy giả vờ đồng ý và nói với bà ấy đợi một chút. Vị ấy vào phòng trong, đóng cửa và tự đâm vào cổ họng mà chết. Trước khi tắt thở, vị ấy kính lễ mười phương Tam Bảo và nói rằng : "Vì tôn kính Tam Bảo và gìn giữ giới hạnh mà con quyết định từ bỏ thân này".

    Trong kinh nói đây là hành vi tích cực và có công đức. Nếu trường hợp các Tăng sĩ Việt Nam vì động cơ muốn cứu vãn Chánh pháp của đất nước họ không lún sâu vào chiến tranh, vì một động cơ cao cả như thế thì hành vi tự thiêu của họ không thể cho là tiêu cực mà phải được xem là hành vi của các vị Bồ Tát.

    Quan điểm của Phật giáo như thế nào về việc chấm dứt mạng sống trước khi người ấy chết ? Bệnh nhân yêu cầu để cho họ chết tự nhiên bằng cách không dùng thuốc hay những phương pháp y học nào đó vì họ quá đau đớn về thể xác và tinh thần trong khi việc điều trị không mang lại kết quả.

    - Garje Khamtul Rinpoche : Trong trường hợp này rõ ràng bạn muốn đem lại lợi ích cho người khác, chấm dứt sự đau đớn của họ. Tuy nhiên, cần phải xem xét cẩn thận chứ đừng nên hành động thiếu suy nghĩ, bởi vì giết một mạng người là một tội ác, vì vậy, dù đau đớn dữ dội, thay vì để cho họ chết thì cố gắng dùng hết khả năng để điều trị cho họ, có thể cho họ uống thuốc giảm đau hoặc thuốc an thần chẳng hạn. Mặt khác, nên nhớ rằng thân người rất khó khăn mới có được. Do vậy, các nhà chữa bệnh phải suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết định việc này.

    - Geshe Lamrimpa : Người ta nên tiếp tục chữa trị để giữ mạng sống cho họ. Nếu người ấy chết với trạng thái tâm giận dữ, bất an, tiêu cực hay hôn mê thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu thai và sẽ gặp bất lợi cho đời sống tương lai của họ. Tuy nhiên, nếu cho họ uống thuốc để rút ngắn mạng sống thì cũng không thích hợp.

    Đôi khi họ muốn được chết thì sao ?

    - Geshe Lamrimpa : Họ muốn chết trước thời hạn, bởi vì họ không chịu đựng nổi sự đau đớn ngay trong đời này. Nhưng họ đâu biết rằng nỗi khổ đau ấy họ vẫn phải đối mặt trong đời sau, vì thế, tốt hơn hết nên giúp họ điều trị.

    - Dilgo Khyentse Rinpoche : Sử dụng máy móc để kéo dài mạng sống của một người không còn cơ may lành bệnh là điều vô lý và hãi hùng. Tốt hơn cứ để cho họ chết một cách tự nhiên trong bầu không khí yên bình. Khi sử dụng máy móc mà không có hy vọng hồi phục cho người bệnh thì không phải là tội ác để chấm dứt việc điều trị bằng máy. Rõ ràng không cần thiết để kéo dài sự sống nhân tạo cho họ. Theo cái nhìn của nhà Phật, thì chúng ta nên làm bất cứ điều gì có thể để trợ giúp cho người ấy đối phó với sự xuống tinh thần trong giờ phút đau đớn và sợ hãi, đem lại cho họ niềm bình an vào phút cuối của cuộc đời.

  2. #2

    Mặc định Chết Và Tái Sinh!

    CHẾT, TRUNG ẤM THÂN
    VÀ TÁI SINH

    Soạn dịch: Thích Nguyên Tạng
    Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu.


    1. CHẾT :

    Qua sự huân tập và ảnh hưởng của tam độc tham, sân, si, ác nghiệp đã hình thành, thiết lập những mối liên kết với tâm thức qua những khuynh hướng có mục tiêu. Khi con người chết, nếu có những khuynh hướng như thế sẽ tiếp tục đầu thai trong vòng sanh tử luân hồi với thân và tâm được thừa hưởng từ sự tích lũy nghiệp thiện và ác ở kiếp sống vừa qua.

    Một số người chết vì kiệt sức hoàn toàn, một số khác chết do hao mòn phước đức, chết không đúng thời điểm hay còn gọi là bất đắc kỳ tử.

    Một người chết trong ba trạng thái tâm : Thiện, Bất thiện hay Vô ký. Trong trường hợp thứ nhất, người hấp hối có thể quán tưởng về Tam Bảo hay một vị thầy đức hạnh của mình, bằng cách đó tâm của vị ấy mới phát sinh tín tâm. Hoặc người hấp hối có thể nuôi dưỡng niềm hỷ lạc vô biên để thoát khỏi sự ràng buộc của những phiền não tham dục, luyến ái, thay vào đó bằng cách quán niệm Tánh không và Tâm từ bi. Điều này có thể tự người hấp hối làm hoặc qua sự trợ niệm của người khác. Nếu những yếu tố trên được nuôi dưỡng trong thời điểm hấp hối, một người chết với tâm thanh tịnh như thế thì việc tái sinh của họ sẽ được cải thiện. Đây là cách tốt nhất để chuẩn bị cho cái chết.

    Mặt khác, ta nên tránh đánh thức, quấy nhiễu người đang hấp hối, điều đó chỉ khiến cho họ nổi giận thôi. Đôi khi người thân và bạn bè tập trung quanh tử sàng bày tỏ niềm tiếc thương và khóc lóc bi thảm, sẽ làm cho người hấp hối khởi tâm tham ái và quyến luyến. Nếu người chết với tâm niệm bất thiện như thế, sẽ đẩy họ đầu thai vào cõi xấu, điều này rất nguy hiểm.

    Trong bất cứ trường hợp nào, trạng thái tâm của người hấp hối bao giờ cũng quan trọng trước khi chết. Bởi vì ngay cả một người tu luyện tâm linh mà bị quấy rầy vào thời điểm ấy cũng làm cho phiền não phát khởi, chính trạng thái tâm này sẽ tạo ra ác nghiệp và đó là động cơ chính dẫn dắt người ấy tái sinh vào một cõi bất lợi như tam đồ ác đạo : Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh. Vì thế, điều tối quan trọng cho cả người hấp hối lẫn người sống là tránh tạo ra những tình huống gây bất lợi cho tâm thức của người chết. Chúng ta cần biết điều này.

    Những người chết trong trạng thái tâm thiện đều có cảm giác mình thoát ra ánh sáng từ trong bóng tối, loại bỏ sự khổ đau và đạt được hạnh phúc. Có nhiều trường hợp người bệnh rất nặng, đến lúc gần chết đã nói ra những điều tốt đẹp thoải mái thay vì nói đến căn bệnh của họ. Còn đối với người bệnh tuy nhẹ nhưng nỗi sợ hãi quá lớn, giai đoạn cuối cùng này tâm họ luôn hoảng hốt, nên có cảm giác mình từ nơi ánh sáng đi vào trong bóng tối và từ nơi hạnh phúc bị rơi vào cảnh khổ đau.

    Một số người, thân thể ấm áp của họ đã bị suy yếu qua cơn bệnh nên họ trở nên khao khát muốn được hơi nóng, bằng cách này củng cố thêm cho khuynh hướng tái sinh của họ vào nơi như địa ngục nóng hoặc một nơi có khí hậu nóng. Những người khác thích cái mát lạnh, thích uống nước lạnh và khiến cho khuynh hướng tái sinh của họ vào nơI như địa ngục hàn băng chẳng hạn. Vì thế điều này rất quan trọng là tránh khởi những ý niệm tham ái trong lúc chết và trực tiếp hướng tâm đến những điều thiện.

    2. THÂN TRUNG ẤM :

    Thân trung ấm (bardo/intermediate state) nên hiểu nôm na là sự sống sau khi chết trước khi thần thức người ấy đi tái sinh vào một trong sáu cõi nào đó (Trời, Người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ va Súc sinh). Thân trung ấm là thân không có xác thịt mà là lấy tư tưởng làm thân. Sau khi người ấy chết, thần thức thoát ra khỏi xác thì trụ lại ở thế giới trung gian này từ một đến bảy tuần lễ, rồi sau đó tìm kiếm một nơi thích hợp với nghiệp lực của mình mà đi tái sinh. Nếu trong thời gian này, thân trung ấm chưa tìm thấy một nơi tương ứng với mình để tái sinh thì nó lại chết đi sau mỗi bảy ngày, sau đó thần thức lại chuyển qua một thân trung ấm khác, chu kỳ sinh diệt này cứ lập lại cho đến khi thần thức đi tái sinh.

    Trong thời gian ở lại với cõi trung ấm này, vào những ngày đầu, vong linh không nhận ra mình đã chết, họ quay lại gia đình để gặp những người thân nhưng không ai biết, họ hỏi thăm từng người nhưng không ai trả lời, họ cố gắng sinh hoạt trở lại bình thường như lúc còn sống nhưng không thể được, cho đến khi họ tự phát hiện ra bóng hình không in lên đất, không phản chiếu trên gương, họ mới biết là mình đã chết. Từ đây, họ lần lượt nhớ lại những thiện và ác nghiệp mà họ đã tạo ra trong đời sống vừa qua. Tất cả những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ đau đều hiện ra trước họ như một cuộn phim suốt cuộc đời họ. Nếu vong linh là người từng tạo phước, tu tập tâm linh, thì luôn có những cảm giác yên bình, thanh thản và dễ dàng để tìm đường tái sinh vào cõi lành. Còn nếu những người từng tạo ra ác nghiệp, có đời sống tiêu cực thì luôn đối mặt với những cảnh tượng khổ đau, kinh hoàng, sợ hãi, thất vọng và chán chường. Họ lang thang một cách tuyệt vọng trong cõi trung ấm và muốn tìm một thân xác để tái sinh tương xứng với nghiệp lực của họ. Nếu thân trung ấm có tu tập và làm chủ được thần thức của mình, thì người ấy chọn lựa cho mình một cảnh giới tốt để tái sinh, ngõ hầu tiếp tục tu luyện hoặc vì hạnh nguyện cứu độ chúng sinh. Trái lại thì không có sự lựa chọn nào, mà thần thức người ấy bị buộc phải thọ sinh vào một cảnh giới nào đó khế hợp với nghiệp lực của mình, cho dù người ấy có muốn đi hay không.

    3. TÁI SINH :

    Nếu được tái sinh trở lại cõi người, thần thức của người ấy thấy cha mẹ tương lai của mình đang nằm với nhau. Nếu người ấy tái sinh thành người nam thì phát khởi tâm muốn chiếm hữu người mẹ mà rất ghét người cha. Nếu tái sinh trở thành người nữ thì ngược lại, thần thức người khởi tâm muốn giao hợp với người kia, nhưng lúc ấy họ chỉ thấy bộ phận sinh dục của người kia (nam hay nữ) mà không thể thực hiện được, do đó họ nổi giận, chính cơn giận này đã làm chấm dứt thân trung ấm của họ và thần thức của họ được chuyển qua đời sống kế tiếp, bằng cách nhập vào bào thai của người mẹ và bắt đầu với hình dáng của một con người. Khi ấy tinh cha và huyết mẹ được kết hợp với thần thức của người ấy, họ tự nhiên và dần dần phát triển thành một con người.

    Như đã nói ở trên, khi gần đến ngày tái sinh, thần thức của người ấy bị lôi kéo về nơi tái sinh tương lai, thậm chí nơi ấy là địa ngục. Ví dụ, một người đồ tể nhìn thấy một con cừu, anh ta muốn đuổi bắt và giết chết nó, nhưng lập tức anh ta thấy bóng mờ xuất hiện, nên anh ta giận dữ, cơn giận đã làm kết liễu thân trung ấm của y và thần thức của y rơi vào địa ngục hay súc sinh.

    Sự chuyển tiếp sự sống từ đời này sang đời khác là nghiệp lực. Nghiệp (karma) có một năng lực cá biệt và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cấu tạo tâm tánh của con người. Nghiệp được hình thành dưới sự tập hợp của tam độc tham, sân, si hay vô minh và ái dục. Chính vô minh (ignorance) và ái dục (desire) là cội rễ của mọi ác nghiệp. Do ác nghiệp này mà khiến cho con người trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi. Để thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử khổ đau này con người phải nổ lực tu tập đoạn diệt cho bằng được cội rễ của vô minh. Khi vô minh bị tận diệt thì ái dục cũng bị tận diệt, ái dục diệt thì sinh, lão, bệnh, tử sầu bi khổ ưu não cũng không còn, và lúc ấy con người mới thật sự thoát khỏi vòng vây của sinh tử luân hồi.

  3. #3

    Mặc định

    cho hỏi diệu hoa người hi sinh thân mình vì mục đích cao cả như tự thiêu thân có được coi là pham giới không
    A Di Đà Phật
    Đệ tử sở tạo chư ác nghiệp,
    Giai do vô thỉ tham, sân, si,
    Tùng thân, ngữ, ý, chi sở sanh,
    Nhứt thiết ngã kim giai sám hối,

  4. #4

    Mặc định

    Bạn quoccuong thân mến! để trả lời câu hỏi của bạn như sau, nếu người mà hy sinh mạng sống của chính mình cho những gì họ nghĩ rằng vì sự nghiệp cao cả và thánh thiện. Họ chấm dứt mạng sống mình bằng những biện pháp như tự thiêu thân, tự hy sinh, hoặc là chết đói. Những hành động như thế có thể được xếp vào những hành động can đảm và dũng cảm. Thì theo quan điểm của Phật giáo, những hành động như thế không được xem như có tội. Tuy nhiên, trạng thái tâm thức trong lúc tự tử sẽ dẫn đến khổ đau nhiều hơn, khi giai đoạn gần kề với cái chết, trong quá trình tự thiêu xác thân thì thần thức lúc ấy sẽ trở nên hoảng loạn và sợ hãi trong biển lửa vì thế thần thức đau đớn sẽ vẫn còn ở lại, sau thân xác đã bị diệt vong. Và nếu bàn rộng thêm về thần thức sau khi đã chết và đã lìa xa xác thân thì đã có nói ở phần “THÂN TRUNG ẤM ”, bạn mến!

    “Thân trung ấm (bardo/intermediate state) nên hiểu nôm na là sự sống sau khi chết trước khi thần thức người ấy đi tái sinh vào một trong sáu cõi nào đó (Trời, Người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ va Súc sinh). Thân trung ấm là thân không có xác thịt mà là lấy tư tưởng làm thân. Sau khi người ấy chết, thần thức thoát ra khỏi xác thì trụ lại ở thế giới trung gian này từ một đến bảy tuần lễ, rồi sau đó tìm kiếm một nơi thích hợp với nghiệp lực của mình mà đi tái sinh. Nếu trong thời gian này, thân trung ấm chưa tìm thấy một nơi tương ứng với mình để tái sinh thì nó lại chết đi sau mỗi bảy ngày, sau đó thần thức lại chuyển qua một thân trung ấm khác, chu kỳ sinh diệt này cứ lập lại cho đến khi thần thức đi tái sinh.

    Trong thời gian ở lại với cõi trung ấm này, vào những ngày đầu, vong linh không nhận ra mình đã chết, họ quay lại gia đình để gặp những người thân nhưng không ai biết, họ hỏi thăm từng người nhưng không ai trả lời, họ cố gắng sinh hoạt trở lại bình thường như lúc còn sống nhưng không thể được, cho đến khi họ tự phát hiện ra bóng hình không in lên đất, không phản chiếu trên gương, họ mới biết là mình đã chết. Từ đây, họ lần lượt nhớ lại những thiện và ác nghiệp mà họ đã tạo ra trong đời sống vừa qua. Tất cả những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ đau đều hiện ra trước họ như một cuộn phim suốt cuộc đời họ. Nếu vong linh là người từng tạo phước, tu tập tâm linh, thì luôn có những cảm giác yên bình, thanh thản và dễ dàng để tìm đường tái sinh vào cõi lành. Còn nếu những người từng tạo ra ác nghiệp, có đời sống tiêu cực thì luôn đối mặt với những cảnh tượng khổ đau, kinh hoàng, sợ hãi, thất vọng và chán chường. Họ lang thang một cách tuyệt vọng trong cõi trung ấm và muốn tìm một thân xác để tái sinh tương xứng với nghiệp lực của họ. Nếu thân trung ấm có tu tập và làm chủ được thần thức của mình, thì người ấy chọn lựa cho mình một cảnh giới tốt để tái sinh, ngõ hầu tiếp tục tu luyện hoặc vì hạnh nguyện cứu độ chúng sinh. Trái lại thì không có sự lựa chọn nào, mà thần thức người ấy bị buộc phải thọ sinh vào một cảnh giới nào đó khế hợp với nghiệp lực của mình, cho dù người ấy có muốn đi hay không”.
    Last edited by DieuHoa; 13-04-2008 at 11:19 PM.

  5. #5

    Mặc định

    phattu còn thắc mắc. Sau khi chết đi thần thức (linh hồn) tái sinh (đầu thai). Phattu cũng đã được đọc được nghe những câu chuyện mà nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng (PTBH) nói chuyện với các linh hồn đã chết từ lâu. Vậy xin hỏi khi đã đi tái sinh rồi thì còn đâu những linh hồn để PTBH nói chuyện nữa. Những linh hồn đó còn nói họ vẫn ở với những người sống cùng thời với họ. Vậy phải chăng họ cũng kô được tái sinh? Thân xác là thứ tạm bợ vậy cho phattu xin hỏi tại sao khi có 1 gia đình nào đó cất nhà hay làm việc gì đó ảnh hưởng đến mộ phần của những người đã chết thì thường gặp tai hoạ, phải chăng những linh hồn đó vẫn mãi ở lại với thân xác đã chết, đã mùn thành đất của mình? Vậy họ tái sinh ra sao? hay là họ tự phân thần thức (linh hồn) mình ra làm 2. Còn ngu muội xin được chỉ giáo.

  6. #6

    Mặc định

    Mình là quốc bảo chứ không phải quốc cường lộn rồi .
    Bạn phật tử thân mến những linh hồn đó phần nhiều còn chấp nhất sự sống chết họ coi trong thân xác không chiệu ra đi họ sẻ thành ngạ quỷ trong 6 nẻo luân hồi đã nêu trên mình sẻ kể cho bạn nghe một câu truyện
    Có một vi tăng tu hành rất tinh tấn ông giử giới rất nghiêm nên moi người ai cũng kính trọng một thời gian sau ông bị bệnh năng bác sỉ nói ông bị bệnh nặng cần được tẩm bổ các đệ tử của ông rất thương ông nên đã làm một bát canh gà cho ông uống nhưng không cho ông biết là canh gì . Sau khi uông song ông cảm thấy khỏe lai nên hỏi các đệ tử đã cho ông uống gì các đệ tử vui quá trả lời thật lòng đó là cháo gà ông tức tối rồi tắc thở Sau khi ông chết ông trở thành hồn ma cúa bay đi bay lai cac bài thơ "bi năm liệt giường phải húp cháo xương " nó chung câu thơ đó có 2 câu đọc thành thơ nhưng mình quên rồi nhưng ý nghĩa của nó là như vậy các đệ tử của ông sợi quá lần lược bỏ đi ngôn chà bi bỏ hoang
    Một thời giang sau có một vi tăng đi ngan qua và nghe được câu truện của vị tăng nọ quyết định ngủ qua đêm sau khi ông đến chùa thì khi nủa đêm ông cũng thấy con ma đó và cũng ngâm câu thơ đó vi tăng này liền đọc 2 câu thơ khác để trả lời vớ con ma
    "tam nghiệp hằng thanh tịnh
    hồn mau về tây phương"
    Từ đó trở đi người ta không còn thấy con ma đó nữa có lẻ ông đã được vãng sanh
    Qua câu truyện trên cho ta thấy tu hành mà chấp tâm sẻ bị vấp nga ngay nhưng cần nhớ mọi chuyện đều hơ ảo ông húp cháo gà ông lo sợ mất hét công phu tu tâp của mình nên chấp nhức ra đi trong sự đau khổ cảm thấy đày tội lổi nên nhớ ông đã tu hành tinh tấn nhưng ông húp bát cháo cũng đau có sao vì ông không có ý thân khẩu Ý hoàn toàn trong sạch nếu tội lỗi thì thuộc về các đệ tử . Hy vọng qua câu truyện trên các đạo hữu rút ra nhiều ý nghĩa
    Nam mô A di Đà Phật
    Đệ tử sở tạo chư ác nghiệp,
    Giai do vô thỉ tham, sân, si,
    Tùng thân, ngữ, ý, chi sở sanh,
    Nhứt thiết ngã kim giai sám hối,

  7. #7

    Mặc định

    diệu hoa bạn có biết hòa thượng thích Quản Đức tự thiêu thân đau có đau đớn gì lại còn bình thản những gì ông nói trước khi thiêu đều linh ấn và ông còn lưu lai trái tim xá lợi bất diệt qua đó chứng tỏ ông đã được vãng sanh
    Nam mô A di đà phật
    Đệ tử sở tạo chư ác nghiệp,
    Giai do vô thỉ tham, sân, si,
    Tùng thân, ngữ, ý, chi sở sanh,
    Nhứt thiết ngã kim giai sám hối,

  8. #8

    Mặc định

    Bạn quocbao thân mến! Trước hết Dieuhoa thành thật xin lỗi bạn vì đã gọi nhầm tên với bạn quoccuong. Thứ đến là bạn có hỏi “hòa thượng thích Quảng Đức tự thiêu thân đau có đau đớn gì lại còn bình thản”, nếu bạn quocbao đọc kỹ hơn với phần “Thân Trung Âm” với đoạn như sau “Nếu vong linh là người từng tạo phước, tu tập tâm linh, thì luôn có những cảm giác yên bình, thanh thản và dễ dàng để tìm đường tái sinh vào cõi lành”, thì với việc HT Thích Quảng Đức chính là một Thiền sư, và người đã có “tu tập tâm linh” rồi bạn mến. Trong quá trình thiêu xác của Ngài thì thần thức của Ngài đã vượt ra khỏi cái xác thân đau đớn, không hoảng loạn và không sợ hãi trong biển lửa, dĩ nhiên rằng Ngài đã được vãng sanh “Nếu thân trung ấm có tu tập và làm chủ được thần thức của mình, thì người ấy chọn lựa cho mình một cảnh giới tốt để tái sinh, ngõ hầu tiếp tục tu luyện hoặc vì hạnh nguyện cứu độ chúng sinh”.

    Và sau đây là lời cảm nhận của một phóng viên người Mỹ David Halberstam đã viết trên tờ New York Times trước sự chứng kiến việc tự thiêu xác của HT Thích Quảng Đức, bạn mến!


    David Halberstam.

    “Tôi lại thấy cảnh đó thêm lần nữa, dù một lần là đã đủ. Các ngọn lửa lan ra từ một con người; thân thể ông từ từ cháy khô và teo nhăn lại, đầu của ông đen dần và hóa thành than. Mùi cháy khét của thịt người tỏa vào trong không khí; con người có thể cháy nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Phía sau, tôi có thể nghe tiếng khóc của những người Việt giờ tụ tập tại đó. Tôi đã quá sốc để có thể khóc, quá bối rối để có thể ghi chép lại hay đặt câu hỏi, quá ngỡ ngàng để có được ngay cả ý tưởng... Khi cháy, ông ấy không hề cử động một bắp thịt nào, không hề bật ra một âm thanh nào, sự điềm tĩnh của ông thật trái ngược với cảnh những người khóc than xung quanh”.

    “I was to see that sight again, but once was enough. Flames were coming from a human being; his body was slowly withering and shriveling up, his head blackening and charring. In the air was the smell of burning human flesh; human beings burn surprisingly quickly. Behind me I could hear the sobbing of the Vietnamese who were now gathering. I was too shocked to cry, too confused to take notes or ask questions, too bewildered to even think.... As he burned he never moved a muscle, never uttered a sound, his outward composure in sharp contrast to the wailing people around him”.

    Tóm tắt các hoạt động chính.
    Sau đây là bảng tóm lược các hoạt động của Hòa thượng Thích Quảng Đức (theo tài liệu của TS Lê Mạnh Thát)

    1897 Thích Quảng Đức chào đời
    1903 Đến ở với tổ và đổi tên là Nguyễn Văn Khiết
    1907 Tổ Hoằng Thâm đổi chùa Thánh Kinh làm chùa Long Sơn, đúc đại hồng chung và đem 6 mẫu ruộng chùa Long Sơn cúng cho chùa Long Hoa và tổ đình Linh Sơn
    1914 Được gởi vào chùa Linh Sơn ở Cam Ranh tham học với thiền sư Thiện Tường
    1917 Làm tri sự chùa Long Sơn
    1925 Vào tổ đình Thiên Bửu, tham học với thiền sư Thanh Chánh Quảng Đạt Phước Tường (1867-1932)
    1927 Nhập thất tại Núi Đất
    1933 Trụ trì chùa Thiên Ân
    1935 Dựng chùa Thiên Lộc tại Núi Đất
    1936 Trụ trì chùa Thiên Lộc cùng năm làm chứng minh cho hội Phật học Ninh Hoà và có thời gian đến trụ trì chùa Khánh Long
    1937 Khai sơn chùa Long Hà
    1940 Trụ trì chùa Linh Sơn
    1941 Trùng tu tổ đình Linh Sơn và chứng minh cho chùa Bảo Sơn dựng lại
    1942 Chủ trì đón nhận bằng sắc tứ tổ đình Linh Sơn
    1944 Trùng tu chánh điện tổ đình Linh Sơn và mở rộng đất tổ đình.


    P.s: Trong lúc thiêu, trái tim ông co lại nhưng vẫn còn nguyên. Nó được xem như là một thánh vật và được cất giữ cẩn thận.

    Đền thờ ông hiện còn ở Huế.


    Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn ngày 11 tháng 6 năm 1963 để yêu sách bình đẳng tôn giáo.
    Last edited by DieuHoa; 14-04-2008 at 04:43 PM. Lý do: Insert photos

  9. #9

    Mặc định Đóng góp một chút với Dieuhoa

    Sự bí ẩn kỳ lạ của một trái tim.

    Khi mới đọc qua tiêu đề này, mong các bạn hiểu cho đây là câu chuyện của một trái tim vật chất thực thụ - một bộ phận quan trọng trong cơ thể con người - chứ không phải một trái tim hiểu theo nghĩa của hình tượng nghệ thuật - hoặc trái tim tình cảm văn học mà ta vẫn thường nghe.

    Câu chuyện sau đây chúng tôi xin nói về trái tim của một nhà sư.
    Tính đến nay, kể từ khi trái tim của vị tu hành Thích Quảng Đức ngừng đập giữa đường phố Sài Gòn trong ngọn lửa, phản đối Mỹ - Diệm đã gần 40 năm. Trong suốt thời gian ấy cho đến nay không ít những câu chuyện đẹp đẽ ca ngợi về ngọn lửa Thích Quảng Đức – ngọn lửa đã đi vào lịch sử đấu tranh của giới Phật Giáo Việt Nam chống xâm lược. Ngài đã được người đời và trong Phật Giáo tôn vinh là Bồ Tát Thích Quảng Đức.

    Ngài sinh năm 1897 tại Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, một địa phương nổi tiếng có nhiều nắng và gió, nên nhân dân còn gọi là sứ Tụ Phong. Mới bước vào tuổi lên bảy, ngài đã xuất gia học đạo, để rồi bốn chục năm sau, rời vùng trầm hương Khánh Hòa, trên con đường hóa đạo, ngài đi sâu vào các vùng Sài Gòn – Gia Định, Bà Rịa, Long Khánh, Đồng Tháp…Những năm tháng ấy, trong sự mến mộ của đạo hữu, ngài còn sang cả đất nước Chùa Tháp để nghiên cứu kinh điển Pali. Một chặng đường hành đạo của một vị tu hành. Bồ Tát Thích Quảng Đức đã có công xây dựng và trùng tu 31 ngôi chùa. Ngôi cuối cùng – nơi ngài chính thức trụ trì là chùa Quán Thế Âm, mang số 68 đường Nguyễn Huệ (Phú Nhuận – Sài Gòn) nay là số 90, một con đường vinh dự được mang tên của ngài: đường Thích Quảng Đức.

    Nhắc đến tên tuổi của ngài, giới Phật giáo nói riêng và người dân từ Nam chí Bắc nói chung thật khó quên hình ảnh ngày ấy, Sài Gòn đầy mật vụ, cảnh sát và binh lính, nhưng đã bùng lên ngọn lửa tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức.
    Đó là hình ảnh của ngày 11 tháng 6 năm 1963, giữa ngã tư đường Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt (nay là ngã tư Nguyễn Đình Chiểu - Cách mạng tháng tám). Nơi đây nhà sư Thích Quảng Đức đã tự tay mình tẩm xăng ướt đẫm mấy lớp áo cà sa – Ngài từ trên xe bước xuống, ung dung, điềm tĩnh theo tư thế ngồi thiền và sau đó tự tay quẹt lửa vào người, trước sự hiện diện của trên một ngàn vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni, Phật tử và nhiều giới đồng bào trong lòng thành phố. Ngọn lửa thiêng liêng ấy mỗi lúc một bốc cao phủ kín thân thể của vị tu hành, nhưng ngài vẫn an nhiên tĩnh tọa. Lưng của ngài vẫn thẳng như pho tượng được đúc bằng đồng. Ngài rành rọt nhắc lại các tín đồ:
    “ Tôi tha thiết kêu gọi các Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni và Phật tử hãy đoàn kết, nhất trí, hy sinh để bảo tồn Phật pháp”.

    15 phút sau, khi ngọn lửa đã làm tròn phận sự, ngài gật đầu chào tạm biệt, trên tay còn kiết ấn Cam lộ. Tất cả mọi người có mặt đều khôn cầm nước mắt…
    Thân xác của ngài được rước về quàn chín ngày tại chùa Xá Lợi. Sau gần bốn mươi giờ hỏa táng, xương thịt của ngài đã trở về với tro bụi – nhưng kì lạ thay: Trái tim của ngài vẫn còn nguyên vẹn!

    Sự kiện lạ kì hiếm có này làm mọi người vô cùng kinh ngạc…
    Khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng – năm 1975, trái tim đó được chuyển gửi và gìn giữ ở ngân hàng nhà nước Việt Nam (thành phố Hồ Chí Minh) và sau đó được đưa ra Hà Nội để các nhà khoa học làm công việc nghiên cứu. Với người dân thì trái tim Thích Quảng Đức vẫn là điều bí ẩn./.
    心燈

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •