● Đại Đạo-Sư (Grand Master), là Hoạt-Phật (hay Phật-Sống)!
● Đại Đạo-Sư (Grand Master), là Hoạt-Phật (hay Phật-Sống)!
● Đại Đạo-Sư (Grand Master), là Hoạt-Phật (hay Phật-Sống)!
https://ohay.pro.vn/phat-giao-tay-tang-vao-viet-nam/
● Đại Đạo-Sư (Grand Master), là Hoạt-Phật (hay Phật-Sống)!
● Đại Đạo-Sư (Grand Master), là Hoạt-Phật (hay Phật-Sống)!
● Đại Đạo-Sư (Grand Master), là Hoạt-Phật (hay Phật-Sống)!
https://ohay.pro.vn/phat-giao-tay-tang-vao-viet-nam/
Last edited by phoquang; 02-01-2026 at 03:30 PM.
Liệt Kê Các Bộ Đà La Ni
Đường Bất Không dịch,
Bản Việt dịch của Huyền Thanh
*
_ Bản Kinh Du Già đều có 10 vạn bài Kệ gồm 18 Hội.Hội Kinh đầu tên là Nhất thiết Như Lai chân thật nhiếp . Kinh ấy nói 5 Bộ
.) Phật Bộ (Buddhà Kulàya): Tỳ Lô Giá Na Phật là Bộ Chủ
.) Kim Cương Bộ (Vajra Kulàya): A Súc Phật là Bộ Chủ
.) Bảo Bộ (Ratna Kulàya): Bảo Sinh Phật là Bộ Chủ
.) Liên Hoa Bộ (Padma Kulàya): A Di Đà Phật là Bộ Chủ
.) Yết Ma Bộ (Karma Kulàya): Bất Không Thành Tựu Phật là Bộ Chủ
5 Bộ ấy, mỗi mỗi đều có 4 vị Bồ Tát dùng làm quyến thuộc được an bày phía trước, bên phải, bên trái, phía sau.
4 vị Nội Cúng Dường đều thuộc 4 Bộ, thứ tự nên biết
4 vị Ngoại Cúng Dường cũng thuộc 4 Bộ
4 cửa có 4 vị Câu, Sách, Tỏa , Linh
4 Bộ thứ tự nên biết
Lại bên ngoài có 5 loại Thiên, mỗi một loại có 4 Thiên, tổng cộng có 20 Thiên với Phi Hậu
Lại có 5 loại thành 20. Năm loại là:
a) 4 Thiên trên Thượng Giới
b) 4 Thiên trụ Hư Không
c) 4 Thiên dạo Hư Không
d) 4 Thiên thuộc Địa Cư (Ở trên mặt đất)
e) 4 Thiên thuộc Địa Cư Để (ở dưới đáy hàng Địa Cư)
_ Du Già Bộ Mạn Trà La có 4
1_ Kim Cương Giới
2_ Giáng Tam Thế
3 _ Biến Điều Phục
4 _ Nhất thiết Nghĩa Thành Tựu
4 Mạn Trà La này biểu thị cho 4 Trí Bồ Tát (Jnõàna Bodhisatva) bên trong của Tỳ Lô Giá Na Phật là: Kim Cương, Quán Đỉnh, Liên Hoa, Yết Ma được xem là 4 Trí.
Lại 4 Trí là: Đại Viên Kính Trí, Bình Đẳng Tính Trí, Diệu Quán Sát Trí, Thành Sở Tác Trí cũng được gọi là 4 Trí
Lại mỗi một Mạn Trà La xây dựng 6 Mạn trà La là: Đại Mạn Trà La, Tam Muội Gia Mạn Trà La, Pháp Mạn Trà La, Yết Ma Mạn Trà La, Tứ Ấn Mạn Trà La, Nhất Ấn Mạn Trà La. Riêng Giáng Tam Thế Mạn Trà La có đủ 10 Mạn Trà La , ngoài ra đều có 6 Mạn Trà La
_ Tất cả Ấn Khế, tất cả Pháp Yếu dùng 4 Trí Ấn nhiếp hết
Đại Trí Ấn dùng 5 Tướng thành Bản Tôn Du Già
Tam Muội Gia Trí Ấn (Dùng 2 tay hòa hợp Kim Cương Phộc phát sinh thành Ấn)
Pháp Trí Ấn (Tên là Bản Tôn Chủng Tử Pháp Thân Tam Ma Địa , là Văn Nghĩa của tất cả Khế Minh)
Yết Ma Trí Ấn (Dùng 2 tay nắm Kim Cương Quyền như cầm giữ vật khí tiêu xí, như hình uy nghi của thân)
_ Lại trong Du Già có 4 loại mắt
Pháp Nhãn (Kính Aùi)
Xí Thịnh Nhãn (Câu Triệu)
Phẫn Nộ Nhãn (Giáng phục Tâm, giết độc phiền não)
Từ Bi Nhãn (Trừ độc, ngưng oán địch)
_Lại trong Nhất Thiết Như Lai Giáo Tập Du Già có 125 loại Hộ Ma y theo 25 loại lò. Ở trong lò Hộ Ma thì Khế Ấn, Tiêu Xí đều khác nhau. Sở cầu mau chóng thành biện, thành tựu quả báo Thế Gian Xuất Thế Gian
Các Hội linh động lan tỏa Văn Nghĩa hơi nhiều, vì sợ văn luộm thuộm nên lược chỉ phương góc
_ Y theo Kinh Tỳ Lô Giá Na Thành Đạo thì Đại Bản có 10 vạn bài Kệ, có thể có 300 quyển Kinh. Lược Bản đã dịch ở Đời Đường có 7 Quyển, trong Kinh này nói: 160 Tâm, 10 câu Duyên Sinh với 5 Luân là Địa Luân, Thủy Luân, Hỏa Luân, Phong Luân, Không Luân.
Trong Kinh này có 2 loại Tu Hành
.) Tâm Bồ Đề làm Nhân, Đại Bi dùng làm Căn Bản (gốc rễ), Phương Tiện làm Cứu Cánh
.) Y theo Thắng Đế, Thế Tục Đế
*) Nếu y theo Thắng Nghĩa tu hành thì xây dựng Pháp Thân Mạn Trà La. Vì thế trong Kinh này nói:” Trước tiên xưng Mạn Trà La trong Hư Không. Vì thế nên quán Pháp Thân của Bản Tôn xa lìa hình sắc giống như Hư Không, trụ Tam Ma Địa như vậy”
*) Nếu y theo Thế Tục Đế tu hành thì y theo 4 Luân dùng làm Mạn Trà La Bản Tôn
– Nếu Thánh Giả màu vàng thì trụ ở Địa Luân Mạn Trà La (Đàn hình vuông gọi là Kim Luân)
– Nếu Thánh Giả màu trắng thì trụ ở Thủy Luân Mạn Trà La (Đàn hình tròn gọi là Thủy Luân)
– Nếu Thánh Giả màu đỏ thì trụ ở Hỏa Luân Mạn Trà La (Đàn hình Tam Giác)
– Nếu Thánh Giả màu xanh hoặc màu đen thì trụ ở Phong Luân Mạn Trà La (Đàn hình Bán Nguyệt)
Đại Mạn Trà La đặt ở giữa Đài hoa sen 8 cánh. Ở trong Đài , Cánh đặt 5 vị Phật, 4 vị Bồ Tát. Bên ngoài Mạn Trà La lại có 3 loại Mạn Trà La
1) Nhất Thiết Như Lai Mạn Trà La
2) Thích Ca Mâu Ni Mạn Trà La
3) Văn Thù Sư Lợi Mạn Trà La
Mạn Trà La này có tên là Đại Bi Thai Tạng Mạn Trà La . Đệ Tử thọ Pháp Quán Đỉnh. Vì Tiểu Mạn Trà La rất vi diệu ủy khúc nên Bộ Sở khác chẳng thể thay thế. Trong đây tu hành kiên giữ 2 loại Pháp là Sự và Lý
Trong Kinh này , Hộ Ma Hỏa Thiên có 40 loại, tựu trung có 12 loại lửa là tối thắng. Hình lò với cây: loại có nhựa, loại có quả, Khổ Luyện thì chỗ dùng chẳng giống nhau. Đông, Tây, Nam, Bắc cầu nguyện đều khác. Hộ Ma trong ngoài cũng y theo 5 Luân. Cầu 4 loại việc mau chóng thành tựu: Tức Tai, Tăng Ích, Giáng Phục, Kính Aùi. Việc thỉnh Hỏa Thiên mỗi mỗi chẳng giống nhau, cần biết thứ tự: Tịch tĩnh, hy di (vui vẻ) phẫn nộ, hỷ nộ
_ Như trong Giáo của Kinh Tô Tất Địa thì y theo 3 Bộ là:
Phật Bộ (Nhóm 5 Phật Đỉnh)
Liên Hoa Bộ: có rất nhiều chủng loại
Kim Cương Bộ: Nhóm Kim Cương Tát Đỏa biến hóa vô lượng
– Có 3 loại Tam Muội Gia là: Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Kim Cương Bộ
– Có Tâm Chân Ngôn của 3 Bộ
.) Nhĩ na nhĩ ca (Jina jik)
.) A lô lực ca (Arolik)
.) Phộc nhật-la địa lực (Vajra Dhrïk)
– Bộ Chủ có 3 loại:
.) Phật Bộ Chủ là Kim Luân Phật Đỉnh
.) Liên Hoa Bộ Chủ là Mã Đầu Quán Tự Tại
.) Kim Cương Bộ Chủ là Tam Thế Thắng Kim Cương
-) 3 loại Bộ Mẫu
.) Phật Bộ dùng Phật Nhãn làm Bộ Mẫu
.) Liên Hoa Bộ dùng Bạch Y Quán Tự Tại làm Bộ Mẫu
.) Kim Cương Bộ dùng Mang Ma Kê Bồ Tát làm Bộ Mẫu
-) 3 loại Minh Phi:
.) Phật Bộ dùng Vô Năng Thắng Bồ Tát làm Minh Phi
.) Liên Hoa Bộ dùng Đa La Bồ Tát làm Minh Phi
.) Kim Cương Bộ dùng Tốn Na Lợi Bồ Tát làm Minh Phi
-) 3 loại Phẫn Nộ:
.) Bất Động Tôn là Phẫn Nộ của Phật Bộ
.) Phẫn Nộ Câu là Phẫn Nộ của Liên Hoa Bộ
.) Quân Trà Lợi là Phẫn Nộ của Kim Cương Bộ
_) Có 4 loại Giới:
.) Kim Cương Quyết Địa Giới
.) Kim Cương Tường Bát Phương Giới
.) Kim Cương Võng Thượng Phương Giới
.) Mật Phùng A Tam Mãng Nghi Nễ Giới
Lại có 4 loại Giới Kết Hộ Mạn Trà La:
.) Kim Cương Sách: hộ phương Đông
.) Kim Cương Tràng: hộ phương Tây
.) Kim Cương Ca Lợi: hộ phương Nam
.) Kim Cương Phong: hộ phương Bắc
Lại có Đại Giới tên là Thương Yết La (‘Sanõkara) ví như để nhóm Phật Đỉnh Luân Vương lân cận thì chẳng bị chướng ngại.
Trong Kinh này, người Tu Hành thành tựu Tất Địa Thế Gian thì y thao Thời, y theo Xứ
.) Thời là 3 thời
.) Xứ là ở trước Tượng Bản Tôn
_) 5 loại Cúng Dường ngoại trừ Ứ Già là:
.) Đồ Hương (Hương xoa, dầu thơm)
.) Hoa Man (vòng hoa)
.) Thiêu Hương (Hương đốt)
.) Aåm Thực (Thức ăn uống)
.) Đăng Minh (Đèn sáng)
_ Màu trắng (phương Bắc), màu vàng (phương Đông), Màu đen (phương Nam) , Màu đỏ (phương Tây) tùy theo Tức Tai, Tăng Ích, Giáng Phục, Kính Ái … cần phải biết điều mong cầu.
_ Sự thành tựu có 18 loại vật tùy thân, rộng như Kinh nói
_ 3 Thời tắm gội, 3 Thời thay áo
_ Một tháng chia làm 4 Thời
.) Từ ngày 1 đến ngày 8 nên làm Tức Tai
.) Từ ngày 9 đến ngày 15 nên làm Tăng Ích
.) Từ ngày 16 đến ngày 23 nên làm Giáng Phục
,) Từ ngày 24 đến ngày cuối cùng của tháng nên làm Pháp Kính Aùi
_ Kinh Ngục Tứ Gia (Gùhya sùtra _ Bí Mật Kinh) cũng đồng với Tô Tất Địa nói, phân bày Mạn Trà La với Pháp Tĩnh Địa. Trong Kinh này rất vi tế nên chẳng thể chép đủ.
_ Lại có 8 Phương Hộ Trì Đế Vương Doanh Tòng Binh Pháp. 5 nước ở Thiên Trúc tin kính Phật Pháp thâm sâu nên đối với Đế Vương có thể truyền Kinh Tô Bà Hô Đồng Tử (Subàhu Pariprïcchà Sùtra _ Diệu Tý Sở Vấn Kinh)
Trong Kinh này nói Người biện cầu thành tựu, Hộ Ma , Chày… vô lượng loại chẳng đồng. Chày có: Ngũ Cổ, Tam Cổ, Nhất Cổ…dài 16 ngón tay là Bậc Thượng, 12 ngón tay là Bậc Trung, 8 ngón tay là Bậc Hạ. Kinh này nói:” Chẳng cầm Chày Kim Cương thì người Niệm Tụng không nương vào đâu để thành tựu”
Kim Cương Linh (Cái chuông Kim Cương) là nghĩa của Bát Nhã Ba La Mật Đa
Chày Kim Cương là nghĩa của Tâm Bồ Đề hay hoại Nhị Biên , Đoạn, Thường để khế hợp với Trung Đạo.
Có 16 vị Bồ Tát cũng biểu thị cho 16 Không , làm Trung Đạo
Hai bên đều có Ngũ Cổ là nghĩa của 5 Phật, 5 Trí cũng biểu thị cho 10 Ba La Mật hay nghiền nát 10 loại phiền não, thành 10 loại Chân Như , liền chứng 10 Địa, chứng Kim Cương Tam Ma Địa, được Trí Kim Cương, ngồi Tòa Kim Cương cũng là Nhất Thiết Trí Trí, cũng gọi là Như Lai Tự Giác Thánh Trí. Nếu chẳng tu Tam Ma Địa này mà được thành Phật thì không có điều ấy.Vì sợ văn phiền phức nên không thể nói rộng hơn. Nếu giải thích rộng thì hết kiếp cũng chẳng nói hết được.
_ Kinh Đát Lị Tam Muội đồng với Tỳ Lô Giá Na Tập Hội. Hết thảy Thánh Chúng tu hành Giáo Pháp này thành tựu Tự Tính
Trong Giáo này, người Tu Hành chỉ trụ Tâm Bồ Đề, phát chí nguyện Đại Bi, chẳng bỏ Giới Chúng Sinh vô tận, việc chẳng nên làm thì chẳng làm, việc chẳng nên tạo thì chẳng tạo, việc chẳng nên ăn thì chẳng ăn. Nếu lỡ làm thì phạm Tam Ma Gia (Samaya _ Bản Thệ).
Kinh này nói tụng Đại Luân Kim Cương Chân Ngôn thì chẳng nhiễm các tội lỗi…Dùng làm phương tiện thì đời này mau chóng thành tựu tất cả Chân Ngôn.
Trong Kinh này, nhóm Bất Động Tôn có 42 vị Đồng Bộc Sứ Giả của Như Lai.” Nếu Bồ Tát tu Hạnh Chân Ngôn giữ gìn vững chắc Tâm Bồ Đề thì chúng tôi thừa sự cúng dường ủng hộ, ăn thức ăn dư thừa của người tu hành cho đến khi người ấy đến Vô Thượng Bồ Đề. Các loài gây chướng, Tỳ Na Dạ Ca chẳng được dịp thuận tiện hãm hại và người ấy mau chứng Vô Thượng Bồ Đề”
https://phatphapungdung.com/phap-bao...ni-168821.html
LIÊN HOA VĂN TẬP
Tạp chí Liên Hoa (Liên Hoa Văn Tập)
Giáo Hội Tăng Già Trung Phần
Nhà xuất bản Liên Hoa Tùng Thư 1955
https://thuvienhoasen.org/a30422/tap...n-hoa-van-tap-
Giáo lý về Phật Dược Sư
Khenchen Palden Sherab Rinpoche và Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche
https://lienhoaquang.com/thu-vien__k..._tuequang.html
https://thuvienhoasen.org/a26016/gia...e-phat-duoc-su
PADMAKARA
LIÊN-SƯ ĐẢN SANH
(https://www.facebook.com/yidamsmanda...Coe7wbgTMXst3l)
Last edited by phoquang; 05-01-2026 at 04:06 AM.
K
PADMAKARA
LIÊN-SƯ ĐẢN SANH
(https://www.facebook.com/yidamsmanda...Coe7wbgTMXst3l)
TIỂU SỬ ĐỨC PHÁP VƯƠNG GYALWANG KARMAPA 17 VÀ NGUỒN GỐC CỦA CÂU CHÚ KARMAPA CHENNO
Ogyen Trinley Dorje (tiếng Tây Tạng: ཨོ་ རྒྱན་ འཕྲིན་ ལས་ རྡོ་ རྗེ །, Wylie: O-rgyan 'Phrin-las Rdo-rje, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1985), còn được viết là Urgyen Trinley Dorje (Wylie: U-rgyan 'Phrin-las Rdo-rje). Ogyen Trinley Dorje đã được công nhận và tôn phong là Gyalwang Karmapa thứ 17.
Galwang Karmapa 17 (Ogyen Trinley Doẹ)
Đức Karmapa là người đứng đầu trường Karma Kagyu, trường phụ chính của trường Kagyu, một trong bốn trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng.
Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 17, Ogyen Trinley Dorje, đã trở thành một trong những lãnh tụ Phật giáo trẻ hàng đầu. Ngài là bậc Thượng sư được ấn chứng bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma .Kể từ khi đảm nhận trọng trách nhiệm một hóa thân Karmapa, thậm chí khi còn nhỏ, ngài đã có một vai trò rất quan trọng.
Tháng 12 năm 1999, ngài bí mật rời Tsurphu và tới Dharamsala, Ấn Độ. Ngài dành phần lớn thời gian hoàn thành những nghiên cứu về triết học Phật giáo, thụ nhận những trao truyền và giáo pháp của dòng truyền thừa Kagyu, và triển khai nhiều dự án lợi tha. Hàng ngàn người Tây Tạng, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Châu Á, và người phương Tây đến hàng năm tới đỉnh lễ, thỉnh cầu giáo pháp từ ngài.
Các đời hóa thân Karmapa đã không chỉ đóng vai trò quan trọng trong dòng truyền thừa Kagyu, mà còn trong các truyền thừa Phật giáo Kim Cương thừa khác của Tây Tạng. Ví dụ, Đức Karmapa Rangjung Dorje đời thứ ba có vai trò quan trọng trong việc trì giữ và hoằng dương truyền thống Nyingthik trong dòng truyền thừa Nyingma; Karmapa Rolpe Dorje đời thứ tư nhận ra những phẩm hạnh phi thường và tiềm năng của Thượng sư Je Tsongkhapa và ngài trở thành giáo thọ đầu tiên của Lama Tsongkhapa, bậc sáng lập truyền thừa Gelukpa; từ đời thứ Bảy tới đời thứ 9, các hóa thân Karmapa đã góp phần to lớn vào việc trì giữ kinh điển, Tantra, và truyền thừa Mahamudra của dòng Kagyu; đức Karmapa đời thứ 14 đã tham dự dòng truyền thừa Shangpa Kagyu, khi ấy đang có nguy cơ bị hủy diệt, và ngài cũng có quan kiến về phong trào bất bộ phái, điều mà ngài sách tấn đệ tử tâm truyền của mình là Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, tiếp tục sứ mệnh này; ngài Karmapa Khakhyap Dorje đời thứ 15 đã góp phần lớn trì giữ những truyền thống Terma của dòng truyền thừa Nyingma; và đức Pháp vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16, Rangjung Rigpe Dorje, là một trong những bậc Thượng sư Phật giáo vĩ đại nhất trong thế kỷ trước.
🌺 NGUỒN GỐC CỦA CÂU CHÚ ཀརྨ་པ་མཁྱེན་ནོ། – Karmapa Chenno by Tâm Tịnh
KARMAPA CHENNO
Đại Bảo Pháp Vương Karmapa Ogyen Trinley Dorje đời thứ 17
ཀརྨ་པ་མཁྱེན་ནོ།
Việc thực hành quan trọng nhất trong Phật giáo Tây Tạng là Guru Yoga, thiền định và trì chú về Đạo Sư đứng đầu dòng truyền, vốn được xem là Phật sống, là hiện thân của ba thân và thập địa (năng lực phi thường). Trong truyền thống Kagyü, Đạo Sư đứng đầu là Gyalwa Karmapa và câu chú của Ngài là ཀརྨ་པ་མཁྱེན་ནོ། Karmapa Chenno. Người ta rằng tin âm thanh của câu chú này được kết nối trực tiếp với tâm giác ngộ của Ngài Karmapa và mang phẩm chất giác ngộ cũng như mang lại sự giúp đỡ cần thiết nhất cho lợi ích của người thực hành.
Ở đây tôi muốn chia sẻ một câu chuyện về nguồn gốc của câu chú Karmapa Chenno. Câu chú Karmapa có nguồn gốc từ thời Ngài Karmapa thứ 8, Mikyo Dorje (1507-1554) trong buổi giảng dạy về Pháp “Gọi Thầy từ xa”.
“Karmapa Chenno” có thể được tạm dịch là “hiện thân của lòng bi mẫn của tất cả chư Phật, xin hãy nghĩ đến con”. Ở Trung Tây Tạng, Sikkim và Bhutan, câu chú được phát âm Karmapa Kyen-no hoặc Karmapa khen-no. Ở Đông Tây Tạng, câu chú được phát âm là “Karmapa Chenno”. Ở các nước phương Tây phát âm phổ biến nhất là Karmapa Chenno và được xem là chính xác.
Một ngày nọ, trong thế kỷ 16, người đứng đầu của một gia đình du mục trong hoang vu, lộng gió bắc Tây Tạng qua đời. Trong một khu vực thưa thớt dân cư như vậy rất hiếm để tìm thấy tu viện và các vị Lạt Ma để thực hiện nghi thức tang lễ Phật giáo, vì vậy gia đình tự hỏi phải làm gì. Sau đó, họ thấy một người rách rưới đi bộ giống như là một yogi hoặc một người hành khất, nên họ yêu cầu giúp đỡ. Người khất sĩ trên thực tế là một Lạt ma. Gia đình đau buồn thỉnh cầu Ngài thực hành nghi thức cho người chết, và Ngài đã đồng ý.
Khi Ngài đến giường của người chết và bắt đầu tụng chú, gia đình trân trọng yêu cầu Lạt ma để thực hiện Phowa (chuyển di thần thức). Tuy nhiên, Lạt ma cho biết: “Tôi chỉ là một người thực hành nghèo, ít học giáo lý của Đức Phật, tôi đã không thực hiện được thực hành bí truyền. Nhưng tôi có một phẩm chất tích cực, tín tâm to lớn ở Đức Phật sống, Ngài Lạt Ma Karmapa. Ngài như cổng lớn để đến Dewachen (cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà). Tên của Ngài là mật khẩu ma thuật đối với niềm tin tuyệt vời”.
Sau đó, ông bắt đầu đọc một lần nữa và một lần nữa câu chú uy lực, “Karmapa Khyenno!””Karmapa Khyenno, Karmapa Khyenno,” ông tụng to, một lần nữa và một lần nữa.
Sau mỗi lần hạt của 108 trì tụng nhiệt thành, ông sẽ gia trì xác chết bằng chuỗi hạt cầu nguyện đó, tin rằng, trong danh hiệu của Đức Phật Karmapa, người chết được tái sinh trong cõi Dewachen.
Sau một thời gian, mọi người đều nhận thấy những dấu hiệu của sự chuyển di thần thức thành công bắt đầu xuất hiện. Tóc từ đỉnh đầu của tử thi đã giảm; có một mùi thơm dễ chịu trong không khí, và một lỗ hở xuất hiện ở đỉnh đầu nơi tâm thức vi tế của người quá cố đã về thế giới khác.
Mọi người có mặt vui mừng, lòng biết ơn và cảm ơn các vị Lạt Ma khất sĩ. Tất cả bắt đầu tín tâm thực hành thần chú của Đức Karmapa, cầu nguyện đạt được sự hỉ lạc tự tại của cõi Tịnh Độ A Di Đà ngay trong đời này.
Vị Lạt Ma hành khất ngay đó tiếp tục hành trình của Ngài. Một hôm, ông nghe nói rằng Karmapa toàn trí đã đến thăm miền nam Tây Tạng, vì vậy ông quyết định đi đến gặp Ngài và tỏ lòng tôn kính.
Cuối cùng Lạt Ma đã đến được điểm hành trình của Ngài. Điều đầu tiên Ngài Karmapa toàn tri nói với anh ấy là: “Đó có phải là một Pháp Chuyển Di Thần Thức (Phowa) khó khăn được thực hiện ở phía bắc không?” Đức Karmapa cười, dùng chuỗi của Ngài chạm vào Lạt Ma.
Ngài Lạt Ma khất sĩ tin 1 niềm tin không thể lay chuyển rằng Karmapa là một vị Phật sống toàn trí, và cho dù các môn đệ của Ngài đang ở bất cứ nơi nào, Ngài luôn đặt họ trong trái tim và tâm trí Ngài.
Từ đó câu chú Karmapa Chenno trở thành câu chú quan trọng nhất để gọi phẩm chất giác ngộ và năng lực của Ngài Karmapa trong truyền thống Kagyü của Phật Giáo Tây Tạng. Tên Karmapa được hiểu không chỉ là tên một số cá nhân cụ thể, mà là những phẩm chất giác ngộ của tất cả Chư Phật và Bồ Tát. Karmapa là một trong những hiện thân của nguồn quy y Tam Bảo, Phật, Pháp và Tăng đối với các đệ tử của Ngài.
Đây là câu chuyện về nguồn gốc của câu chú Karmapa mà tôi đã nghe.
https://www.facebook.com/share/p/17kAC2xEJd/
Thần chú Giữ gìn sự Thanh tịnh của Giới nguyện:
Om Amogha Hila Sambhara Sambhara Bhara Bhara Maha Shuddha Sattva Padma Vibhu Shita Bhuja Dhara Dhara Samanta Avalokite Hung Phet Svaha
Thần chú này rất thiết yếu để tịnh hóa các giới nguyện bị vi phạm (samaya) trong các truyền thống Nguyên Thủy (Theravāda), Đại thừa (Mahāyāna) và Kim Cương thừa (Vajrayāna). Thần chú này đã được Đức Phật thuyết trong Kinh thừa để giúp hành giả giữ vững những cam kết của mình.
Các nguyên nhân phổ biến dẫn đến vi phạm giới nguyện (Samaya):
1) Thọ nhận quán đảnh nhưng lơ là các cam kết (trì chú, cầu nguyện).
2) Đánh mất lòng tôn kính đối với bậc Thầy (Guru).
3) Gây hại cho các đồng tu.
4) Từ bỏ hoặc sử dụng sai lầm Giáo pháp.
5) Tiết lộ các bí mật của mật điển.
6) Thiếu tôn trọng các biểu tượng linh thiêng hoặc giáo lý.
7) Lơ là việc thực hành hàng ngày hoặc các giới nguyện mật điển cụ thể.
😎 Thiếu trung thực với bậc Thầy.
9) Nói lời chia rẽ, kiêu mạn hoặc có các hành động gây hại.
10) Không hỗ trợ hoặc không tôn trọng cộng đồng Giáo pháp.
Lợi ích của việc trì tụng:
1) Phục hồi các giới nguyện đã vi phạm và tịnh hóa các nghiệp chướng.
2) Hỗ trợ những người đang gặp khó khăn trong việc giữ gìn hoặc thực hành giới nguyện.
3) Củng cố sự tiến bộ và ổn định trên con đường tâm linh.
4) Giúp duy trì giới luật Biệt giải thoát (Vinaya), giới Bồ Tát và giới nguyện Kim Cương thừa.
5) Đặc biệt thiết yếu đối với hàng xuất gia do số lượng giới nguyện cần giữ gìn rất lớn.
Thời điểm trì tụng:
Buổi sáng: Trì tụng 3 hoặc 7 lần trước khi thực hành hàng ngày, lý tưởng nhất là sau các bài kệ Quy y và phát Tâm Bồ đề.
Buổi tối: Trì tụng Thần chú Bách tự Minh của Đức Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasattva 100 Syllable Mantra) để sám hối mọi lỗi lầm và tịnh hóa các vi phạm giới nguyện. Việc trì tụng thường xuyên đảm bảo các giới nguyện được hàn gắn và duy trì—điều cốt tủy cho sự tiến bộ tâm linh thực thụ.
Nguồn: Phub Dorji Wang
https://www.facebook.com/share/p/1K9DV2upw9/
. Quán đảnh (WANG) giúp hành giả được nhận pháp, kết nối với Bổn Tôn và nhận được sự gia trì của cả dòng truyền thừa.
. Khẩu truyền (LUNG) giúp hành giả được phép tụng đọc và hành trì pháp.
==============
Amanda Na Nguyen khẩu truyền online như e gửi clip được ko e
Ngoc Do Phuong Dạ các pháp tu căn bản thì có thể được. Nhưng các pháp cao thì không được chị ạ.
Và
Chỉ riêng các bậc thầy cực lớn mới có đủ đạo hạnh để truyền online
https://www.facebook.com/share/p/14S2kQKyvCX/
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Bookmarks